của thế giới ngày nay và viễn cảnh của giáo dục xã hội ngày mai trong cuốnsách “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dương”, cho rằng: “Việc nhìn về phía trướ
Trang 1MỞ ĐẦU NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LUẬN VĂN
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bước vào thế kỷ XXI, với tư tưởng xây dựng một xã hội học tập, lấyviệc học là động lực quyết định hàng đầu để đưa xã hội tiến lên Trong thế kỷmới giáo dục có vị trí rất quan trọng, vấn đề con người, vấn đề giáo dục đượcđặt lên hàng đầu Uỷ ban giáo dục thế giới đã nêu một trong bốn trụ cột củagiáo dục thế kỷ XXI là dạy con người chung sống với nhau, tạo dựng một nềnvăn minh mới, văn minh hoà bình, văn hoá khoan dung Trong tình hình hiệnnay, cả nước ta đang phấn đấu đẩy mạnh CNH-HĐH, thực hiện dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, cùng loài người bướcvào một nền văn minh mới mở đầu thiên niên kỷ thứ ba Giáo dục Việt Namđang đứng trước nhiệm vụ vinh quang nhưng cũng rất nặng nề đầy thách thức
do cuộc cách mạng KHCN đặt ra Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bậttrong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Trước những đòi hỏi của côngcuộc đổi mới, nền giáo dục phải có những chuyển biến mạnh mẽ, phải tìmkiếm con đường đi hiệu quả để giáo dục thực sự trở thành quốc sách hàngđầu, làm tiền đề phát triển KT-XH Trên lé trình đi lên đòi hỏi phải có dự báokhoa học và hoạch định chiến lược ở tất cả mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực.Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và Kết luận Hội nghị lần
thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX nhấn mạnh: “Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [5, 40] Muốn
cho sự nghiệp CNH-HĐH thành công, thì điều cốt lõi là phải phát huy tốtnhân tố con người Bởi lẽ con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sựphát triển, giáo dục là nhân tố chủ yếu để hình thành và phát triển nhân cách
Trang 2con người, là chìa khoá mở cửa vào tương lai, là quốc sách hàng đầu củachiến lược phát triển KT-XH.
GD&ĐT là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch tổng thể phát triểnKT-XH của Thủ đô Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã đề ranhiệm vụ: “Xây dựng chiến lược phát triển GD&ĐT”; Nghị quyết Hội nghịlần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về định hướngchiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH-HĐH Một trong bốn giảipháp quan trọng để khắc phục yếu kém của GD&ĐT hiện nay là đổi mới công
tác quản lý, đặt trọng tâm vào vấn đề: “Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch phát triển giáo dục Đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của cả nước và từng địa phương, có chính sách điều tiết quy mô và
cơ cấu đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển KT-XH, khắc phục tình trạng mất cân đối hiện nay, gắn đào tạo với sử dông ”
Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Namkhoá X thông qua ngày 02/12/1998 và triển khai thực hiện từ ngày 01/6/1999,tại điều 86 quy định nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm: Trướchết là việc “Xây dựng và chỉ đạo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sáchphát triển giáo dục”
Triển khai và thực hiện Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội NướcCộng hoà XHCN Việt Nam về “Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” vàchương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trên thế giới dự báo là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo ra cơ sởkhoa học cho hoạch định chính sách, các chương trình phát triển KT-XH cụthể, vấn đề dự báo giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước
và ngoài nước Tháng 8 năm 1990 UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương đã tổ chức hội nghị: “Những chất lượng mà nền giáo dục hôm nay đòi hỏi nhằm đáp ứng nhu cầu tiên đoán của thế kỷ XXI” Tiến sỹ Raja Roy
Singh mét nhà giáo dục nổi tiếng ở Ên Độ đã phác hoạ những điểm nổi bật
Trang 3của thế giới ngày nay và viễn cảnh của giáo dục xã hội ngày mai trong cuốn
sách “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng Châu Á - Thái Bình Dương”, cho rằng: “Việc nhìn về phía trước để ước đoán tình hình giáo dục
trong thập kỷ mới có những mối liên quan xoắn xuýt rất quan trọng đến sựphát triển giáo dục từ cơ sở hiện tại… Việc xem xét nền giáo dục trong viễncảnh tương lai cần được coi là hướng cốt yếu trong việc đề ra các kế hoạch vàchính sách giáo dục; thực sù nh là một định hướng mới trong kế hoạch hoágiáo dục…”
Ở Việt Nam, đã có một số tác giả nghiên cứu về dự báo giáo dục và cácvấn đề liên quan đến dự báo giáo dục đáng chú ý nhất là công trình nghiêncứu của tác giả PTS Đỗ Chấn về “Dự báo nhu cầu cán bộ chuyên môn ViệtNam đến năm 2000”, (Viện nghiên cứu Đại học và THCN năm 1984) Tác giả
GS Hà Thế Ngữ về “Dự báo giáo dục vấn đề và xu hướng”, (Viện khoa họcgiáo dục Việt Nam - 1989) đã khẳng định: “Nền giáo dục của một nước, mộtđịa phương nhất thiết phải lấy công tác dự báo giáo dục làm tiền đề” Theo tácgiả Đặng Quốc Bảo về: “Dự báo giáo dục và một số vấn đề có liên quan đến
dự báo giáo dục” đã nêu: “Cái lạc hậu trong kế hoạch hoá giáo dục của chúng
ta trong một thời gian dài là việc kế hoạch giáo dục thiếu tính đa chiều, thiếutính viễn cảnh và thiếu tính mềm dẻo về phương án thực hiện”…
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước ta theo hướng CNH-HĐH vàhội nhập quốc tế, Thủ đô Hà Nội đã và đang có những bước phát triển mạnh
mẽ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đặc biệt là lĩnh vựcGD&ĐT Quá trình phát triển của Thủ đô Hà Nội những năm qua, một mặttạo ra những tiền đề phát triển mới cho GD&ĐT, một mặt khác đặt ra nhữngyêu cầu và thách thức mới ngày càng cao hơn cho công tác GD&ĐT của Thủ
đô ở hiện tại cũng như trong tương lai Xuất phát từ những vấn đề lý luận vàyêu cầu của thực tiễn, chúng tôi nhận thấy dự báo phát triển giáo dục nóichung và dự báo phát triển giáo dục THPT của Thành phố Hà Nội hiện nay có
Trang 4một ý nghĩa quan trọng và cần thiết nhằm xây dựng kế hoạch, chương trìnhphát triển giáo dục tổng thể trong những năm tiếp theo Vì thế tôi chọn nghiên
cứu đề tài: “Dự báo phát triển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đến năm 2015” trên quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, GD&ĐT vừa là mục
tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển KT-XH có một ý nghĩa to lớn vàcấp bách
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng quá trình pháttriển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 1995 - 2004 vừa qua,nghiên cứu về dự báo phát triển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đến năm
2015 nhằm nâng cao tính khả thi, tính chính xác việc lập kế hoạch của ngànhGD&ĐT Thủ đô phù hợp với sự phát triển chung về KT-XH của Thủ đô
3- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dự báo nói chung và dự báo phát triểngiáo dục THPT nói riêng
3.2- Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục THPT của Hà Nội tronggiai đoạn 1995 - 2004
3.3- Dự báo phát triển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đến năm 2015 và
đề xuất một số giải pháp để thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục THPT
Trong các nhiệm vụ nêu trên, nhiệm vụ chính của đề tài là phải Dự báo phát triển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đến năm 2015 và đề xuất được
các giải pháp để thực hiện yêu cầu đó
4- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
4.1- Khách thể nghiên cứu: Hệ thống giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội 4.2- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục THPT của Hà Nội trong
bối cảnh hiện nay và dự báo phát triển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đếnnăm 2015 hệ công lập
5- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Trang 5Hệ thống giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đến năm 2015 sẽ đượcphát triển đồng bộ, cân đối, đón đầu sự phát triển KT-XH, đáp ứng yêu cầu vềphổ cập giáo dục THPT vào năm 2010 của Thủ đô, nếu như hệ thống giáo dụcnày được quản lý bằng dự báo phát triển có tính khoa học và cơ sở thực tiễnvới những điều kiện có tính khả thi.
6- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống giáo dục THPT của Thành phố HàNội hệ công lập Trọng tâm nghiên cứu dự báo phát triển giáo dục THPT củaThủ đô Hà Nội đến năm 2015
7- CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: 7.1- Nhãm c¸c ph¬ng ph¸pnghiªn cøu lý luËn:
Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết, mục tiêu phát triển của Đảng vàNhà nước, của ngành GD&ĐT, của Thành phố Hà Nội và các tài liệu khoahọc có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra thu thập thông tin Phương pháp phỏng vấn
- Các phương pháp dự báo cơ bản: Phương pháp ngoại suy xu thế,phương pháp tương quan hồi quy, phương pháp quan hệ tỷ lệ, phương phápSWOT, phương pháp sơ đồ luồng
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các chuyên gia là Lãnh đạo
Sở GD&ĐT, Trưởng phòng Giáo dục THPT, Trưởng phòng KÕ hoạch - Tàichính, Sở KÕ hoạch - Đầu tư, Phó chủ tịch văn xã của Thành phè
7.3- Nhóm phương pháp thống kê toán học
8- CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục củaluận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của dự báo và dự báo phát triển giáo dục phổ
thông
Trang 6Chương 2: Thực trạng giáo dục THPT của Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Dù báo phát triển giáo dục THPT của Thủ đô Hà Nội đến
1.1.1- Quan niệm chung về dự báo:
Hiện nay có rất nhiều học giả nhận định rằng: Thế giới hôm nay đang ởtrong một thời đại có những chuyển động gia tốc và đột biến, một thời đại màtương lai đang chỉ đạo ứng xử của hiện tại Từ thời thượng cổ Á Đông, các
sách vở đạo lý đã ghi: “Suy xưa, ngẫm nay” thì không mắc sai lầm Muốn biết tương lai thì phải xét dĩ vãng, ông cha ta đã từng nhắc nhở “Ôn cố, tri tân” đó
chính là cơ sở sơ khai của dự báo
Ngày nay, người ta dự báo tương lai không còn đơn thuần là để “véntấm màn bí Èn” mà nhằm mục đích thiết thực hơn là tìm cách thích nghi vớitương lai và trong chõng mực nào đó có thể thay đổi, điều khiển tương lai.Trong quá trình dự báo tương lai cần biết các sự kiện nhất thời với chiềuhướng cơ bản, những biến đổi sâu sắc về công nghệ và xã hội để vạch ra các
“xu thế lớn” trong sự tiến triển của thế giới “Xu thế lớn” đó là những chiềuhướng không thể cưỡng nổi thường xuyên xuất hiện từ dưới lên, đem đến cáinhìn mới, động thái mới, chứa đựng hình ảnh tương lai Những xu thế lớn đó
có tầm quan trọng rất lớn cho những chiến lược của mỗi quốc gia Vì vậy, dựbáo tương lai phải có cách nhìn nhận toàn cầu trong triển vọng dài hạn Khixem xét bất cứ một hiện tượng xã hội nào trong sự phát triển, vận động của nó
Trang 7thì bao giê cũng thấy có vết tích của quá khứ, cơ sở của hiện tại, mầm mèngcủa tương lai Phân tích tiền sử của sự vật, phát hiện ra xu hướng phát triểntheo thời gian của nó, có thể thấy trước được tương lai Đó chính là nội dungcủa khoa học dự báo Với những quan niệm nh vậy, dự báo là một tài liệu tiền
kế hoạch bao gồm nhiều phương án, trong đó các kết quả dự báo không mangtính pháp lệnh mà chỉ mang tính chất khuyến cáo
Dự báo chúng ta có thể hiểu là thông tin có cơ sở khoa học về mức độtrạng thái, các quan hệ, các xu thế phát triển có thể xảy ra trong tương lai củađối tượng nghiên cứu với mức độ tin cậy nhất định và ước tính được nhữngđiều kiện khách quan để có thể thực hiện được dự báo đó
Dự báo được hiểu là những kiến giải có căn cứ khoa học về trạng tháikhả dĩ của đối tượng dự báo trong tương lai, về các con đường khác, thời hạnkhác để đạt tới các trạng thái tương lai đó ở thời điểm khác nhau Ngày nay
dự báo được xây dựng để tăng cường cơ sở khoa học cho việc ra quyết định,vạch ra các chiến lược phát triển và là công cụ có hiệu quả của việc kế hoạchhoá, cũng như việc quản lý nền kinh tế quốc dân Xét về mặt tính chất của dựbáo thì dự báo chính là khả năng nhìn trước được tương lai mức độ tin cậynhất và ước tính được những điều kiện khách quan để có thể thực hiện được
dự báo đó Dự báo gắn liền với khái niệm rộng hơn đó chính là sự tiên đoán.Tuỳ theo mức độ cụ thể và đặc điểm tác động đến sự phát triển của hiệntượng, ta có thể chia tiên đoán thành các cấp độ khác nhau:
+ Giả thuyết: Là sự tiên đoán khoa học ở cấp độ lý luận chung, lý
luận về một lĩnh vực nào đó hàm chứa đối tượng nghiên cứu và các tính quyluật được phát hiện Nó chính là cơ sở để xây dựng giả thuyết khoa học, giảthuyết cho chóng ta những đặc trưng, đặc tính biểu thị tính quy luật sự pháttriển của đối tượng nghiên cứu Giả thuyết còn mang nhiều tính chất địnhtính
Trang 8+ Dự báo: Không phải chỉ có những tham số định tính mà còn có tham
số định lượng Vì vậy, dự báo có tính xác định cao hơn giả thuyết Đối với dựbáo, mức độ bất định thấp hơn và ở mức độ khả dụng trực tiếp Dự báo là sựtiên đoán ở cấp độ ứng dụng cụ thể của lý luận Tuy vậy, dự báo không xácđịnh những liên hệ chặt, đơn trị cho đối tượng dự báo Do đó dự báo có đặctrưng xác xuất Nh vậy, dự báo khác với giả thuyết ở tính cụ thể và khả năngứng dụng
+ Kế hoạch: Là sự tiên đoán những sự kiện cụ thể, chi tiết của tương
lai trong kế hoạch phải nêu rõ những con đường, phương tiện để thực hiệnnhững nhiệm vụ đã đề ra làm luận chứng khoa học cho các quyết định quản
lý Kế hoạch có đặc trưng xác định và đơn trị
Trong công tác quản lý, dự báo được xây dựng để tăng cường cơ sởkhoa học cho việc ra quyết định, vạch ra các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,bản thân dự báo phải dùa vào đường lối và là công cụ có hiệu quả của việc kếhoạch hoá triển vọng cũng như quản lý nền kinh tế quốc dân Trong công tácquản lý dự báo và kế hoạch hoá là một trong những vấn đề quan trọng nhất.Không có dự báo thì không có phương hướng cho công tác quản lý Quản lý
mà không theo kế hoạch thì chỉ là hàng loạt những hoạt động tuỳ tiện, không
có hệ thống, do đó dễ phạm sai lầm và không hiệu quả Dùa vào dự báo, nhàquản lý xây dựng kế hoạch chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh công tác quản lý cókhoa học và có hệ thống để đạt hiệu quả cao Nếu dự báo chính xác góp phầnxây dựng chiến lược và kế hoạch sát với hiện thực có tính khả thi cao, ta cóthể biểu diễn mối quan hệ bằng sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1: Mối quan hệ của đường lối, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và dự báo.
§êng lèi,chÝnh s¸ch
Trang 91.1.2- Phân loại dự báo.
Có nhiều tiêu thức để ta phân loại dự báo, ở đây chúng ta chỉ lùa chọnmột số tiêu thức chính nh: Theo phạm vi, thời gian, đối tượng, chức năng để
ta phân loại dự báo
- Phân loại dự báo theo phạm vi đối tượng: Chúng ta có thể dự báo theocấp vĩ mô, dự báo vi mô, dự báo liên ngành, dự báo ngành, dự báo khu vực,
dự báo sản phẩm…
- Phân loại dự báo theo thời gian: Tuỳ thời hạn lập dự báo, có thể có
dự báo tác nghiệp, dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Cụ thể:
+ Thời hạn dự báo từ 1-2 năm, ta có dự báo tác nghiệp, thường đượcdùng để dự báo thời tiết, giá cả thị trường…
+ Thời hạn dự báo từ 2-5 năm, ta có dự báo ngắn hạn, thường đượcdùng để dự báo ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật có tính triển vọngnhất, hoặc dự báo nhu cầu về một loại sản phẩm mới xuất hiện…
+ Thời hạn dự báo từ 5-10 năm được coi là dự báo trung hạn
+ Thời hạn dự báo từ 10 năm trở lên được coi là dự báo dài hạn
Việc phân chia thời gian nh trên cũng chỉ có nghĩa tương đối, vì thờihạn dự báo 5 năm đối với đối tượng này là trung hạn nhưng đối với đối tượngkhác có thể là ngắn hạn Bởi vậy, sự phân chia thời hạn dự báo còn tuỳ thuộcvào đối tượng dự báo
- Phân loại dự báo theo đặc trưng của đối tượng: Tuỳ từng đối tượngkhác nhau mà ta có những dự báo đặc trưng cho dù báo nh:
Quy ho¹ch
Dù b¸o
Trang 10+ Dù báo về thiên nhiên: Sinh thái; Thời tiết; Nhật thực, nguyệt thực;Động đất; Sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Tình trạng ô nhiễm môi trường
+ Dù báo về Khoa học công nghệ; Dự báo về Tiến bộ xã hội
+ Dù báo dân sè
+ Dù báo đào tạo nguồn nhân lực
+ Dù báo phát triển giáo dục; Dự báo nhu cầu giáo viên …
- Phân loại dự báo theo chức năng:
+ Dù báo tìm kiếm (hay còn gọi là dự báo khởi nguyên): Đó là loại dựbáo với những xu thế phát triển đã có trong quá khứ và hiện tại, chúng ta sẽphải dự báo tiếp tục trong tương lai, không tính đến những điều kiện có thểlàm biến dạng những xu thế này Nhiệm vụ của dự báo tìm kiếm là làm sáng
tỏ xem đối tượng dự báo sẽ phát triển, biến đổi như thế nào trong tương lainếu giữ nguyên xu thế đã có
+ Dù báo định chuẩn: Đây là loại dự báo được xây dựng trên cơ sởnhững mục tiêu đã xác định trước Nhiệm vụ của dự báo này là phát hiệnnhững con đường và thời hạn đạt tới những mục tiêu đã định của đối tượng dựbáo
1.1.3- Những cách tiếp cận khi lập dự báo.
