1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

105 465 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ thị này đề cập đếnvấn đề nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ đối với việc thựchiện các nhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới, tăng cường hiệu quả sửdụng cán bộ nữ, đặc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, vấn đề nâng cao vai trò vị thế của phụ nữ trong các lĩnhvực hoạt động khác nhau của xã hội không còn là vấn đề riêng của từngquốc gia mà nó trở thành vấn đề chung của toàn cầu Ở Việt Nam, ngaytrong bản tuyên ngôn độc lập thành lập nhà nước đầu tiên của nhân dân laođộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố thực hiện nguyên tắc

"nam nữ bình đẳng" Mấy chục năm qua vừa kháng chiến vừa kiến quốc đầygian nan, nhưng Việt Nam đó cú những bước tiến lên căn bản trong việcnâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới.Chính phủ đã thể chế hoá bằng hệ thống chế độ, chính sách bảo đảm quyềnlợi cho phụ nữ Bản Hiến pháp đầu tiên (1946) đã thừa nhận quyền bìnhđẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực Hiến pháp năm 1959 lại nêu rõ "Phụ nữViệt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyển bình đẳng với nam giới về các mặtsinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và gia đình" Các Hiến pháp

1980, 1992 đều tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng nam nữ

Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm phát huy vaitrò của lao động nữ và cán bộ nữ như Nghị quyết 04/NQ - TƯ ngày17/4/1994 về "Đổi mới vận động phụ nữ trong tình hình mới" đã nêu rõ làcông tác cán bộ nữ có vị trí chiến lược trong công tác cán bộ - một khâu cótác dụng quyết định việc thực hiện đường lối chiến lược của Đảng và Nhànước nói chung và trong từng ngành nói riêng Chỉ thị 37/CT - TƯ ngày16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương về một số vấn đề công tác nữ trongtình hình mới đó nờu cỏc quy định, các biện pháp quản lý cụ thể mà các cơ

sở cần thực hiện nhằm xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ nữ và đặc biệtchú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác nghiên cứu khoa học

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành Chỉ thị về việc "Đổi mới vàtăng cường công tác vận động phụ nữ trong ngành giáo dục và đào tạo trong

Trang 2

tình hình mới" (Chỉ thị 15/GD - ĐT ngày 19/9/1994) Chỉ thị này đề cập đếnvấn đề nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ đối với việc thựchiện các nhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới, tăng cường hiệu quả sửdụng cán bộ nữ, đặc biệt là cán bộ có trình độ khoa học.

Ngày 15/6/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số

40 - CT/TƯ về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục đã khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là quốcsách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lựccon người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng [03]Đồng thời Chỉ thị cũng chỉ rõ: "Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sựphát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhàgiáo cũng có những hạn chế bất cập, số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, cơ

cấu giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học Chất lượng

chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầuđổi mới giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội Tình hình trên đòi hỏi phảităng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện [03] Sự nghiệpđào tạo thế hệ trẻ Việt Nam có bản lĩnh, có lý tưởng, có khả năng sáng tạo,làm chủ được tri thức hiện đại, quyết tâm đưa đất nước lên trình độ pháttriển sánh kịp các nước trong khu vực và trên thế giới gắn liền với sự chăm

lo phát triển một nền giáo dục, đào tạo vững mạnh, trong đó xây dựng độingũ nhà giáo một cách toàn diện là hết sức quan trọng Luật giáo dục đãkhẳng định: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng

Trang 3

Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng chínhphủ về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhàgiáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010" đã xác định mục tiêutổng quát "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướngchuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,

lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giỏo…" [34].

Giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốcdân Việt Nam, trong đó đội ngũ giảng viên trong nhà trường đóng vai tròquyết định chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên trường CĐSP và ĐHSP

là thầy của những người thầy, có nhiệm vụ giảng dạy, NCKH, bồi dưỡng, tựbồi dưỡng, nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những nhà giáo tương lai góp phần

"nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" cho đất nước.Nguồn nhân lực đó sẽ tích cực tham gia vào quá trình CNH, HĐH đất nước.Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở trườngCĐSP và ĐHSP là việc làm cần thiết, cấp bách hiện nay

Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang có vai trò quan trọng trong việcđào tạo nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH ở địa phương Nhàtrường tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng hoỏ cỏc hình thức đào tạo, tăngcường liên kết đào tạo trên cơ sở vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm làđào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cho 3 bậc học Mầmnon, Tiểu học, THCS của tỉnh đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng

Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Tỉnh, trườngCĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang đã đạt được những thành tựu nhất định trongviệc thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, khẳng định được chức năng đàotạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học công nghệ ởđịa phương Trên cơ sở xem xét những vấn đề cơ bản hiện trạng đội ngũ nữgiảng viên của trường hiện nay, chúng tôi mong muốn đưa ra giải pháp phát

Trang 4

triển đội ngũ nữ giảng viên một cách có cơ sở và hệ thống góp phần nâng caonăng lực, chất lượng hiệu quả đào tạo của trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc

Giang Vì những lý do trờn, tụi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang”.

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên của trường CĐSP NgôGia Tự Bắc Giang

3.2 Khách thể nghiên cứu:

Công tác phát triển đội ngũ nữ giảng viên của trường CĐSP

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay công tác đào tạo phát triển đội ngũ nữ giảng viên trườngCĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang còn một số bất cập, chưa đáp ứng được yêucầu đào tạo của nhà trường Nếu đề xuất và thực thi các biện pháp phát triểnmột cách phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì sẽ góp phần nâng cao chấtlượng và hiệu quả của việc phát triển đội ngũ nữ giảng viên của nhà trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

5.2 Khảo sát thực trạng đội ngũ nữ giảng viên, công tác quản lý đội ngũ

nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang.

5.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang.

Trang 5

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp quản lý để phát triển đội ngũ nữ giảng viên trườngCĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:

Đề tài chỉ nghiên cứu đội ngũ nữ giảng viên thuộc trường CĐSP NgôGia Tự Bắc Giang

6.3 Giới hạn về khách thể khảo sát:

Cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phõn tớch các khái niệm

- Nhận định, đỏnh giá

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1.Phương pháp điều tra khảo sát

7.2.2.Phương pháp phân tích, tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.7.2.3.Phương pháp thống kê xử lý số liệu

8 Đóng góp mới của đề tài

Đỏnh giỏ thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giảng viên nói chung

và nữ giảng viên nói riêng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm cải tiếnhiện trạng phát triển đội ngũ nữ giảng viên cho phù hợp với hoàn cảnh pháttriển của nhà trường, đáp ứng được nhu cầu của người học, của địa phương và

xã hội trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong tương lai

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu thamkhảo, phụ lục Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Trang 6

Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nữ giảng viên.

Chương II: Thực trạng đội ngũ giảng viên và vấn đề phát triển đội

ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

Chương III: Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên

trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ GIẢNG VIÊN

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Có nhiều nghiên cứu về vai trò, năng lực của phụ nữ trong các lĩnhvực khác nhau Nghiên cứu của Stroh, Brret, Reilly, Meyers (1992) tại 500công ty của Mỹ cho thấy khi quá trình công tác và năng lực của phụ nữ vànam giới như nhau thì thu nhập của nữ giới kém hơn đồng nghiệp nam mộtcách rõ rệt Một nghiên cứu khác của Lyness, Thompson (1997) đã đi đếnnhận xét có sự khác nhau trong khoản thu nhập thêm, phụ cấp giữa nam và

nữ Mặc dù ở Mỹ số lượng lao động nữ và những người quản lý là phụ nữtăng lên, song cách ứng xử với phụ nữ rất ít thay đổi

Nghiên cứu của Jacobs (1992) cho thấy mặc dù những ứng xử mangtính định kiến với phụ nữ đã được thu hẹp và vấn đề bình đẳng giới đã tốthơn, nhưng sự khác biệt về quyền lực giữa nam và nữ thì vẫn không mấythay đổi Phân tích một số công trình nghiên cứu ta thấy định kiến giới, mà

tư tưởng trọng nam khinh nữ đã tồn tại trong quá khứ nhân loại và vẫn còntồn tại trong xã hội hiện đại Vấn đề đặt ra là: Tại sao lại tồn tại tư tưởng nàytrong đời sống xã hội?

