Dự báo nhu cầu đào tạo giáo viên các môn học, cấp học chưa sát vớinhu cầu thực tế dẫn tình trạng thiếu đồng bộ về loại hình, cơ cấu; khó khăncho việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV mộ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI, “Thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ”, báo hiệu sự bùng nổ của trithức khoa học và công nghệ Trí tuệ con người sẽ phát triển cao và đóng vaitrò quyết định đối với sự tiến bộ, cũng như tốc độ phát triển của nền vănminh nhân loại Do đó, vấn đề nhân lực và nhân tài là vấn đề sống còn củamỗi quốc gia Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.Nguồn nhân lực con người và tiềm năng con người là nhân tố quyết định.Giáo dục - Đào tạo là con đường quan trọng để tạo ra nguồn lực con ngườichất lượng cao và khai thác tiềm năng con người hiệu quả nhất
Đảng ta khẳng định "Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn lực chấtlượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hoá- hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởngkinh tế nhanh và bền vững” [9, tr.20]
Trong các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
tư khóa VII, lần thứ hai khóa VIII đã khẳng định việc đổi mới nội dung,phương pháp giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ GV, CBQL vàtăng cường cơ sở vật chất các trường học là nhiệm vụ trọng tâm của giáodục- đào tạo
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng,
về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người Đây
là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng” Đồng thời Chỉ thịcũng chỉ rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơcấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống,lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúnghướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạonguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong sự nghiệp phát triển giáo dục thì phát triển giáo dục Trung họcPhổ thông có vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân nóichung và giáo dục phổ thông nói riêng Đội ngũ GV nói chung và đội ngũ
GV THPT nói riêng đã được quan tâm xây dựng và phát triển về mọi mặt.Song vẫn còn có những hạn chế, bộc lộ nhiều yếu điểm như: việc sử dụngcác phương tiện dạy học, sử dụng công nghệ thông tin, tham gia hoạt độngchính trị, xã hội; xử lý tình huống sư phạm, phát hiện và giải quyết vấn đề,
Trang 2chưa sáng tạo và linh hoạt trong những hoàn cảnh, điều kiện thay đổi, chỉthực hiện theo kế hoạch; đặc biệt còn lúng túng trong việc vận dụng phươngpháp dạy học mới khi chương trình SGK có sự cải tiến, bổ sung Một trongnhững nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhiều GV còn chưa chủđộng trau dồi kiến thức, tự học, tự bồi dưỡng; mặt khác là ngành Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Điện Biên chưa xây dựng được quy hoạch, kế hoạch chiếnlược Dự báo nhu cầu đào tạo giáo viên các môn học, cấp học chưa sát vớinhu cầu thực tế dẫn tình trạng thiếu đồng bộ về loại hình, cơ cấu; khó khăncho việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV một cách toàn diện; đặc biệtchưa chú trọng đến việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV
Trước đòi hỏi bức thiết của đổi mới phương pháp giảng dạy trong trườngphổ thông, vấn đề đào tạo bồi dưỡng GV đang được nhìn nhận như một nhucầu không thể thiếu nhằm giúp GV đổi mới phương pháp giảng dạy và khắcphục những điểm yếu của mình
Sau một thời gian được học tập, nghiên cứu, bản thân tôi hiện đang làmột cán bộ phụ trách việc quản lý và tham mưu cho Giám đốc Sở GD&ĐT
về kế hoạch phát triển giáo dục phổ thông của tỉnh nhà Vì vậy, tôi chọn đề
tài “ Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Trung học Phổ thông tỉnh Điện Biên đến năm 2015”.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng đội ngũ