1.1.3.1- Tiếp cận lịch sử:
Tiếp cận lịch sử là cách tiếp cận khảo sát một hiện tượng bởi mối quan
hệ qua lại với hình thức tồn tại lịch sử của nó V.I Lênin đã dạy rằng, trongbất cứ hiện tượng xã hội nào, nếu xét trong quá trình phát triển của nó đều có
“Tàn dư của quá khứ, cơ sở của hiện tại và mầm mèng của tương lai” Do đó,khi xem xét một sự vật, hiện tượng chúng ta thường đặt nó trong mối quan hệqua lại với các hình thức tồn tại lịch sử của nó, đó chính là mối quan hệ giữaquá khứ, hiện tại và tương lai
Việc lập dự báo phải gắn liền với việc dịch chuyển các quy luật, xu thế
đã và đang tồn tại của đối tượng vượt khỏi ngưỡng của nó để xác định mô
Trang 11hình trong tương lai của đối tượng Tuy nhiên, việc dịch chuyển này khôngphải đơn thuần theo nghĩa cơ học mà phải là sự dịch chuyển biện chứng.
Thực tiễn không bao giê tách rời lịch sử phát triển của nó Do đó, thựctiễn và dự báo có mối quan hệ hữu cơ gắn bó mật thiết với nhau với nhau Dựbáo không dừng lại ở mức độ nhận thức mà phải trở thành công cụ tác độngvào hoạt động thực tiễn của con người nhằm cải tạo hiện thực khách quan
1.1.3.2- Tiếp cận phức hợp:
Cơ sở triết học của sự ra đời cách tiếp cận phức hợp là nguyên lý nổitiếng của phép biện chứng duy vật về mối quan hệ phổ quát của các hiệntượng và sự vật Các hiện tượng và sự vật không đơn lẻ một mình trong quátrình tồn tại, phát sinh và phát triển Chúng luôn luôn có mối quan hệ qua lại
và tác động lẫn nhau bằng cách sử dụng các thành tựu, các phương pháp củanhiều khoa học khác nhau cùng nghiên cứu hiện tượng, sự vật nhằm làm bộc
lé đầy đủ các khía cạnh của bản chất sự vật, hiện tượng được nghiên cứu Nhvậy, cách tiếp cận phức hợp thể hiện rõ rệt trong dự báo nói chung, dự báogiáo dục nó riêng Dự báo giáo dục đòi hỏi phải có nhiều ngành khoa họctham gia nh: Triết học, Tâm lý học, Giáo dục học, Kinh tế học, Dân số học,Thống kê toán học
1.1.3.3- Tiếp cận cấu trúc hệ thống:
Khi nghiên cứu dự báo một mặt đòi hỏi phải xem xét, nghiên cứu đốitượng dự báo nh là một hệ thống trọn vẹn trong sự vận động và phát triển của
nó Mặt khác, đối tượng được nghiên cứu xem xét dưới góc độ của mỗi thành
tố tạo thành trong sự liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau của chúng, trên cơ
sở đó phân tích các tính quy luật vận động, phát triển của mỗi thành tố, củacác quan hệ, cũng như toàn bộ đối tượng với tư cách là một hệ thống tròn vẹn
Trong dự báo giáo dục, tiếp cận lịch sử, tiếp cận phức hợp, tiếp cận cấutrúc hệ thống đóng vai trò quan trọng, cho phép tiến hành những dự báo cục bộ
Trang 12hoặc dự báo toàn diện sự phát triển giáo dục làm tiền đề cho việc hoạch địnhchính sách giáo dục của địa phương, quốc gia trên cơ sở các căn cứ khoa học
1.1.4- Các nguyên tắc dự báo.
1.1.4.1- Nguyên tắc thống nhất chính trị, kinh tế và khoa học:
Khi lập dự báo bao giê cũng cần xuất phát từ mục tiêu và lợi Ých toàncục của địa phương, của quốc gia cũng như của cộng đồng quốc tế Dự báophải dùa trên cơ sở những tính toán khoa học sự phát triển KT-XH và tiến béKHCN Giáo dục là hệ con của hệ KT-XH Vì thế, nguyên tắc này đặc biệtquan trọng trong quá trình xây dùng các dự báo giáo dục, bởi vì giáo dục liênquan chặt chẽ đến định hướng phát triển của toàn xã hội, đến thể chế chính trị,đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển kinh tế, đến những khả năng đòi háiphát triển của tiến bé KHCN
1.1.4.2- Nguyên tắc tính hệ thống của dự báo:
Các mô hình và phương pháp sử dụng trong dự báo phải có mối liên
hệ hữu cơ với nhau, có lô gích của sự tồn tại và bổ sung cho nhau, làm nềntảng cho nhau, tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Tính hệ thống của dự báođòi hỏi phải xây dựng một trật tự chặt chẽ việc hình thành và sử dụng các môhình dự báo cho một dự báo có tính phức hợp của đối tượng
1.1.4.3- Nguyên tắc tính khoa học của dự báo:
Căn cứ khoa học ngày càng cao thì dự báo càng có độ tin cậy lớn Dựbáo phải được xây dựng trên cơ sở những tính toán, luận chứng, luận cứ khoahọc có tính đến những quy luật vận động phát triển của đối tượng dự báo,những quan sát và dữ liệu khách quan đủ độ tin cậy
1.1.4.4- Nguyên tắc tích hợp của dự báo:
Nguyên tắc tích hợp của dự báo đòi hỏi những dự báo được lập ra phảitương thích với tính quy luật, với xu thế phát triển khách quan của đối tượng
dự báo Mặt khác, các dự báo đó phải phù hợp với khả năng thể hiện thực tế
và được chứng minh trong tương lai
Trang 131.1.4.5- Nguyờn tắc đa phương ỏn của dự bỏo:
Nguyờn tắc đa phương ỏn của dự bỏo yờu cầu việc dự bỏo sự vận động
và phỏt triển của đối tượng phải gắn liền với khả năng phỏt triển của đốitượng theo những quỹ đạo, những con đường khỏc nhau Tớnh đa phương ỏn
là thể hiện sức mạnh của những tiờn đoỏn cú cơ sở khoa học, cho phộp cơquan quản lý (người sử dụng dự bỏo) cú khả năng lựa chọn những phương ỏnhợp lý, tối ưu nhằm điều khiển sự phỏt triển của đối tượng dự bỏo theo mụctiờu đó định
1.1.5- Quan niệm về dự bỏo giỏo dục.
Dự bỏo phỏt triển giỏo dục - đào tạo là một trong những vấn đề quantrọng nhất của cụng tỏc quản lý trong việc xõy dựng kế hoạch cú cơ sở khoahọc Dự bỏo giỏo dục - đào tạo là xỏc định trạng thỏi tương lai của hệ thốnggiỏo dục với một xỏc suất nào đú, trong một thời gian nhất định được mụ tảtheo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Khỏi quỏt quỏ trỡnh dự bỏo
Dự bỏo phỏt triển GD&ĐT cú ý nghĩa định hướng, làm cơ sở khoa họccho việc định ra phương hướng, nhiệm vụ và mục tiờu lớn của GD&ĐT Hoặc
ta cú thể mụ tả quỏ trỡnh dự bỏo trờn bằng mụ hỡnh toỏn học với đồ thị ở dạngtổng quỏt theo sơ đồ sau:
Hiện trạng đối
tợng dự báo
Các nhân tố ảnhhởng
Trạng thái quántính của đối tợng
dự báo
Các nhân tố ảnhhởng
Trạng thái tơng laivới xác suất P1
Trạng thái tơng laivới xác suất P2
Trạng thái tơng laivới xác suất P3
Trang 14Sơ đồ 3: Mô hình toán học của quá trình dự báo
Trong đó: f(x)- là hàm xu thế với n biến số, là nhân tố ảnh hưởng, là
diễn biến của trạng thái tương lai
y- là hàm số diễn biến thời điểm dự báo
x- là nhân tố ảnh hưởng tới đối tượng dự báo
Ta có: y = f(x1, x2, , xn)
Chóng ta biết rằng GD&ĐT là một hệ thống con trong hệ thống lớnKT-XH, vì thế hệ thống GD&ĐT có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhaunhư số lượng, chất lượng, mạng lưới, đội ngũ… Do đó, việc dự báo phát triểngiáo dục THPT không thể tách rời bài toán dự báo GD&ĐT nói chung
1.1.5.1- Vai trò của dự báo giáo dục.
Các nhà tương lai học dự báo rằng: ở ngưỡng cửa của thế kỷ XXInhân loại có cơ hội đứng trước một bước nhảy kỳ diệu, tiến vào một nền vănminh mới, còn gọi là nền văn minh trí tuệ, hậu công nghiệp, một “xã hộithông tin” chứa đựng những vận hội lớn về chính trị và sự phục hưng lớn vềvăn hoá Dự báo giáo dục nhằm xây dựng những phán đoán có thể về tìnhtrạng của nền giáo dục trong tương lai, nghiên cứu những triển vọng của nềngiáo dục đó, chỉ ra những thời hạn xác định của biến đổi sẽ ra sao
Dự báo giáo dục nhằm tìm kiếm những mục tiêu mới, những viễncảnh mới, phương pháp mới nhằm đem lại tiềm năng tương lai cho nền giáo
Tr¹ng th¸i
Tr¹ng th¸i t¬ng lai
HiÖn tr¹ng
Thêi ®iÓm hiÖn t¹i
Thêi ®iÓm t¬ng lai
Thêi ®iÓm
y = f(x 1 ,x 2 , …,x ,x n )
Trang 15dục trên cơ sở đó đưa ra được những quyết định đúng đắn cho sự phát triểnGD&ĐT về mục tiêu hiện tại, trước mắt và lâu dài.
1.1.5.2- Dự báo giáo dục.