Trong nghiên cứu của mình Eegly (1983) đã lý giải về vấn đề này nhưsau: Thứ nhất, giữa nam và nữ có vị thế khác nhau mang tính truyền thống

về nghề nghiệp, nam giới thường đảm nhiệm các công việc và vị trí quantrọng hơn trong xã hội so với nữ giới

Thứ hai, sự khác nhau giữa nam và nữ thể hiện qua vai trò của họ Sovới nam giới, nữ giới có ảnh hưởng đến người khác ít hơn song họ lại dễ bịảnh hưởng hơn

Trang 8

Sandra S.Huang trong “Nghiờn cứu về Việt Nam học để dạy họctrong một xã hội tri thức” đã đề cập công tác chuẩn bị và đào tạo giáo viên,đặc biệt là phát triển đội ngũ giáo viên đồng thời công trình có đề cập tớiđịnh hướng mới trong dạy và học “Chớnh phủ Việt Nam đã bổ sung nguồnlực cho ngành giáo dục và phân bổ lại các nguồn lực trong ngành để giúpnâng cấp cơ sở vật chất trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên mới và hỗ trợcỏc vựng khú khăn”

Bên cạnh đú cú cỏc dự án phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông: Dự

án đào tạo giáo viên Tiểu học năm 1994; Dự án phát triển giáo dục trunghọc cơ sở năm 1997; Dự án đào tạo giáo viên Tiếng Anh năm 1998; Dự ánđào tạo Việt -Bỉ năm 1999; Dự án đào tạo giáo viên THCS, các công trình

và dự án đầu tư vào hệ thống giáo dục như số lượng giáo viên và cán bộquản lý giáo dục đã được đào tạo ở các cấp học, bậc học Nhìn chung các dự

án và chương trình phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông đã có nhiều côngtrình đề cập đến, nhưng ở bậc đại học còn ít có công trình nghiên cứu về lĩnhvực này [39;32]

Đến những năm 20 của thế kỷ 20 cánh cửa nhà trường đại học mớiđón nhận những giáo viên nữ nhưng vẫn chỉ là sự tuyển chọn một cách hạnchế những phụ nữ có trình độ cao vào làm việc Số lượng nữ giáo viên đạihọc nói riêng và nữ nhân viên làm công ăn lương chỉ thực sự chuyển biếnvào cuối thập kỷ 60 đầu thập kỷ 70 do làn sóng thứ hai của Phong trào phụ

nữ (làn sóng thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ 19) Tỷ lệ tham gia của đội ngũ

nữ vào các hoạt động đã được cải thiện một cách rõ rệt

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Ở nước ta định kiến xã hội đối với phụ nữ cũng vẫn còn tồn tại và nó

có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiến bộ của họ

Nếu trong xã hội phong kiến xưa người phụ nữ không được ngồi vàomảnh chiếu giữa đình để bàn chuyện làng, không được tham gia vào các

Trang 9

khoa thi cử để ra làm quan thì nay định kiến với nữ giới đã giảm nhiều nhờvào các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn đềbình đẳng giới, về vấn đề tiến bộ của phụ nữ Công ước Liên hợp quốc vềxoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) được Liênhợp quốc phê chuẩn ngày 18 tháng 12 năm 1979, được chính phủ Việt Nam

ký tham gia ngày 29 tháng 7 năm 1980 và được Quốc hội phê chuẩn ngày

19 tháng 3 năm 1982 Tuy vậy, Việt nam là một quốc gia đã trải qua sựthống trị khá dài của chế độ phong kiến lạc hậu và bảo thủ với sự ảnh hưởngsâu sắc của Nho giáo, nên định kiến xã hội đối với phụ nữ là rất lớn Trong

xã hội hiện nay định kiến này vẫn còn ảnh hưởng đáng kể, có thể kể đến một

số biểu hiện như:

- Trong đời sống gia đình và xã hội, thời gian làm việc của phụ nữ

ở nước ta nhiều hơn nam giới Kết quả nghiên cứu của Đàm Hạnh Thời báo kinh tế Việt nam số 20 ngày 10/3/1999 đã cho thấy những sốliệu đáng chú ý sau:

-Bảng 1.1 So sánh thời gian làm việc và nghỉ ngơi giữa nam giới và nữ giới

TT Sử dụng thời gian

(giờ)

Ở nông thôn Ở thành thị

Phụ nữ Nam giới Phụ nữ Nam giới

2 Thời gian làm việc có thu nhập 8h45’ 8h30’ 8h50’ 8h36’

3 Thời gian ăn uống nghỉ ngơi 1h15’ 5h 9h31’ 6h47’

4 Thời gian làm công việc gia đình 6h 30’ 5h25’ 1h18’

Nhìn vào số liệu của bảng ta thấy rõ ràng thời gian nghỉ ngơi củaphụ nữ ít hơn nam giới và thời gian làm việc của phụ nữ cao hơn namgiới, nhất là làm các công việc gia đình (phụ nữ phải làm việc gấp 5 lần

so với nam giới ở khu vực thành thị và gấp 12 lần so với nam giới ở khuvực nông thôn)

- Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, vai trò của các cán bộ nghiêncứu là nữ thể hiện qua việc thực hiện các đề tài nghiên cứu vẫn còn hạn chế

Trang 10

Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh năm 1999 đối với 598 nữ cán bộ khoahọc xã hội và 64 nam cán bộ về năng lực của cán bộ nữ, sự tin tưởng củacán bộ lãnh đạo đối với nữ đã thu được kết quả như sau: Trong vòng khoảng

10 năm , từ 1992 – 1999 toàn Viện khoa học xã hội Việt Nam thực hiện 125

đề tài cấp Bộ, số nữ giới làm chủ nhiệm đề tài chiếm 10%, làm chủ nhiệm

đề tài cấp Nhà nước chiếm 4,4%, chủ nhiệm dự án điều tra cơ bản chiếm4,7% Một trong những lý do cơ bản để lý giải cho thực trạng này là tỉ lệ cán

bộ nữ có học hàm, học vị còn thấp Số cán bộ nữ có học hàm giáo sư ViệnKhoa học xã hội Việt Nam khi đó là Trung tâm KHXH&NV Quốc gia) năm

1999 là 4% (còn lại 96% là nam), có học hàm phó giáo sư là 13%, có học vịTiến sĩ là 31% Việc giao làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu phụ thuộc khánhiều vào học hàm, học vị của cán bộ nghiên cứu khoa học

Ngày nay vị thế xã hội của phụ nữ đã có nhiều thay đổi theo chiềuhướng tích cực, nhưng họ vẫn phải đảm đương những công việc có tính chấtthiên chức của mình như sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đình Với sự tiến

bộ của khoa học, phương pháp kiểm soát sinh đẻ, quan hệ tình dục trong giađình đã có nhiều ưu việt, số lượng con sinh ra đã giảm nhiều Đây là điềukiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực xã hội Tuy vậy, tất cảnhững điều kiện trên chưa làm thay đổi nhiều những khó khăn từ phía giađình đối với người phụ nữ tham gia công tác xã hội Đó là những đòi hỏi từphía nam giới như: Đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho gia đình, chăm lo giađình, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, vấn đề tình dục…

Việc quan tâm đến vị thế của phụ nữ và tìm ra biện pháp phát huy sựtham gia đóng góp có hiệu quả của họ vào mọi mặt của đời sống xã hội đang

là xu hướng quan tâm của toàn cầu Trong nội dung cơ bản Tuyên bố Thếgiới của UNESCO về giáo dục đại học đã nhấn mạnh: “Phải áp dụng mọibiện pháp mạnh mẽ đảm bảo cho phụ nữ tham gia giáo dục đại học, đặc biệt

ở cấp ra quyết định và trong mọi lĩnh vực mà họ cũn ớt hiện diện, phải theo

Trang 11

đuổi mọi nỗ lực để loại bỏ tất cả sự dập khuôn cứng nhắc liên quan đến giớitrong giáo dục đại học” [39; 38]

Những năm gần đây, sự tăng nhanh về số lượng các trường đại học,cao đẳng trong cả nước dẫn đến tình trạng mất cân đối về nhiều mặt, trong

đó có sự mất cân đối trong đội ngũ giảng viên Vì thế các học viên cao họcchuyên ngành QLGD đã lựa chọn mảng đề tài này để nghiên cứu, có thể kể

ra một số đề tài qua cỏc khoỏ như:

- Các giải pháp tổ chức nhằm ổn định đội ngũ cán bộ giảng dạy ởtrường đại học Sư phạm (Luận văn thạc sĩ QLGD của Nguyễn Thị Thanh,Đại học Sư phạm Hà Nội, 1999)

- Những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ giáo viên trường chuẩnquốc gia trung học phổ thông Xuân Đỉnh, Hà Nội (Luận văn thạc sĩ QLGDcủa Nguyễn Viết Cẩn, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004)

- Một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Đại học HảiPhòng đến năm 2010 (Luận văn thạc sĩ QLGD của Nguyễn Sơn Thành, Đạihọc Sư phạm Hà Nội, 2004)

- Một số biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng Thống kê(Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đình Dũng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005)

- Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạmQuảng Bình (Luận văn thạc sĩ của Dương Đức Sáu, Đại học Sư phạm HàNội, 2005)

Đối với tỉnh Bắc Giang đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập tớiviệc phát triển đội ngũ nữ giảng viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Ngô Gia TựBắc Giang Đề tài đề cập đến một số khía cạnh về thực trạng đội ngũ nữ giảngviên của trường, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp phát triển đội ngũ nữgiảng viên của một trường đang trong quá trình chuyển sang đào tạo đa ngành

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Trang 12

1.2.1 Khái niệm quản lý

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhu cầu quản lý xã hộicũng được hình thành, trình độ tổ chức, điều hành quản lý hội cũng ngàyđược nâng cao Cỏc Mỏc viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay laođộng chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cầnđến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện nhữngchức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vậnđộng của các khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điềukhiển lấy mỡnh, cũn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [13; 180]

Để kết hợp các yếu tố con người, công cụ, phương tiện, tài chớnh…nhằm đạt mục tiêu đã định trước, cần phải có sự tổ chức, điều hành chung,