GV THPT tỉnh Điện Biên nhằm xây dựng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng độingũ GV THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015 đáp ứng yêu cầu đổi mới giáodục phổ thông tại địa phương
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ GV THPT
tỉnh Điện Biên
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu xác định được cụ thể nhu cầu về số lượng và nhu cầu đào tạo, bồidưỡng của đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015 thì có thể xâydựng được quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV THPT sát hợp vớithực tế của địa phương và từng trường THPT từ đó góp phần nâng cao chấtlượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậc THPT của tỉnh
Trang 36 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1 Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về xây
dựng, quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT trên địa bàn tỉnh
6.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GV THPT tỉnh
Điện Biên và dự báo số lượng, nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của đội ngũ GVcủa tỉnh đến năm 2015
6.3 Xây dựng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh
Điện Điện đến năm 2015
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu lí
luận, các văn kiện Đảng, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, củaNgành, của địa phương có liên quan đến đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, thu
thập số liệu, phân tích, tổng hợp các vấn đề thực tiễn liên quan đến đề tài;trưng cầu ý kiến chuyên gia về tính khả thi của quy hoạch
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Phương pháp thống kê
toán học, phương pháp dự báo, phương pháp so sánh
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu thamkhảo cùng các phụ lục kèm theo Luận văn cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
THPT
Chương 2: Thực trạng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
THPT tỉnh Điện Biên
Chương 3: Xây dựng quy hoạch và giải pháp thực hiện quy hoạch đào
tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
Ở những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX; đã có nhiều công trình nghiêncứu về lý luận giáo dục, lý luận dạy học; nhưng vấn đề lý luận về đào tạo bồidưỡng GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống Trong những năm gầnđây, đã có một số luận văn thạc sỹ với đề tài về quy hoạch, nhưng các luận
Trang 4văn và đề án trên chưa quan tâm nhiều đến việc đào tạo bồi dưỡng GV Đặcbiệt chưa đề cập đến việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
Trên địa bàn tỉnh Điện Biên với một đội ngũ GV THPT có tuổi đời còntrẻ, số lượng GV mới ra trường chiếm tỷ lệ lớn; vì vậy năng lực sư phạmcòn nhiều hạn chế, kinh nghiệm giảng dạy chưa có nhiều; bộc lộ nhiều điểmyếu như: Chưa chú ý đổi mới phương pháp giảng dạy, việc sử dụng cácphương tiện dạy học, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảngdạy còn chưa có hiệu quả; đặc biệt còn lúng túng trong việc vận dụngphương pháp dạy học mới khi chương trình SGK có sự cải tiến, bổ sung.Trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, thực hiện mục tiêu chuẩn hóa
và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT; vấn đề đào tạo bồidưỡng GV đang được nhìn nhận như một nhu cầu không thể thiếu nhằm giúp
GV đổi mới phương pháp giảng dạy và khắc phục những điểm yếu của mình Với vai trò là cán bộ quản lý Sở GD&ĐT tỉnh Điện Biên; tôi thấy rằng,việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV THPT tỉnh Điện Biên có tầm quantrọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng đội ngũ GVnói riêng, chất lượng giáo dục nói chung của tỉnh nhà
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng
Có rất nhiều khái niệm về đào tạo: Theo Từ điển Tiếng Việt do nhà xuất