Đối tượng của dự báo giáo dục chính trị là hệ thống giáo dục quốc dâncủa một quốc gia, một địa phương, với những đặc trưng về quy mô phát triển,
về cơ cấu loại hình, về chất lượng GD&ĐT, về tổ chức sư phạm Đối tượng
đó được nghiên cứu, dự báo từ nhiều mặt, nhiều yếu tố cấu thành bởi cáckhoa học khác nhau cùng tham gia dự báo nh: Kinh tế học, Xã hội học, Dân
số học, Giáo dục học, Tâm lý học,
1.1.5.3- Dự báo phát triển giáo dục phổ thông
Dự báo phát triển giáo dục phổ thông là mét trong những căn cứ quantrọng của việc xây dựng quy hoạch GD&ĐT Dự báo GD&ĐT là xác địnhtrạng thái tương lai của hệ thống GD&ĐT với xác suất nào đó có ý nghĩa địnhhướng, làm cơ sở khoa học cho việc xác định phương hướng, nhiệm vụ vàmục tiêu lớn của GD&ĐT Đối tượng của dự báo GD&ĐT là hệ thống giáodục quốc dân của một nước, một địa phương với những đặc trưng về quy môphát triển cơ cấu loại hình, mạng lưới trường líp, đội ngò giáo viên, chấtlượng đào tạo, tổ chức sư phạm
1.1.6- Nhiệm vụ của dự báo:
Dự báo phục vụ cho nhà quản lý có cơ sở khoa học và thực tiễn để xâydựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm thực hiện công việc quản
lý một cách khả thi
Thiết lập các phương án tối ưu, xác định được xu thế phát triển cácmục tiêu cần đạt được để làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch,chiến lược phục vụ cho nhà quản lý có thể điều khiển, điều chỉnh trong việchoạch định chiến lược có cơ sở khoa học
1.1.7- Một số phương pháp dự báo.
Trang 161.1.7.1- Việc phân loại các phương pháp dự báo:
Phương pháp dự báo là tập hợp các thao tác và thủ pháp tư duy, chophép trên cơ sở phân tích các dữ liệu quá khứ và hiện tại, các mối liên hệ bêntrong và bên ngoài của đối tượng dự báo cũng như việc đo lường các dữ kiện,các mối liên hệ đó trong khuôn khổ của hiện tượng hoặc quá trình đang xét để
đo đếm những phán đoán có độ tin cậy nhất định về tương lai của đối tượng
dự báo Độ chính xác của dự báo phụ thuộc rất nhiều ở việc lùa chọn cácphương pháp dự báo Có nhiều phương pháp dự báo, việc phân loại cácphương pháp dự báo có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng Có thểphân loại phương pháp dự báo theo các dấu hiệu sau đây: Mức độ hình thứchoá, nguyên tắc chung của các thủ tục lập dự báo, cách thu nhận thông tin…
Theo tác giả Đỗ Văn Chấn chia phương pháp dự báo gồm 2 nhóm:Nhóm các phương pháp trực quan và nhóm các phương pháp hình thức hóa.Theo các tác giả Đặng Bá Lãm và Phạm Thành Nghị chia phương pháp dựbáo thành 3 nhóm: Nhóm các phương pháp ngoại suy, nhóm các phương pháp
mô hình hóa và nhóm các phương pháp kỹ thuật xét đoán Chúng tôi xin đưa
ra cách phân loại phương pháp dự báo theo cách thức thu nhận thông tin (trựcquan và hình thức hoá) như sau:
Các phương phápngoại suy
- Phương pháp
mô hình hoá cấu
trúc
Trang 17-Phân tích - Phương pháp
tấn công não
- Phương phápquan hệ tỷ lệ
- Phương pháptương quan hồi quy
-Phương pháp môphỏng
- Khái quát tâm lý,
trí tuệ, tư tưởng
-Phương phápphân tích hìnhthái
Phương pháp 1: Phương pháp đánh giá chuyên gia.
Phương pháp đánh giá chuyên gia là phương pháp dùa trên ý kiếnđánh giá của các cán bộ có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực đang được
dự báo, phương pháp này được xem là công cụ hữu hiệu để dự báo những vấn
đề có tầm bao quát phức tạp nhất định, nhiều chỉ tiêu và yếu tố ảnh hưởng đếnquy mô GD&ĐT và các yếu tố liên quan thuộc lĩnh vực khác nhau nhưngkhông tính toán cụ thể được
Phương pháp chuyên gia là phương pháp được thành lập bởi mộtnhóm, nhóm này có nhiệm vụ trưng cầu ý kiến của các chuyên gia, qua một
số vòng hái và xử lý các ý kiến của chuyên gia, dần dần hướng các chuyêngia đi đến kết luận ngày càng chính xác về đối tượng dự báo Phương phápnày thường được các chuyên gia sử dông trong các trường hợp sau:
Trang 18- Khi đối tượng dự báo có tầm bao quát nhất định, phụ thuộc vào nhiềuyếu tố còn chưa có hoặc còn thiếu những cơ sở lý luận chắc chắn để xác định.
- Trong điều kiện thông tin không đầy đủ và thiếu tin cậy về đặc tínhcủa đối tượng dự báo không cho phép sử dụng phương pháp khoa học chínhxác để giải quyết vấn đề dự báo
- Do thiếu thời gian hoặc do hoàn cảnh cấp bách của việc dự báo, việctiến hành dự báo theo phương pháp chuyên gia cần tuân thủ các nguyên tắcsau đây:
+ Các đánh giá phải do chuyên gia am hiểu về lĩnh vực cần dự báođưa ra theo mét quy trình có tính hệ thống để có thể tổng hợp được
+ Nhóm điều hành dự báo cần phải thống nhất và nắm vững hệ thống cácphương pháp tiến hành cụ thể từ khâu đầu đến khâu cuối của công tác dự báo
- Phương pháp chuyên gia được thông qua 2 hình thức: Hội đồng vàphương pháp DelPhi
* Phương pháp hội đồng (hay phương pháp chuyên gia tập thể).
+ Trước hết cần phải lập một nhóm công tác làm nhiệm vụ trưng cầu
ý kiến các chuyên gia, xử lý tài liệu và phân tích kết quả của việc đánh giáchuyên gia tập thể
+ Trước khi tiến hành trưng cầu ý kiến các chuyên gia, cần phải làmchính xác các phương hướng phát triển cơ bản của đối tượng dự báo Phải xácđịnh các mục tiêu (mục tiêu toàn cục và mục tiêu bộ phận) Còng nh cácphương tiện để đạt mục tiêu đối tượng dự báo Xây dựng bộ câu hỏi, phiếuhỏi đề nghị chuyên gia cho ý kiến trả lời
+ Khi tiến hành trưng cầu ý kiến chuyên gia phải đảm bảo sao cho cácchuyên gia có sự thông hiểu các câu hỏi đã nêu ra một cách thống nhất vàđảm bảo tính độc lập của những trả lời (phán đoán) của họ
+ Tiến hành xử lý các đánh giá của mỗi chuyên gia để rót ra ý kiếnchung (sự phù hợp) của các chuyên gia tham gia hội đồng, nhằm làm cơ sở
Trang 19cho việc tổng hợp các giả thuyết và phương án có tính dự báo về sự phát triểncủa đối tượng dự báo Sự đánh giá (ước lượng) cuối cùng có thể là phán đoán
“trung bình” hoặc “trung bình có trọng số”
Khi tiến hành đánh giá chuyên gia hội đồng (tập thể), không thể bỏqua những công cụ quan trọng nh các phương pháp toán học trong việc xâydựng bảng hỏi còng nh xử lý các kết quả, các ý kiến chuyên gia
Phương pháp chuyên gia thực hiện dưới hình thức hội đồng (tập thể)
có những ưu điểm sau:
+ Tổng số thông tin mà nhóm chuyên gia có không Ýt hơn số lượngthông tin của một trong các chuyên gia của nhóm Nếu một chuyên gia biết vấn
đề đang nghiên cứu nhiều hơn các chuyên gia khác thì các thành viên kháctrong nhóm vẫn có thể có những đóng góp có Ých cho việc giải quyết vấn đề.Nếu các thành viên của nhóm được lùa chọn một cách cẩn thận và họ là nhữngchuyên gia thực thụ trong lĩnh vực đang nghiên cứu thì tổng thông tin mà nhóm
có được sẽ rất lớn so với lượng thông tin của từng thành viên đang có
+ Sè lượng các yếu tố tác động đến lĩnh vực đang nghiên cứu mà nhómbàn đến sẽ không Ýt hơn số lượng các yếu tố mà mỗi thành viên của nhómđang biết
+ Mét tập thể chuyên gia bao giê cũng có trách nhiệm hơn từng cánhân chuyên gia
Tuy nhiên, phương pháp chuyên gia hội đồng (tập thể) có các nhượcđiểm sau:
+ Ý kiến tập thể có thể gây sức Ðp nghiêm trọng đến ý kiến của từng cánhân trong nhóm, bắt buộc cá nhân nghe theo tập thể, cho dù cá nhân đó hiểurằng quan điểm của nhóm là sai
+ Vì nể nhau nên các thành viên trong nhóm thường thiên về thoả hiệpvới nhau để đoàn kết hơn là tranh luận cho ra lẽ phải của vấn đề nghiên cứu
Trang 20+ Nếu trong nhóm có một cá nhân là chuyên gia có ảnh hưởng hoặc cótài hùng biện thì ý kiến của cá nhân đó dù không đúng vẫn có thể áp đặt đượcvới các thành viên khác của nhóm.