đú chớnh là quản lý Có nhiều định nghĩa khái niệm quản lý theo các quanđiểm khác nhau

- Theo quan điểm kinh tế, F Taylor (1856 - 1915) cho rằng “ Quản lý

là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào

bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [17; 25]

- Theo quan điểm xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, cóđịnh hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đốitượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệthống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụthể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [22; 7]

- Theo quan điểm hệ thống: Thế giới đang tồn tại, mọi sự vật hiệntượng là một chỉnh thể, thống nhất Quản lý với tư cách là những tác độngvào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thíchhợp nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Như vậy “Quản lý là sự tác động

có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm

sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mụctiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [30;43]

Trang 13

- Theo Henry Fayol (1841 - 1925), trong cuốn”Quản lý chung và quản

lý công nghiệp” thì: Quản lý là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điềukhiển, phối hợp và kiểm tra

Từ những phân tích, những cách hiểu và định nghĩa khác nhau, có thểkết luận: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướngdẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mụcđích đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan

Quản lý gồm có hai thành phần: Chủ thể và khách thể quản lý

- Chủ thể quản lý chỉ có thể là người hoặc tổ chức do con người lập nên

- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật thể cụthể như: môi trường, thiên nhiên, kho tàng… vừa có thể là sự việc như luật

lệ, quy chế, quy phạm kỹ thuật Cũng có khi khách thể là người, tổ chứcđược con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn

- Cơ chế quản lý là phương thức nhờ nó hoạt động quản lý được thựchiện và quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vậnhành và điều chỉnh

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quản lý

Đối tượng quản

Chủ thể quản lý

Trang 14

1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục.

Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành Nếu nói giáo dục làhiện tượng xã hội và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hộiloài người thì cũng có thể nói như vậy về quản lý giáo dục Giáo dục xuấthiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loàingười, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để cho thế hệ sau có trách nhiệm

kế thừa, phát triển các kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, làm cho xã hội vàbản thân con người luôn phát triển không ngừng Cũng như quản lý xã hộinói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạtđược những mục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng kháchthể hoá mục đích, nghĩa là biến cái hình mẫu ý tưởng của đối tượng trongtương lai mà ta gọi là mục đích thành trạng thái hiện thực Mục đích giáodục nằm trong mục đích của quản lý giáo dục

Khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ:

- Đối với cấp vĩ mô, như cấp Bộ GD&ĐT và các cấp trung gian dưới

Bộ, thì “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể qủn lý đến tất

cả các mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhàtrường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáodục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.[17;36]

Xét theo quan điểm lý thuyết hệ thống thì quản lý giáo dục là sự tácđộng liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thốnggiáo dục nhằm tạo ra tính “trồi” của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu cáctiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống tới mục tiêu mộtcách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoàiluôn luôn biến động

- Đối với cấp vi mô, đó là các cơ sở giáo dục, thì “quản lý giáo dụcđược hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có

Trang 15

hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhânviên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong vàngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáodục của nhà trường”.[17; 37]

Tiêu điểm của nhà trường là quá trình giáo dục nên cũng có thể hiểuquản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quátrình giáo dục được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợđắc lực của các lực lượng xã hội nhằm hình thành và phát triển toàn diệnnhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

Quản lý giáo dục trước hết và thực chất là quản lý con người Điều này

có nghĩa là tổ chức một cách khoa học lao động của những người tham giavào quá trình giáo dục Trong quản lý giáo dục, những sự tác động qua lạigiữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý mang tính chất mềm dẻo, đa chiều

1.2.3 Khái niệm biện pháp phát triển

-Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ

thể (Từ điển Tiếng Việt)

-Phát triển là vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên, từ ít đến

nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp (Từ điển Tiếng Việt)

Biện pháp phát triển là những cách làm, là những cách thức làm cho

vấn đề vận động và tiến triển theo chiều hướng đi lên

Từ cách tiếp cận như trên, theo tác giả biện pháp phát triển là làm cho vấn đề vận động theo chiều hướng tích cực Có thể tăng lên về số lượng, chất lượng hoặc tăng lên về phạm vi

1.2.4 Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu củamôn khoa học “Quản lý tổ chức nhân sự” Từ góc độ của khoa học quản lý tổchức vĩ mô nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn

đề nhân sự trong tổ chức cụ thể Nguồn nhân lực chính là vấn đề nguồn lực

Trang 16

con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể nào đó “Nguồn nhânlực là khái niệm phát triển mới theo nghĩa nhấn mạnh, đề cao hơn yếu tố chấtlượng… Nguồn nhân lực có ý nghĩa cả cấp vi mô và cấp vĩ mụ” [29; 28].

Theo UNESCO “Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sựphát triển” và “Con người được xem như là một tài nguyên, một nguồn lựchết sức cần thiết.”

Ngân hàng thế giới quan niệm có hai loại vốn: “Vốn con người vàvốn vật chất, trong đó sự phát triển vốn con người quyết định sự phát triểncủa mọi vốn khỏc.” (Theo tạp chí Đại học – GDCN, tháng 9/1996)

“Nguồn nhân lực phải được thừa nhận là nguồn vốn và là tài sản quantrọng nhất của mọi loại hình qui mô tổ chức” [17; 35]

1.2.5 Khái niệm giảng viên

Giảng viên là công chức thuộc ngành giáo dục, là nhà giáo Điều 61Luật Giáo dục nước Cộng hoà XHCN Việt Nam 1998 đã ghi:

1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhàtrường hoặc các cơ sở giáo dục khác

2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:

a.Phẩm chất đạo đức tư tưởng tốt;

b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ;

c Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

Trang 17

định số 538/TCCP – BCLT ngày 18/ 12/ 1995 của Ban tổ chức cán bộChính phủ).

1.2.6 Khái niệm đội ngũ nữ giảng viên

1.2.6.1 Khái niệm đội ngũ

Khái niệm “Đội ngũ” được ghi trong Đại từ điển Tiếng Việt như sau:

“Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp

và tổ chức thành một lực lượng” [18;328]

Theo từ điển Webster “Đội ngũ là một nhóm người công nhân hoặcngười làm công cụ thể cú cựng mục đích, làm việc theo kế hoạch, gắn bóvới nhau về quyền lợi”

Qua khái niệm đội ngũ ta thấy: Đó là một nhóm người được tổ chức

và tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng;

họ có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng cóchung một lý tưởng, mục đích nhất định và gắn bó với nhau về mặt lợi íchtinh thần và vật chất cụ thể

Tóm lại, dù thuật ngữ “đội ngũ” được dùng theo định nghĩa nào thìngười quản lý nhà trường đều phải xây dựng gắn kết các thành viên tạo rađội ngũ, trong đó mỗi người có thể có phong cách riêng, song khi đã đượcgắn kết thành một khối thì mỗi cá nhân đó phải có sự thống nhất cao về mụctiêu cần đạt tới và cùng chung nhiệm vụ

1.2.6.2 Đội ngũ nữ giảng viên

Trên cơ sở khái niệm đội ngũ, chúng ta có thể hiểu: đội ngũ nữ giảngviên là tổ chức những người phụ nữ làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứukhoa học ở trường Cao đẳng và Đại học, họ gắn kết với nhau bằng mục tiêugiáo dục, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên; cùng chịu

sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành Giáo dục

và của Nhà nước

Trang 18

Đội ngũ giảng viên nhà trường nói chung, đội ngũ nữ giảng viên nóiriêng nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác nhau như: cơ sởvật chất, nguồn lực tài chính

Con người

Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa đội ngũ giảng viên với các yếu tố cơ sở vật

chất, nguồn lực tài chính

1.3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC PHỤ NỮ

1.3.1 Quan điểm về giới, bình đẳng giới và phát triển

Giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội Xã hội cónhững quan niệm khác nhau về vai trò giới và đặc điểm giới Một thời giandài, ở nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, định kiến về vai trò, vị trí của phụ

nữ còn nặng nề, làm cản trở sự bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ

Quan tâm đến giới là một bộ phận quan trọng của sự định hướng vàophát triển nhân lực của Liên hợp quốc Bình đẳng giới là một trong nhữngchỉ báo được sử dụng để đánh giá mức độ phát triển nhân lực của các quốcgia, bên cạnh các chỉ bỏo khỏc như tuổi thọ, học vấn, bình quân thu nhấp,…Theo chỉ số này thì nước đứng đầu là Thuỵ Điển (0,919) còn Việt Nam đứngthứ 74 (0,537) (Báo cáo của Liên hợp quốc – 1995)

Ngày nay vấn đề giới được nhiều nước trên thế giới quan tâm và trởthành phương pháp tiếp cận không thể thiếu trong chiến lược phát triển quốcgia Hội nghị lần thứ tư tại Bắc Kinh năm 1995 đã nêu bật quyết tâm của cácChính phủ tiến tới mục tiêu bình đẳng, phát triển và hoà bình cho phụ nữ vì

Trang 19

lợi ích của toàn thể nhân loại “Việc đảm bảo cho phụ nữ và trẻ em gáihưởng thụ đầy đủ và bình đẳng các quyền con người và quyền tự do cơ bản

là một ưu tiên của các chính phủ và Liên hợp quốc …” (Cương lĩnh hànhđộng Bắc Kinh, 1995)

Quyền con người bình đẳng cho cả phụ nữ và nam giới đã được 171quốc gia thông qua tại Hội thảo Thế giới về quyền con người tháng 6/ 1993tại Viên Hiệp ước về quyền con người quy định nghĩa vụ về mặt pháp lýđối với tất cả các quốc gia thành viên Bằng việc yêu cầu thực thi các quyềntrên thực tế, Hiệp ước thúc đẩy mô hình bình đẳng bền vững:

Trong lịch sử dân tộc, biết bao tấm gương phụ nữ trong các cuộc chiếntranh vệ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước đã là những minhchứng khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội

Vừa là người lao động, vừa là người vợ, người mẹ, phụ nữ thườngphải chăm lo đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống Tiếng nói của phụ nữ khôngchỉ đại diện cho hơn một nửa dân số mà còn cho cả trẻ em và gia đình họ.Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam hiện nay, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫncòn tồn tại trong nhận thức và hành động của nhiều người, kể cả cán bộ,đảng viên hay một bộ phận giới trí thức Biểu hiện rõ nhất là coi thường,

Trang 20

không tin vào khả năng của phụ nữ, cách nhìn nhận đánh giá phụ nữ còn hẹphòi hoặc còn đòi hỏi quá cao, quá khắt khe đối với phụ nữ.