bản khoa học xã hội và nhân văn xuất bản năm 1992 định nghĩa: “Đào tạo làlàm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”
1.2.4 Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Cho đến nay, tất cả các nước trên thế giới đều khẳng định quy hoạch làvấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, mục đích của quy hoạch là tạo ranhững cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách, chương trình pháttriển KT-XH Tuy nhiên mục đích quy hoạch và đặc điểm riêng về KT-XH
có những đặc điểm khác nhau, quan niệm về quy hoạch của các nước trênthế giới cũng có những điểm khác nhau
Trang 51.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV
1.3.1 Lý luận về công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
1.3.1.1 Vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
Đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV về thực chất là xâydựng, phát triển nguồn nhân lực cho Ngành giáo dục Đây là việc làm cótính chiến lược và ý nghĩa sâu sắc
Ngày nay, “học thường xuyên”, “học suốt đời” là phương châm có tínhthời đại sâu sắc, để “mở cửa tương lai” đòi hỏi người GV phải thấm nhuầnphương châm này Muốn thế người GV cũng phải tự học tập, tự bồi dưỡng
Do đó, bồi dưỡng GV là việc làm có ý nghĩa thời đại
1.3.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV là để nâng cao, hoàn thiện trình độ chínhtrị, chuyên môn nghiệp vụ hoặc ngoại ngữ, tin học nhằm nâng cao nhậnthức, trang bị, bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp
1.3.1.3 Đặc trưng và hình thức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
Bồi dưỡng nhằm mục đích bổ sung những thiếu hụt về tri thức trên cơ sở
sử dụng những tri thức cũ còn phù hợp với yêu cầu mới; thay đổi những trithức cũ đã lạc hậu, bổ sung, cập nhật tri thức mới nhằm nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ để công tác có hiệu quả hơn
1.3.2 Lý luận về công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
1.3.2.1 Mục tiêu của quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá,đảm bảo về chất lượng, đủ về năng lực, về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặcbiệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị phẩm chất lối sống, lương tâm taynghề của nhà giáo; đồng thời bồi dưỡng kiến thức về tin học, ngoại ngữ, hộinhập quốc tế cho GV nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạonguồn nhân lực có chất lượng, phục vụ quá trình CNH-HĐH đất nước
Việc đào tạo về số lượng phải đảm bảo sự hợp lý giữa các năm học.Tránh hiện tượng đào tạo cùng lúc, ồ ạt làm ảnh hưởng đến hoạt động giảngdạy trong nhà trường
1.3.2.2 Nội dung của quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV
(i) Xác định nhu cầu GV, nhu cầu đào tạo bồi dưỡng GV của địa phương(ii) Lựa chọn cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
(iii) Phân bổ GV có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo cơ sở đào tạo, bồidưỡng
(iv) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch
(v) Đề xuất các giải pháp thực hiện kế hoạch
1.4 Vai trò của dự báo giáo dục trong quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV THPT
1.4.1 Dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ GV THPT
Trang 6Dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ GV THPT trước hết có nhiệm vụ dựbáo về số lượng HS theo từng cấp học, bậc học và theo từng khu vực địa lý.
Để dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ GV THPT phải dựa vào dự báo nhucầu của xã hội về GD&ĐT và dự báo các nguồn lực mà hệ thống GD&ĐT
Để dự báo quy mô phát triển đội ngũ GV THPT nói chung và quy hoạchđào tạo bồi dưỡng GV THPT nói riêng, người ta thường sử dụng một sốphương pháp dự báo chính sau:
- Phương pháp ngoại suy xu thế
- Phương pháp sơ đồ luồng
- Phương pháp chuyên gia…
1.4.3 Phân tích các phương pháp và lựa chọn các phương pháp dự báo
a Phân tích các phương pháp