* Phương pháp Delphi:
Phương pháp Delphi là sự nâng cao của phương pháp hội đồng (tập thể)
ở trên Phương pháp Delphi được một nhóm chuyên gia Mỹ thuộc công tyRAND áp dụng và được công bố lần đầu tiên vào năm 1964 trong công trình
“Khảo sát các khả năng dự báo dài hạn” Phương pháp Delphi được xây dựngtrên nguyên tắc sau: Trong các khoa học không chính xác (các khoa họckhông được biểu đạt bằng ngôn ngữ toán học), các ý kiến của các chuyên gia
và các phán đoán chủ quan của họ cần phải (và có thể) thay thế các quy luậtnhân quả chính xác phản ánh trong các khoa học tự nhiên Phương phápDelphi cho phép khái quát ý kiến của các chuyên gia riêng lẻ thành ý kiếnchung của nhóm chuyên gia Phương pháp Delphi có 3 đặc điểm khác biệt sovới phương pháp chuyên gia đó là: Sự dấu tên của các chuyên gia; việc sửdụng các kết quả của vòng phỏng vấn trước; đặc trưng thống kê của các trả lờigộp nhóm Phương pháp này đòi hỏi phải có các chuyên gia giỏi để có thể xâydựng và xử lý các câu hỏi phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể
Phương pháp 2: Phương pháp ngoại suy.
Các phương pháp ngoại suy là những phương pháp sử dụng thôngdụng nhất trong các dự báo định lượng Các phương pháp ngoại suy dùa trênluận điểm cho rằng mọi biến cố trong tương lai đều bắt nguồn từ ngày hômnay Các phương pháp ngoại suy chấp nhận giả định cho rằng các xu hướngcủa đối tượng nghiên cứu phát triển theo các quy luật và quy luật này khôngthay đổi hoặc Ýt nhất cũng tương đối ổn định trong thời hạn dự báo Các quyluật này phản ánh các mối quan hệ khách quan và chịu sự tác động của cácnhân tố đó
Trang 21Theo Đặng Bá Lãm - Phạm Thành Nghị: “Ngoại suy là quy chiếunhững xu thế hiện tại vào tương lai và dự báo tương lai trên cơ sở quy chiếu
đó Vấn đề chính yếu của kỹ thuật ngoại suy là đo đếm và lý giải các xu thếtrong quá khứ và những khả năng tác động của những yếu tố không lườngtrước được đến sự tiếp tục của xu thế hiện tại” Đặc điểm đặc trưng của cácphương pháp ngoại suy là sự mô tả quá trình phát triển của đối tượng dự báodưới hình thức những biểu diễn toán học như hàm số, chuỗi số hoặc các quátrình ngẫu nhiên Do đó, việc sử dụng các phương pháp này đòi hỏi phải nắmvững tính quy luật vận động, phát triển của đối tượng dự báo và xác định một
mô hình toán học tương thích với quy luật đó Có nhiều phương pháp ngoạisuy trong dự báo, xin nêu tóm tắt một số phương pháp ngoại suy thường dùngtrong dự báo
* Phương pháp ngoại suy theo dãy thời gian:
Mét trong những phương pháp nh sau: Thiết lập mối quan hệ giữa sựphát triển của đối tượng dự báo theo thời gian Các kết quả quan sát đối tượngđược sắp xếp trình tự theo các thời gian tương ứng Tất nhiên để thời gianphản ánh đúng xu hướng khách quan đòi hỏi quá trình phát triển của đốitượng phải tương đối ổn định và thời gian phải là đại lượng đồng nhất (tronggiáo dục là hàng năm, 3 năm, 5 năm hoặc 10 năm…)
Chọn mô hình toán học tương thích với quy luật được phác ra theo dãythời gian
Các dạng hàm số của dãy thời gian thường được dùng để dự báo nh:
Trang 22Sơ đồ 4: Các dạng hàm số dùng để dự báo ngoại suy theo dãy thời gian
Dạng hàm sè Hệ phương trình tính các tham sè
Trang 23y=a+blnt
* Phương pháp tương quan tỷ lệ:
Phương pháp tương quan tỷ lệ là một trong các phương pháp ngoạisuy theo dãy thời gian Phương pháp này khá thông dụng trong dự báo giáodục nói chung và dự báo phát triển giáo dục THPT nói riêng Phương pháptương quan tỷ lệ dùa trên mối quan hệ tỷ lệ giữa hai đối tượng dự báo trongmột khoảng thời gian nhất định đã biết để xác lập giá trị hệ số dự báo trongtương lai và đưa ra công thức tính giá trị của đối tượng dự báo Sử dụngphương pháp dự báo này cần chú ý tính chính xác của hệ số dự báo, vì hệ số
dự báo càng chính xác thì kết quả dự báo cũng chính xác và ngược lại Nộidung của phương pháp này như sau:
Gọi đối tượng dự báo là Y và gọi nhân tố tác động đến đối tượng dự báo
là X Người ta thiết lập quan hệ tỷ lệ như sau:
trong đó i là số lần quan sát với i=1,2, ,n
Dùa vào công thức trên người ta xác định các K i trong quá khứ vàxem xét quy luật phát triển của nó theo thời gian Có 3 trường hợp xảy ratương đối phổ biến mang tính đặc trưng sau:
Mét là: Các hệ sè K i dao động theo quy luật ổn định xoay quanh giá trịtrung bình nào đó trong thời kỳ xem xét
Hai là: Các hệ sè K i dao động với xu hướng tăng lên
Ba là: Các hệ sè K i dao động theo xu hướng giảm
Trên cơ sở xem xét quy luật biến thiên của hệ sè K i trong quá khứ ta có
thể đoán định được giá trị K i trong thời kỳ dự báo
Trang 24Từ việc phân tích các quy luật biến thiên của hệ sè K i kinh nghiệm thực
tế cho ta thấy rằng:
+ Nếu hệ sè K i dao động ổn định thì có thể lấy giá trị trung bình của các
K i trong quá khứ làm giá trị hệ số dự báo trong tương lai Lúc đó giá trị củađối tượng dự báo sẽ là:
Trong đó: Y (t) – Giá trị của đối tượng dự báo ở năm dự báo t.
X(t)- Giá trị của nhân tố ảnh hưởng X ở năm dự báo t.
- Giá trị trung bình của K i với
+ Nếu hệ sè K i dao động theo xu hướng tăng lên (tăng dần hoặc tăng
nhảy vọt) thì phải xem xét K i nhận giá trị nào trong khoảng từ min đến max
+ Nếu hệ sè K i dao động theo xu hướng giảm (giảm dần hoặc giảm nhảy
vọt) thì cũng phải xem xét để có được một giá trị K i thích hợp
Phương pháp 3: Phương pháp tương quan hồi quy.
Phương pháp tương quan hồi quy là phương pháp giúp ta phát hiện xuhướng biến đổi của hiện tượng nghiên cứu trong mối liên hệ với một hoặc vàinhân tố khác trên cơ sở các quan sát thống kê trong quá khứ và từ đó ngoạisuy cho tương lai
Hai nhân tè Y và X được coi là có quan hệ tương quan với nhau, nếu ứng với một giá trị nào đó của X thì Y nhận một trong các giá trị có thể có của
nó một cách ngẫu nhiên Hàm số tương quan giữa Y và X được biểu diễn một cách tổng quát là: Y=f(X) (thường gọi là tương quan cặp hay tương quan đơn) Tương tự, nếu Y được xem xét trong mối liên hệ với nhiều nhân tè X 1 ,
X 2 , X 3 , , X n ta sẽ có mối quan hệ tương quan đa nhân tố ảnh hưởng Hàm số
tương quan đa nhân tố được biểu diễn tổng quát như sau: Y=f(X 1 , X 2 , , X n ) Trong đó: Y- là giá trị của đối tượng dự báo;
f- là hàm số;
Trang 25X 1 , X 2 , , X n là các yếu tố tác động đến đối tượng dự báo.
Người ta phân tích các loại tương quan sau đây:
+ Theo số lượng nhân tố: ta có đơn nhân tố và đa nhân tố (tương quanđơn và tương quan bội)
+ Theo hướng phát triển của hàm số tương quan: Ta có quan hệ dương
và quan hệ âm (quan hệ thuận và quan hệ nghịch)
+ Theo hình thức thể hiện của hàm số tương quan: Tuyến tính hay phituyến tính
Cần lưu ý rằng: đại lượng Y còng như các yếu tè X là các đại lượng ngẫu nhiên và do đó hàm f cũng là một hàm ngẫu nhiên Mức độ tin cậy của các kết
quả dự báo phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác nhau, trong đó việc lùa chọnđược hàm sè tương quan phù hợp có đóng trò rất quan trọng trong dự báo Khi tiến hành dự báo theo phương pháp tương quan ta cần phải thực hiệntheo các bước sau đây:
Bước 1: Xác định đối tượng dự báo.
Bước 2: Lùa chọn các nhân tố ảnh hưởng
Bước 3: Thu thập, xử lý dữ kiệu theo yêu cầu kỹ thuật.
Bước 4: Xác định hàm tương quan.
Bước 5: Tính toán dự báo.
Để đánh giá mức độ chặt chẽ của quan hệ tương quan giữa đối tượng dự
báo với các yếu tố ảnh hưởng đang xét, người ta sử dụng hệ số tương quan R.
Hệ số tương quan R luôn thoả mãn điều kiện: 0 R 1
+ Nếu R 0,4 quan hệ yếu (lỏng lẻo).
+ Nếu 0,4 R 0,6 quan hệ trung bình.
+ Nếu R> 0,6 quan hệ chặt.