Mặt khác, nhiều chị em phụ nữ còn tự ti, thiếu mạnh dạn, thiếu ý chívươn lên Quan niệm “ việc nhà là của phụ nữ” nên gánh nặng gia đìnhthường dồn trên vai người phụ nữ, thậm chí có những gia đình còn khôngmuốn cho phụ nữ tham gia vào các công tác xã hội do vậy chị em ít có điềukiện để phấn đấu vươn lên

1.3.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phụ nữ

Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 12/7/1993 về đổi mới và tăngcường công tác phụ nữ trong tình hình mới khẳng định “Bồi dưỡng lựclượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ

nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳcách mạng Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với công tác phụ nữ là một yêu cầu rất quan trọng của sự pháttriển kinh tế xã hội”

Ngày 21/01/2002 Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm ký Quyết định số19/ 2002 QĐ – TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ

nữ Việt Nam đến 2010” gồm 5 mục tiêu, trong đó mục tiêu thứ tư cú nờu

“Nõng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trờn cỏc lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hoỏ, xó hội”

Bộ GD&ĐT, ra Chỉ thị số 06/ CT – GD ngày 28/2/1985 về một sốvấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ ngành GD&ĐT đã đánh giá “Chị

em đã và đang phát huy tác dụng tốt trong các lĩnh vực hoạt động giáo dục,phụ nữ có vai trò to lớn trong việc thực hiện mục tiêu “Nõng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Ngành giáo dục và đào tạo là một trongnhững ngành có tỷ lệ lao động nữ đông (70%) Công tác cán bộ nữ trongngành có ý nghĩa rất quan trọng, Chỉ thị số 37/ CT – TW về “Một số vấn đề

về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” là định hướng vô cùng quan

Trang 21

trọng về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đổi mới Sự chỉ đạo kịp thời củaTrung ương Đảng đã mang đến cho ngành giáo dục và đào tạo một cơ hộimới, một niềm tin mới, tạo động lực để chị em rèn luyện, phấn đấu, chiếmlĩnh những đỉnh cao mới trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ GD & ĐT đã banhành Chỉ thị số 15/ GD - ĐT ngày 19/9/1994 về việc đổi mới và tăng cườngcông tác vận động phụ nữ ngành giáo dục và đào tạo trong tình hình mới đã

cụ thể hoá những nội dung cơ bản của Chỉ thị số 37 – CT/ TW đưa ra một sốyêu cầu các cấp quản lý giáo dục – đào tạo, các cơ sở trường học cần thựchiện tốt một số chủ trương như: Tăng cường công tác tuyên truyền, tạochuyển biến trong nhận thức của cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của cán

bộ nữ ; Đấu tranh chống quan điểm sai trái, hẹp hòi trong đánh giá, sử dụng,

đề bạt cán bộ nữ, tạo điều kiện thuận lợi cho chị em học tập, phấn đấu vàvươn lên; Phát triển và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên nữ cáccấp học, cán bộ nữ làm công tác quản lý và khoa học Bộ GD & ĐT cũng

đã xây dựng kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ ngành giáo dục vàđào tạo qua 2 giai đoạn Giai đoạn 1 từ 2001 – 2005 do Bộ trưởng Bộ Giáo

GD & ĐT ký ngày 06/8/2002 với mục tiêu tổng quát: Góp phần ổn định vàcải thiện đời sống cho nữ cán bộ giáo viên trong ngành Tham gia chỉ đạonâng cao trình độ của phụ nữ về mọi mặt nhằm tạo điều kiện về giáo dục đểphụ nữ tham gia cũng như thụ hưởng đầy đủ và bình đẳng trong mọi lĩnhvực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội Gần đây nhất, ngày28/6/2006 Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ký Kế hoạch hành động “Vỡ sự tiến

bộ của phụ nữ ngành giáo dục và đào tạo giai đoạn 2, giai đoạn 2006 –2010” Với tính chất đặc thù của ngành, nội dung bản kế hoạch được tậptrung vào mục tiêu thứ tư về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động củaphụ nữ trờn cỏc lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữđựoc giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành

Trang 22

Như vậy đã có nhiều văn bản của các cấp quản lý đề cập và quan tâmđến công tác nữ, đặc biệt là đối với ngành giáo dục có số lượng đội ngũ nữcán bộ giáo viên chiếm tỷ lệ cao cũng là nơi tập trung đội ngũ nghiên cứukhoa học trong cả nước Do đó cần phải có những quan tâm đúng mức tớilực lượng này để khai thác hết tiềm năng trong đội ngũ góp phần đẩy nhanhcông cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

1.4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC

Tại Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII, đồng chí Đỗ Mười nhấn mạnh

“Khõu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệtchăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng nhưcán bộ QLGD cả về chính trị, tư tưởng đạo đức và năng lực chuyên môn,nghiệp vụ” [19; 13]

Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá IX nêu rõ “cỏc cấp uỷ đảng từtrung ương tới địa phương quan tâm thường xuyên công tác đào tạo, bồidưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý về mọi mặt, coi đây là một phần của côngtác cán bộ; đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất lốisống của nhà giáo Xây dựng kế hoạch đầo tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên

và cán bộ QLGD, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đápứng yêu cầu thời kỳ mới” [20; 4]

Trong điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định “Nhà nước tổchức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảmcác điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai tròtrách nhiệm của mỡnh” [32; 14]

“Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010” của Chính phủ cũng đãnêu rõ “Phỏt triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơcấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô vừa nõng caochất lượng hiệu quả giáo dục” [16; 30]

Trang 23

Nghị quyết số 14/ 2005/NQ – CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ vềđổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 –

2020 xác định “Xõy dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đạihọc đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, cótrình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; [16; 3]

Đánh giá về thực trạng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dụcChỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ươngĐảng đã nêu rõ:

“…Trong lịch sử của nước ta, “ tôn sư trọng đạo” là một truyền thốngquí báu của dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến kínhtrọng Những năm qua chóng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo vàCBQL giáo dục đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chínhtrị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng đợc nâng cao Đội ngũnày đã đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước

Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự phát triển giáo dục trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáo còn những hạn chế,bất cập Số lượng giáo viên còn thiếu, chưa đồng bộ, không cân đối; chất lư-ợng chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêucầu…; một bộ phận nhà giáo thiếu gương mẫu trong đạo đức, lối sống, nhâncách, chưa làm gương tốt cho học sinh, sinh viên

Chỉ thị xác định: xây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện Đây

là nhiệm vô vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâudài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010

và chấn hưng đất nước Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLgiáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về

cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống,

Trang 24

l-ương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý phát triển đúngđịnh hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng nguồnnhân lực đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước.