- Phương pháp ngoại suy xu thế: Là phương pháp người ta thống kê các
dữ liệu trong quá khứ của đối tượng (có thời gian tối thiểu từ 7-10 năm trởlên); trên cơ sở dữ liệu thống kê người ta nhận diện quy luật vận động pháttriển của đối tượng Các quy luật này được thể hiện dưới hàm xu thế (cónhiều hàm khác nhau nhưng thường dùng hàm tuyến tính) để đưa ra dự báo
về đối tượng trong tương lai
- Phương pháp sơ đồ luồng (phương pháp dự báo theo chương trình
phần mềm của Bộ GD&ĐT): Một trong những phương pháp thông dụngtrong dự báo quy mô HS là phương pháp sơ đồ luồng Như tên gọi củaphương pháp, nó có thể cho phép tính toán luồng HS suốt cả hệ thống GD.Một HS hoặc là lên lớp, hoặc là lưu ban, hoặc bỏ học
- Phương pháp đánh giá chuyên gia: Là phương pháp đánh giá qua ý
kiến của chuyên gia, được xem là nội dung công cụ hữu hiệu để dự báonhững vấn đề có tầm bao quát phức tạp nhất định, nhiều chỉ tiêu và yếu tốquan trọng thuộc lĩnh vực khác nhau
Ngoài ra còn có phương pháp dựa vào các chỉ số phát triển trong chương trình phát triển KT-XH địa phương của thời kỳ quy hoạch: Cơ
sở của phương pháp này là các chỉ số dự báo được tính toán trên cơ sở thực
tế có thể xem xét tới các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển
Trang 7b Lựa chọn phương pháp dự báo
Như trên đã trình bày việc lựa chọn phương pháp dự báo có vai trò quantrọng để đảm bảo độ chính xác của dự báo Có thể có nhiều phương phápkhác nhau để dự báo, nhưng mỗi phương pháp đòi hỏi phải đáp ứng nhữngđiều kiện nhất định khi áp dụng nó
Do mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng Vì thếnên áp dụng một vài phương pháp dự báo, để từ đó xác định phương án hợp
lý Phương án hợp lý là phương án phát huy được khả năng tối đa các nguồnlực và có tính khả thi cao nhất
Tiểu kết chương 1
Trước đòi hỏi bức thiết của đổi mới phương pháp giảng dạy trongtrường phổ thông, vấn đề đào tạo bồi dưỡng GV đang được nhìn nhận nhưmột nhu cầu không thể thiếu nhằm giúp GV đổi mới phương pháp giảng dạy
và khắc phục những điểm yếu của mình Việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡngđội ngũ GV trung học phổ thông là một yêu cầu bức xúc từ thực tiễn của địaphương; được xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp quy hiện hành, là tầmnhìn có tính chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết địnhviệc nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậcTHPT của tỉnh
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GV THPT TỈNH ĐIỆN BIÊN TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hoá - xã hội tỉnh Điện Biên
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Điện Biên nằm ở phía tây bắc của tổ quốc Phía Bắc giáp với tỉnh VânNam Trung Quốc và tỉnh Lai Châu; phía Tây và Tây Bắc giáp với Lào, phíaĐông Nam giáp với tỉnh Sơn La
Tỉnh Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 9.562,9 km2, với 09 đơn vịhành chính cấp huyện (07 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố trực thuộc) có 106đơn vị hành chính cấp xã Toàn tỉnh có 21 dân tộc
2.1.2 Dân số và nguồn nhân lực
Năm 2007, lao động trong độ tuổi khoảng 285.652 người chiếm 61% dân
số của tỉnh, trong đó: nam 143.455 người; nữ 142.197 người
2.1.3 Vài nét về kinh tế - xã hội
Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Điện Biên tiếp tục chuyển dịch
cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hoá nhiều thành phần; đã và đang hìnhthành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thâm canh, kết hợp mở rộngvùng cây ăn quả, cây công nghiệp
Trang 8Sự nghiệp giáo dục và đào tạo được quan tâm và có bước phát triển mạnh,
hệ thống trường lớp ngày càng hoàn thiện và mở rộng tới các bản xa xôi; côngtác xoá mù chữ - phổ cập giáo dục thu được kết quả rất đáng khích lệ