Trang 26Phương pháp 4: Phương pháp sơ đồ luồng
Phương pháp sơ đồ luồng là một trong những phương pháp giúp chocông tác kế hoạch hoá và quản lý giáo dục hiệu quả hơn Phương pháp nàycho phép tính toán luồng học sinh suốt cả hệ thống giáo dục Một học sinhhoặc lên líp, hoặc lưu ban, hoặc là bỏ học Do đó, phương pháp sơ đồ luồngdùa vào 3 tỷ lệ quan trọng sau đây:
+ Tỷ lệ lên líp: ký hiệu là P
+ Tỷ lệ bỏ học: ký hiệu là d
+ Tỷ lệ lưu ban: ký hiệu là r
Phương pháp sơ đồ luồng tính toán dùa trên cơ sở của sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 4: Sơ đồ luồng thể hiện phương pháp tính toán
số học sinh lên líp, bỏ học, lưu ban bậc Tiểu học
+ E11 là số lượng học sinh líp 1 ở năm t1
+ E12 là số lượng học sinh líp 1 ở năm t2
Trang 27+ N2 là số lượng nhập học vào líp 1 ở năm học t2.
+ r11 là tỷ lệ lưu ban líp 1 ở năm t1
Số lượng học sinh líp 2 ở năm học t2 sẽ được tính theo công thức sau:
E22=(E11 x P11) +(E21 x r21)Tương tự như vậy ta sẽ tính được số lượng học sinh của líp 3, líp 4,… ởcác líp và các năm tiếp theo
Phương pháp sơ đồ luồng thường được áp dụng vào dự báo quy mô họcsinh Tiểu học, THCS và THPT Khi tiến hành dự báo quy mô học sinh theochuyển bậc học có 3 chỉ số quan trọng cần phải xác định đó là:
+ Dân số trong độ tuổi nhập học trong thời kỳ dự báo
+ Tỷ lệ nhập học trong tương lai
+ Tỷ lệ lên líp, lưu ban, chuyển cấp, trong tương lai
1.2- VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
1.2.1- Vai trò của giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội:
Giáo dục phổ thông là một hệ thống con trong hệ thống lớn KT-XH.Đồng thời là một bộ phận chính (hay xương sống) trong hệ thống GD&ĐT.GD&ĐT nói chung, giáo dục THPT nói riêng có vị trí vai trò rất quan trongtrong sự phát triển KT-XH của đất nước, của địa phương Chúng ta biết rằngkhông có một quốc gia nào khi xây dựng đất nước, khi xây dựng một nềnkinh tế quốc dân lại không dùa vào GD&ĐT, KHCN Bởi GD&ĐT, KHCN làchìa khoá vàng để mở mang tri thức, là động lực thúc đẩy đất nước phát triển.Một đất nước, một dân téc khi nền dân trí thấp kém thì đất nước đó trở nênnghèo nàn và lạc hậu Điều đó lịch sử nhân loại hôm nay đã chứng minh đầy
đủ bằng thực tiễn của nó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một dân técdốt là một dân téc yếu” Sự phát triển của giáo dục THPT không thể tách rời
sự phát triển của KT-XH Mỗi sự kiện của giáo dục đều chứa đựng những nộidung chính trị, kinh tế và xã hội nhất định
Trang 28Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rất rõ vai trò của giáo dục đối với
sự phát triển toàn bộ nền kinh tế của đất nước Chiến lược phát triển GD&ĐT
là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển con người, chiến lược pháttriển KT-XH của đất nước Do đó, từ năm 1991 GD&ĐT, KHCN đã đượcĐảng và Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu Coi đầu tư cho giáo dục làđầu tư cho phát triển, đầu tư cơ bản cho chiến lược KT-XH Khi bàn về giáodục Mác-Lê Nin đã viết: “Giáo dục vừa là mục tiêu của nền kinh tế, vừa lànhân tố đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế” [28-tập 1- trang 318]
Trong văn kiện của Lê Nin: “Những nhiệm vụ trước mắt của chínhquyền Xô viết” (ngày 26/4/1918), Người còn coi “Giáo dục là bộ phận trongkết cấu hạ tầng của xã hội”
Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn GD&ĐT, KHCN là khâu đột phácủa thời kỳ mới, có tư tưởng và quan điểm chỉ đạo rõ ràng: “Giáo dục phải đitrước một bước so với phát triển KT-XH”
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ ra những việc làm cụ thể,nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục được tập trung vào: “Chấn chỉnh,sắp xếp, củng cố, nâng cao và phát triển” Những giải pháp chủ yếu đặt ra 4vấn đề: “Tăng cường nguồn lực, tăng cường động lực, tiếp tục đổi mới nộidung, phương pháp, tăng cường cơ sở vật chất thiết bị nhà trường, chấn chỉnhquản lý giáo dục” Do vậy, GD&ĐT có vị trí rất quan trọng, nó là nền tảngvăn hoá của nhà nước, là sức mạnh tương lai của dân téc, là nguồn tuyển chọnđào tạo lực lượng lao động cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, quốc phòng
Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lúc sinh thời đã rất quan tâm tới giáo dục,trong cuốn sách bàn về giáo dục do Nhà xuất bản sự thật Hà Nội xuất bảnnăm 1972 Bác Hồ đã chỉ rõ: “Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũngkhông nói gì tới kinh tế, văn hoá” [9-trang 65]
Trong Tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ đã khẳng định: “Một dân téc dốt làmột dân téc yếu” Ngày nay đứng trước xu thế toàn cầu hoá, cuộc cách mạng
Trang 29KHCN nghệ đang phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển không ngừngnền kinh tế thế giới Có thể nói điểm cao của sự phát triển này là việc chiếmlĩnh công nghệ cao Nhiều học giả đã nhận định rằng: Ai chiếm ưu thế tronglĩnh vực công nghệ cao, thì người đó nắm quyền chủ động về kinh tế và chínhtrị Do đó, chức năng của giáo dục đối với xã hội là rất quan trọng, giáo dục
đã trở thành một nhân tố then chốt của sự phát triển bằng cách thực hiện 3chức năng chính đối với xã hội đó là:
+ Chức năng phát triển xã hội (đầu tư cho giáo dục, phát triển nguồn lực): P1 + Chức năng phóc lợi xã hội: P2
+ Chức năng phục vụ xã hội (có hoạch toán, chi phí, hiệu quả): P3
Sơ đồ 5: Chức năng của giáo dục đối với xã hội
Bản thân giáo dục không thể trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng kinh tếnhưng nó góp phần quyết định sự tăng trưởng đó, nâng cao chất lượng cuộcsèng, ổn định chính trị, xã hội và phát triển văn hoá
Giáo dục có vai trò làm nền tảng cho sự phát triển KT-XH, đem lại sựhưng thịnh cho mỗi quốc gia, giáo dục có chức năng tái sản xuất sức lao động
kỹ thuật cho nền kinh tế, đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội gópphần làm giảm sự bất bình đẳng giữa các tầng líp dân cư Giáo dục có mốiquan hệ khăng khít với sự phát triển KT-XH
Sơ đồ 6: Mối quan hệ giữa giáo dục với kinh tế - xã hội.
Trang 30
Giỏo dục vừa là mục tiờu, vừa là động lực cho sự phỏt triển kinh tế xó hội,đồng thời sự phỏt triển của KT-XH cũng chớnh là điều kiện và mụi trường, địnhhướng cho sự phỏt triển của giỏo dục GD&ĐT cung cấp nguồn nhõn lực cútrỡnh độ và tri thức cho sự phỏt triển KT-XH, là nũng cốt trong phỏt triển KHCN
Hệ thống giỏo dục phổ thụng bao gồm: bậc Tiểu học, bậc THCS và bậcTHPT Trường phổ thụng vừa là cơ sở GD&ĐT trong hệ thống giỏo dục quốcdõn, đồng thời là cơ sở văn hoỏ khoa học của mỗi địa phương dưới sự quản lýsong trựng về mặt lónh thổ và mặt chuyờn mụn
Giỏo dục phổ thụng núi chung và giỏo dục THPT núi riờng cú tầm quantrọng hàng đầu trong sự nghiệp xõy dựng nền văn hoỏ mới, con người mới, làđiều kiện phỏt huy nhõn tố con người
1.2.2- Vai trũ của giỏo dục Trung học phổ thụng.