Để thực hiện được thành công những mục tiêu đã nêu trong chiếnlược phát triển giáo dục 2001- 2010 và chấn hưng đất nước, đòi hỏi nhàtrường phải thực hiện tốt sứ mệnh của mình là “trang bị cho học sinh tất cảcác năng lực thực hiện được đầy đủ mọi tiềm năng của mình"

Nhà trường hiệu quả được UNESCO khuyến cáo có những đặcđiểm sau:

- Áp dụng tiếp cận: Lấy học sinh làm trung tâm

- Các chương trình giảng dạy giàu tính học thuật

- Dạy là để khuyến học

- Có không khí sư phạm tích cực

- Khuyến khích hoạt động tương tác đồng đẳng

- Quan tâm phát triển giáo viên

- Chú ý chia sẻ quyền lãnh đạo

- Khuyến khích giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

- Huy động được sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng

Dù nhà trường ở một loại hình nào đi nữa thì hoạt động quản lý nhàtrường phải bao gồm tất cả các tác động của chủ thể quản lý đến các hoạtđộng trong cấu trúc của nhà trường nhằm vận hành hệ thống tổ chức của nhàtrường đạt tới các mục tiêu của chính nhà trường đó đề ra cùng với các mụctiêu của Nhà nước và xã hội đòi hỏi Xu hướng mà các nhà trường hiện nayđều kỳ vọng có được đó là nhà trường chất lượng theo 5 tiêu chí được mô tảtheo sơ đồ 1.3

Trang 25

Sơ đồ 1.3 Nhà trường chất lượng

1.5 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

1.5.1 Về số lượng

Số lượng giảng viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ này, nóphản ánh quy mô của đội ngũ giảng viên tương xứng với quy mô của mỗitrường đại học, cao đẳng Số lượng giảng viên phụ thuộc vào sự phân chia tổchức trong nhà trường

Số lượng giảng viên của mỗi trường đại học, cao đẳng phụ thuộc vàoquy mô phát triển nhà trường, nhu cầu đào tạo và các yếu tố khác, chẳng hạnnhư: chỉ tiêu biên chế, công chức của nhà trường, các chế độ chính sách đốivới đội ngũ giảng viên Tuy nhiên, dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảohoạt động giảng dạy thì người quản lý cũng đều cần quan tâm đến việc giữvững sự cân bằng động về số lượng giảng viên với nhu cầu đào tạo và quy

mô phát triển của nhà trường

1.5.2 Về cơ cấu đội ngũ

Theo đại từ Tiếng Việt, “cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằmthực hiện các chức năng của chỉnh thể” Như vậy, có thể hiểu cơ cấu đội ngũgiảng viên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh, bao gồm:

- Về chuyên môn: Đảm bảo tỷ lệ giảng viên hợp lý giữa các đơn vịtrong nhà trường, phù hợp với quy mô và nhiệm vụ đào tạo của từng chuyênngành đào tạo;

Phương pháp

Method

Phương pháp

Method

Tài chính

Money

Tài chính

Money

Cơ sở vật chất

Material

Cơ sở vật chất

Material

Quản lý

Manage -ment

Quản lý

Manage -ment

Trang 26

- Về lứa tuổi: Đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ trong nhà trường,tránh tình trạng “lóo hoỏ” trong đội ngũ giảng viên, tránh sự hẫng hụt về độingũ giảng viên trẻ kế cận, cần có thời gian nhất định để thực hiện.

- Về giới tính: Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giảng viên nam và giảng viên

nữ trong từng khoa, tổ, bộ môn và chuyên ngành đào tạo của nhà trường

- Về chính trị: Duy trì sự cân đối về tỷ lệ giảng viên trong các tổ chứcchính trị - xã hội như: Đảng cộng sản Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản HồChí Minh, Công đoàn,…gữa cỏc phũng, khoa, tổ bộ môn trong nhà trường

1.5.3 Về chất lượng đội ngũ giảng viên

a/ Về phẩm chất

Phẩm chất của các giảng viên tạo nên phẩm chất của đội ngũ giảngviên, phẩm chất đội ngũ giảng viên tạo nên linh hồn và sức mạnh của độingũ này Phẩm chất đội ngũ giảng viên trước hết được biểu thị ở phẩm chấtchính trị - đó là yếu tố rất quan trọng giúp cho người giảng viờn cú bản lĩnhvững vàng trước những biến động của xã hội Trên cơ sở đó thực hiện hoạtđộng giáo dục toàn diện, định hướng xây dựng nhân cách cho sinh viên cóhiệu quả Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chớnh trị là linh hồn, chuyênmôn là cỏi xỏc, cú chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ là cỏi xỏckhông hồn Phải có chính trị rồi mới cú chuyờn mụn… Nói tóm lại, chính trị

là đức, chuyên môn là tài, có tài mà không có đức là hỏng.” [28; 188]

Giáo dục có tính chất toàn diện, bên cạnh việc dạy “chữ” và dạy

“nghề” thì điều rất cần thiết là dạy cho sinh viên cách học để làm người, làxây dựng nhân cách cho sinh viên Trong xã hội hiện đại, với sự phát triểnnhư vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông , sinh viên các trườngđại học, cao đẳng đã và đang trực tiếp đón nhận nhiều luồng tri thức, nhiềuluồng văn hoá khác nhau Sự nhạy cảm cũng như đặc tính luụn thớch hướngtới cái mới của tuổi trẻ rất cần có sự định hướng trong việc tiếp cận và tiếpnhận các luồng thông tin đó Việc không ngừng nâng cao tính tích cực chínhtrị cho đội ngũ giảng viên là rất cần thiết, bảo đảm tính định hướng xã hội

Trang 27

chủ nghĩa của giáo dục đại học Việt Nam, kết hợp một cách hài hoà giữatính dân tộc và quốc tế, truyền thống và hiện đại trong đào tạo, đáp ứng yêucầu phát triển của giáo dục đại học Việt Nam.

Phẩm chất đạo đức mẫu mực cũng là một trong những tiêu chuẩnhàng đầu của giáo dục nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng Cùng vớinăng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức được coi là yếu tố nền tảng củanhà giáo Trong sự nghiệp “trồng người” phẩm chất đạo đức luôn có vị trínền tảng Nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng phải có phẩmchất đạo đức trong sáng để trở thành tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo, đểgiáo dục đạo đức và xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ

để vận dụng trực tiếp vào hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học củamình Mặt khác, trong xu thế phát triển của xã hội hiện đại, ngoại ngữ và tinhọc cũng là những công cụ rất quan trọng giúp người giảng viên tiếp cận vớitri thức khoa học tiên tiến trên thế giới tăng cường hợp tác và giao lưu quốc

tế để nâng cao trình độ, năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học Hiệnnay, trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ giảng viên đã và đang đượcnâng cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập

c/ Về năng lực

Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa “Năng lực là khả năng, điều kiện chủquan hay tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; hoặc là phẩm

Trang 28

chất tâm lý, sinh lý tạo ra cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạtđộng nào đú.” [18; 678]

Đối với đội ngũ giảng viên, năng lực được hiểu là trên cơ sở hệ thốngtri thức mà người giảng viên được trang bị, họ phải hình thành và nắm vững

hệ thống các kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả Kỹ năngcủa người giảng viên được hiểu là “khả năng vận dụng những kiến thức thu

được vào hoạt động sư phạm” [18; 543] biến nó thành kỹ xảo Kỹ xảo “là

kỹ năng đạt tới mức thuần thục” [18; 544]

Giảng dạy và nghiên cứu là hai hoạt động cơ bản, đặc trưng của ngườigiảng viên đại học, Cao đẳng Vì vậy nói đến năng lực của đội ngũ giáo viêncần phải xem xét trên hai góc độ chủ yếu là năng lực giảng dạy và năng lựcnghiên cứu khoa học

Năng lực giảng dạy của người giảng viên là khả năng đáp ứng yêucầu học tập, nâng cao trình độ học vấn của đối tượng; là khả năng đáp ứng

sự tăng quy mô đào tạo; là khả năng truyền thụ tri thức mới cho sinh viờn…Điều đó phụ thuộc rất lớn vào trình độ, kỹ năng của người giảng viên; điềukiện và thiết bị dạy học và được thể hiện ở chất lượng và hiệu quả đào tạo.Năng lực của người giảng viờn cũn được thể hiện ở việc khơi dậy tinh thầnsay mê học tập cho sinh viên; gợi mở những vấn đề mới để các em có nhucầu tìm kiếm tri thức giải quyết vấn đề một cách khoa học và tìm kiếm chân

lý khoa học; bồi dưỡng cho các em khẳ năng tự học, tự nghiên cứu

1.6 NHÂN CÁCH NGƯỜI GIÁO VIÊN VÀ NGƯỜI NỮ GIẢNG VIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG SƯ PHẠM

1.6.1 Nhân cách người giáo viên

Trong xã hội nghề dạy học hình thành sớm nhất Nó ra đời khi nềnsản xuất xã hội phát triển đến một trình độ nhất định Trong quá trình laođộng sản xuất người ta cần phải truyền lại cho nhau những kinh nghiệm đấutranh với thiên nhiên có hiệu quả để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Mới

Trang 29

đầu ở mức độ thấp, người ta có thể truyền đạt kinh nghiệm trực tiếp cách đạtđược thành quả lao động của tập thể hay của người này cho người khác.Nhưng khi kinh nghiệm đã phong phú theo sự phát triển của sản xuất thịtruyền đạt phải đòi hỏi đến vai trò của người trung gian Đó là thầy giáo.Như vậy nghề dạy học gắn chặt với lao động sản xuất của xã hội, góp phầnhình thành phẩm chất nǎng lực cần thiết của con người lao động.