Mặc dù đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân các dân tộcngày càng được cải thiện, nhưng so với cả nước thu nhập bình quân nóichung còn đạt ở mức thấp và cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém
2.2 Thực trạng công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên từ năm 2002 đến nay
2.2.1 Khái quát chung về hệ thống GD&ĐT tỉnh Điện Biên
Tính đến năm 2007 (năm học 2007-2008) toàn tỉnh có 382 trường tăng 187trường so với năm 2002; tổng số học sinh, sinh viên các cấp học là 142.637người, tăng 54.761 học sinh, sinh viên so với năm 2002
Toàn tỉnh đã có 91 trường mầm non, 146 trường tiểu học, 111 trườngtrung học cơ sở, 20 trường trung học phổ thông, 08 trung tâm giáo dụcthường xuyên, 01 trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp, 01 trung tâmNgoại ngữ - Tin học tỉnh; 02 trường cao đẳng, 02 trường trung cấp chuyênnghiệp, dạy nghề và 02 cơ sở khác có chức năng dạy nghề (trong đó: 01 cơ
sở dạy nghề tư thục)
2.2.2 Khái quát về hệ thống giáo dục THPT tỉnh Điện Biên
Là một phân hệ của hệ thống giáo dục của tỉnh, giáo dục THPT củatỉnh Điện Biên trong giai đoạn vừa qua đã đạt được những thành tựu nhấtđịnh Hiện, cấp trung học phổ thông: có 15.624 học sinh; tăng 9.615 họcsinh Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào lớp 10 đạt 78%, tăng21,2% Tỷ lệ học sinh dân tộc 67,7%, tăng 33,5% so với năm 2002
2.2.3 Thực trạng đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên
Trong giai đoạn 2002-2007, số lượng GV THPT tăng đều hàng năm, sovới năm học 2002-2003, số lượng GV THPT tăng gấp 2,16 lần; tỷ lệ GVtrên chuẩn (có trình độ thạc sỹ) còn rất thấp, năm 2007 có 17/821 (chiếm tỷ
lệ 2.07%); Tỷ lệ GV/lớp tương đối ổn định; tuy nhiên, tỷ lệ vẫn chưa đủtheo mức quy định (2,25 GV/lớp) Với số lượng và cơ cấu GV hiện có thì
GV không đồng bộ về cơ cấu; vừa thiếu, vừa không cân đối; thiếu ở các bộmôn như: Hóa học, Vật lý, Công nghệ
2.2.4 Thực trạng công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT trong thời gian qua
Trong những năm qua, công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPTđược ngành GD&ĐT quan tâm, cụ thể như sau: Sở GD&ĐT tạo thành lậpBan chỉ đạo bồi dưỡng cấp tỉnh từng năm học do Giám đốc Sở làm trưởngban Căn cứ vào kế hoạch bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT, Ban chỉ đạo xây dựng
kế hoạch, triển khai tổ chức thực hiện, tổ chức kiểm tra thanh tra và tổng kếtrút kinh nghiệm theo từng giai đoạn
Trang 92.2.5 Đánh giá chung về công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên giai đoạn từ năm 2002 đến nay
2.2.5.1 Mặt làm được
- Sở GD&ĐT thành lập Ban chỉ đạo bồi dưỡng cấp tỉnh từng năm học
do Giám đốc Sở làm trưởng ban; xây dựng kế hoạch bồi dưỡng theo từngnăm học, ra văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể tới các trường THPT; muatài liệu, băng đĩa bồi dưỡng cho GV và cán bộ QLGD nghiên cứu trước khitập trung bồi dưỡng
- Các loại hình bồi dưỡng như bồi dưỡng thường xuyên được tổ chứcđúng định kỳ, bồi dưỡng thay sách đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trìnhgiáo dục Phổ thông, thực hiện đúng kế hoạch và đảm bảo chất lượng Phongtrào tự bồi dưỡng đã được quan tâm ở một số trường, mở ra hướng đi phùhợp với xu thế thời đại là “học tập suốt đời”
- Phối hợp có hiệu quả với Bộ GD&ĐT, các trường ĐH trong quá trìnhxây dựng kế hoạch và chương trình bồi dưỡng; chuẩn bị CSVC, trang thiết
bị phục vụ dạy và học; hợp đồng kinh phí chi trả kịp thời; sau mỗi đợt bồidưỡng có tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm
2.2.5.2 Mặt hạn chế
- Dù có “kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ GV vàCBQL ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên giai đoạn 2001 - 2010” nhưng côngtác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng còn thiếu khoa học, chưa quan tâm cácmôn học đặc thù như: Giáo dục thể chất, Quốc phòng - an ninh thiếu đồng
