giáo dục phổ thông Hà Tĩnh 1956-1972, sau này là chuyên gia giáo dục của bộ giáo dục...60Bài của tiến sỹ Đặng Duy Báu – nguyên Bí thư tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh, nguyên là học s
Trang 1MỤC LỤC LỜI
LỜI GIỚI THIỆU 4
Trần Trung Dũng 4
Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh ủy 4
Giám đốc sở Giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh 4
LỜI NÓI ĐẦU 5
PHẦN I 7
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TRƯỜNG PHAN ĐÌNH PHÙNG CỦA NHÀ GIÁO ĐỖ XUÂN VƯỢNG (1958 - 1987) 7
I Các hiệu trưởng trường Phan Đình Phùng từ ngày thành lập (9/1945) đến nay 7
II/ 30 năm lãnh đạo nhà trường, những dấu mốc lịch sử và những thành công của Hiệu trưởng Đỗ Xuan Vượng 14
1/ Không phải ngẫu nhiên Thầy Đỗ Xuân Vượng được phân công về công tác và nhanh chóng được giao nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng từ năm 1958 14
2 Sự cống hiến và quá trình vượt qua những thách thức trong lãnh đạo Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng của nhà giáo Đỗ Xuân Vượng: 19
3 Khái quát 51
Phần II Những bài viết của lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, Sở giáo dục Hà Tĩnh, của các cán bộ quản lý từng có thời gian dài theo dõi và cộng tác với thầy Đỗ Xuân Vượng, của một số giáo viên, và học sinh thời kỳ thầy Đỗ Xuân Vượng làm Hiệu trưởng 60
Trang 2Bài của Nhà giáo Lê Sỹ Nghĩa – Phó … giáo dục phổ thông Hà Tĩnh (1956-1972), sau này là chuyên gia giáo dục của bộ giáo dục 60Bài của tiến sỹ Đặng Duy Báu – nguyên Bí thư tỉnh ủy, chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tĩnh, nguyên là học sinh Phan Đình Phùng cán bộ trong giáo dục Hà Tĩnh 60Bài của Nguyễn Huy Liệu – nguyên bí thư thi ủy Hà Tĩnh, ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, nguyên học sinh Phan Đình Phùng, giáo viên cấp III và là phụ huynh của nhà trường 60Bài của Ngô Đức Huy - ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, Bí thư thành
ủy Hà Tĩnh, nguyên là học sinh Phan Đình Phùng 60Bài của Đinh Lê Báu – nhà giáo ưu tú nguyên học sinh Phan Đình Phùng, nguyên giám đốc sở giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh 60Bài của Nguyễn Bá Thiếp – nguyên phó Hiệu trưởng và hiệu trưởngtrường Phan Đình Phùng 60Bài của Lê Văn Minh – nguyên là học sinh, giáo viên, Bí thư Đảng
ủy, Hiệu trưởng Phan Đình Phùng 60Bài của Phan Tiến Cung – Nguyên phó Hiệu trưởng Phan Đình Phùng 60Bài của Phan Thị Xuyến – nguyên học sinh Phan Đình Phùng và Phó hiệu trưởng trường Phan Đình Phùng 61Bài của Trần Kim Thư, nguyên tổ trưởng tổ văn Phan Đình Phùng, phó phòng giáo dục phổ thông sở giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh, nhà giáo
ưu tú 61Bài của Phạm Văn Tình, nguyên bí thư đoàn trường, Bí thư chi bộ Phan Đình Phùng 61
Trang 3Bài của … Thiện, Nguyên trưởng phòng ban tuyên giáo tỉnh ủy HàTĩnh, nguyên bí thư đoàn trường cấp III Phan Đình Phùng thời kỳ chống
Mỹ cứu nước 61Bài cảu Phạm Đức Châu, học sinh miền Nam tập kết, ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy Quảng Trị, trưởng đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Quảng trị 61Bài của Hồ Trọng Ngũ, nguyên học sinh chuyên toán Phan Đình Phùng, hiện là phó chủ nhiệm ủy ban An ninh quốc Mỹ của quốc hội, đạibiểu quốc hội khóa VIII 61Bài của TS…… Cung, nguyên học sinh chuyên toán Phan Đình Phùng, Viện phó viện quản lý kinh tế trung ương 61Bài của Lê Đức Ánh, nguyên học sinh Phan Đình Phùng, hiện là giám đốc trung tâm đào tạo… 61Bài của……… Nghệ, nguyên trưởng phòng hành chính trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng (1975-2010) 61Bài của thầy Nguyễn Chiến Thắng, nguyên học sinh niềm Nam và giáo viên văn trường Phan Đình Phùng 61Bài của Phan Văn Nghệ, nguyên trưởng phòng hành chính trường Phan Đình Phùng 62Bài của thầy…… Hoàn, nguyên giáo viên cũ (toán) trường Phan Đình Phùng 62Ảnh của Trần Đình Quáng, nguyên học sinh Phan Đình Phùng, phó cực trưởng cục thế Hà Tĩnh 62
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng là một trường công lập củaTỉnh Hà Tĩnh, được chính quyền cách mạng sớm thành lập từ tháng 9 năm
1945, có truyền thống hết sức vẻ vang, nổi bật là truyền thống dạy giỏi, họcgiỏi và giáo dục đạo đức tốt Một số học sinh Trường Phan Đình Phùng đã trởthành cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội Khá đông đội ngũ cán
bộ khoa học đầu ngành trong cả nước đều trưởng thành từ mái trường PhanĐình Phùng, Hà Tĩnh Đại bộ phận học sinh cấp III Phan Đình Phùng đều trởthành người lao động tốt, đóng góp có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng quêhương, đất nước hoặc trở thành những chiến sỹ kiên cường đối mặt với quânthù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng đã trở thành như mộtthương hiệu của giáo dục Hà Tĩnh và cả nước
Để tôn vinh, ghi nhớ công trạng của Nhà giáo Đỗ Xuân Vượng, và làngười có công lớn, trong một thời gian dài ( 30 năm) lãnh đạo nhà trường vàgiúp thế hệ cán bộ quản lý hiện tại cũng như trong tương lai học tập kinhnghiệm điều hành, quản lý Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng củaThầy, nhằm giúp thế hệ cán bộ quản lý hiện tại cũng như trong tương lai,Hiệu trưởng Bùi Thiện Hải đã chủ trì biên soạn cuốn sách “Nhà giáo Đỗ XuânVượng - Người có công xây dựng “thương hiệu” Trường phổ thông cấp IIIPhan Đình Phùng”; đây là việc làm rất có ý nghĩa
Với tư cách Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh, tôi xin giớithiệu cuốn sách để các nhà quản lý giáo dục , giáo viên, học sinh và nhữngngười quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Hà Tĩnh tham khảo
Trần Trung Dũng
Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh ủy Giám đốc sở Giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh.
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa, giáodục có vai trò nền tảng Là Trường trung học công lập đầu tiên được thành lập
ở Hà Tĩnh (9/1945), lúc mới thành lập trường có cả các lớp cấp I và cấp II.Đến năm học 1950 -1951 bắt đầu có thêm lớp học chương trình cấp III Từnăm học 1957 - 1958 trở đi trường chỉ có học sinh cấp III Trong gần 70 nămphấn đấu, từ mái trường này, hàng chục vạn thanh niên trưởng thành và đónggóp to lớn cho nước nhà trên mọi lĩnh vực ở khắp mọi miền đất nước Kết quảđào tạo của Trường Phan Đình Phùng Hà Tĩnh đã thực sự có tiếng vang khắp
cả nước Chất lượng đào tạo của Trường Phan Đình Phùng hết sức ổn định
Từ những năm tháng thu hút học sinh cả vùng từ Thừa Thiên cho đến Nghệ
An, rồi học sinh cả tỉnh và ngày nay có thể xem như một trường huyện nhưngchất lượng đào tạo của Trường cấp III Phan Đình Phùng Hà Tĩnh vẫn luôn làtốp đầu của tỉnh Hà Tĩnh
Trong gần 70 năm xây dựng và trưởng thành, có một nhà giáo đứngmũi chịu sào chèo chống suốt 30 năm trời, đó là những năm tháng đầy giantruân vất vả nhất, là thời kỳ phải giải quyết tư tưởng nặng nề trong đội ngũ tríthức lớn nhất tỉnh sau cải cách ruộng đất và chính đốn tổ chức, thời kỳ chốngchiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bánnước gây nên, thời kỳ nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế- xã hội và tìmcách thoát ra khỏi bao vây cấm vận của các thế lực thù địch Chính trongnhững thời kỳ lịch sử bi hùng đó với sự quản lý, điều hành của Nhà giáo ĐỗXuân Vượng, Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng đã liên tục giànhđược những chiến công, tô thắm thêm truyền thống hiếu học của của quêhương Hà Tĩnh, đã cung cấp cho xã hội hàng vạn thanh niên trí thức mới cốnghiến xuất sắc trên mọi lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu khoa học, sảnxuất, chiến đấu cũng như trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật
Trang 6Với bề dày thành tích của mình, Trường phổ thông cấp III Phan ĐìnhPhùng đã thực sự trở thành “ thương hiệu”, tiếp tục phát huy cho đến ngàynay và đầy hứa hẹn trong tương lai.