Giỏo dục THPT là tạo nền tảng cơ bản về tri thức văn hoỏ chung, phẩmchất nền tảng của người lao động tương lai Cấu trỳc nội dung giỏo dục THPTtạo nờn sự phỏt triển toàn diện hài hoà của sản phẩm giỏo dục về: Đức-Trớ-Thể-Mỹ Luật giỏo dục của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đó khẳng địnhrất rừ mục tiờu của giỏo dục phổ thụng: “Là giỳp học sinh phỏt triển toàn diện
về đạo đức, trớ tuệ, thể chất, thẩm mỹ và cỏc kỹ năng cơ bản nhằm hỡnh thànhnhõn cỏch con người Việt Nam XHCN, xõy dựng tư cỏch và trỏch nhiệm cụngdõn chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lờn hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xõy dựng và bảo vệ tổ quốc” [Điều 23-trang 17]
Con ngời đợc giáodục - đào tạo
Trang 31Giáo dục THPT có vai trò quan trọng nhằm giúp học sinh củng cố, hoànthiện học vấn để tiếp tục học lên cao hoặc đi vào cuộc sống lao động, đây là mộtlực lượng quan trọng cho sự phát triển KT-XH, góp phần giảm đói nghèo, đồngthời giúp cho mọi người có cơ hội tham gia vào hoạt động xã hội, phát triển KT-
XH, thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Nh vậy, vị trí mới của giáo dục THPT được thể hiện ở:
+ Mét cấp học có nhiệm vụ đào tạo nguồn đáng kể cho đào tạo nhân lực ởtrình độ THCN, Cao đẳng, Đại học,… phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Mục tiêu của giáo dục Trung học phổ thông là:
+ Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kếtquả của giáo dục Tiểu học và THCS
+ Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh có trình độ hiểu biết học vấn phổthông và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật, hướng nghiệp để tiếp tục học lêncao: THCN, Cao đẳng, Đại học hoặc đi vào cuộc sống lao động [4-điều 23]
+ Triển khai và thực hiện tốt đổi mới chương trình và sách giáo khoagiáo dục Trung học phổ thông (Nghị quyết 40/QH10)
+ Thực hiện phổ cập giáo dục THPT vào năm 2007 (Nghị quyết củaThành uỷ và HĐND Thành phố Hà Nội)
1.3- NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY MÔ GIÁO DỤC:
Trang 32Theo lý thuyết hệ thống thì hệ thống GD&ĐT là một phân hệ hay làmột hệ thống con trong hệ thống KT-XH Vì vậy, GD&ĐT chịu tác động qualại của nhiều nhân tố khác nhau trong hệ thống lớn KT-XH Thực tiễn chothấy các nhà nghiên cứu đã khái quát các nhân tố ảnh hưởng tác động đến sựphát triển của hệ thống GD&ĐT thành 4 nhóm nhân tố sau đây:
1.3.1- Các nhân tố về quan điểm, đường lối chỉ đạo:
Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân.Giáo dục phải phục vụ mục đích chính trị Bất kỳ một xã hội nào, quốc gianào cũng sử dụng giáo dục nh mét công cụ đặc biệt phục vụ cho các mục tiêuchính trị và quyền lợi của xã hội mà mình đại diện Sự phát triển của GD&ĐTvừa là kết quả của những yêu cầu khách quan, vừa là kết quả của các hoạtđộng chủ quan của con người, mà trước hết là sự định hướng của Đảng vàNhà nước còng nh hoạt động của chính hệ thống GD&ĐT Do vậy, quan điểmchỉ đạo sự phát triển của GD&ĐT vừa phải có tính khách quan, vừa có tínhchủ quan và phải điều hòa hợp lý hai tính chất đó Quan điểm của Đảng ta đã
xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, chính vì yêu cầu phát triển và đổi
mới của đất nước GD&ĐT ngày nay không chỉ là một bộ phận đặc biệt củacấu trúc hạ tầng xã hội, mà GD&ĐT còn được coi nh là một dịch vụ Đồngthời GD&ĐT cũng là một bộ phận của phóc lợi xã hội mà mọi thành viên củacộng đồng đều được hưởng Quan điểm đường lối đổi mới của Đảng về mọimặt, trong đó có GD&ĐT đã tạo đà cho GD&ĐT ngày càng phát triển cả về
số lượng, chất lượng và xây dựng một xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí,bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
1.3.2- Các nhân tố về kinh tế - xã hội:
Trong hệ thống KT-XH của quốc gia, GD&ĐT là một bộ phận quantrọng; đảm bảo được mối quan hệ hữu cơ giữa giáo dục và KT-XH trong quátrình phát triển, góp phần tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tếvới tiến bộ xã hội Trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước, phát
Trang 33triển giáo dục là một bộ phận cấu thành không thể thiếu nhằm chuẩn bị trướcnguồn nhân lực đón đầu các nhu cầu phát triển KT-XH Do đó, quy mô pháttriển giáo dục chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố KT-XH bao gồm: dân
số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, tổng sản phẩm xã hội (GNP, GDP) bìnhquân/người, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, các nguồn đầu tư có thểhuy động cho phát triển GD&ĐT,… Trong các yếu tố trên, đáng chú ý là yếu
tố dân số Dân số tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến quy mô phát triểncủa GD&ĐT Trong điều kiện đất đai hạn hẹp, kinh tế kém phát triển thì dân
số đông và tốc độ tăng dân số cao là một trong những nguyên nhân chính dẫnđến gia tăng số lượng học sinh, đồng thời kéo theo sù gia tăng quy mô mạnglưới trường líp, số lượng giáo viên, cơ sở vật chất…
1.3.3- Các nhân tố về văn hoá, khoa học, công nghệ:
GD&ĐT là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực
xã hội nh: kinh tế, văn hóa, KHCN Do đó, các diễn biến về văn hoá, khoahọc công nghệ có thể làm thay đổi nội dung quy mô đào tạo cũng như cơ cấuđào tạo làm ảnh hưởng tới khả năng thời gian dự báo Sự phát triển của khoahọc công nghệ đòi hỏi GD&ĐT phải có sự cải tiến, bổ sung và đổi mới vềchương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với nhữngtiến bộ mới Sự phát triển của KHCN hiện nay đã làm cho một số ngành nghề
có thể bị thu hẹp, thậm chí mất đi, nhưng cũng có một số ngành nghề mớixuất hiện, do vậy mà quy mô phát triển của GD&ĐT cũng không ngừng thayđổi theo nhằm đáp ứng sự phát triển đó
1.3.4- Các nhân tố bên trong của hệ thống giáo dục và đào tạo:
Nhân tố bên trong của hệ thống giáo dục nh cấu trúc mạng lưới cácloại hình đào tạo, loại hình trường líp, nội dung chương trình đào tạo, tổ chứcđào tạo, đội ngò giáo viên Việc tổ chức quá trình đào tạo như: thời gian đàotạo, chất lượng đào tạo, hiệu quả trong, hiệu quả ngoài Nếu các loại hìnhtrường líp được phát triển đa dạng, phân bố hợp lý đội ngò giáo viên đủ về số
Trang 34lượng, đồng bộ về chủng loại và chất lượng sẽ là điều kiện cơ bản để đáp ứngtốt với quy mô GD&ĐT ngày càng tăng
1.3.5- Nhân tố hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo:
Xu thế phát triển GD&ĐT trên thế giới và trong khu vực có tác động
rõ nét tới GD&ĐT nước ta ở nhiều mặt, trước hết đó là hệ thống các quanđiểm nhìn nhận và đánh giá GD&ĐT trong mối quan hệ với phát triển Trong
xu thế hội nhập chung GD&ĐT không thể đứng ngoài cuộc, sự phát triển vàhội nhập của GD&ĐT phải dùa trên nền tảng những giá trị văn hóa của dântéc, phải giữ vững được mục tiêu và bản sắc của dân téc Cố Thủ tướng PhạmVăn Đồng đã khẳng định: Phải từng bước xây dựng lâu đài giáo dục nước tavừa hiện đại vừa có dáng dấp của dân téc Ở lâu đài này, có thể ghi dòng chữ:
“Vào đây là nơi cất giấu kho báu của trí tuệ dân téc và trí tuệ loài người; rakhỏi đây là đi tới những nơi mình có thể đóng góp phần quan trọng nhất củamình vào sự nghiệp xây dựng đất nước, đào tạo con người và chuẩn bị chotương lai”
Trong các nhóm nhân tố nêu trên, nhóm nhân tố về KT-XH là nhân tố
có ảnh hưởng cơ bản trực tiếp nhất Bởi vì nhóm nhân tố này phản ánh nhucầu và khả năng đầu tư của xã hội đối với GD&ĐT Với nhân tố hội nhậpquốc tế về GD&ĐT ảnh hưởng đến GD&ĐT ở nhiều mặt, nhiều khía cạnhkhác nhau Các xu thế phát triển của GD&ĐT trên thế giới ảnh hưởng tới hệthống các quan điểm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về GD&ĐT, làm chocác quan điểm về GD&ĐT ngày càng phù hợp hơn, thích ứng với sự pháttriển khách quan của GD&ĐT để đảm bảo phù hợp với xu thế phát triểnchung của thế giới và các nước trong khu vực Điều đó có ảnh hưởng rất quantrọng đến sự phát triển GD&ĐT của quốc gia và của địa phương góp phầnphát triển của đất nước theo định hướng XHCN
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CỦA HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1- KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI CỦA THỦ ĐÔ
HÀ NỘI HIỆN NAY.
2.1.1- Đặc điểm dân cư, địa lý.