bộ về số lượng quy hoạch giữa các môn và cơ cấu GV giữa các trường thị
xã, thị trấn với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Trong xây dựng
kế hoạch chưa chú ý kế hoạch tự bồi dưỡng của nhà trường và tự học, tự bồidưỡng của GV
Tiểu kết chương 2
Việc xây dựng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT là mộtyêu cầu cấp bách xuất phát từ thực tiễn địa phương cần có đội ngũ GVTHPT ngang tầm với nhiệm vụ mới Hiện trạng đội ngũ GV THPT tỉnh ĐiệnBiên còn nhiều bất cập về số lượng, cơ cấu, chất lượng Đặc biệt vấn đề đàotạo bồi dưỡng đội ngũ GV chưa được nhìn nhận và quan tâm đúng mức,chưa thật sự chú trọng các nội dung theo yêu cầu thực tế của quá trình dạyhọc, chưa bồi dưỡng được những kiến thức theo nhu cầu cần được bồidưỡng của GV, chưa tạo được động lực khuyến khích GV tích cực, tự giácbồi dưỡng kiến thức có hiệu quả
Để xây dựng và phát triển đội ngũ GV THPT một cách toàn diện, đápứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậc THPT của tỉnh Cần phải quy hoạch đàotạo bồi dưỡng đội ngũ GV, trước mắt từ nay đến năm 2015 Đây là nhiệm vụcấp bách và quan trọng đối với ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên
Trang 10CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG QUY HOẠCH VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GV THPT
TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐẾN NĂM 2015 3.1 Các định hướng để xây dựng quy hoạch
Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên THPT của Tỉnh Điện Biênđược đề xuất dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và những định hướng
cơ bản sau:
- Căn cứ Luật giáo dục (2005)
- Căn cứ Điều lệ trường trung học, (ban hành kèm theo Quyết định số:23/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; Nghị quyết Đạihội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XI
- Căn cứ Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trungương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục
- Căn cứ Quyết định số 230/2006/QĐ-TTg ngày 13/10/2006 của Thủtướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hộitỉnh Điện Biên thời kỳ 2006 - 2020
- Căn cứ Quyết định số 969/QĐ-UBND ngày 07/9/2007 của UBND tỉnhĐiện Biên, về việc Phê duyệt Đề án Nâng cao dân trí và phát triển nguồnnhân lực tỉnh Điện Biên, giai đoạn đến 2010
- Căn cứ Quyết định số 31/QĐ-UBND ngày 14/01/2009 của UBND tỉnhĐiện Biên, về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp Giáo dục vàĐào tạo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2008 - 2015 và định hướng đến năm 2020
3.1.1 Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Điện Biên thời kỳ 2006 - 2020
Các mục tiêu phát triển KT - XH của tỉnh:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2006 - 2020 đạt 12,5%/năm.Trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 đạt 12%/năm và giai đoạn 2011 - 2020 đạt12,8%/năm; nâng mức GDP bình quân đầu người của Tỉnh so với trung bình
cả nước từ mức 45% năm 2005 lên 50% năm 2010, khoảng 65% năm 2015
và 80% năm 2020
Phát triển tổng hợp kinh tế dịch vụ theo hướng đa dạng hoá các loại hìnhdịch vụ, Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng cửa khẩu Tây Trang đểnâng cấp thành cửa khẩu quốc tế Triển khai xây dựng cửa khẩu Huổi Puốc(Điện Biên) và cửa khẩu A Pa Chải (Mường Nhé) thành cửa khẩu quốc gia;
mở thêm một số cửa khẩu khác để mở rộng buôn bán với nước bạn Lào vàTrung Quốc nhằm thúc đẩy thương mại của Tỉnh phát triển
Trang 113.1.2 Định hướng phát triển sự nghiệp GD&ĐT tỉnh Điện Biên giai đoạn 2008 - 2015, định hướng đến năm 2020
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát
a Mở rộng, hoàn thiện hệ thống quy mô trường…
b Nâng cao chất lượng và trình độ giáo dục đào tạo theo hướng đổi mớiphương pháp dạy và học
c Đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, nâng cao chấtlượng phổ cập giáo dục THCS, triển khai và hoàn thành chương trình phổcập giáo dục trung học
d Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…
e Phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD dục đủ về số lượng, đảmbảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu
f Tăng cường đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuậtphục vụ cho dạy và học theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá
3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể (Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục và GV)
- Đến 2015, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có 100% GVđạt trình độ chuẩn hoá theo yêu cầu của cấp học; có 100% cán bộ quản lý từhiệu trưởng trường THPT, phó trưởng phòng, phó trưởng khoa các trườngTCCN trở lên có trình độ cao cấp lý luận trở lên
- Đến 2020 có 100% GV các cấp đạt trình độ lý luận theo yêu cầu củacấp học từ trung cấp trở lên
3.1.3 Mục tiêu của quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT đến năm 2015
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD được chuẩn hoá, đảm bảo
về chất lượng, đủ về năng lực, về số lượng, đồng bộ về cơ cấu Đặc biệt chútrọng nâng cao bản lĩnh chính trị phẩm chất lối sống, lương tâm tay nghề củanhà giáo Đồng thời bồi dưỡng kiến thức về tin học, ngoại ngữ, hội nhậpquốc tế cho GV, nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạonguồn nhân lực có chất lượng, phục vụ quá trình CNH-HĐH đất nước
Việc thực hiện quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnhĐiện Biên giai đoạn từ nay đến năm 2015 cần phải thực hiện được một sốchỉ tiêu cơ bản sau:
+ Phấn đấu đến năm 2015, 100% GV THPT có trình độ chuyên mônđạt chuẩn, số cán bộ làm công tác quản lý giáo dục tham gia lớp bồi dưỡngquản lý, 100% có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên
+ Phấn đấu đến năm 2015, đào tạo 7% đội ngũ GV THPT có trình độtrên chuẩn (thạc sỹ)
+ Phấn đấu đến năm 2015, từ 50% - 90% đội ngũ GV THPT được bồidưỡng ngoại ngữ, tin học và những kiến thức về hội nhập quốc tế
Trang 12+ 100% đội ngũ GV THPT được bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳhàng năm và bồi dưỡng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, dạy theochương trình, SGK mới
3.2 Dự báo Quy mô học sinh THPT và nhu cầu GV đến năm 2015
3.2.1 Dự báo dân số của tỉnh Điện Biên đến năm 2015
Dự báo dân số, đặc biệt là dự báo dân số trong độ tuổi đi học là mộtcăn cứ quan trọng để dự báo cho việc xây dựng kế hoạch phát triển số lượnghọc sinh và lập kế hoạch phát triển GD&ĐT Dự báo đến năm 2015, nhómtuổi từ 15 - 17 tuổi có khoảng 44.037 người
3.2.2 Dự báo số lượng HS THPT của tỉnh Điện Biên đến năm 2015
Phương án 1: Dự báo số lượng học sinh THPT theo mục tiêu chiến
lược của tỉnh Căn cứ chỉ tiêu định hướng trên và dự báo dân số của tỉnhĐiện Biên, tác giả dự báo số học sinh THPT đến năm 2015 như sau:
Bảng 3.2a: Dự báo số lượng học sinh THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
(theo mục tiêu chiến lược của tỉnh)
độ tuổi)
Số học sinh THPT theo dự báo
Phương án 2: Dự báo số lượng học sinh THPT bằng Phương pháp
ngoại suy xu thế Phương pháp này dựa vào tỷ lệ học sinh đi học so với dân
số trong độ tuổi đến trường của cấp học
Bảng 3.2d : Dự báo số lượng HS THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
(theo phương pháp ngoại suy xu thế)
Trang 13Phương án 3: Dự báo số lượng học sinh THPT bằng Phương pháp sơ
đồ luồng
Để dự báo số lượng học sinh, theo phương pháp này cho biết sự biếnđộng học sinh từng lớp của bậc học, từ đó tính toán được số lượng học sinhtheo từng năm dự báo
Bảng 3.2e: Dự báo số lượng HS THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
(Theo phương án sơ đồ luồng)
Tổng hợp kết quả theo 3 phương án trên
Bảng 3.2f: So sánh kết quả của 3 phương án
T
Tổng DS trong độ tuổi (từ 15-17 tuổi)