Con người là lực lượng sản xuất chủ yếu, nên nghề dạy học - ngườigiáo viên có quan hệ chặt chẽ đến việc xây dựng lực lượng lao động dự trữcho xã hội, đến việc tǎng nǎng xuất lao động Xã hội hôm nay nối tiếp xãhội hôm qua không phải chỉ có thừa hưởng kinh nghiệm sản xuất vật chất đểđưa xã hội tiến lên, mà còn thừa hưởng những giá trị tinh thần, vǎn hoá xãhội, nó củng cố và phát triển, hoặc phá bỏ hệ tư tưởng thống trị của xã hội

cũ lỗi thời Vì vậy, người giáo viên muốn hay không đều phải tham gia vàovận mệnh tương lai của dân tộc Việc làm đúng hay không đúng cuả ngườigiáo viên sẽ góp phần đưa xã hội tiến lên hay cản trở của xã hội Từ đó nghềnghiệp và bản thân người giáo viên yêu cầu xã hội phải tạo điều kiện để họlàm tròn nhiệm vụ của mình

Đối tượng lao động của người giáo viên là con người, là thế hệ trẻđang lớn lên cùng với nhân cách của nó Đối tượng này không phải là vật vôtri vô giác như tấm vải của người thợ may, viên gạch của người thợ hồ haykhúc gỗ của người thợ mộc mà là con người với sự nhạy cảm với nhữngtác động của môi trường bên ngoài theo hướng tích cực và cả hướng ngượclại Như vậy người giáo viên phải lựa chọn và gia công lại những tác động

xã hội và tri thức loài người bằng lao động sư phạm của mình nhằm hìnhthành cho người học đáp ứng yêu cầu của xã hội Đối tượng đó vừa là kháchvừa là chủ thể của quá trình giáo dục Tác động đến đối tượng đó khôngphải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như nhau, hiệu quả đó cũng không tỷ lệthuận với số lần tác động Do đó, trong tay người giáo viên phải có vô số

Trang 30

phương án để tác động đến đối tượng, không thể rập khuôn máy móc nhưlao động khác Bản thân đối tượng lao động đã quyết định tính đặc thù củalao động sư phạm của nghề dạy học.

Công cụ lao động của người giáo viên không chỉ là kiến thức, bởi vìtrong xã hội ngày nay con người mới phải phát triển toàn diện chứ khôngchỉ có kiến thức đơn thuần Đúng là tri thức có vai trò quan trọng đối vớicon người, là vũ khí để bảo vệ cuộc sống, tri thức vô cùng cần thiết đối vớimỗi giáo viên Nhưng Mỏc núi: "Hoàn cảnh tạo ra con người trong chừngmực con người tạo ra hoàn cảnh" Bản thân tri thức không thể tạo thành conngười mới, con người chỉ hình thành thông qua hoạt động lao động sản xuất

và đấu tranh xã hội một cách tích cực và tự giác Ngoài ra tri thức còn cócông cụ nữa là để hướng dẫn học sinh học tập có hiệu quả, đú chớnh là laođộng động sư phạm của người giáo viên Như vậy công cụ chủ yếu của laođộng sư phạm là người giáo viên với toàn bộ nhân cách của mình Nhâncách này càng tinh xảo, càng hoàn hảo thì sản phẩm làm ra càng hoàn thiện.Nhân cách đó bao gồm tâm hồn, tư tưởng, phong cách sống cũng như sinhhoạt của người giáo viên Từ đó có thể thấy rõ hơn, nếu giáo viên thiếu nhâncách thì không thể giáo dục nhân cách cho học sinh

Kết quả lao động sư phạm cũng có nhiều điểm đặc biệt Các loại laođộng khác khi kết thúc qua trình lao động thì thu được sản phẩm Còn quátrình lao động của người giáo viên chưa thể kết thúc khi sản phẩm của họ rađời Hiệu quả lao động của người giáo viên sống mãi trong nhân cách củangười được đào tạo nên lao động sư phạm vừa mang tính tập thể rất sâu, vừamang dấu ấn cá nhân rất đậm Vì vậy nó đòi hỏi một tinh thần trách nhiệmcao và sự am hiểu nghề nghiệp nhất định Tính nghề nghiệp là một đòi hỏi,đồng thời cũng tạo ra điều kiện để cho người giáo viên tự rèn luyện mỡnh.Chớnh thế nâng cao phẩm chất của người giáo viên là một yêu cầu tất yếukhách quan của xã hội như Mỏc núi: "Bản thân nhà giáo dục cũng phải đượcgiáo dục" Có điều kiện là một mặt, mặt khác đòi hỏi người giáo viên phải

Trang 31

có sự nỗ lực chủ quan trong rèn luyện Điều kiện "hoàn cảnh" ở đây do bảnthân nghề nghiệp và xã hội tạo ra Vì vậy, để làm tròn nhiệm vụ của Đảng,Nhà nước và nhân dân giao phó, xã hội một mặt đòi hỏi người giáo viênphải rèn luyện nhân cách, mặt khác cũng phải quan tâm tạo điều kiện thuậnlợi để cho người giáo viên tự rèn luyện mình thành người có đầy đủ nhâncách để cống hiến công sức một cách xứng đáng

Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã khẳng định:

- "Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèonàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoàbình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến hộ xã hội

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ýthức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo,năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn,

trình độ thẩm mỹ và thể lực".[19; 58,59]:

1.6.2 Nhân cách người nữ giảng viên trong nhà trường sư phạm

Các trường CĐSP và ĐHSP là “cỗ mỏy cỏi” của nền giáo dục nóiriêng và của sự nghiệp phát triển đất nước nói chung Sản phẩm mà nhàtrường đào tạo ra là những nhà giáo tương lai cho đất nước, do đó ngườigiảng viên không những phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức đểthực sự trở thành những nhà giáo mẫu mực ở mọi nơi, mọi lúc mà còn phải

có nhiệm vụ giáo dục cho sinh viên lý tưởng nghề nghiệp, từ đó sinh viên có

ý thức đúng đắn về nghề dạy học, về vai trò, vị trí của mình trong sự nghiệpgiáo dục - đào tạo

Trang 32

Đội ngũ giảng viên ở các trường Sư phạm còn là thầy của nhữngngười thầy, nhân cách của những nhà giáo do họ đào tạo ra phải có phẩmchất đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp, tri thức khoa học và kỹ năng sư phạm.

Do đó, các trường CĐSP và ĐHSP phải có đội ngũ giảng viên có trình độchuyên môn cao, tâm huyết với nghề, thấm nhuần quan điểm đường lối giáodục của Đảng để thực sự là những người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, tưtưởng, giáo dục Họ phải biết chắt lọc cho mình những tinh hoa của dân tộc,của thời đại, của cuộc sống và khoa học kỹ thuật để từ đó cống hiến cho thế

hệ trẻ, thế hệ nhà giáo kế tiếp tương lai của đất nước “Cú thầy giỏi thì mới

cú trũ giỏi”, đó vừa là một tất yếu của giáo dục, vừa là sự khẳng định: độingũ giáo viên ở các trường sư phạm, trong đó có đội ngũ giảng viên cáctrường CĐSP thực sự có vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượngđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Mầm non, Tiểu học, THCS cho hệthống giáo dục quốc dân nói chung và hệ thống giáo dục ở từng địa phươngnói riêng

Do những yếu tố lịch sử văn hoá cũng như quan niệm về nghề nghiệp

đã tạo nên một đội ngũ đông đảo giáo viên là nữ giới (chiếm khoảng 70%tổng số giáo viên trong ngành giáo dục), đây vừa là thuận lợi nhưng lại cũng

có những khó khăn nhất định Bởi lẽ, phụ nữ có những đặc điểm tâm, sinh

lý khác với nam giới, hơn thế nữa họ cũn cú “thiờn chức” làm vợ, làm mẹ,

vì vậy phụ nữ bị chi phối nhiều thời gian, sức lực để hoàn thành công việcgia đình Trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước trong tiếntrình hội nhập và toàn cầu hóa, yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nâng caochất lượng giáo dục, đòi hỏi phải xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũgiáo viên đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có chất lượng cao,

để đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất và năng lực chuyên môn cao, cótrình độ ngoại ngữ, tin học, luật pháp quốc tế, kiến thức và kỹ năng quản trị,hành chính đáp ứng yêu cầu hội nhập Mỗi tập thể nữ nhà giáo và bản thân

Trang 33

mỗi nữ nhà giáo phải là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo, phát huynội lực của chính mình để phấn đấu vươn lên Khắc phục những khó khăn,thiếu thốn về điều kiện sinh hoạt, điều kiện làm việc, những nữ nhà giáo cầnchủ động sắp xếp công việc của tập thể và gia đình, nỗ lực học tập và côngtác để ngoài vai trò là người mẹ hiền, vợ đảm còn là những nhà giáo tinhthông nghiệp vụ, có bản lĩnh vững vàng và giàu lòng yêu nghề Đó là yếu tốquyết định để đội ngũ nữ nhà giáo tự khẳng định mình.

1.7 NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC

Trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, các trường cao đẳng, đại họcđóng vai trò nòng cốt cung cấp nguồn nhân lực để thực hiện những mục tiêuchiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ giảng viên trường cao đẳng,đại học có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ ấy

Họ là những người trực tiếp thực hiện bồi dưỡng phẩm chất, tri thức vàphương pháp tư duy khoa học cho các thế hệ sinh viên Vì thế, một vấn đề

có tính cấp bách đặt ra hiện nay đối với giáo dục đại học là không ngừngxây dựng đội ngũ giảng viên đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ

về cơ cấu Đú chớnh là những con người dùng tri thức để tạo ra tri thức mới

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, có vị trí đặc biệt trong đờisống xã hội Các trường cao đẳng, đại học là một bộ phận của giáo dục quốcdân Để thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu giáo dục đại họcnói riêng là đào tạo nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước cần có đội ngũ giảng viên có chất lượng tốt Giảng viên cáctrường cao đẳng, đại học phải có năng lực thực hiện nhiệm vụ chủ yếu củanhà trường trên lĩnh vực chuyên môn của mình đó là giảng dạy, giáo dục,nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội

Thế giới hiện đại đang có xu hướng toàn cầu hoá về nhiều mặt, trong

đó nổi lên là toàn cầu hoá về kinh tế và công nghệ Ở nước ta, công cuộc đổi

Trang 34

mới rất cần thông tin về mọi lĩnh vực mà các nước tiến tiến có để tiến hànhcông nghiệp hoá Vì vậy, đội ngũ giảng viên ở các trường cao đẳng, đại họcphải thực sự trở thành những máy cái để tạo ra đội ngũ trí thức phục vụ choCNH, HĐH, đồng thời tạo tiền đề để tiếp cận với nền kinh tế tri thức Muốnvậy, đội ngũ giảng viên phải có những tiêu chuẩn và nhiệm vụ cụ thể để đápứng những yêu cầu trên.

Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của giảng viên được qui định tại Điều 72 củaLuật Giáo dục 2005 và được quy định cụ thể tại Điều 26, 27 - Điều lệtrường Cao đẳng:

1.7.1 Tiêu chuẩn của giảng viên trường Cao đẳng

1 Giảng viên trường cao đẳng phải có phẩm chất, đạo đức, tư tưởngtốt; có trình độ chuyên môn, sức khoẻ tốt, lý lịch bản thân rõ ràng

2 Giảng viên các trường cao đẳng phải có trình độ từ đại học trởlên phù hợp với các môn học của ngành đào tạo Ưu tiên tuyển chọn sinhviên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi và người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ,

có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên.Những người tốt nghiệp các ngành ngoài sư phạm phải có chứng chỉnghiệp vụ sư phạm

1.7.2 Nhiệm vụ của giảng viên trường Cao đẳng

1 Giảng viên, cán bộ, nhân viên trường cao đẳng phải nghiêm chỉnhchấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Thựchiện đầy đủ các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy chế tổ chức hoạtđộng của trường và các quy định khác do Hiệu trưởng ban hành

2 Giảng viên trường cao đẳng phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thểdưới đây:

a) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục

và Đào tạo và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục

vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;

Trang 35

b) Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung,phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học;

c) Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụngchuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;

d) Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhâncách của người học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ngườihọc, hướng dẫn người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tưtưởng, đạo đức tác phong, lối sống;

đ) Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảngdạy để nâng cao chất lượng đào tạo;

e) Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao

3 Nhiệm vụ cụ thể của cán bộ, nhân viên các đơn vị trong trường caođẳng do Hiệu trưởng quy định

Tiểu kết chương 1

Bằng việc hệ thống hoá một số vấn đề lý luận có liên quan đến giáodục, đưa ra một số khái niệm liên quan đến việc phát triển đội ngũ giảngviên nói chung và nữ giảng viên nói riêng; Các quan điểm về giới và bìnhđẳng giới của thế giới cũng như của Việt Nam; Khái quát mục tiêu, chủtrương phát triển giáo dục đại học; nhấn mạnh vai trò, chức năng của độingũ giảng viên, đặc biệt là đội ngũ nữ giảng viên và những yêu cầu đối vớiviệc phát triển đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, đặcbiệt đối với các trường sư phạm là nơi đào tạo các nhà giáo tương lai vì vậycàng cần quan tâm đến chất lượng của đội ngũ nhà giáo về cả chuyên mônnghiệp vụ cũng như phẩm chất nhân cách

Đánh giá vai trò của đội ngũ nữ giảng viên trong các nhà trường Sưphạm và sự nỗ lực của họ trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học cũng nhưtrong việc thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ ở gia đình

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ GIẢNG VIÊN

TRƯỜNG CĐSP NGễ GIA TỰ BẮC GIANG

2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIấN, KINH TẾ, XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG

Bắc Giang có nhiều tên gọi và quy mô hành chính khác nhau, tên gọi

“Bắc Giang” xuất hiện đầu tiên trên bản đồ hành chính vào thời nhà Lý (thế kỷ

XI - XIII) Lúc đó, Bắc Giang là một trong 24 lộ (tên đơn vị hành chính) của cảnước, gần trùng với địa giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay

Sơ đồ 1.4: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang từng được người xưa ví là “phờn dậu”, là một trong “tứtrấn” trọng yếu của đất nước Miền đất này từng là nơi ngăn chặn, là chiếntrường lớn của quân dân cả nước chống lại những cuộc xâm lăng của cáctriều đại phong kiến phương Bắc xưa Sử xanh bia đá còn ghi những dấutích lịch sử nổi tiếng như địa danh phòng tuyến sông Cầu của quân dân nhà

Lý chống quân Tống; Nội Bàng, Xa Lý của quân dân nhà Trần chống quõnNguyờn - Mụng; Cần Trạm - Xương Giang của quân dân nhà Lê chống quân

Trang 37

Minh đã chôn vùi mộng xâm lăng của các đạo quân xâm lược, mãi mãi đivào lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc.

Sau một giai đoạn lịch sử dài tách nhập, thay đổi tên gọi, ngày 6-11-1996,tỉnh Hà Bắc được chia trở lại thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang TỉnhBắc Giang chính thức được thành lập và hoạt động theo đơn vị hành chínhmới từ ngày 01- 01-1997, với 10 đơn vị hành chính gồm: Thị xã Bắc Giang(thành phố Bắc Giang hôm nay) là trung tâm và 9 huyện là: Sơn Động, LụcNgạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng, Việt Yờn, Tõn Yờn vàHiệp Hoà

- Vị trí: Nằm cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửa khẩuquốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km

về phía Đông Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây vàTây Bắc giáp Hà Nội, Thỏi Nguyờn, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh BắcNinh, Hải Dương và Quảng Ninh

- Diện tích: 3.882,2 km2

- Địa hình: Trung du (chiếm 10,5%) và miền núi (chiếm 89,5%)

- Khí hậu: Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đôngbắc Một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùaxuân, thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình 22 – 230C, độ ẩm dao độnglớn, từ 73 - 87%

- Dân số và lao động: Năm 2005, dân số toàn tỉnh khoảng 1,58 triệungười Số người trong độ tuổi lao động là 980.000 người (chiếm 62 % dânsố) Số lao động tham gia hoạt động kinh tế khoảng 830.000 người

- Dân tộc: Bắc Giang có 27 dân tộc anh em, trong đó các dân tộc thiểu

số chiếm 12,9%

- Cơ cấu kinh tế: Hết năm 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế của BắcGiang là 9,3 % (cao nhất trong 5 năm qua) Về cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyểndịch theo hướng tích cực Trong đó tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm

Trang 38

từ 45 % năm 2004 xuống còn 43, 5 % năm 2005 Tỉ trọng công nghiệp – xâydựng tăng từ 20,5 % năm 2004 lên 22% năm 2005 Dịch vụ chiếm 34,5 %.

- Đời sống dân cư: GDP bình quân đầu người vào khoảng 4,8 triệuđồng/năm Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới là 30,67% Thu nhập nông dân ởnông thôn ước đạt trên 26 triệu đồng/ha đất canh tác Điện, thông tin liênlạc, y tế, giáo dục đã đến hầu hết 229 xã, phường, thị trấn

2.2 QUÁ TRèNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CĐSP NGễ GIA

TỰ BẮC GIANG

2.2.1 Khái quát quá trình hình thành Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang tiền thân là trường Sư phạmtrung cấp Hà Bắc được thành lập từ ngày 06/01/ 1960 đặt tại Đạo Ngạn -Việt Yên - Bắc Giang Do đáp ứng nhu cầu giáo dục của tỉnh nhà, từ địađiểm đầu tiên này nhiều trường sư phạm được thành lập

- Trường SP Mẫu giáo Hà Bắc: Thành lập năm 1967

- Trường SP Mẫu giáo - Cô nuôi dạy trẻ: Thành lập năm 1988

- Trường SP 10+ 2 Hà Bắc: Thành lập năm 1972

- Trường SP Miền núi: Thành lập năm 1972

- Trường SP 10 + 3 Hà Bắc: Thành lập năm 1971

- Trường CĐSP Ngô Gia Tự Hà Bắc: Thành lập năm 1981

- Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang: Thành lập năm 1997

Cùng với sự phát triển giáo dục của tỉnh Hà Bắc - Bắc Giang trênchặng đường dài gần 50 năm, đến nay tất cả các trường Sư phạm thu về mộtmối thành Trường CĐSP Ngô Gia Tự của tỉnh Bắc Giang Nhà trường đượcgiao nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho các bậc học THCS, Tiểu học và Mầmnon cú trỡnh độ CĐSP, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục và bồi dưỡngchuẩn hoá đội ngũ giáo viên phổ thông của tỉnh Bắc Giang, từ năm học 2008– 2009, trường là đơn vị trực thuộc UBND tỉnh Bắc Giang Những năm gầnđõy nhà trường đã được Bộ GD&ĐT cho phép mở một số mã ngành đào tạo

Trang 39

ngoài sư phạm cung cấp nguồn nhân lực cho tỉnh Bắc Giang và các tỉnh bạn.Hiện nay nhà trường có 174 cán bộ, giảng viên, trong đú có 129 giảng viênbao gồm 5 Tiến Sĩ, 57 Thạc sĩ và 67 cử nhân thuộc đủ các ngành đào tạo Hệthống tổ chức của nhà trường bao gồm 7 Khoa, 7 phòng ban, 2 Trung tõm, 2

Bộ môn Quy mô đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường ngày càng mở rộng và

đa dạng hoá loại hình đào tạo theo yêu cầu phát triển của xã hội nói chung

và địa phương nói riêng

Cùng với sự phát triển đội ngũ, quy mô đào tạo, bồi dưỡng, trườngCĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang đã được Tỉnh uỷ và UBND tỉnh phê duyệt quyhoạch tổng thể xây dựng trên diện tích gần 4 ha với hệ thống giảng đườngđược trang bị hiện đại, cỏc phũng chuyên dùng, khu thí nghiệm - thực hành,thư viện Cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay khá ổn định, đặc biệt cácthiết bị dạy học được bổ sung hàng năm theo kinh phí được cấp từ ngân sáchnhà nước, cỏc phũng chức năng, phòng thí nghiệm tạm đủ cho các chuyênngành mới được đào tạo, với sự quyết tâm cao của lãnh đạo nhà trường, năm

2007 trường đã thành lậpwebsite và đưa vào khai thác hoạt động có hiệu quả

Là trường CĐSP ở một tỉnh miền núi, nhưng trường luôn là đơn vịxuất sắc trong khối các trường chuyên nghiệp trong tỉnh Năm học 2001 -

2002 trường được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba Đảng bộtrường luôn là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh Công đoàn trường đượccông nhận là Công đoàn vững mạnh và đã được Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam tặng bằng khen Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh dẫn đầutrong công tác học sinh, sinh viờn cỏc trường trong tỉnh

Nhà trường có đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, tận tình, luôn cótinh thần cầu tiến, tỷ lệ giảng viên đạt trình độ sau đại học trong vòng 10năm từ 1998 đến 2008 từ 9,8% lên 40,54% , trong quy hoạch của nhà trườngđến 2015 nâng tỷ lệ này lên 60%, độ tuổi từ 30-40 chiếm 21,4%, trong đó

nữ chiếm 14,3%

Trang 40

Tuy nhiên trường còn gặp một số khó khăn đó là:

- Địa bàn của trường nằm ở Huyện Tõn Yên, cách xa trung tâm thànhphố nên việc liên lạc, nắm thông tin và chuyển thông tin còn hạn chế

- Là một tỉnh có 4/10 huyện nằm ở vựng sõu, vựng xa (cách trung tâmcủa tỉnh hàng 100 km), số lượng sinh viên là người dân tộc chiếm tỷ lệ trên30%, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, mặt bằng trình độ học vấn phổthông và chuyên môn chưa cao và không đồng đều

- Đội ngũ cán bộ quản lý của trường không đồng đều về tuổi tác, trình độquản lý cũng như kinh nghiệm công tác ở các lĩnh vực, một số phòng ban có sựsắp xếp lại nhân sự nên chưa thật ổn định về nề nếp và chất lượng công việc

- Đội ngũ giảng viên có tuổi đời trung bình tương đối cao cũng là mộthạn chế trong việc tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn và tiếp cận nhữngthông tin hiện đại phục vụ công tác

2.2.2 Quy mô đào tạo, tổ chức bộ máy Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang

* Quy mô đào tạo trong 5 năm gần đõy

Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang có sự biến động đáng kể vềquy mô đào tạo trong những năm gần đõy Sau đõy là thống kê về số lượngđào tạo các ngành trong 5 năm từ năm học 2005 - 2006 đến 2008– 2009

Bảng 2.1 Số lượng sinh viên sư phạm được đào tạo chính quy và chuyên tu

Mầm non

GV Tiểu học GV THCS Tổng số

Tỷ lệ đào tạo năm sau cao hơn năm trước

(Nguồn: Phòng Đào tạo)

Nhìn vào bảng thống kê trên nhận thấy: Tỷ lệ sinh viên hệ chính quy

và chuyờn tu giảm dần liên tục trong 3 năm, đến năm học 2008 - 2009 tỷ lệ

Ngày đăng: 22/04/2015, 23:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh và đồng nghiệp (2002), Về đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý, Tạp chí Khoa học về phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý
Tác giả: Phạm Ngọc Anh và đồng nghiệp
Năm: 2002
2. Trần Thị Vân Anh (2002), Tình hình nữ làm chủ nhiệm đề tài - Vấn đề giới trong khoa học xã hội, Tạp chí Khoa học về phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nữ làm chủ nhiệm đề tài - Vấn đề giới trong khoa học xã hội
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2002
7. Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức sư phạm và kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức sư phạm và kinh tế - xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2006
8. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về Quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về Quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
9. Nguyễn Thị Bình (1994), Bài giảng lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý giáo dục Trung ương 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1994
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Điều lệ trường Cao đẳng, Ban hành kèm theo thông tư 14/2009/TT- BGD&ĐT ngày 28 tháng 5 năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Cao đẳng
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy, Ban hành kèm theo quyết định số 25/2006/QĐ- BGDĐT ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
13. C.Mỏc – Ph. Ăng ghen (1993),C.Mỏc – Ph. Ăng ghen toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mỏc – Ph. Ăng ghen toàn tập
Tác giả: C.Mỏc – Ph. Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
14. Chính phủ (2005), Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
15. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ- Chính phủ về “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nan giai đoạn 2006 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 14/2005/NQ- Chính phủ về “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nan giai đoạn 2006 - 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
16. Chính phủ (2001), Quyết định số 201/ 2001/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 201/ 2001/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010”
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan, Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết đại hội X của Đảng, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2006
22. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở của khoa học quản lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
23. Vũ Ngọc Hải (2006), Quản lý nhà nước về giáo dục, Đề cương bài giảng cho HV Cao học 2007, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Vũ Ngọc Hải
Năm: 2006
24. Nguyễn Vũ Bích Hiền (2008), Xõy dựng,phỏt triển và quản lý chương trình đào tạo, ĐCBG cho lớp CHQL ĐHSP Hà Nội khóa 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xõy dựng,phỏt triển và quản lý chương trình đào tạo
Tác giả: Nguyễn Vũ Bích Hiền
Năm: 2008
25. Bùi Minh Hiền (chủ biờn),Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, Nxb đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục, Nxb đại học sư phạm
Tác giả: Bùi Minh Hiền (chủ biờn),Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb đại học sư phạm"
Năm: 2006
26. Trần Kiểm (2008), quản lý và lãnh đạo nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: quản lý và lãnh đạo nhà trường
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quản lý - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ quản lý (Trang 13)
Sơ đồ 1.3. Nhà trường chất lượng - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Sơ đồ 1.3. Nhà trường chất lượng (Trang 25)
Bảng 2.1. Số lượng sinh viên sư phạm được đào tạo chính quy và chuyên tu - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.1. Số lượng sinh viên sư phạm được đào tạo chính quy và chuyên tu (Trang 40)
Bảng 2.2. Số lượng sinh viên các ngành ngoài sư phạm hệ chính quy - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.2. Số lượng sinh viên các ngành ngoài sư phạm hệ chính quy (Trang 41)
Bảng 2.3. Số lượng học viên hệ đào tạo VLVH ,  bồi dưỡng nghiệp vụ - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.3. Số lượng học viên hệ đào tạo VLVH , bồi dưỡng nghiệp vụ (Trang 42)
Sơ đồ 2.1.Tổ chức bộ máy Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Sơ đồ 2.1. Tổ chức bộ máy Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang (Trang 45)
Bảng 2.8. Đội ngũ giảng viên phân theo giới  tớnh - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.8. Đội ngũ giảng viên phân theo giới tớnh (Trang 48)
Bảng 2.10. Trình độ đào tạo của đội ngũ giảng viên\ - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.10. Trình độ đào tạo của đội ngũ giảng viên\ (Trang 53)
Bảng 2.12.  Thống kê số lượng giảng viên nữ được cử đi đào tạo hàng năm - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.12. Thống kê số lượng giảng viên nữ được cử đi đào tạo hàng năm (Trang 56)
Bảng 2.14. Số lượng giảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng lý luận chớnh - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.14. Số lượng giảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng lý luận chớnh (Trang 57)
Bảng thống kê trên cho thấy thực trạng trình độ ngoại ngữ của đội ngũ - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng th ống kê trên cho thấy thực trạng trình độ ngoại ngữ của đội ngũ (Trang 58)
Bảng 2.17. Tổng hợp ý kiến đỏnh giá của sinh viên về đội ngũ nữ giảng viên - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.17. Tổng hợp ý kiến đỏnh giá của sinh viên về đội ngũ nữ giảng viên (Trang 63)
Bảng 2.19. Tổng hợp ý kiến của giảng viên - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 2.19. Tổng hợp ý kiến của giảng viên (Trang 67)
Bảng 3.1. Tổng hợp đỏnh giá về tính cần thiết của các biện pháp - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 3.1. Tổng hợp đỏnh giá về tính cần thiết của các biện pháp (Trang 96)
Bảng 3.2. Tổng hợp đỏnh giá về tính khả thi của các biện pháp - luận văn thạc sĩ  Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang
Bảng 3.2. Tổng hợp đỏnh giá về tính khả thi của các biện pháp (Trang 97)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w