Để ôn lại quá trình lao động đam mê và đầy sáng tạo của Nhà giáo ĐỗXuân Vượng, Hiệu trưởng nhà trường và một số đồng chí từng là lãnh đạongành giáo dục, là lãnh đạo tỉnh, là cán bộ, giáo viên từng cộng tác, học tập
và theo dõi hoạt động của Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng thới kỳNhà giáo Đỗ Xuân Vượng được giao nhiệm vụ lãnh đạo quản lý nhà trườngthống nhất biên soạn cuốn sách: “Nhà giáo Đỗ Xuân Vượng người có côngxây dựng “thương hiệu” Trường cấp III Phan Đình Phùng”, mong rằng sẽcung cấp cho đồng nghiệp những thông tin cần thiết giúp ích thêm trong quátrình công tác; và việc làm này thể hiện sự tôn kính, tôn vinh đối với Nhà giáo
Trang 7PHẦN I QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TRƯỜNG PHAN ĐÌNH PHÙNG CỦA NHÀ GIÁO ĐỖ XUÂN VƯỢNG (1958 - 1987)
I Các hiệu trưởng trường Phan Đình Phùng từ ngày thành lập (9/1945) đến nay.
Sau khi lãnh đạo giành được chính quyền về tay nhân dân, thực hiệnkết luận của Hồ Chủ tịch tại phiên họp Chính phủ ngày 03/9/1945, trongtháng 9/1945 Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Tĩnh (1) (Thời kỳ nàyBan Chấp hành Đảng bộ tỉnh chưa được khôi phục lại) đã quyết định thànhlập Trường Trung học Phan Đình Phùng đặt tại địa điểm Trường tiểu họcPháp- Việt Lúc mới thành lập, Trường Trung học quốc lập Phan Đình Phùng
có cả bậc tiểu học và bậc trung học, học theo chương trình Hoàng Xuân Hãn(2)
(3 năm tiểu học phần I, 3 năm tiểu học phần II, 4 năm trung học phổ thông và
3 năm trung học chuyên khoa) Bậc tiểu học được chuyển từ Trường Tiều họcPháp – Việt sang, học buổi sáng, bậc trung học học buổi chiều Trước năm
1945, cả miền Trung chỉ có Trường Quốc học Huế đào tạo tú tài; các tỉnh Bắcmiền Trung chỉ có một Trường Trung học quốc lập ở Vinh ( Collège Vinh),ngoài ra mỗi tỉnh có từ 1 đến 2 trường tư thục Hà Tĩnh thời kỳ đó chỉ có 1trường do Cố đạo người Pháp thành lập ở vùng công giáo Thọ Ninh ( ĐứcThọ) sau này đổi thành Trường Đậu Quang Lĩnh(3) do cha Vương Đình Ái làmHiệu trưởng Về tiểu học, cả tỉnh chỉ có 2 trường học đủ cả 2 bán phần ( ởPhủ Đức Thọ và Phủ Thạch Hà) Bán phần thứ nhất gồm 3 lớp đầu: lớp năm (còn gọi là lớp đồng ấu), lớp tư ( còn gọi là lớp dự bị), lớp ba (còn gọi là sơđẳng) Bán phần thứ 2 gồm 3 lớp cuối: lớp nhì đệ nhất, lớp nhì đệ nhị và lớpnhất Các huyện và một số tổng của các huyện chỉ mở bán phần thứ nhất, còngọi là bậc sơ học Ngày 10/10/1945 Chính phủ đã có sắc lệnh số 44/SL thống
Trang 8nhất bậc tiểu học còn 4 lớp (rút 2 năm học so với trước), chương trình trunghọc và trung học chuyên khoa vẫn giữ theo chương trình Hoàng Xuân Hãn.
1 Hiệu trưởng Trường Phan Đình Phùng đầu tiên ( năm học 1945 –1946) là thầy Nguyễn Kim Mạc Thầy Nguyễn Kim Mạc ( 1910 – 1973) quê
ở xã Yên Hòa, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tốt nghiệp tú tài trườngBưởi, học luật Từ 9/1946, Thầy Nguyễn Kim Mạc đi nhận nhiêm vụ mới.Khi nghỉ hưu (1964), Thầy là cán bộ giảng dạy Trường Đại học Kinh tế tàichính Hà Nội
2 Hiệu trưởng thứ hai ( năm học 1946 - 1947) là Thầy Trần Cảnh Hảo,quê ở xã Vinh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, tốt nghiệp Cao đẳng
Sư phạm Đông Dương, ban văn – sử - địa Do thực hiện chủ trương tiêu thổkháng chiến nên thời kỳ này Trường Phan Đình Phùng sơ tán vào Đại Thành (Cẩm Thành, Cẩm Xuyên)
3 Hiệu trưởng thứ ba ( năm học 1947 -1948) là Thầy Nguyễn MạnhTrừng, quê ở thành phố Huế, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, BanToán – Lý – Hóa, Phó Hiệu trưởng là Thầy Nguyễn Quát Thời kỳ này,trường đã dời địa điểm từ Đại Thành lên học ở thị trấn Đức Thọ
4 Hiệu trưởng thứ tư ( năm học 1948 – 1949) là Thầy Nguyễn Quát,quê xã Đức Lập ( Đức Thọ ), tốt nghiệp tú tài toàn phần trường Bưởi, đã từnglàm Tri huyện Yên Thành và Tri phủ Diễn Châu
5 Hiệu trưởng thứ năm (1949- 1951) là Thầy Lê Khả Kế, quê SơnBằng (Hương Sơn), là kỷ sư canh nông, từng giảng dạy ở Đại học Nôngnghiệp Hà Nội (1946) và Hiệu trưởng Trường kỹ thuật trung cấp canh nông,sau đó làm Chủ nhiệm Khoa Hóa – Sinh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nộirồi chuyên viên nghiên cứu của Viện ngôn ngữ Phó Hiệu trưởng là ThầyHoàng Xuân Tâm Từ năm học 1949- 1950, Trường Phan Đình Phùng bắt đầu
Trang 9có lớp cấp III Cũng từ năm học này (7/1950) bắt đầu thực hiện cải cách giáodục lần thứ nhất thành hệ thống 9 năm; đổi bậc tiểu học thành cấp I ( học 4năm), trung học phổ thông thành cấp II ( học 3 năm), trung học chuyên khoathành cấp III ( học 2 năm) Từ năm học này, khối học sinh cấp III TrườngPhan Đình Phùng có cả học sinh một số huyện của Nghệ An, học sinh ThừaThiên, Quảng Trị và Quảng Bình theo học Năm 1950 sau khi Trường PhanĐình Phùng ở Thị trấn Đức Thọ bị cháy, Trường Phan Đình Phùng phải dời
về tiếp quản địa điểm cũ của Trường Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng (đãdời lên Đô Lương, Nghệ An) tại Trường Tiểu học Châu Phong( cũ), do đótrường có cả 3 cấp(cấp I, II và cấp III)
6 Hiệu trưởng thứ sáu ( 1951 – 1953) là Thầy Trần Đình Đàn, quê ở xãQuế Thọ, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạmĐông Dương, ban Văn – Sử - Địa Năm học 1951 -1952, ngoài cấp I và cấp IItrường đã có 3 lớp 8 và 1 lớp 9 Năm học này, để giảm bớt mật độ học sinh ởChâu Phong trường chuyển các lớp cấp III về nhập với Trường cấp I , IITrung Lễ ( Đức Trung) Khi về Đức Trung, mấy tháng đầu nhà trường doThầy Vũ Ngọc Khánh điều hành, sau đó Thầy Hoàng Xuân Tâm được giaoQuyền Hiệu trưởng
7 Hiệu trưởng thứ bảy ( từ 1953 – 1955) là Thầy Trần Văn Trị, quê ởthành phố Huế, đỗ tú tài toàn phần Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơnevơđược ký kết, các lớp cấp III và một số lớp cấp II cuối cấp dời về Thị xã HàTĩnh (lúc đầu trường đóng tại khu vực Văn miếu– Thạch Linh) với tên gọichính thức là Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng
8 Hiệu trưởng thứ tám ( năm học 1955 -1956) là Thầy Hoàng XuânTâm, quê Đức Phúc ( Đức Thọ), tốt nghiệp Trung học chuyên khoa HuỳnhThúc Kháng năm 1948 và học 2 năm toán đại cương Phó Hiệu trưởng gồm
Trang 10thầy Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Quát và Nguyễn Thanh Lam Từ năm học nàyhọc sinh Thừa Thiên và Quảng Trị vượt tuyến ra học ngày càng đông dần.
9 Hiệu trưởng thứ chín (1956 -1957) là thầy Hoàng Văn Nguyên, quê
ở Nghi Hưng (Nghi Lộc – Nghệ An ), tốt nghiệp Trung học chuyên khoaHuỳnh Thúc Kháng, ban Văn – Sử - Địa
10 Hiệu trưởng thứ mười (từ năm 1957 – 1958 đến 1962) là ThầyNguyễn Quát, Phó Hiệu trưởng là Thầy Nguyễn Thanh Lam và Thầy ĐỗXuân Vượng Năm 1957 là năm bắt đầu thực hiện cải cách giáo dục lần thứ IItheo hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm Từ năm học 1957 – 1958, TrườngPhan Đình Phùng chỉ có học sinh cấp III gồm các lớp 8, 9, 10
11 Hiệu Trưởng thứ mười một (1962 – 1987) là Thầy Đỗ XuânVượng, quê Cẩm Hưng ( Cẩm Xuyên), tốt nghiệp Khoa Vật lý ,Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội, Phó Hiệu trưởng gồm quý Thầy Lê Dao, Trần Văn Đệ,Nguyễn Bá Thiếp, Phan Thị Xuyến, Vương Văn Thất, Trần Huy Tiếp, PhanTiến Cung, Hồ Quang Khải
12 Hiệu trưởng thứ mười hai (1987 – 1998) là Thầy Nguyễn Bá Thiếp,quê ở Thạch Đỉnh ( Thạch Hà ), tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Vinh,Khoa Toán
13 Hiệu trưởng thứ mười ba (1999 – 2001) là Thầy Nguyễn Trí Hiệp,quê Sơn Thịnh ( Hương Sơn), tốt nghiệp khoa Toán, Trường Đại học Sưphạm Vinh
14 Hiệu trưởng thứ mười bốn ( 4/2001 – 3/2004) là Thầy Lê VănMinh, quê Thạch Tân (Thạch Hà), tốt nghiệp khoa Vật lý, Trường Đại học Sưphạm Vinh
Trang 1115 Hiệu trưởng thứ mười lăm (3/2004 – 2007) là Thầy Đặng Đôn Túy,quê Thạch Kim (Lộc Hà), tốt nghiệp khoa Toán Trường Đại học Tổng hợp HàNội.
16 Hiệu trưởng thứ mười sáu( 2007 đến nay) là Thầy Bùi Thiện Hải,quê ở Phù Việt ( Thạch Hà ), tốt nghiệp khoa Toán Trường Đại học Sư phạmVinh
*
Trong gần 70 năm xây dựng và trưởng thành, đội ngũ Hiệu trưởngTrường Phan Đình Phùng luôn chăm lo tô thắm thêm truyền thống vẻ vangcủa nhà trường Các Thầy Hiệu trưởng giai đoạn năm 1957 trở về trước, đại
bộ phận đã phấn đấu trở thành các cán bộ khoa học có uy tín ở các TrườngĐại học.Thầy Nguyễn Kim Mạc trở thành cán bộ giảng dạy ở Trường Đại họcKinh tế Tài chính( nay là Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) Thầy HoàngXuân Tâm trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Trưởng phòng giáo vụTrường Đại học Tổng hợp Hà Nội Thầy Nguyễn Mạnh Trừng từng là cộngtác viên của Giáo sư Phạm Đình Ái– Giám đốc Sở Giáo dục Liên khu IVtrong việc điều chế axít Suynphuaríc phục vụ sản xuất vũ khí trong khángchiến chống thực dân Pháp, Thầy đã bị bom thực dân Pháp sát hại ở ChâuPhong khi Trường Phan Đình Phùng sơ tán ở Đức Thọ Thầy Lê Khả Kế trởthành Giáo sư, đã từng tham gia biên soạn sách giáo khoa thời kỳ Bộ Giáodục sơ tán ở Việt Bắc, đã chủ biên và đồng tác giả 30 tác phẩm khoa học kỹthuật Thầy Trần Văn Trị trở thành Phó Giáo sư, làm chuyên gia giáo dục ởnhiều nước, được tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú Thầy Bùi Văn Nguyên trởthành Giáo sư, được tặng danh hiệu nhà giáo ưu tú Thầy Trần Đình Đàntrước khi làm Hiệu trưởng Phan Đình Phùng đã là Giám đôc Bình dân học vụtỉnh Hà Tĩnh (1946 – 1949),Thầy đã được phong tặng danh hiệu Nhà giáo
Trang 12nhân dân.Thầy Nguyễn Trí Hiệp đã được đề bạt giữ chức vụ Phó Giám đốc
Sở Giáo dục và đào tạo Hà Tĩnh (2001), Thầy đã được phong danh hiệu Nhàgiáo nhân dân Thầy Nguyễn Quát hai lần giữ chức vụ Hiệu trưởng TrườngPhan Đình Phùng Sau khi làm Hiệu trưởng lần thứ nhất Thầy được đề bạt giữchức vụ Phó Giám đốc Ty Giáo dục Hà Tĩnh, phụ trách phổ thông (1950 –1954) rồi Thanh tra Giáo dục Liên Khu IV (1954 – 1956) Thầy Nguyễn Quáttừng làm tham tá ở Triều đình Nhà Nguyễn ( Huế), Tri huyện Yên Thành, Triphủ Diễn Châu (Nghệ An) nhưng do không đàn áp cách mạng nên vẫn đượctrọng dụng Thầy là người cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm, có nhiều ảnhhưởng đối với Thầy Đỗ Xuân Vượng về nghiệp vụ lãnh đạo và quản lý
Trong quí Thầy làm cán bộ quản lý Trường phổ thông cấp III PhanĐình Phùng từ 1958 đến nay, Thầy Lê Văn Minh là người công tác ở trườnglâu nhất (34 năm), trong đó có trên 20 năm làm tổ trưởng tổ chuyên môn, 12năm Bí thư chi bộ và Bí thư Đảng bộ 6 năm giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng và
3 năm Hiệu trưởng Thầy Nguyễn Bá Thiếp có 16 năm công tác tại trườngtrong hai đợt, trong đó có 1 năm làm giáo viên, 4 năm giữ chức vụ Phó Hiệutrưởng (1969 – 1973) và 11 năm Hiệu trưởng (1987 – 1998), từ 1974 đến
1987 Thầy có 14 năm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp III Cẩm Xuyên.Hiệu trưởng hiện tại là Thầy Bùi Thiện Hải (2007 đến nay), trước đó Thầy đãlàm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp III Cẩm Bình 11 năm (1996 – 2007)
Trong số 16 Hiệu trưởng Trường Phan Đình Phùng từ ngày thành lậptới nay, có một người ghi đậm nhiều dấu ấn trong lòng phụ huynh, học sinh,thầy cô giáo và đội ngũ cán bộ quản lý ngành Giáo dục nhà giáo Hà Tĩnh làThầy Đỗ Xuân Vượng Thầy có 30 năm công tác tại trường, trong đó 4 nămgiữ chức vụ Phó Hiệu trưởng và 26 năm là Hiệu trưởng Thầy về công tác tạitrường Phan Đình Phùng vào dịp miền Bắc hoàn thành giai đoạn khôi phụckinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh thời kỳ kháng chiến chống Pháp và
Trang 13bắt tay vào giai đoạn cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958), là giai đoạn sau khi thựchiện cuộc vận động cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Năm 1962, sauhai năm thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất, nhằm đưa miền Bắctiến lên Chủ nghĩa xã hội và tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dânchủ nhân dân ở miền Nam thì thầy được đề bạt giữ chức vụ Hiệu trưởng.Thầy là người đứng mũi chịu sào lãnh đạo nhà trường suốt thời kỳ chốngchiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước, thời
kỳ cả nước dồn sức cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, đấu tranh thống nhất
Tổ quốc Ra khỏi chiến tranh, Thầy tiếp tục lãnh đạo nhà trường trong bốicảnh cả nước ra sức vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội trong cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp và tìm cách thoát ra khỏi sự bao vây, cấm vận của đếquốc Mỹ và các thế lực thù địch Bước vào giai đoạn nước ta thực hiện đườnglối đổi mới, sau khi vượt qua vài năm khó khăn ban đầu, đất nước chuẩn bị cónhững khởi sắc thì Thầy Đỗ Xuân Vượng đến tuổi nghỉ hưu
Thời kỳ Thầy Đỗ Xuân Vượng lãnh đạo Trường phổ thông cấp IIIPhan Đình Phùng có nhiều bước ngoặt lớn, cũng là một thời kỳ hoàng kim đểlại tiếng tăm trong khối các trường cấp III của miền Bắc xã hội chủ nghĩa vàcũng là thời kỳ khó khăn, gian khổ nhất mà đội ngũ thầy cô giáo, học sinh vàphụ huynh phải chịu đựng Cùng với sự phát triển của nền giáo dục cả nước,Trường Phan Đình Phùng từ là một trường có tính chất khu vực, trường tỉnh,trường liên huyện rồi trường huyện ( nay là một trong ba trường của thànhphố Hà Tĩnh) Thầy Đỗ Xuân Vượng là người có công lớn xây dựng trườngcấp III Phan Đình Phùng trở thành một thương hiệu, “Thương hiệu Trườngphổ thông cấp III Phan Đình Phùng Hà Tĩnh” trong cả nước Trong suốt mấychục năm nay, các Hiệu trưởng kế tiếp ra sức chăm sóc cho vườn hoa cấp IIIPhan Đình Phùng luôn tươi thắm, đưa “ thương hiệu Trường phổ thông cấpIII Phan Đình Phùng Hà Tĩnh” tiến lên những cấp độ mới
Trang 14II/ 30 năm lãnh đạo nhà trường, những dấu mốc lịch sử và những thành công của Hiệu trưởng Đỗ Xuan Vượng.
1/ Không phải ngẫu nhiên Thầy Đỗ Xuân Vượng được phân công về công tác và nhanh chóng được giao nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng từ năm 1958.
Từ nhỏ, Thầy Đỗ Xuân Vượng vốn là một đứa trẻ thông tuệ, mạnh khỏe
và phát triển cân đối, lại là con trai của Ông Đỗ Bá Minh (4) là một công chứcngành y phụ trách Nhà thương Hà Tĩnh ( như Bẹnh viện trưởng ngày nay) nêngia đình có điều kiện Khoảng năm, sáu tuổi, trong lúc cha còn đi công tácvào Huế, ở nhà anh em nghịch chơi trên một đống cát, rồi mưa rào trút xuống
bị trúng gió và câm khẩu Hoảng hốt, gia đình đã mời một thầy lang cũng làbạn thân của Ông Đỗ Bá Minh tới châm cứu Đen đủi thế nào mà huyệt châmnào đó đã trúng vào chỗ hiểm nên toàn thân bị co rút lại, cột sống bị cong, cơvai bên phải nhô lên thành như cái u, thế là thành người có tật Thương Thầy,gia đình đã hết sức chạy chữa nhưng vẫn không lành; đổi lại, do được bồidưỡng nhiều thuốc thang nên thầy có sức khỏe tốt, da dẻ đẹp
Sau khi tốt nghiệp tiểu học tại Trường Tiểu học Pháp – Việt ở Thị xã
Hà Tĩnh, Thầy thi đậu vào Trường Trung học Khải Định ở Huế ( TrườngQuốc học Huế từ khi Vua Khải Định lên ngôi được mang tên Trường Trunghọc Khải Định nhưng thường vẫn quen gọi là Trường Quốc học Huế) Saungày Nhật đảo chính Pháp ( 9/3/1945), thực hiện chiêu bài “trao trả độc lậpcho nhân dân Việt Nam”, Chính phủ Trần Trọng Kim đã ban hành chươngtrình giáo dục mới : Tiểu học từ 6 năm rút xuống còn 4 năm, bậc Cao đẳngtiểu học gọi là bậc Trung học phổ thông 4 năm và 3 năm Trung học chuyênkhoa Đây là chương trình hoàn toàn Việt Nam do Giáo sư Hoàng Xuân Hãn,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật chủ trì xây dựng, đã được Vua Bảo Đại
Trang 15ký Đạo dụ ban hành tháng 6/1945.Đây là chương trình hoàn toàn bằng tiếngViệt thay thế tiếng Pháp trước đây Sau khi giành được chính quyền về taynhân dân (8/1945) chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã trở lại cướp nước tamột lần nữa Thực hiện chủ trương tiêu thổ khán chiến, tháng 9/1947, Sở Giáodục Khu IV(5) quyết định sơ tán Trường Quốc học Huế ra Châu Phong HàTĩnh, do Giáo sư Phạm Đình Ái – Giám đốc Sở Giáo dục Khu IV kiêm Hiệutrưởng và đổi tên thành Trường Trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng.Dưới chế độ mới, phong trào học tập của nhân dân lên cao, Mặt trận LiênViệt của các huyện liên tục đề nghị cho mở các trường trung học tư thục Đểđáp ứng nhu cầu về giáo viên trung học phổ thông, Sở Giáo dục Khu IV cho
mở tại Trường Trung học Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng các lớp Cao đẳng
Sư phạm
Tốt nghiệp Trung học Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng và tốt nghiệpCao đẳng Sư phạm, tháng 9/1950, Thầy Đỗ Xuân Vượng bước vào nghề dạyhọc Năm 1950 cũng là năm Đảng và Nhà nước ta chủ trương cải cách giáodục lần thứ nhất Cuộc cải cách lần này nhằm giải quyết nhiều vấn đề khókhăn về lý luận giáo dục trên cơ sở Chủ nghĩa Mác – Lênin như về bản chất
và mục đích giáo dục, không có giáo dục trung lập, giáo dục là công cụ củamột giai cấp nhất định Tính chất giáo dục là của dân, do dân và vì dân, đượcxây dựng trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng, Mục tiêu đào tạo làbồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ thành những người công dân lao động tương laitrung thành với chế độ dân chủ nhân dân Phương châm giáo dục là học đi đôivới hành, lý luận gắn liền với thực tiễn Về cơ cấu tổ chức, trường phổ thôngrút lại còn 9 năm ở cả 3 cấp học ( cấp 1 có 4 năm đặt tên lớp 1, 2, 3, 4; cấp 2
có 3 năm đặt tên các lớp 5, 6, 7; cấp 3 có 2 năm đặt tên lớp 8, 9 ) Để cuộc cảicách giáo dục được sự chuyển biến sâu sắc trong cán bộ, giáo viên, Bộ Giáodục đã phát động cuộc vận động lớn về tư tưởng với chủ đề “ rèn cán, chỉnh
Trang 16cơ” Từ đây Ty Thanh tra giáo dục và Ty Bình dân học vụ thống nhất lạithành Ty Giáo dục phổ thông.
Năm đầu tiên, Thầy Đỗ Xuân Vượng được phân công về dạy Trường cấp
II Đại Thành (Cẩm Thành, Cẩm Xuyên) vốn là một phần Trường Phan ĐìnhPhùng để lại khi dời địa điểm lên Đức Thọ để sát nhập với trường trung họcbán công Trần Phú (6) do huyện Đức Thọ thành lập sau khi giành được chínhquyền 8/1945 Thầy Nguyễn Bá Thiếp– người kế vị Hiệu trưởng Trường cấpIII Phan Đình Phùng từ hè 1987 vốn là học sinh của Thầy Đỗ Xuân Vượng ởĐại Thành năm học 1950 – 1951
Từ năm học 1951 – 1952, Thầy Đỗ Xuân Vượng được Ty Giáo dục phổthông Hà Tĩnh điều ra giảng dạy ở Trường phổ thông cấp II Lam Kiều ( CanLộc), bước vào năm học 1952 – 1953 thầy được đề bạt giữ chức vụ Hiệutrưởng Do những thành tích hoạt động tốt và sớm phát lộ năng khiếu hoạtđộng xã hội, Đại hội Đại biểu công đoàn ngành Giáo dục Hà Tĩnh đã bầuThầy Đỗ Xuân Vượng vào Ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn và được BanChấp hành bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ Công đoàn và được phân côngcông tác tại cơ sở Thư ký công đoàn ngành lúc đó là Thầy Nguyễn Thắng vàsau đó là Thầy Lê Văn Tùy Trong hoàn cảnh tuổi đời còn trẻ (lúc đề bạt Hiệutrưởng, thầy mới 26 tuổi), Thầy Đỗ Xuân Vượng đã cùng tập thể giáo viênxây dựng Trường cấp II Lam Kiều trở thành một trường có phong trào khá sôinổi, nhất là việc quán triệt và vận dụng quan điểm cải cách giáo dục lần thứnhất của Đảng và Nhà nước vào thực tế giảng dạy và học tập cũng như tuyêntruyền sâu rộng chủ trương đó trong phụ huynh và trong nhân dân
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Giơne vơ được
ký kết ( 7/1954), Trường Phan Đình Phùng tách các lớp cấp III dời về Thị xã
Hà Tĩnh, Trường cấp I, II Trung Lễ( Đức Trung, Đức Thọ) gặp khó khăn
Trang 17trong công tác quản lý(7) nên từ năm học 1955 – 1956, Thầy Đỗ Xuân Vượngđược Ty Giáo dục phổ thông Hà Tĩnh điều động ra làm Hiệu trưởng cấp I, IITrung Lễ Cuối năm 1956, Thầy được cấp trên cử đi học tại Khoa Vật lýTrường Đại học Sư phạm Hà Nội Là một Đảng viên trẻ, có uy tín nên Thầyđược tín nhiệm bầu làm Bí thư Chi bộ Khoa Vật lý Có lần Thầy kể lại rằng,
là một Hiệu trưởng Trường cấp II đồng thời là Ủy viên Ban Thường vụ Côngđoàn Ngành Giáo dục của tỉnh Hà Tĩnh và vốn ham học từ nhỏ nên mình luôngương mẫu trong học tập và học tập một cách nghiêm túc Với vốn tiếng Pháptương đối tốt, ngoài nghiên cứu bài giảng, giáo trình, Thầy luôn giành thờigian đến thư viện tìm thêm sách để tham khảo và trở thành một học viên rấthăng hái tham gia báo cáo khoa học trong các cuộc xêmina Thầy đã trở thànhmột trong những sinh viên học tốt nhất nhì Khoa Vật lý Đại học Sư phạm HàNội trong khóa đó Cuối khóa học, Bộ Giáo dục và lãnh đạo trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã tập trung bồi dưỡng cho sinh viên về quan điểm, phươngchâm, mục tiêu, nội dung cải cách giáo dục lần thứ hai đã ban hành năm1957
Tốt nghiệp đại học với thứ hạng á khoa, Thầy Đỗ Xuân Vượng được TyGiáo dục phổ thông phân công về giảng dạy tại Trường cấp III Phan ĐìnhPhùng Gần hết học kỳ I năm học 1958 – 1959, Thầy được bổ nhiệm giữ chức
vụ Phó Hiệu Trưởng
Tôi vốn cũng là một sinh viên học tốt tại Khoa Vật Lý Trường Đại học
Sư phạm Vinh, lại là một Đảng viên được kết nạp trong quân đội chuyênngành, được Thầy Thái Kim Trọng lúc đó là Quyền Trưởng phòng Tổ chứccán bộ Ty Giáo dục thuyết phục về làm giáo viên cấp III Phan Đình Phùng (vìlúc đó tôi chỉ nài xin được về giảng dạy tại Trường cấp III Lý Tự Trọng gầnnhà và có nhiều bạn bè ở đó) Lần đầu tiên trong đời chính thức vào nghề dạyhọc, được tiếp xúc với Thầy Hiệu trưởng nghiêm túc, nguyên tắc, bản lĩnh, có
Trang 18lý luận sắc bén và rất hùng biện, vì vậy tôi rất để ý cung cách quản lý củaThầy Sau đợt sinh hoạt chính trị thực hiện Chỉ thị số 192 –CT/TW của Ban
Bí thư Trung ương Đảng (khóa III), tôi được Đại hội Chi bộ tín nhiệm bầuvào Cấp ủy, làm Bí thư Chi đoàn giáo viên rồi sau làm Bí thư Đoàn trường(khi Anh Võ Hồng Khánh được cử tăng cường cho miền Nam thời kỳ đầumới giải phóng) nên tôi có điều kiện gần gũi và tiếp xúc thường xuyên hơnvới Thầy Đỗ Xuân Vượng Thầy kể rằng, mình về Trường Phan Đình Phùngmột thời gian rất gắn thì được đề bạt Phó Hiệu trưởng May mắn cho mình làđược làm việc dưới quyền của một vị Hiệu trưởng mẫu mực, có phong cáchcủa một trí thức cũ, có kinh nghiệm quản lý nhà trường chặt chẽ và nhiều kinhnghiệm quản lý xã hội, luôn luôn vì học sinh, đó là Thầy Nguyễn Quát
Thầy Nguyễn Quát quê ở xã Đức Lập, huyện Đức Thọ.Thầy tốt nghiệp tútài toàn phần trường Bưởi ( Hà Nội) là Trường Chu Văn An Hà Nội ngày nay.Thầy học luật rồi vào làm Tham tá ở Triều đình Huế, từ năm 1938 được bổnhiệm làm Tri huyện Yên Thành rồi Tri phủ Diễn Châu ( Nghệ An) Là Trihuyện và Tri phủ nhưng do không đàn áp cách mạng nên sau cách mạngtháng 8/1945, Thầy được chính quyền trọng dụng Thầy từng làm Phó Trưởng
ty Giáo dục phổ thông 4 năm và 2 năm làmThanh tra giáo dục Liên khu IV(8)
8 Trước cách mạng tháng 8/1945, trên địa bàn Hà Tĩnh chỉ có duy nhất Trường Cao đẳng Tiểu học tư thục do Cố đạo người Pháp tổ chức ở Thọ Ninh (Đức Thọ) đó là Trường Xanhgiô dép (Saint Jodeph) Sau cách mạng tháng 8/1945 được đổi tên thành Trường Đậu Quang Lĩnh ( tên một Linh mục có uy tín) do Linh mục Vương Đình Ái làm Hiệu trưởng Tháng 10/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Đức Thọ quyết định thành lập Trương trung học Trần Phú (cơ chế hoạt động như trường bán công hiện nay) do thầy giáo Nguyễn Tùy là Ủy viên Thư ký của Ủy ban phụ trách Sau đó do thiếu giáo viên nên ông Phùng Văn Mai (Bí thư Việt Minh Đức Thọ) đã đồng ý mời thầy Nguyễn Quát ra giảng dạy (lúc
đó ông Nguyễn Quát đang bị tước quyền công dân) vì khi làm Tri huyện, Tri phủ không đàn áp cách mạng Sở Giáo dục khu IV cho rằng việc thành lập Trường Trần Phú là không đúng thành quyền nên khi trường Phan Đình Phùng dời lên thị trấn Đức Thọ, Trường Trần Phú phải sát nhập vào Trường Phan Đình Phùng, từ đó Thầy Nguyễn Quát trở thành giáo viên Trường Phan Đình Phùng cuối năm 1948, khi thầy Hiệu trưởng Nguyễn Mạnh Trừng bị bom thực dân Pháp sát hại tại Châu Phong, thầy Nguyễn Quát được đề bạt Hiệu trưởng (năm học 1948- 1949) Năm 1950 đến 1954 Thầy giữ chức
vụ phó trưởng Ty giáo dục phổ thông, năm 1954 đến 1956 Thầy làm Thanh tra Giáo dục Liên Khu IV.
Trang 19Được công tác với vị Hiệu trưởng có kinh nghiệm lãnh đạo đầy mình nhưThầy Nguyễn Quát, mình ( Thầy Đỗ Xuân Vượng) trưởng thành lên một cáchvững vàng Thời kỳ này Chi bộ Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùngtrực thuộc Tỉnh ủy nên được Tỉnh ủy quan tâm bồi dưỡng thêm về nhận thức,mình (Đỗ Xuân Vương) có điều kiện nắm chắc chủ trương đường lối củaĐảng và Nhà nước, nhất là đường lối về giáo dục và phương pháp xử lý cácvấn đề cụ thể về công tác tư tưởng trong đội ngũ giáo viên và học sinh sau cảicách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.
Khi mình (Đỗ Xuân Vượng) được đề bạt giữ chức vụ Hiệu trưởng lạiđược công tác với hai đồng chí Phó Hiệu trưởng rất mẫu mực, đó là Thầy LêDao và Thầy Trần Văn Đệ Thầy Trần Văn Đệ đã tham gia hai khóa Đại biểuQuốc hội, sau này là Phó Giám đốc Ty giáo dục; khi sát nhập hai tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh thành Nghệ Tĩnh, Thầy được điều ra giữ chức vụ ChánhThanh tra Bộ giáo dục
Trên nền tảng đó mình ( Đỗ Xuân Vượng) tiếp tục phát huy mãi về sau này cho đến ngày được cấp trên cho nghỉ hưu theo chế độ
2 Sự cống hiến và quá trình vượt qua những thách thức trong lãnh đạo Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng của nhà giáo Đỗ Xuân Vượng:
Làm rõ những cống hiến của Thầy Hiệu trưởng Trường phổ thông cấpIII Phan Đình Phùng Đỗ Xuân Vượng là dịp để phụ huynh, học sinh, giáoviên nhất là thế hệ cán bộ quản lý hiện nay và tương lai có thể tìm hiểu và họchỏi những kinh nghiệm, sẵn sàng vượt qua những khó khăn, thách thức đểtiến lên phía trước, hướng tới mục đích đào tạo thế hệ người lao động mới cho
xã hội Quá trình suốt 30 năm lãnh đạo Trường phổ thông cấp III Phan Đình
Trang 20Phừng Hà Tĩnh của Thầy Đỗ Xuân Vượng có thể nhìn nhận qua thành tích vànhững khó khăn qua bốn giai đoạn gắn với lịch sử đất nước.
2.1 Lãnh đạo thực hiện chủ trương cải cách giáo dục lần thứ II, tập trung giải quyết công tác tư tưởng sau cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức giai đoạn 1958-1962 (thời kỳ Thầy Đỗ Xuân Vượng giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng).
Trường Phan Đình Phùng trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứunước có thể xem như trường khu vực, trường tỉnh
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vùng tự do Thanh – Nghệ - Tĩnh có vịtrí chiến lược rất quan trọng Trung ương đã đồng ý cho Khu IV dời các cơ sởhậu cần quan trọng về khu vực Hương Khê, thượng Đức Thọ và xây dựngthành khu vực an toàn ( gọi là an toàn khu – ATK) Sở Giáo dục Khu IV sơtán về đóng ở Xã Châu Phong (Đức Thọ) Nhân dân Thừa Thiên, Quảng Trị,Quảng Bình đều cho con em sơ tán ra vùng tự do Trường Trung học Bình –Trị - Thiên sơ tan về đóng tại xã Gia Phố huyện Hương Khê Đến tháng7/1947, trương Quốc Học Huế được sở giáo dục khu IV quyết định so tán raChâu Phong (Đức Thọ) do Giáo sư Phạm Đình Aí – Giám đốc Sở kiêm Hiệutrưởng
Từ khi Trường Phan Đình Phùng sơ tán từ Đại Thành (Cẩm Xuyên) rathị trấn Đức Thọ, nhiều học sinh là con em từ Thừa Thiên, Quảng Trị, QuảngBình và một số huyện của Nghệ An đã theo học về cuối, những năm 1950 họcsinh vượt giới tuyến ra học ngày càng đông Như năm học 1955 – 1956, họcsinh miền Nam tập kết và vượt tuyến đã thành lập riêng một lớp 8 Số đôngcon em học sinh Quảng Trị, Thừa Thiên tiếp tục được gửi ra học ở Trườngphổ thông cấp III Phan Đình Phùng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước Từcuối năm 1950, khí Trường Trung học Chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng dời
Trang 21địa điểm ra huyện Đô Lương (Nghệ An), năm 1954 Trường cấp 3 tư thục LêNinh giải tán, Trường Phan Đình Phùng dời địa điểm từ Trung Lễ (Đức Thọ)
về khu vực thị xã Hà Tĩnh, từ thời kỳ này Trường phổ thông cấp III PhanĐình Phùng là Trường cấp III duy nhất của tỉnh Hà Tĩnh thu hút con em trongtoàn tỉnh về học và học sinh Quảng Trị, Thừa Thiên Năm 1960, Trương phổthông cấp III Đức Thọ được thành lập (sau này đổi tên thành Trường phổthông cấp III Trần Phú), Năm 1961 thành lập Trường phổ thông cấp IIIHương Sơn, năm 1962 thành lập trương phổ thông cấp III Cẩm Xuyên và CanLộc, năm 1964 thành lập trường phổ thông cấp III Hương Khê; năm 1965thành lập trương phổ thông cấp III Nghi Xuân, Kỳ Anh, Lý Tự Trọng và sau
đó thêm cấp III Đức Thọ Thời kỳ này tuy các huyện đều có trường cấp IIInhưng con em những gia đình có điều kiện về kinh tế và những em tuy gặpkhó khăn nhưng có ý chí học tập tốt vẫn theo trường phổ thông cấp III PhanĐình Phùng Học sinh những huyện gần có thể một đến hai tuần về nhà lấythêm lương thực, thực phẩm; các em ở huyện xa có khi tới 1 tháng mới về nhàxin nguồn cung cấp của bố mẹ Riêng học sinh Bình – Trị - Thiên tuy chưa cóđiều kiện tổ chức sống nội trú như các cơ sở nội trú ngày nay nhưng việc quản
lý học tập, sinh hoạt và chăm sóc giáo dục về mọi mặt cho các em trong độtuổi đang lớn thể hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa đặt racho lãnh đạo nhà trường nhiệm vụ hết sức nặng nề (năm học 1957 – 1958,Trương phổ thông cấp III Phan Đình Phùng đã có 12 lớp gồm 5 lớp 8, 5 lớp 9
và 2 lớp 10 với trên 500 học sinh)
Trong điều kiện Thầy Hiệu trưởng là quần chúng ngoài đảng, số đảngviên trong giáo viên rất ít, mọi hoạt động và phong trào thi đua của nhàtrường phải dựa vào các tổ chức quần chúng như Công đoàn và Hiệu Đoànthanh niên Tuổi còn trẻ, lại năng nổ, là đảng viên trong ban giám hiệu nhànhà trường nên Thầy Đỗ Xuân Vượng được Tỉnh ủy thường xuyên phân công
Trang 22cán bộ giúp đỡ và giao trọng trách đứng mũi chịu sào phần lớn trong cácphong trào của nhà trường.
Một khó khăn lớn lúc bấy giờ là công tác tư tưởng Trường phổ thôngcấp III Phan Đình Phùng là một trường lớn, tập trung đông tri thức nhất tỉnh.Phần lớn cán bộ, giáo viên đều con em tầng lớp trên và gia đình tiểu tư sản,đều bị chi phối bởi các chủ trương giảm tô ( theo tinh thần của Trung ương vàNghị quyết Đại hội Đảng bộ Hà Tĩnh 4/1949 và giảm tức (từ 5/1950) Trongcuộc vận động chỉnh đảng 1952 – 1953, Đảng bộ Hà Tĩnh đã phạm khuyếtđiểm là đặt nội dung tư tưởng cần khắc phục không đúng, quá ảnh hưởng của
tư tưởng phong kiến, không dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, chưa kếthợp tốt nhiệm vụ chống phong kiến với nhiệm vụ chống đế quốc; tự phê bình
và phê bình gò ép, áp đặt, chụp mũ, thiếu khách quan, toàn diện, cụ thể Nhiềunơi thiên về truy lại lý lịch quá khứ, về tác phong sinh hoạt, làm che lấpnhững sai lầm thuộc về nguyên tắc Do những khuyết điểm trên nên dẫn đếnđánh giá tình hình, điều động, sắp xếp cán bộ, đảng viên thiếu chính xác, gâymất đoàn kết, căng thẳng trong chỉnh đốn tổ chức nội bộ Đảng và các đoànthể quần chúng trước mắt cũng như về sau(9) Thực hiện Nghị quyết Hội nghịlần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (1/1953) về tiến hànhcải cách ruộng đất, Nghị quyết Hội nghị toàn quốc của Đảng Lao động ViệtNam về cương lĩnh ruộng đất của Đảng và Luật cải cách ruộng đất của Quốchội khóa I tại kỳ họp thứ 3 ngày 4/12/1953, cuộc vận động cải cách ruộng đất
ở Hà Tĩnh bắt đầu thực hiện từ 6/1955, là cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt ởnông thôn đã giành được kết quả to lớn, làm cho hàng chục vạn nông dântrong tỉnh được giải phóng vĩnh viễn khỏi ách áp bức bóc lột của địa chủphong kiến nhưng cũng phạm phải những sai lầm nghiêm trọng “Hoạt động
9 (9) Lịch sử đảng bộ Hà Tĩnh, tập 1 (1930 – 1954), NXBCTQG 1993, trang 272,273.
Trang 23của đoàn, đội cải cách ở nhiều nơi biệt lập, không dựa vào tổ chức đảng, nhất
là việc quy kết địa chủ cho” đạt chỉ tiêu(10) dẫn đến oan sai, nhất là khi mởrộng đối tượng sang ở con em địa chủ, phú nông nên tỷ lệ xử lý sai lớn
“Trong đợt 5, đợt 6, trong 98 Chi bộ bị xử lý thì số sai đã 81% Đặc biệt từcác đợt đó trở đi bắt đầu có kết án tù tội, quản chế, kể cả tử hình một sốtrường hợp mà sau này xác minh là bị oan uổng (11) Đội ngũ cán bộ chínhquyền, đoàn thể cũng bị xử lý Toàn tỉnh có gần 70% số cán bộ chính quyềncác cấp bị cách chức, bãi chức Có người bị tù tội, tử hình (12) Thời kỳ đótrong số đội ngũ giáo viên Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng cóngười bị quy cho rằng có liên quan tới Quốc dân đảng, có người qui cho cóliên quan đến nhóm Nhân văn giai phẩm, một số giáo viên “được” đưa đi thực
tế sản xuất (đi cải tạo), thậm chí có đồng chí bị giam cầm, gia đình bị lấy hếttài sản, có đồng chí phải đi từ 1 đến 2 năm Không những gia đình nhiều giáoviên bị quy oan mà số đông học sinh là con em những gia đình ở nông thôn cókinh tế khá dả, ruộng đất nhiều, cũng bị quy oan, từ đó điều kiện học tập củahọc sinh rất khó khăn Nhiều em phải bỏ học ra thành phố làm thuê để lấytiền tiếp tục theo học Về sau nhiều em trong số đó trở thành cán bộ khoa họcđầu ngành trong cả nước và cán bộ quản lý cao cấp
Sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh pháthiện được tình hình bất thường diễn ra trong tổ chức, đoàn thể, địa phương ở
Hà Tĩnh và đã được ngăn chặn kịp thời Ngày 19/08/1956, tỉnh đã tổ chức Hộinghị cán bộ quán triệt chủ trương sửa sai đối với công tác chỉnh đốn tổ chức
và cải cách ruộng đất ở Hà Tĩnh
10 (10),(11),(12) Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh, tập 2 (1954 – 1975), NXBCTQG 1997 trang
13,14,15.
Trang 24Tại hội nghị đã “công bố kết luận của Trung ương xóa bỏ tất cả nhữngkết luận, quyết nghị sai trái, trả lại đảng tịch, danh dự cho những người bị xửtrí oan trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức” “Đề ra những biệnpháp cấp bách để ổn định tình hình ở địa phương trong tỉnh(11)”.
Những sai lầm khuyết điểm của ta đã gây nên sự xáo động lớn trong tưtưởng của giáo viên và học sinh Mặt khác với dã tâm phá hoại Hiệp địnhGiơnevơ, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp đã có nhiều âm mưu, thủ đoạn nhằmphá hoại công cuộc khôi phục kinh tế đất nước ta như tung gián điệp móc nối
cơ sở, xây dựng mật khu, dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào theo đạo công giáo di cưvào miền Nam; lợi dụng sai lầm của ta trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn
tổ chức để xuyên tạc Đặc biệt là từ sau ngày 26/4/1957, khi Ngô Đình Diệmtuyên bố sé bỏ Hiệp định Giơnevơ, chia cắt lâu dài đất nước ta, đòi hỏi rất lớn
về công tác tư tưởng trong đội ngũ giáo viên và học sinh, là đơn vị trí thức lớnnhất tỉnh lúc đó
Công tác tư tưởng ngoài việc tuyên truyền trong giáo viên và học sinh vềchủ trương sửa sai trong trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, kếtquả thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa (1954-1957), đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền kế hoạch 3 năm cải tạo Xã hội chủnghĩa và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 -1960) Những kết quả vượt bậc cótác dụng thiết thực trong phong trào xây dựng tổ đổi công xây dựng hợp tác
xã trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cải tạo người buôn bán nhỏ, cảitạo tư bản tư doanh Phong trào phục hóa, khai hoang khá sôi nổi Nhiều côngtrình thủy lợi vừa và nhỏ ra đời Đổi mới cơ cấu (12) cây trồng được quan tâmchỉ đạo Kinh tế chăn nuôi, kinh tế thủy hải sản,(13) nghề muối, khai thác lâm
11() lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh tập II (1954- 1975), NXBCTQG 1997, trang 17
12
Trang 25sản đều khởi sắc Ngành thủ công nghiệp và công nghiệp đã bắt đầu có sựphát triển mới; trong 3 năm 1958 – 1960 toàn tỉnh đã xây dựng mới 8 xínghiệp công nghiệp Do sản xuất phát triển nên ngành thương nghiệp chuyểnbiến rõ rệt, thương nghiệp quốc doanh được mở rộng, thu hẹp dần thị trường
tự do Giao thông, vận tải được nâng cấp mở thêm một số tuyến đường, vậntải đường sông phát triển Phong trào văn hóa, văn nghệ những năm 1958 –
1960 đã thực hiện nhiệm vụ giác ngộ tư tưởng XHCN cho nhân dân, cổ vũmỗi người ra sức thi đua xây dựng CNXH, xây dựng đời sống vui tươi, lànhmạnh, nâng cao dần trình độ văn hóa và kỹ thuật cho nhân dân
Những thành quả lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo quốcphòng an ninh trong những năm đầu bước vào thời kỳ xây dựng chế độ mới,chế độ XHCN đã thực sự trở thành động lực tinh thần to lớn giúp lãnh đạonhà trường khắc phục có hiệu quả, tạo sự ổn định về tư tưởng trong học sinh
và nhất là trong đội ngũ trí thức Trường phổ thông cấp III Phan Đình Tùng,làm tăng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền, đoàn thể các cấp.Đối với dự nghiệp giáo dục, Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khóa II) tháng 3 năm 1955 đã nêu nhiệm vụ của giáo dục
là “chấn chỉnh và củng cố giáo dục phổ thông, thống nhất lại hệ thống giáodục của vùng tự do cũ của vùng mới giải phóng” và nhấn mạnh tính cấp thiếtcủa công tác bồi dưỡng tư tưởng chính trị cho cán bộ giáo dục, bổ túc văn hóacho cán bộ công nhân viên Theo tinh thần đó tháng 3/1956, Bộ Giáo dục đãthông qua đề án lập hệ thống giáo dục 10 năm Tại hội nghị, Hồ chủ tịch đãcăn dặn “kinh tế có kế hoạch thì giáo dục phải có kế hoạch Kế hoạch giáodục phải ăn liền với kế hoạch kinh tế - giáo dục cung cấp cán bộ cho kinh tế.Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ” Tháng 8 năm 1956, Chính Phủ Thủtướng ban hành Nghị định số 1027/TTg về “Chính sách giáo dục phổ thôngcủa nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Hệ thống giáo dục mới lấy chủ nghĩa
Trang 26Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng và nhằm phục vụ nhân dân lao động Mụcđích giáo dục là đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên trở thành những côngdân tốt trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt, để pháttriển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên CNXH, đồng thời để thực hiện thốngnhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ Nội dung giáo dục có tính chấttoàn diện gồm 4 mặt đức, trí, thể, mỹ Phương châm giáo dục là liên hệ lýluận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội Phương châm chính trịcủa giáo dục là toàn bộ công tác giáo dục phải phục tùng đường lối cchính trịcủa Đảng Lao động Việt Nam Hệ thống giáo dục mới gồm 3 cấp, cấp I: 4năm, cấp II: 3 năm, cấp III: 3 năm, cuối mỗi cấp học phải thi tốt nghiệp Năm 1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức hội nghị Đảng đoànNgành Giáo dục đánh giá tình hình và bổ cứu những nhược điểm nghiêmtrọng, nhất là coi nhẹ việc giáo dục tư tưởng chính trị, việc kết hợp lý luận vớithực hành, giáo dục với lao động sản xuất Sau Hội nghị này, bộ môn chính trịtrong các trường học cấp hai và cấp ba được đưa vào giảng dạy nội khóa.Trên cơ sở các chủ trương đó, đội ngũ giáo viên giảng dạy chính trị của nhàtrường được tăng cường Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy thường mở lớp bồi dưỡngcho đội ngũ giáo viên Nhà trường cũng có được một số báo cáo viên giúpBan Giám hiệu cung cấp thêm thông tin kinh tế xã hội cho giáo viên và cậpnhật chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nên lựclượng làm công tác tư tưởng những năm 1958 đến 1960 của nhà trường cóthuận lợi mới.
Ngành giáo dục Hà Tĩnh những năm 1958 – 1960 đã có bước phát triểnmạnh mẽ Truyền thống hiếu học của quê hương được phát huy Các ngànhhọc, cấp học đều lớn lên nhanh chóng Phong trào thanh toán nạn mù chữ tiếptục giữ vững truyền thống trong những năm kháng chiến Năm 1958 Hà Tĩnh
là tỉnh đầu tiên của Liên Khu IV và là tỉnh thứ 5 trong toàn miền Bắc hoàn
Trang 27thành kế hoạch 3 năm thanh toán nạn mù chữ Ngành giáo dục phổ thông đãphát triển vượt bậc Mỗi xã trong tỉnh đều có ít nhất một trường cấp I (gấp 2lần năm 1939), nhiều xã có trường cấp II Đến năm 1960, cả tỉnh có 54 trườngcấp II, đã mở thêm Trường phổ thông cấp III Đức Thọ Ngành học vỡ lòngđược mở rộng nhanh chóng.
Việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm đúng mức Nhiềubiện pháp chống dịch bệnh, xây dựng các cơ sở y tế được đề ra Ở các địaphương, cán bộ y tế cùng với các đoàn thể thanh niên, phụ nữ tổ chức nhữnghoạt động dọn dẹp đường sá, phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh đểphòng chống dịch bệnh, nhất là bệnh sốt rét Các cơ sở y tế được mở rộngdần Bệnh viện tỉnh đến năm 1960 đã tăng lên 450 giường, đã có thêm 50Bệnh xá và 179 trạm y tế xã Các đội y tế lưu động hoạt dộng tích cực ở cácđịa phương, giúp dân điều trị, chống bệnh tật Các cơ sở đông y được tổ chứclại
Bức tranh toàn cảnh sống động về sự chuyển biến cách mạng giai đoạntrước 1960 đã tác động vào nhà trường, góp phần rất quan trọng trong việcgiúp đỡ lãnh đạo nhà trường tháo gỡ những vướng mắc tư tưởng, nhất là trongđội ngũ giáo viên
Một trong những nguyên nhân tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trongNgành Giáo dục Hà Tĩnh nói chung và Trường phổ thông cấp III Phan ĐìnhPhùng nói riêng từ sau cách mạng tháng 8 đến giai đoạn 1960, đó là nhờ trên
cơ sở đường lối đúng đắn của Đảng và chủ trương đúng đắn của Chính phủ,
và vinh dự cho Ngành Giáo dục Hà Tĩnh có người đứng đầu là đồng chí TrầnHậu Toàn vốn là một nhà giáo và là nhà cách mạng (hoạt động tích cực trongphong trào chống Pháp năm 1921 đến khi giành được chính quyền về taynhân dân) Sau khi thầy Trần Hâu Toàn được Bộ Giáo dục điều đi nhận công
Trang 28tác mới (7/1957), Trưởng ty Giáo dục là Thầy Bạch Văn Quế Các đồng chíPhó ty Lê Sĩ Nghĩa, Trịnh Khắc Tụng đều thực sự là những người con ưu túcủa Ngành Giáo dục Hà Tĩnh, nhất là năng lực chỉ đạo xây dựng các điển hìnhtiên tiến của nhà giáo Lê Sĩ Nghĩa được phát huy cao đề từ khi giữ cương vịTrưởng ty giáo dục.
Là một cán bộ quản lý Trường cấp III Phan Đình Phùng tuổi còn trẻ,được sự dìu dắt đầy kinh nghiệm của Thầy hiệu trưởng Nguyễn Quát, được sựquan tâm bồi dưỡng của lãnh đạo ty Giáo dục phổ thông và của Tỉnh Ủy,Thầy Đỗ Xuân Vượng đã thực sự có những đóng góp to lớn trong việc chăm
lo xây dựng nhà trường ngày càng lớn mạnh
Sau trại hè 1958 được Bộ Giáo dục tổ chức tại Trường Bổ túc công nôngTrung ương (tại Giáp Bát – Hà Nội) cho toàn thể giáo viên cấp II và cấp IIItrên toàn miền Bắc, nhằm xác định rõ 3 vấn đề: Miền Bắc nhất định phải tiếnlên CNXH, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứngtrong phe XHCN với tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản Về quan điểm giáodục, anh chị em giáo viên đã nhận thức rõ nhà trường là công cụ chuyên chính
vô sản, mục đích của giáo dục là đào tạo lớp người lao động có văn hóa, cósức khỏe để tham gia lao động sản xuất, tích cực xây dựng CNXH và đầutranh thống nhất nước nhà Anh chị em giáo viên cũng khẳng định được rằngtrong nhà trường XHCN, việc giáo dục tư tưởng Chủ nghĩa Mác- lênin phảichiếm vị trí độc tôn, học tập kết hợp với lao động sản xuất phải trở thành yếu
tố cơ bản trong phương pháp giáo dục, phải có sự lãnh đạo của Đảng trongmọi hoạt động của nhà trường Đợt tập huấn hè năm 1958 đã góp phần làmcho phong trào giáo dục tiến bộ vững chắc với những chuyển biến rõ nét.Công tác chủ nhiệm được chỉnh đốn Tổ chức Đoàn Thanh niên Lao độngViệt Nam thay thế Đoàn trường trước đây, nhà trường đã có cán bộ chuyêntrách đoàn Công tác xây dựng tổ chức Đảng được đặt thành yêu cầu cấp
Trang 29bách Chi bộ nhà trường ngoài số đảng viên là giáo viên còn có 10 đảng viên
là học sinh trực thuộc Tỉnh ủy, nhờ vậy thuận lợi hơn nhiều trong công tác tưtưởng Về quản lý nhà nước Trườngn phổ thông cấp III Phan Đình Phùng trựcthuộc Ủy ban hành chính tỉnh, Công đoàn trược thuộc Công đoàn Giáo dụctỉnh, Đoàn thanh niên Lao động trực thuộc Tỉnh đoàn
Năm 1958, Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng được Bộ Giáodục cấp kinh phí xây dựng phòng thí nghiệm lý – hóa – sinh bằng gạch ngóikhá khang trang, được các nước Liên Xô và Trung Quốc viện trợ thiết bị thínghiệm và mô hình dạy học khá đầy đủ, đảm bảo phục vụ hầu hết các bàigiảng có yêu cầu thí nghiệm trong các chương trình lớp 8, lớp 9 và lớp 10.Hoạt động chuyên môn được sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Sở Giáo dụcLiên Khu IV, từ cuối 1956 quản lý chuyên môn được phân cấp dần cho tyGiáo dục phổ thông nên công tác chỉ đạo của ngành sát hơn Sau tập huấn hènăm 1958, Bộ giáo dục tăng cường biên soạn sách giáo khoa cung cấp chocác trường nhưng vẫn còn thiếu nhiều nên anh chị em giáo viên tiếp tục sưutầm thêm Hoạt động của công đoàn nhà trường đã động viên đoàn viên tíchcực biên soạn tài liệu, nâng cao chất lượng bài giảng, có tác dụng rất thiếtthực Các tổ công đoàn đã giúp đỡ nhau trong việc tu dưỡng đạo đức, giúpnhau vượt qua khó khăn trong tư tưởng và đời sống
Năm 1958, Bộ Giáo dục có chủ trương tích cực đưa sản xuất vào nhàtrường Trong 3 năm 1958,1959,1960 trường đã tổ chức cho học sinh khaihoang được 10 ha đất ở xã Thạch Ngọc và xã Thạch Vĩnh để trồng sắn; phátđộng mạnh phong trào làm phân xanh; tổ chức nung vôi ở xã Thạch Đỉnh;tham gia đắp đập ở huyện Cẩm Xuyên và huyện Thạch Hà; tổ chức lao độngcông ích ở Thị xã Hà Tĩnh và ở Cẩm Xuyên; tổ chức sản xuất lúa ở xã ThạchXuân; đặt ống dẫn nước sạch từ Thạch Xuân về Thị xã Hà Tĩnh Đã tổ chứckết nghĩa với hợp tác xã nông nghiệp Lý Tự Trong xã Thạch Yên là một trong
Trang 30năm hợp tác xã tiên tiến của Hà Tĩnh, bằng các hình thức tham gia tiêm phòngdịch, hướng dẫn bà con làm phân vi sinh, hướng dẫn ủ phân đúng kỷ thuật Từnăm 1958 Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng cũng đã kết nghĩa vớixưởng cơ khí Hà Tĩnh (tiền thân của Xí nghiệp cơ khí Ấp Bắc sau này) bằnghình thức thầy và trò thì dạy bổ túc văn hóa cho công nhân và cán bộ, côngnhân thì dạy nghề cho học sinh như nghề mộc, rèn, đúc, nguội Nhà trườngcũng có một xưởng trường riêng để tổ chức cho học sinh lao động một tuần 1buổi theo đơn vị lớp nhằm trang bị thêm vật chất như đóng giá sách, tủ sáchtrang bị cho thư viện và phòng các thầy cô giáo, tổ chức đóng gạch và nunggạch Trường đã xây dựng được vườn sinh vật để lai ghép cây, đã được Thứtrưởng Bộ Giáo dục Hồ Trúc kiểm tra và khen ngợi, Thứ trưởng đã đề nghịtỉnh tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua và nâng 1 bậc lương trước thời hạn choThầy Trần Văn Thứ Trường đã tổ chức cho học sinh toàn trường tham quanhợp tác xã nông nghiệp Phan Đình Phùng (xã Cẩm Nam, Cẩm Xuyên) là lá cờđầu về nông nghiệp trong toàn tỉnh Nhà trường đã tuyên truyền chủ trươngvận động học sinh tốt nghiệp lớp 10 về tham gia lao động xây dựng hợp tác
xã ở địa phương, điển hình ó em Hồ Sỹ Dưỡng sau một thời gian lao độngtích cực đã được địa phương đề nghị UBND tỉnh và cấp trên cử đi học tập ởnước ngoài; em Phan Đức Tác đã sáng chế máy bóc lạc đạt năng suất 300%,được tặng huy hiệu của Bác Hồ
Trong phong trào bổ túc văn hóa, ngoài tích cực tham gia giảng dạy vănhóa ở các đơn vị kết nghĩa, trường còn là đơn vị đầu tàu trong giảng dạy bổtúc văn hóa cho cán bộ các cơ quan cấp tỉnh, giúp Công đoàn Phòng Giáo dụchuyện Cẩm Xuyên và Phòng Giáo dục huyện Thạch Hà dạy bổ túc văn hóachương trình cấp III cho giáo viên cấp I Đoàn Thanh niên đã tổ chức cho họcsinh ở trọ tại các xã lân cận trường tích cực tham gia dạy bổ túc văn hóa cho
bà con nhân dân Những đóng góp của Trường phổ thông cấp III Phan Đình
Trang 31Phùng trong phong trào bổ túc văn hóa đã góp phần vào thành tích của tỉnh
Hà Tĩnh, là tỉnh được công nhân xóa xong nạn mù chữ lần thứ 2 cho ngườihọc độ tuổi từ 20 đến 50 tuổi với tỷ lệ đạt 94,8% vào ngày 9/11/1958
Phong trào văn nghệ, thể dục, thể thao được phát triển khá sôi nổi Cuốinăm học 1959 – 1960 đội bóng đá Phan Đình Phùng đã thi đấu với đội bóngĐức Thọ, đội bóng Vinh, đội bóng Trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng vv Kết quả mùa thi đấu, Trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng giành vôđịch toàn tỉnh, được tỉnh cử vào Khu Vĩnh Linh thi đấu với đội bóng đá QuânKhu IV Sang năm đầu năm học 1960 – 1961, đội bóng nhà trường đã lênchân dày Một số cầu thủ xuất sắc đã được tuyển thẳng vào Trường Đại học.Đội bóng chuyền trường phổ thông cấp III Phan Đình Phùng thời kỳ đó có thểnói là đấu đâu thẳng đấy, đoạt giải nhất toàn tỉnh
Hoạt động văn nghệ của Đoàn trường và Công đoàn được lên lế hoạch
cụ thể Hàng tuần có chương trình bố trí tập đàn, hát, kịch, ngâm thơ, hợpxướng, tốp ca, đơn ca Đội kịch, đội uốn dẻo và đội xiếc của Nhà trường được
đi công diễn ở nhiều nơi trong tỉnh Báo tường của các lớp ra đều đặn hàngtháng với nội dung khá hấp dẫn, có tác dụng cổ vũ phong trào thi đua về mọimặt của nhà trường
Nhà trường đã cố gắng thực hiện khẩu hiệu “giáo dục phục vụ chính trị,giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” nên đã có chuyển biến tốt theophương hướng nhà trương XHCN Kết quả học sinh ra trường khóa 1957 –
1958, hầu hết được vào các Trường Đại học ở Hà Nội (năm đó chỉ kiểm travăn hóa, không tổ chức thi Đại học Với những thành tích nổi bật của thầy vàtrò nên theo đề nghị của chi bộ Đảng, năm 1960 Tỉnh ủy đã chuẩn y kết nạp
11 Đảng viên lớp 06/01/1960 gồm có 3 giáo viên và 8 học sinh (lúc đó ngàythành lập Đảng đang xác định là ngày 006/01/1930)