Hà Nội - Thủ đô của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, là trung tâmchính trị, KT-XH, KHCN của cả nước với gần một nghìn năm lịch sử pháttriển Nằm ở lưu vực đồng bằng sông Hồng, Thủ đô Hà Nội là một vùng đấthội tụ thiên thời, địa lợi, nhân hoà, nơi sinh ra biết bao nhà khoa học, nhà lãnhđạo cách mạng, những anh hùng hoà kiệt của dân téc Hiện nay, Hà Nội códiện tích tự nhiên 920,97 km2, dân số khoảng 3,2 triệu người, mật độ dân số3.386 người/km2 Hà Nội là một Thành phố trực thuộc Trung ương, về địagiới hành chính Hà Nội được chia thành 14 quận huyện, với tổng số xã,phường, thị trấn 232 (xã: 99, phường: 128 và thị trấn: 5), trong đó có 9 quậnnội thành và 5 huyện ngoại thành với cơ cấu kinh tế, thành phần dân cư,truyền thống văn hoá hết sức đa dạng và phong phó [8]
Hà Nội là nơi tập trung văn hoá, giáo dục, KHCN của cả nước với hàng
trăm cơ sở văn hoá, lịch sử Đặc biệt Hà Nội có Văn Miếu - Quốc Tử Giámđược xem là cơ sở Đại học đầu tiên ở nước ta được thành lập từ đời nhà Lý(1070) Hà Nội có mạng lưới các viện nghiên cứu khoa học đầu ngành, cáctrường Đại học, Cao đẳng, THCN và dạy nghề Riêng ở địa bàn Hà Nội đã có
52 trường Đại học và Cao đẳng, 43 trường THCN và dạy nghề của Trungương và địa phương với hàng chục vạn sinh viên và học sinh các cấp Hà Nội
là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển GD&ĐT vớithành tích hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học năm 1990 và đã hoàn thànhphổ cập THCS năm 1999 (so với mục tiêu cả nước về phổ cập THCS đến
Trang 362010) Các chỉ số phát triển giáo dục đều ở mức cao với số lượng khoảng3.000 người đi học/1 vạn dân Số năm đi học trung bình của dân số trên 15tuổi là 9,8 (cả nước là 7,4) Hà Nội cũng là nơi tập trung đông đảo đội ngòcác chuyên gia, các nhà khoa học đầu ngành, các nghệ nhân và công nhân kỹthuật có trình độ văn hoá cao thuộc mọi ngành nghề Đây là một tiềm năng
to lớn về mọi mặt của Hà Nội trong quá trình CNH-HĐH (Xem phụ lục số 1)
Hà Nội là trung tâm kinh tế thương mại, du lịch và giao lưu quốc tếquan trọng vào bậc nhất trong cả nước với nhiều trung tâm thương mại, khucông nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp mới với nhiều cơ sở sản xuấthiện đại (khu công nghiệp Sài Đồng, Nội Bài, Bắc Thăng Long ) Với diệntích chỉ bằng 0,28%, dân số 3,54% so với cả nước song các cơ sở kinh tế ở
Hà Nội đã làm ra một giá trị chiếm 7,5% tổng sản phẩm trong nước (năm2001) Thu nhập bình quân đầu người đạt 450 USD/người (năm 2003) lớnhơn khoảng 3 lần so với thu nhập bình quân trong cả nước Về cơ cấu kinh tế,
Hà Nội đang trong quá trình thay đổi Theo chỉ đạo của Thành uỷ, HĐND vàUBND Thành phố về sự phát triển GD&ĐT của Thủ đô trong những năm tớiphải đạt được:
- Tạo bước phát triển mới cả về qui mô và chất lượng GD&ĐT ở tất
cả các cấp bậc học nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về trình độ dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tạo ra động lực mới cho sự phát triển
KT-XH Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ phát triển mới
- Tạo ra bước phát triển mới về cơ cấu, chất lượng đào tạo và bồi
dưỡng đội ngò nhân lực lao động đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế
và phát triển các sản phẩm, các ngành công nghệ chất lượng cao, dịch vô caocấp, và có sức cạnh tranh ở thị trường trong và ngoài nước
- GD&ĐT của Thủ đô góp phần xây dựng nền văn hoá Thủ đô tiên tiếngiàu bản sắc dân téc ngàn năm văn hiến Xây dựng con người Hà Nội vănminh, thanh lịch, hiện đại, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã
Trang 37hội và phong cách lao động sáng tạo của con người Việt Nam trong thời kỳCNH-HĐH.
- GD&ĐT của Thủ đô góp phần xây dựng nguồn vốn con người có trình
độ văn hoá cao, chuyên môn giỏi, có ý chí vươn lên chuẩn bị cho con ngườiThủ đô tiệm cận với nền kinh tế tri thức GD&ĐT Thủ đô góp phần tích cựcvào công cuộc xoá đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội của Thủ đô
Dân số của Hà Nội được chia theo khu vực địa giới hành chính và độtuổi (theo kết quả điều tra dân số năm 01/4/1999 và kết quả thống kê dân sốtính đến 31/12/2004) qua bảng sau [8]:
Bảng 2: Số đơn vị hành chính, diện tích và dân số của các quận huyện.
Quận, huyện
Số xã phường, thị trấn
Diện tích
(Km 2 )
Dân sè TB năm 1999
(1000 người)
Dân sè TB 31/12/2004
(1000 người)
Trang 38(Nguồn niên giám thống kê năm 2004)
Như vậy, các chỉ tiêu bình quân đầu người của Hà Nội [8,35] dã có sựphát triển cao trong những năm gần đây so với toàn quốc, cụ thể năm 2004: + Lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước: 504.800 người
+ Giải quyết được việc làm cho 78.000 người/năm
+ GDP bình quân đầu người/năm: 18,2 triệu đồng so với cả nước là8,69 triệu đồng (đứng thứ hai sau Thành phố Hồ Chí Minh)
+ Sè máy điện thoại/100 dân là 35,4 cái
+ Sè học sinh phổ thông/vạn dân: 1.605 học sinh/vạn dân
Mặc dù, Hà Nội là Thành phố đông dân chiếm 3,76% dân số toàn quốc,tốc độ tăng dân số tự nhiên hàng năm khoảng 1,22%, nghĩa là mỗi năm tăngthêm khoảng 2.000-3.000 người, bên cạnh đó là hiện tượng di dân tự do, di dân
cơ học, tạo áp lực lớn về tăng dân số của Thành phố Điều này gây áp lực khôngnhỏ đối với nền kinh tế của Thủ đô trong việc giải quyết công ăn việc làm
Các kết quả phân tích phân bố dân cư của Hà Nội cho thấy rằng: Mật
độ dân số trung bình của Thành phố năm 2004 là: 3.386 người/km2, nhưng sựphân bố dân cư này không đồng đều giữa các quận nội thành và các huyệnngoại thành, nội thành diện tích hẹp, người đông, ngoại thành diện tích rộng,người thưa Vấn đề phân bố dân cư không đồng đều ảnh hưởng rất lớn đếnchiến lược phát triển GD&ĐT nh: quy mô trường líp, tỷ lệ học sinh/lớp,
Bảng 3: Dự báo dân số của Hà Nội thời kỳ 2000-2010
(Phương án mức sinh không giảm)
DS chia theo nhóm tuổi
Tổng sè 2.723.088 3.025.243 3.339.205 3.653.848
1 Dự báo dân số từ 0-4 tuổi 189.818 220.011 248.483 258.779
2 Dự báo dân số từ 5-19 tuổi 740.712 697.485 703.008 734.693
3 Dự báo dân số từ 20-59 tuổi 1.546.456 1.818.372 2.044.857 2.237.205
4 Dự báo dân số từ 60 tuổi trở lên 246.102 289.375 342.857 423.171
(Nguồn dự báo dân số của UNESCO)
Trang 39Như vậy, có khoảng 1,167 triệu người dân của Hà Nội sống ở nôngthôn và lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm 37,4%; Có khoảng 1,95triệu người dân của Hà Nội sống ở thành thị và lao động trong khu vực côngnghiệp, chế xuất, dịch vụ thương mại, du lịch chiếm 62,6% tổng số lao độngđang làm việc Điều này chứng tỏ ở Hà Nội có khá nhiều khu công nghiệp,nhiều trung tâm chế xuất, thương mại, du lịch thu hót và sử dụng nhiều nguồnnhân lực Bây giê chúng ta xét xu hướng phát triển dân số của Thủ đô Hà Nộigiai đoạn 2000-2005.
Bảng 4: Dự báo dân số của Hà Nội chia theo nhóm tuổi
TT Tổng dân số
(người)
Nhómtuổi
Năm 2000
Năm 2005
Năm 2010
Năm 2015Tổng dân số 2.723.088 3.025.243 3.339.205 3.653.848
(Nguồn dự báo dân số của UNESCO)
2.1.2- Đặc điểm kinh tế - xã hội.
Phát triển Hà Nội phải có tầm nhìn xa, hướng tới một thành phố, một
đô thị lớn văn minh, hiện đại có trình độ phát triển cao Kết hợp hài hoà giữatruyền thống và hiện đại, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữakinh tế và quốc phòng
Hà Nội phải phát triển với tốc độ nhanh, bền vững ngang tầm với một
số thủ đô của các nước trong khu vực, đồng thời giữ được các giá trị độc đáo
về môi trường, văn hoá, kiến trúc và cảnh quan đô thị
Phát triển Hà Nội, nhất là tổ chức không gian kinh tế không khép kíntrong ranh giới hành chính mà phải kết hợp chặt chẽ với các tỉnh thành phố
Trang 40trong khu vực để dãn bớt lao động và dân cư cho thủ đô Trên cơ sở đó hìnhthành vùng phát triển đô thị công nghiệp mà hạt nhân lan toả là Hà Nội.
Hà Nội là trung tâm du lịch, thương mại và đầu mối giao lưu quốc tếPhát triển Hà Nội đặt trong mối quan hệ hợp tác và cạnh tranh quốc tế nhất làvới các nước trong khu vực
Định hướng chung phát triển KT-XH Thủ đô Hà Nội giai đoạn
2001-2010 như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIII đã xác định là:
“Bảo đảm ổn định vững chắc về chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát triểnkinh tế, KHCN, văn hoá, xã hội toàn diện, bền vững; xây dựng về cơ bản nềntảng vật chất, kỹ thuật và xã hội của Thủ đô XHCN giàu đẹp, văn minh, thanhlịch, hiện đại, đậm đà bản sắc ngàn năm văn hiến; nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân; tích cực chuẩn bị tiền đề của kinh tế tri thức; phấnđấu trở thành một trung tâm ngày càng có uy tín ở khu vực, xứng đáng vớidanh hiệu Thủ đô Anh hùng”
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu KHCN trong tất cả các
ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng, an ninh, nhanhchóng nâng cao trình độ công nghệ, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhập từbên ngoài, tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở các khâu quyếtđịnh đối với sự phát triển của Thành phố trong thế kỷ XXI Nhịp độ tăngtrưởng GDP của một số năm [8,41] nh sau:
Bảng 5: Giá trị GDP của Thành phố giai đoạn 1991-2010
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Tổng GDP 8.009 12.471 19.999 30.527 41.000
(Nguồn quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội)