Một bối cảnh khác, nơi mà các dịch vụ phiên dịch ngày càng được sử dung thường xuyên là nơi làm việc, vì ông chủ và người giám sát nói ngôn ngữ chính thức của quốc gia, còn công nhân và
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2I- MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà
Nội lần thứ XV đã xác định "Quyết tâm phấn đấu phát triển nhà trường về mọi
mặt, đặc biệt về quy mô và chất lượng" Quán triệt Nghị quyết này trong những
năm gần đây việc đổi mới phương pháp giảng dạy chương trình và giáo trình luôn luôn là một đề tài thu hút sự quan tâm chú ý của các giáo viên khoa Anh nói chung
và của giáo viên tổ dịch khoa Anh nói riêng Cải tiến chương trình với mục đích không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của giáo viên tổ dịch chúng tôi Vì vậy chúng tôi đã mạnh dạn tiến hành xây dựng chủ điểm thực tập phiên dịch tại trường với những lý do sau:
Thứ nhất, xã hội phát triển, mối giao lưu quan hệ hợp tác quốc tế về văn hoá,
kinh tế, xã hội ngày càng được mở rộng Cần thiết nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tri thức, thông tin tìm hiểu cơ hội hợp tác nước ngoài, đồng thời cũng cần thiết tạo ra yêu cầu về các phiên dịch có năng lực, có đủ tri thức và khả năng làm việc, giao tiếp trong các lĩnh vực mọi mặt của xã hội như về văn hoá, giáo dục, chính trị, y tế, du lịch, thương mại…
Thứ hai, trong thực tế sinh viên chưa có môi trường thực tế để thực tập phiên
dịch Nhiều sinh viên sau khi ra trường khả năng phiên dịch còn yếu chưa thể đảm nhận vai trò cầu nối ngôn ngữ của mình với đối tác nước ngoài Do họ chưa được tiếp xúc làm quen với những công việc thâm nhập thực tế như Hội thảo quốc tế, họp báo, các cuộc ký kết, đàm phán và các buổi toạ đàm về kinh tế, chính trị, ngoại giao…
Thứ ba, do không được thực tập bên ngoài hoặc khó khăn trong việc xin thực
tập ở các cơ quan, số lượng sinh viên phiên dịch ra trường có thể bươn chải trên thị trường hoặc tạm ổn về chất lượng và được thị trường chấp nhận còn ít
Vì tất cả các lý do đã nêu trên chúng tôi quyết định chọn cải tiến chương trình thực tập phiên dịch bằng việc xây dựng chủ điểm thực tập phiên dịch tại trường đáp ứng nhu cầu tham gia thực tiễn của sinh viên phiên dịch và cũng đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng mà nhà trường đã đề ra
Trang 32 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cải tiến chương trình thực tập phiên dịch cho sinh viên hệ phiên dịch nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng sinh viên phiên dịch cho nhà trường cũng như cho xã hội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ cụ thể là xác định được hướng cải tiến chương trình để đi đến xây dựng chủ điểm phiên dịch phù hợp cập nhật thông tin sát với thực tiễn mà sinh viên thực tập
b) Chương trình xoá đói giảm nghèo của Việt Nam.
c) Việt Nam gia nhập WTO
d) Thay đổi khí hậu toàn cầu
e) Chất lượng giáo dục đại học
f) Vấn đề HIV/AIDS ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cần có sự thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận từ việc đào tạo các cử nhân ngoại ngữ có thể biên phiên dịch sang việc đào tạo các phiên dịch chuyên nghiệp, cũng như chuyển từ quan niệm dạy dịch để phát triển kỹ năng tiến sang dạy các kỹ năng đặc thù của nghề phiên dịch
- Cố gắng xây dựng theo phương hướng tầng bậc, theo các giai đoạn phát triển các kỹ năng như nghe, tập trung ghi nhớ, ghi chép, thuyết trình trong dịch nói, hoặc các kỹ năng phân tích văn bản, xử lý các vấn đề ngôn ngữ, diễn đạt thông điệp trong dịch viết kịch bản, kết hợp với phương pháp modun theo các chủ đề thường gặp nhất của người phiên dịch Có như vậy mới có thể phát triển đồng thời các kỹ năng
về tiếng lẫn kiến thức chuyên ngành và nghiệp vụ biên phiên dịch cho sinh viên Mặc dù có sự lồng ghép giữa kỹ năng và chủ đề nhưng yếu tố kỹ năng sẽ được ưu
Trang 4tiên khi xây dựng chương trình chủ điểm thực tập phiên dịch.
6 Cấu trúc nghiên cứu:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Trình bày nghiên cứu: gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn, tập trung vào vấn đề dịch thuật nói
chung, vấn đề biên dịch và phiên dịch, loại hình phiên dịch, các phẩm chất cần có của phiên dịch viên, sự cần thiết của trang thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và hướng dẫn thực tập
Chương 2: Giới thiệu chung về chương trình xây dựng chủ điểm thực tập
phiên dịch Đề cập đến các bước xây dựng chương trình chủ điểm thực tập phiên dịch và nội dung của chủ điểm được xây dựng để phục vụ thực tập phiên dịch, phương thức tiến hành thực tập và kiểm tra đánh giá
Chương 3: Một số điểm mạnh và điểm yếu của chương trình trình bày kết quả
phân tích điểm mạnh Sau khi tổ chức thực tập phiên dịch, bình luận và đưa ra một
số hạn chế cần phải khắc phục của thực tập phiên dịch tại trường
Phần III: Kết luận
Trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, những kiến nghị liên quan đến việc thực tập phiên dịch tại trường ĐHNN - ĐHQGHN đồng thời cũng nêu lên một
số đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo
Phần IV: Kịch bản chủ đề và tài liệu liên quan đến chủ đề.
Trìh bày kịch bản chủ đề và đưa ra một số tài liệu gốc cần thiết đến chủ đề cần xây dựng kịch bản (kèm theo băng phim tài liệu về chủ đề và băng quay thực tập của sinh viên về chủ đề)
Trang 5II - NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Vấn đề dịch thuật nói chung
Nhiều nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến công tác dịch thuật Dịch giả nổi tiếng Danila Seleskovitch đã viết: "Bất cứ điều gì được trình bày trong một ngôn ngữ cũng đều có thể được thể hiện bằng một ngôn ngữ khác" (Seleskovitch, D, 1985: Truyền thống dịch)
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, dịch thuật đã trở thành một phần thiết yếu trong xã hội hiện đại, nó đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy nhận thức và quan hệ xã hội Vậy dịch thuật là gì?
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch thuật theo Peter Newmark thì: "Dịch thuật là quá trình chuyển nghĩa của một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác theo đúng ý tác giả" (Newmark.P.1988: Giáo trình dịch, trang 5) Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: "Đó là quá trình chuyển nghĩa từ ngôn
ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích" "Qune.W.Vo.1959: Ngữ nghĩa và dịch)
Theo những định nghĩa trên thì bản chất của dịch thuật có những đặc trưng sau đây:+ Dịch liên quan tới cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích
+ Dịch là một quá trình hoạt động ngôn ngữ đặc biệt
+ Yêu cầu của quá trình dịch là phải chuyển tải đầy đủ và chính xác nội dung của văn bản gốc sang văn bản dịch một cách tự nhiên, chân thật
- Từ cách nhìn nhận về bản chất của dịch thuật, chúng ta có thể thấy quá trình dạy và học dịch có những nét đặc trưng cơ bản sau:
+ Hoạt động dịch là quá trình sinh viên thực hành các kiến thức thư pháp, kỹ năng cơ bản trong lý thuyết dịch đòi hỏi môt quá trình luyện tập nghiêm túc, bền bỉ hình thành kỹ năng dịch cơ bản và dần nâng cao thành kỹ xảo
+ Hoạt động dịch là một quá trình hoạt động ngôn ngữ, nhưng là một hoạt động ngôn ngữ đặc biệt, trong đó ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ dịch thực hành song song
+ Hoạt động là quá trình vận dụng các kiến thức về lý thuyết ngôn ngữ, văn
Trang 6hoá, lịch sử, các kiến thức chuyên ngành và các kỹ năng giao tiếp xã hội.
1.2 Vấn đề biên dịch và phiên dịch
* Biên dịch được hiểu là quá trình dịch, chuyển tải đầy đủ và chính xác nội
dung của văn bản gốc sang văn bản dịch một cách tự nhiên dưới dạng viết hay biên dịch còn gọi là dịch viết Những ai đã từng dịch viết, nhất là dịch văn học hầu hết đều gặp trường hợp hiểu hết, hiểu rõ văn bản tiếng nước ngoài nhưng rất khó dịch sang tiếng Việt, thậm chí không thể dịch được mà nhiều khi cả một đoạn văn chỉ
"mắc" ở một từ Sở dĩ như vậy vì người dịch không tìm ra được các cách diễn tả tương đương giữa tiếng nước ngoài và tiếng Việt Như vậy các cách diễn ta tương đương giữa hai thứ tiếng, kỹ năng phát triển và tạo ra các cách diễn tả tương đương rất cần thiết đối với người dịch
Phần lớn các giáo trình dạy - học dịch hiện nay hình thức và cấu trúc, có văn bản bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt kèm theo các từ, cụm từ mới hoặc khó, một số thành ngữ, có giáo trình còn cho trước một số câu khó trong văn bản Những giáo trình như vậy nhìn chung là đúng, rất cần thiết nhưng chưa đủ, chưa đảm bảo cho việc dạy và học dịch đạt hiệu quả cao, bởi lẽ chưa đưa ra được các hệ thống tương đương giữa hai thứ tiếng, chưa tạo điều kiện để người học rèn luyện các kỹ năng phát triển, kỹ năng xây dựng các cách diễn tả tương đương Đồng thời trong quá trình dạy - học dịch mỗi chúng ta quan tâm đến các hình thức thể hiện các mối quan hệ logic ngữ nghĩa như: không gian, thời gian, nguyên nhân trong hai thứ tiếng và tìm các hình thức thể hiện tương ứng giữa tiếng nước ngoài và tiếng Việt thì việc dạy - học dịch sẽ đơn giản và hiệu quả hơn Để dạy - học dịch viết hiểu quả hơn cần quan tâm đến hệ thống mô hình cấu trúc câu tương đương giữa tiếng nước ngoài và tiếng Việt, cần tìm ra các hình thức thể hiện các quan hệ logic ngữ nghĩa tương ứng giữa hai thứ tiếng, các cách và tình huống sử dụng từ, nhất là động từ tương đương Nếu không như vậy khi dịch, sinh viên sử dụng quan niệm logic ngữ nghĩa cấu trúc câu và cách dùng từ theo quan điểm logic ngữ nghĩa của tiếng Việt
để chuyển sang tiếng nước ngoài Trong khi đó phiên dịch có thể được hiểu một cách đơn giản là việc chuyển tại một thông điệp từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích dưới dạng nói hay phiên dịch còn gọi là dịch nói Không giống như những biên
Trang 7dịch viên, các phiên dịch phải có khả năng dịch xuôi và ngược ngay tại chỗ mà không có sự trợ giúp của từ điển Tuy nhiên, có một điểm chung giữa biên dịch và phiên dịch là người phiên dịch và biên dịch phải làm chủ cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích để đảm đương tốt nhiệm vụ "nhịp cầu ngôn ngữ" giữa các bên làm việc Thường có hai dạng phiên dịch cơ bản được áp dụng để dạy và học phiên dịch
đó là phiên dịch nối tiếp (consecutive) và phiên dịch song song (simultaneous) Phiên dịch nối tiếp thường được thực hiện khi người nói ngừng sau khi nói từ 5-10 phút và thường ngừng sau mỗi một đoạn khi người nói đã biểu đạt hết ý Hình thức phiên dịch nối tiếp có thể được sử dụng trong các bối cảnh hội nghị, hội thảo, các nhóm làm việc hoặc hội đàm Trong những bài diễn văn quan trọng mang tính chất nghi lễ, như những diễn văn chính trị, diễn văn chính thức hoặc liên quan đến pháp
lý, khán giả có thể là giới báo chí, truyền hình và những vị khách khác Phiên dịch song song (hoặc còn gọi là dịch Cabin hoặc dịch đuổi) thường được thực hiện đồng thời với người nói và kết thúc khi người nói vừa dừng Trong phiên dịch song song, người phiên dịch thường ngồi trong cabin có cách âm, đeo tai nghe và nói qua micro Phiên dịch song song có thể được sử dụng trong một số bối cảnh đặc biệt mà không có sự trợ giúp của cabin cách âm hoặc các thiết bị kỹ thuật khác Người phiên dịch thường ngồi đằng sau và dịch cho một nhóm không quá 3 người trong khi diễn giả vẫn nói liên tục
Trong hai loại hình phiên dịch cơ bản kể trên có quan niệm cho rằng phiên dịch nối tiếp chính xác hơn phiên dịch song song và do đó trở nên phổ biến và được
sử dụng trong nhiều bối cảnh Trong loại hình phiên dịch nối tiếp, phiên dịch viên
có một khoảng thời gian nhất định để nghe diễn giả nói, hiểu và xử lý một số thông tin quan trọng trước khi làm nhiệm vụ chuyển tải ngôn ngữ của mình Còn phiên dịch song song vì phiên dịch gần như bắt đầu cùng một lúc với diễn giả nên không
có hoặc có rất ít thời gian xử lý thông tin, nhiều khi nghe chưa hiểu hết nội dung, thông điệp để phải dịch nói Chính vì vậy độ chính xác của loại hình này thường thấp hơn phiên dịch nối tiếp (các loại hình phiên dịch sẽ được bàn thêm ở phần sau)
Và những hình thức phiên dịch này được áp dụng để hướng dẫn thực tập phiên dịch tại trường Các chủ điểm về hình thức thực tập phiên dịch thể hiện gần giống như
Trang 8tiến hành các môn học nhưng mang tính chuyên sâu cho các chuyên ngành.
1.3 Những khó khăn mà sinh viên hệ phiên dịch gặp phải trong quá trình học tập và thực tập
- Không hiểu thông điệp được phát ngôn do thiếu kiến thức nên cũng như không làm chủ được ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ dịch (không nắm vững vốn từ vựng và cấu trúc kỹ năng nghe hiểu kém)
- Trong quá trình nghe sinh viên hiểu được nhưng không tái tạo được nội dung thông điệp cần dịch do khả năng diễn đạt kém
- Trí nhớ kém nên làm cho sinh viên bỏ sót quá nhiều thông tin cần thiết
- Sinh viên không làm chủ được kỹ năng ghi chép có hệ thống, trong khi nghe
có thể ghi lại rất nhiều, nhưng vẫn không dịch được khi nhìn vào phần ghi chép lộn xộn của mình
- Những giọng tiếng Anh khác nhau (như tiếng Anh của người Ấn Độ, Thái, Nhật, Paskistan…) làm cho sinh viên rất lúng túng không hiểu nói gì, vì từ khi học tiếng đã quen nghe những giọng phát âm chuẩn như Anh - Úc, Anh - Anh, Anh - Mỹ (ngay cả khi nghe những giọng tiếng Anh này, sinh viên cũng gặp không ít khó khăn)
- Kỹ năng xử lý ngôn ngữ khi dịch Việt - Anh kém, nhiều người Việt Nam có thói quen phát biểu dài dòng hay lặp ý và cách diễn đạt khó hiểu khiến cho sinh viên vô cùng bối rối khi phải tiếp nhận những đoạn thông tin lộn xộn và tối nghĩa
Có khi sinh viên lại dịch những thông tin không cần thiết mà bỏ qua những chi tiết quan trọng
- Thiếu vốn kiến thức chuyên ngành trong cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích
- Chưa làm chủ được tốc độ dịch, nhiều khi sinh viên nói nhanh quá dễ lẫn lộn
ý này với ý kia, nhiều khi lại nói quá chậm, ấp úng, dần dần quên hết các thông điệp cần chuyển tải
- Thiếu khả năng giao tiếp trôi chảy, trong đó:
+ Khả năng ngữ pháp liên quan đến việc nắm mã ngôn ngữ (lời nói và phi lời nói) liên quan đến các đặc điểm như các đơn vị từ vựng các quy tắc thành lập câu, phát âm, ý nghĩa ngôn ngữ của câu
+ Khả năng ngôn ngữ học xã hội: liên quan đến việc nắm cách sử dụng ngôn
Trang 9ngữ xã hội phù hợp trong các bối cảnh ngôn ngữ xã hội khác nhau, nổi bật là sự phù hợp về nội dung ngữ nghĩa (thái độ, hành động, lời nói và mệnh đề) sự phù hợp về hình thức biểu hiện (ví dụ, ngữ vực, biểu hiện phi lời nói và ngữ điệu)
+ Khả năng diễn ngôn: liên quan đến việc nắm cách thức kết hợp và lý giải nội dung và hình thức để có được diễn ngôn nói hoặc viết ở các thể loại khác nhau bằng cách sử dụng
Các phương tiện nối để liên kết các hình thức phát ngôn (ví dụ: đại từ, từ nối, cấu trúc đổi….)
Các quy tắc mạch lạc nhằm tổ chức nội dung (ví dụ: phép lặp, phép triển khai, tính nhất quán, tính quan yếu và sự ăn khớp về ý)
+ Khả năng chiến lược: liên quan đến việc nắm các chiến lược lời nói và cử chỉ
Để lấp chỗ trống (breakdown) trong giao tiếp do không đủ khả năng hoặc do hạn chế về thực hành (ví dụ: các chiến lược như sử dụng từ điển, giải ngữ, cử chỉ)
Để đẩy mạnh hiệu quả của giao tiếp (ví dụ: sự nhấn nhá cố ý để tác động gây
ấn tượng)
Như vậy, có thể thấy khái niệm khả năng giao tiếp của Canale & Svain (1980)
và của Hedge (2000) gần như tương tự nhau Chỉ có một điểm khác biệt Khả năng ngôn ngữ học xã hội trong quan niệm của Canale & Svain (1980) bị loại và thay vào
đó là khả năng ngữ dung (Hedge, 2000) Ngữ dụng học bao gồm sự nghiên cứu về việc lý giải và sử dụng phát ngôn phụ thuộc như thế nào vào tri thức về thế giới hiện thực
+ Người tham gia giao tiếp sử dụng và hiểu như thế nào về các hành động, lời nói
+ Cấu trúc của câu bị ảnh hưởng như thế nào bởi mối quan hệ giữa người nói
và người nghe Ngữ dụng học đôi khi đối lập với ngữ nghĩa học ngành học nghiên cứu nghĩa không trong mối quan hệ với người sử dụng và chức năng giao tiếp của câu
Điều thú vị là Hedge (2000) còn nhắc đến một số nghiên cứu, đề nghị đưa khả năng trôi chảy vào thành một thành tố của khả năng giao tiếp
Theo các học giả này khả năng trôi chảy gồm ba loại trôi chảy:
Trang 10+ Trôi chảy về ngữ nghĩa: kết nối với các mệnh đề, các hành động với lời nói.+ Trôi chảy về từ vựng - cú pháp: kết nối các thành tố cú pháp và từ.
+ Trôi chảy về phát âm: kết nối các phân đoạn lời nói
Có thể nói khả năng trôi chảy chủ yếu mang các thuộc tính của khả năng diễn ngôn Từ cách trình bày khả năng lưu loát trình bày trên có thể thấy các nhà nghiên cứu gắn khả năng lưu loát trực tiếp với việc dạy kỹ năng dịch nói (kỹ năng sản sinh ngôn ngữ) và hướng vào việc rèn luyện kỹ năng diễn ngôn cho người học
1.4 Phiên dịch và loại hình phiên dịch
Suy nghĩ về phiên dịch loại hình phiên dịch và các phẩm chất cần có của phiên dịch viên
Ngày nay, phiên dịch ngày càng trở thành một nghề phổ biến và là một phần không thể thiếu trong giao tiếp của con người ở khắp mọi cấp độ Ngày càng có nhiều người làm phiên dịch trong các cơ quan nhà nước và chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và ngành công nghiệp tư nhân Mặc dù số lượng phiên dịch trên khắp thế giới không đáp ứng nổi nhu cầu về dịch vụ phiên dịch, nhưng con so này đang tăng lên Như chúng ta đã biết trong chính mỗi loại hình phiên dịch đều có những quan niệm về những loại hình phiên dịch khác, như:
- Chỉ các phiên dịch viên hội nghị mới thực hiện phương pháp dịch đuổi
- Chỉ các phiên dịch viên tòa án mới phải quan tâm đến các khía cạnh đạo đức như lòng tin và sự công bằng
- Các phiên dịch viên cộng đồng thì thường không chuyên nghiệp và trình độ học vấn có giới hạn
- Các phiên dịch viên hội nghị thường phiên dịch cho các diễn giả có địa vị và trình độ học vấn cao nên họ thường được chuẩn bị tài liệu trước trong một thời gian dài
- Chỉ các nhà phiên dịch cộng đồng mới phải đối mặt với sự khác biệt về văn hóa
*Việc đề cập sau đây về các loại hình phiên dịch khác nhau sẽ xóa bỏ những quan niệm trên Phiên dịch có thể được hiểu một cách đơn giản như sau : “ Trước tiên, người phiên dịch phải lắng nghe, rồi phân tích, và thấu hiểu được lời người
Trang 11nói, rồi sau đó tổng hợp thành bài nói ở dạng ngôn ngữ khác ( Jones, 1996:6 ) Danh sách sau đây, mặc dù không chính xác lắm nhưng cũng đã đưa ra được một số loại hình phiên dịch thường gặp trong các văn bản Ở mỗi loại hình phiên dịch phải thực hiện những công việc đã kể trên.
3 loại hình phiên dịch đầu tiên được phân loại dựa vào cách thức làm việc, và các loại hình còn lại được phân loại dựa trên bối cảnh
- Dịch nối tiếp (Consecutive interpreting): với loại hình này người dịch đợi cho người nói kết thúc mới bắt đầu dịch Theo như trích dẫn của Seleskovitch (1978a), trong quá trình dịch nối tiếp người dịch không bắt đầu dịch cho đến khi người nói dừng nói, vì thế có nhiều thời gian để phân tích toàn bộ thong tin và nhờ
đó hiểu thông tin dễ dàng hơn Vì người dịch và người nói làm việc trong cùng một phòng và người nói dừng nói trước khi người dịch bắt đầu dịch, nên người nói sẽ nói trực tiếp với người nghe và người dịch thực sự trở thành người nói
- Dịch thầm (Whispered interpreting): còn được gọi là cách dịch khi không có các thiết bị hỗ trợ cho phương thức dịch đuổi thì người dịch sẽ dịch thầm vào tai một hoặc tối đa là hai người cần dịch vụ dịch thuật (Jones, 1998:6)
- Dịch hội nghị (Conference interpreting): giúp cho những người tham gia trong một cuộc họp đa quốc gia có thể giao tiếp được với nhau trong một bối cảnh trang trọng mà không cảm thấy rào cản về ngôn ngữ (GSTL, 1998a:6) Một số tác giả còn coi dịch hội nghị như một loại hình dịch đuổi (dịch cabin) Theo Jones(1998), ngày nay hầu hết các hội nghị đều sử dụng hình thức dịch đuổi mặc dù vậy các phiên dịch viên vẫn phải chuẩn bị để có thể sử dụng phương pháp dịch nối tiếp
- Dịch hội thảo (Seminar interpreting): Thuật ngữ này được đưa ra bởi bộ Ngoại giao của Mỹ để chỉ loại hình phiên dịch diễn ra trong các cuộc họp và các hội nghị nhỏ Gonzalez, etal (1991:28) khẳng định rằng “ sự khác nhau cơ bản giữa dịch hội nghị và dịch hội thảo là quy mô tổ chức của hội nghị ”
- Dịch song song hay dịch hộ tống ( Escort interpreting): để chỉ các dịch vụ dịch thuật dành cho các nguyên thủ quốc gia, các ủy viên ban quản trị của công ty, các nhà đầu tư, các quan sát viên hoặc những người đến giám sát công trường xây
Trang 12dựng “ Dịch song song thường diễn ra trong bầu không khí tự do thoải mái, trong các bối cảnh khác nhau từ các cuộc họp trang trọng tới các chuyến du lịch của các công ty và các bữa tiệc cocktail Phương thức được sử dụng thường xuyên trong loại hình phiên dịch này là dịch nối tiếp và mỗi lần chỉ dịch một vài câu ” (Gonzalez, etal, 1991:28).
- Dịch cho các phương tiện thông tin đại chúng (Media interpreting): thuật ngữ tổng hợp này dùng để chỉ loại hình phiên dịch cho các cuộc họp báo, cho sự xuất hiện trước công chúng, các cuộc phỏng vấn, cũng như là dịch cho các bộ phim, băng đĩa, băng đĩa ghi hình các cuộc họp và các chương trình phát thanh và truyền hình (GSTL,1998b)
- Dịch tòa án (Court interpreting): hay còn gọi là dịch luật pháp hay dịch pháp
lý Để chỉ các dịch vụ phiên dịch cho các tòa án luật pháp hay bất cứ trường hợp nào có liên quan đến luật pháp Theo Gonzalez etal (1991)
- Dịch luật pháp (Legal interpreting) là loại hình phiên dịch sử dụng trong bối cảnh luật pháp như: tòa án hoặc các văn phòng luật sư, nơi mà một số quá trình và hoạt động liên quan đến luật pháp được tiến hành Dịch luật pháp được chia thành các loại nhỏ dựa theo bối cảnh luật pháp (1) dịch cân luật pháp và (2) dịch luật pháp hoặc những loại hình thông thường cũng được coi là dịch tòa án Ở một số cơ quan thực thi pháp lý, có một sự khác biệt rất lớn giữa các nhà phiên dịch tòa án, những người mà làm việc cho các phiên tòa xử án tội phạm và dân sự ở các tòa án luật pháp và các phiên dịch cho các phiên tòa hành chính, những người cung cấp dịch vụ phiên dịch cho các phiên tòa được tiến hành bởi bồi thẩm đoàn luật pháp hành chính dưới sự giám sát của các cơ quan chính phủ Hầu hết các trường hợp dịch luật pháp đều dùng phương thức dịch đuổi, mặc dù vậy phương thức dịch nối tiếp vẫn là phương thức được lựa chọn trong lời khai nhân chứng (Gonzalez etal, 1991) Nhưng ở các quốc gia khác, cac phiên tòa xử án hầu hết thích sử dụng phương thức dịch nối tiếp (Driesen, 1989; Tsuda, 1995)
- Dịch kinh doanh (Business interpreting): còn được gọi là dịch thương mại Gentile etal (1996) định nghĩa thuật ngữ này như sau: Với nghĩa hẹp, thuật ngữ này
để chỉ loại hình phiên dịch cho hai hoặc nhiều người thảo luận các vụ làm ăn thông
Trang 13qua phiên dịch viên Tuy nhiên với nghĩa rộng thì dịch kinh doanh bao gồm tất cả các tình huống dịch thuật bên ngoài các mục phúc lợi xã hội, y tế, luật pháp Dịch kinh doanh không bao gồm các tình huống thể hiện sự khác nhau về quyền lực và địa vị trong xã hội, ví dụ của các bối cảnh dịch thuật này là: nghệ thuật, thể thao, du lịch và giải trí, các cuộc đàm phán bằng phát minh và sáng chế, các cuộc họp đoàn đại biểu chính phủ Một bối cảnh khác, nơi mà các dịch vụ phiên dịch ngày càng được sử dung thường xuyên là nơi làm việc, vì ông chủ và người giám sát nói ngôn ngữ chính thức của quốc gia, còn công nhân và nhân viên nói ngôn ngữ khác, đây cũng được coi là loại hình dịch kinh doanh, và nó cũng có sự khác nhau về quyền lực Frishberg (1986) báo cáo rằng các phiên dịch viên ngôn ngữ cử chỉ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các bối cảnh dịch thương mại vì vị trí xã hội giữa chủ, công nhân và những người đối thoại ngày càng công bằng hơn Dịch kinh doanh có thể là dịch nối tiếp hoặc là dịch đuổi.
- Dịch y tế (Medical interpreting) còn được coi là dịch cho các dịch vụ chăm sóc sưc khỏe và dịch cho các bệnh viện theo Frishberg (1986:115), “Bối cảnh của dịch y tế bao gồm rất nhiều tình huống từ việc chuẩn đoán bệnh hàng ngày giữa các bác sĩ, các thủ tục cấp cứu, các lớp hướng dẫn chuẩn bị trước khi sinh nở tới các hỗ trợ cho các phòng xét nghiệm phức tạp.” Các chuyên gia cũng coi dịch cho các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe về tinh thần là một loại hình nhỏ của dịch y tế Cũng có nước
đã đưa ra một loại hình nhỏ khác là dịch y tế - luật pháp dùng để chỉ các loại dịch thuật cho các bác sỹ tiến hành các cuộc kiểm tra y tế vì mục đích thu thập các bằng chứng cho các vụ việc có liên quan đến luật pháp như các trường hợp đòi bồi thường tai nạn công nghiệp và các vụ khiếu kiện tai nạn cá nhân Cuộc thi cấp bằng cho các phiên dịch viên y tế - luật pháp bao gồm một cuộc kiểm tra các kỹ năng dịch đuổi, mặc dù vậy dịch nối tiếp vẫn được xem là tiêu chuẩn của loại hình y tế
Tổ chức dịch thuật y tế ở một số nước đưa ra các tiêu chuẩn để hành nghề phiên dịch đã khẳng định rằng nếu người phiên dịch đuổi giỏi thì sẽ sử dụng phương thức này trong các trường hợp quan trọng để người nói không bị cắt ngang (ví dụ: các cuộc phỏng vấn bệnh tâm thần, hoặc các giai đoạn tình cảm cao trào.)
- Dịch giáo dục (Educational interpreting): loại hình này trở thành lĩnh vực
Trang 14chuyên môn hóa cao, đặc biệt là giữa các phiên dịch viên ngôn ngữ cử chỉ (Frishberg, 1986; Aguirre etal, 1997) Loại hình phiên dịch này bao gồm phiên dịch trong các lớp cho các sinh viên không hiểu được bài giảng do sự khác biệt ngôn ngữ
và phiên dịch giữa giáo viên và phụ huynh, cho các cuộc họp của ban giám hiệu, các buổi kỷ luật Tùy từng trường hợp mà sử dụng loại hình dịch nối tiếp hoặc loại hình dịch đuổi
- Dịch qua điện thoại (Over- the- Phone interpreting): còn được gọi là dịch từ
xa, thuật ngữ này được sử dụng để chỉ các loại hình phiên dịch qua điện thoại, khi
mà cả người phiên dịch và cac bên tham gia không ở cùng một địa điểm (Heb and Qian, 1997) Các phiên dịch viên qua điện thoại thường làm việc trong các bối cảnh
y tế, dịch vụ xã hội, kinh doanh và pháp luật Hiện tại loại hình dịch thuật qua điện thoại sử dụng phương thức dịch nối tiếp, nhưng khi công nghệ viễn thông ngày càng phát triển thì phương thức dịch đuổi vẫn thịnh hành hơn
- Dịch cộng đồng (Community interpreting) có lẽ đây là thuật ngữ gây nhiều tranh cãi nhất được sử dụng để phân biệt sự khác nhau giữa các loại hình dịch thuật (Mikkelson, 1996a and b; Roberts, 1994) thuật ngữ này để chỉ dịch vụ phiên dịch giúp cho những người không thông thạo ngôn ngữ chính thức của quốc gia có thể giao tiếp với những người cung cấp dịch vụ công cộng để dễ dàng tiếp cận các dịch
vụ như luật pháp y tế, giáo dục, các cơ quan chính phủ và các dịch vụ xã hội một cách đầy đủ và công bằng nhất (Carretal, 1997) Loại hình dịch thuật này còn được gọi là dịch liên lạc (Liaison interpreting) có ít nhất 3 người tham gia đối thoại, dịch đối thoại (dialogue), dịch giao tiếp (Contact interpreting), các dịch vụ công cộng (public service) và dịch văn hóa (cultural interpreting) Nhưng liệu đây có phải là những từ đồng nghĩa hay không khi mà có rất ít sự đồng nhất về định nghĩa của thuật ngữ này (Gentile etal, 1996; Carr etal, 1997) Trước đây các phiên dịch viên cộng đồng thường được coi là không chuyên nghiệp, có thiện ý nhưng là những cải cách lầm đường lạc lối (Gonzalez etal, 1991:29) nhưng ngày nay họ ngày càng được công nhận là các chuyên gia trong lĩnh vực của mình Một số tác giả còn coi dịch cộng đồng như một thuật ngữ hình chiếc ô bao gồm cả dịch tòa án và dịch y tế (Mikkelson, 1996 b), trong khi những người khác (chủ yếu là các phiên dịch viên
Trang 15tòa án) thì lại coi nó như một loại hình riêng biệt Một số nguồn tài liệu còn khẳng định dịch cộng đồng thường sử dụng phương thức dịch nối tiếp (Gentile, 1997), nhưng thực tế dịch đuổi thường được sử dụng khi các nhà phiên dịch có khả năng
sử dụng phương thức đó và khi các tình huống cho phép sử dụng phương thức đó (Gentile etal,1996), Gentile(1997) đã thể hiện sự thất vọng của mình về sự không chính xác của thuật ngữ dịch cộng đồng và thể hiện sự ủng hộ sử dụng thuật ngữ dịch liên lạc bởi vì nó miêu tả rõ hơn loại hình phiên dịch này và ông cũng cho rằng việc tiếp tục sử dụng thuật ngữ dịch cộng đồng sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu ngược lại Dịch cộng đồng vẫn bị coi là loại hình dịch thuật xếp thứ 2 không đáng được quan tâm về địa vị xã hội, trình độ học vấn, tiền lương và sự nghiên cứu, cơ bản là vì thuật ngữ này không diễn tả bối cảnh có thể được công nhận như một lĩnh vực của phiên dịch Ngoài ra thuật ngữ “cộng đồng” còn gây ra sự mập mờ Có thể hiểu là cộng đồng tham dự một hội nghị, cộng đồng dân cư của một khu vực, cộng đồng người cùng quan tâm đến một vấn đề, hoặc là cộng đồng những người cùng nói một ngôn ngữ nào đó Tuy nhiên thuật ngữ dịch cộng đồng lại là thuật ngữ được
sử dụng phổ biến nhất
1.5 Các phẩm chất cần có của phiên dịch viên
Ngoài việc phân biệt các loại hình phiên dịch, các phẩm chất của người phiên dịch cũng là vấn đề cần chú trọng Nghiên cứu về các tài liệu dịch thuật cho thấy, có rất nhiều sự trùng lặp trong việc miêu tả một phiên dịch viên lý tưởng, bất kể là phiên dịch tòa án, phiên dịch y tế, hay phiên dịch hội nghị Các phẩm chất sau đây đưa ra bởi rất nhiều tác giả, và được coi là cần thiết đối với một phiên dịch giỏi:
- Kỹ năng tiếng (Language skill): Ngay cả những người không thuộc chuyên
môn cũng nhận thấy rằng người phiên dịch phải cực kỳ thông thạo ngôn ngữ làm việc của mình để có thể dịch một cách chính xác mặc dù họ đánh giá thấp mức độ thành thạo đó Các tác giả viết về các loại hình phiên dịch, từ dịch hội nghị (Sele Skovitch, 1978a; Jones 1998), đến dịch tòa án (Gonzalez etal, 1991), hay dịch cộng đồng (Frishberg, 1986; Gentile etal, 1996) cũng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng thành thạo ngôn ngữ Đồng thời họ cũng không tán thành với quan điểm rằng ngôn ngữ chỉ là nhân tố không thể thiếu để nắm vững các kỹ thuật dịch
Trang 16- Kỹ năng phân tích (Analytical skill): Gonzalez etal (1991:363) khẳng định
rằng kỹ năng phân tích là kỹ năng quan trọng nhất của người phiên dịch tòa án, và đối với loại hình phiên dịch đuổi, “nó cần thiết đến nỗi nó được coi như bản chất của quá trình phiên dịch chứ không phải là một chiến thuật phụ trợ” Viết về phiên dịch hội nghị, Jones (1998) cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích bài nói trước khi dịch Đối với dịch vụ phiên dịch cho các phương tiện truyền thông đại chúng, khả năng phân tích cũng được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất để dánh giá mức độ tài giỏi của người phiên dịch
- Kỹ năng nghe và nhớ lại (Listening and recall skills): Gentile etal (1996:44)
cho rằng “để dịch được hiệu quả người phiên dịch cần phải có khả năng nghe hiệu quả Rất nhiều tác giả khác cũng định nghĩa kỹ năng nghe đặc biệt này là “nghe chủ động” và còn chỉ ra rằng “khả năng nghe chú ý, chủ động này tương đối khác với những loại hình nghe khác, và để có được kỹ năng này thì người phiên dịch phải học tập và rèn luyện” Jones, 1998:14) Khả năng nhớ và nhớ lại cũng được xem là cần thiết đối với hầu hết các chuyên gia dịch thuật, bất kể ở loại hình dịch thuật nào Seleskovitch (1978a:34) tiếp tục khẳng định rằng “ khả năng nghe và hiểu là hai khả năng không thể tách rời Khả năng này là chức năng của khả năng kia” Có được trí nhớ tốt thật sự là rất cần thiết đối với các phiên dịch tòa án, những người luôn phải học thuộc lòng các thông tin của ngôn ngữ đích, và thậm chí cả các yếu tố ngôn ngữ tương đương: nhân tố khiến cho công việc của các phiên dịch tòa án khó khăn hơn công việc của các phiên dịch hội nghị là ở chỗ trong quá trình dịch các phiên dịch tòa án không được loại bỏ các thông tin không có ngữ nghĩa như ngập ngừng hoặc nói loanh quanh bởi vì các thông tin này phải được đưa vào ngôn ngữ đích tương đương với ngôn ngữ nguồn”
- Kỹ năng giao thiệp xã hội (Interpersonal skills): đây là phẩm chất cực ký
quan trọng đối với các phiên dịch viên cho các dịch vụ xã hội vì họ phải thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng hơn là các phiên dịch viên hội nghị (Roberts, 1994) Nhưng các phiên dịch viên hội nghị cũng được cho là nên phát triển kỹ năng này vì như thế họ có thể giao thiệp với các đại biểu được tốt hơn (Jones, 1998; Seleskovitch, 1987a) Mặc dù người ta quan niệm rằng phiên dịch
Trang 17viên hội nghị là những người suốt ngày làm việc trong phòng kín với các quan chức mặt lạnh, nhưng thực tế trong rất nhiều cuộc hội nghị các phiên dịch viên thường giao tiếp trực tiếp với các đại biểu Hơn nữa, những người tham dự hội nghị không phải chỉ là các quan chức và các doanh nhân quốc tế, mà ở mọi tầng lớp xã hội với những nghề nghiệp khác nhau, từ các công nhân nhà máy, tới các bà nội trợ, từ nông dân đến những người tị nạn.
- Tư cách đạo đức (Ethical behavior): Mặc dù các quy tắc đạo dức của người
phiên dịch ảnh hưởng nhiều nhất đến công việc của phiên dịch viên làm việc trong môi trường luật pháp, nhưng đạo đức vẫn là vấn đề quan tâm chính đối với tất cả các phiên dịch viên (Frishberg, 1996; Susswan and Johson, 1996) Jones (1998) đã miêu tả những tình huống tế nhị xuất hiện trong các cuộc hội nghị quốc tế, đòi hỏi người phiên dịch phải hiểu thấu đáo vai trò của mình và đưa ra các quyết định đúng đắn Các phiên dịch viên y tế phải đặc biệt chú ý đến các vấn đề liên quan đến sự riêng tư của bệnh nhân
- Kỹ năng thuyết trình (Speaking skills): Hầu hết mọi người đều cho rằng kỹ
năng thuyết trình khi xuất hiện trước một lượng lớn khán giả như: các cuộc họp của các đại biểu, hội nghị, các cuộc họp báo, và diễn thuyết trước công chúng thực sự là
kỹ năng quan trọng trong đào tạo phiên dịch ở bất cứ loại hình phiên dịch nào (Weber, 1984; Frishberg, 1986; Gonzalez etal, 1991) Tuy nhiên Gentile etal (1996:47) đã chỉ ra rằng thậm chí những phiên dịch viên cộng đồng, những người thường làm việc trong môi trường thân mật cũng cần phải có khả năng diễn đạt ý tốt “Kỹ năng nói tốt là phải có giọng nói tốt, phải biết lựa chọn các thành ngữ, từ vựng và cụm từ để đưa vào bài nói” vì vậy cả lời nói và cách trình bày lời nói đều đóng vai trò rất quan trọng giúp cho công việc phiên dịch đạt hiệu quả tốt một cách toàn diện
- Sự hiểu biết về văn hóa (Cultural Knowledge): Hầu hết mọi người đều thừa
nhận rằng các phiên dịch viên làm việc trong môi trường y tế và các dịch vụ xã hội cần phải nhận thức sâu sắc những sự khác biệt về văn hóa, vì thế mà thuật ngữ “ phiên dịch viên văn hóa” được sử dụng rất phổ biến ở Canada, mặc dù vậy rất nhiều người không hài lòng về những việc làm mà các phiên dịch viên làm với sự hiểu
Trang 18biết ấy (Carr etal, 1997) Các phiên dịch viên tòa án cũng phải quan tâm đến văn hóa, tuy nhiên khả năng của họ trong việc giúp cho khách hàng hiểu về sự khác biệt văn hóa là có giới hạn (Gonzalez etal, 1991) Tuy nhiên khi các phiên dịch viên hội nghị cũng cho rằng họ không chỉ là các nhà ngôn ngữ mà còn là cầu nối giữa các nền văn hóa, thì rất nhiều nhà phiên dịch không đồng tình Seleskovitch (1978 a&b; Seleskovitch and Lederer, 1984) đã viết tổng quát hơn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ
và văn hóa Có lẽ Jones(1998:4) kết thúc được vấn đề này tốt nhất khi cho rằng “trong tất cả các công việc, phiên dịch viên hội nghị phải là cầu nối giữa các nền văn hóa, xóa bỏ sự khác biệt về tư tưởng làm chia rẽ những người tham gia hội nghị
- Kiến thức chuyên môn (Subject Knowledge): Mặc dù các phiên dịch viên
chuyên nghiệp thường phàn nàn rằng: khách hàng của họ không hiểu được là họ cần chuẩn bị trước tài liệu và hiểu một chút ít về vấn đề được thảo luận trong cuộc họp
là để họ có thể dịch chính xác hơn “Không cần phải hiểu, chỉ cần dịch nó”, nhưng tất cả các chuyên gia dịch thuật đều công nhận rằng phiên dịch viên cần phải nắm được các thuật ngữ kỹ thuật và nội dung của các vấn đề có liên quan
Vì thế rõ ràng rằng đối với một số mức độ nào đó, tất cả các phiên dịch viên phải tập trung vào các phẩm chất đã liệt kê trên bất kể là ai dịch và dịch ở đâu Thực
tế rằng rất nhiều cá nhân đi làm phiên dịch mà trong bối cảnh nào đó không có những phẩm chất trên thì không có nghĩa là họ không cần những phẩm chất đó, mà chỉ đơn giản vì các khách hàng sử dụng dịch vụ phiên dịch không đúng giá, không đúng tầm quan trọng của những phẩm chất đó Vậy nếu tất cả các phiên dịch viên đều thực hiện một nhiệm vụ thì tại sao lại có sự khác biệt về trình độ giáo dục, tiền lương, vị thế giữa những người phiên dịch như thế Những sự khác nhau này là nguyên nhân gây ra sự nhầm lẫn giữa công việc phiên dịch và những người phiên dịch Phiên dịch hội nghị là một lĩnh vực có tính cạnh tranh cao bởi vậy các phiên dịch viên phải trải qua các khóa đào tạo dài hạn và rèn luyện các kỹ năng có tính chuyên môn cao để có thể làm việc được cho các tổ chức quốc tế, các thể chế chính trị và cho các cá nhân có tính chọn lọc cao Vì vậy, các phiên dịch viên hội nghị xứng đáng được trả lương cao, được khách hàng và đồng nghiệp tôn trọng
Đối lập với trường hợp trên, chúng ta còn có một cách tiếp cận khác để phân
Trang 19loại các loại hình phiên dịch Các loại hình phiên dịch liệt kê trong phần vừa rồi được phân loại dựa vào bối cảnh, cách thức phiên dịch và chủ đề của các sự kiện do các nhà phiên dịch tổ chức Bản thân các nhà phiên dịch có tầm ảnh hưởng rất lớn,
có thể hôm nay dịch cho hội nghị nhưng ngày mai lại dịch cho đoàn hộ tống, hoặc ngày tiếp theo là dịch cho phiên tòa xử án Vì vậy, nếu có ai đó nói mình làm phiên dịch hội nghị thì điều đó không có nghĩa là chỉ làm phiên dịch hội nghị Với nghề phiên dịch, ngôn ngữ là nhân tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn các loại hình phiên dịch Ngoài ra sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: trình
độ giáo dục đào tạo, quan điểm của từng cá nhân và thị trường lao động tại địa phương Vậy nên một phiên dịch viên tiếng Anh, Pháp và Đức có nhiều cơ hội lựa chọn hơn phiên dịch viên tiếng Somali, và mặc cho phiên dịch viên người Somali rất giỏi chuyên môn nhưng họ cũng không có nhiều cơ hội được phiên dịch cho hội nghị hay cho các cuộc đàm phán kinh doanh Tóm lại, việc phân loại các loại hình phiên dịch này không chỉ gây ra sự hiểu lầm cho những người sử dụng dịch vụ phiên dịch, mà còn gây ra các cuộc tranh luận giữa cac phiên dịch viên Điều này đã được đề cập đến trong dẫn chứng của Gentile(1997:111) về loại hình phiên dịch cộng đồng
Alexiera(1997) đã phản đối cách phân loại truyền thống các loại hình phiên dịch chỉ dựa vào một đặc tính đơn lẻ vì như thế thì rất là hạn chế Bà tán thành việc
sử dụng hướng tiếp cận nhiều đặc điểm để phân loại, điều này một cách tình cờ đã loại bỏ cách phân loại theo thứ bậc ở phần trên Một số đặc điểm nữa nên xem xét là những yếu tố có trong các tình huống giao tiếp như: Ai nói, nói với ai, nói về cái gì,
ở đâu, khi nào, và tại sao (mục đích), hơn là chỉ xem xét đến các đặc điểm trình bày bài nói về thời gian và sự hợp tác về không gian giữa những người tham gia tình huống giao tiếp, và cũng phải quan tâm đến cả nội dung của các văn bản, không những chỉ xem xét đến những chủ đề (để trả lời những câu hỏi ở trên) hay xem xét
sự khác biệt giữa “tổng thể” và “bộ phận” (đưa ra bởi Salevsky) mà còn xem xét xem văn bản được viết theo dạng nào, giống văn bản nói hơn hay văn bản viết hơn,
và mối quan hệ giữa các văn bản Alexiera cũng tiếp tục lưu ý rằng trong cuộc sống hiện thực, các sự kiện có sự tham gia của các phiên dịch thường quá phức tạp đến
Trang 20nỗi không thể phân loại một cách dễ dàng Bà cũng tán thành cách tiếp cận xem các
sự kiện giống như “những gia đình” trong đó có các thành viên trụ cột, và các thành viên thứ yếu liên kết lại với nhau tạo thành nền tảng vị trí vững chắc trong mọi lĩnh vực, trong mọi mảng đề tài…”(156) Sau đó bà cũng chỉ ra các đặc điểm mà dựa vào đó để định nghĩa dịch thuật
•Cách thức trình bày và làm việc
•Những người tham gia trong các sự kiện do phiên dịch viên tổ chức
•Loại văn bản và chiến lược xây dựng văn bản
•Sự hạn chế về thời gian và không gian
•Mục tiêu của các sự kiện do phiên dịch viên tổ chức Các sự kiện này có thể đánh giá theo mảng đề tài phổ biến và các đặc trưng văn hóa với những phạm vi sau:
- Khoảng cách xa và gần giữa người nói, người nghe và người phiên dịch
- Sự liên lạc và không liên quan của người nói
- Sự bình đẳng, sự phụ thuộc lẫn nhau và không bình đẳng, quyền lực (liên quan đến địa vị xã hội, vai trò và giới tính của người nói, người nghe, cũng như là người dịch trong một số trường hợp)
- Bối cảnh trang trọng và bối cảnh thân mật (liên quan đến số lượng người tham gia, mức độ riêng tư và mức độ quan trọng)
- Văn bản viết và văn bản nói
- Hợp tác (trực tiếp và không hợp tác) gián tiếp (liên quan đến các chiến lược đàm phán)
- Mục đích chung và mục đích đối lập
Hướng tiếp cận này giúp cho việc phân loại các loại hình phiên dịch trong các tình huống đời thực trở nên chính xác hơn Vì thế mà các thuật ngữ rộng như “dịch các phương tiện truyền thông đại chúng” không thể nói về sự không thông thạo của người phiên dịch, mà sử dụng bản mẫu của Alexiera Ta thấy rằng, một phiên dịch dịch trong cuộc họp báo tại đại hội thể thao Olympic cũng có nghĩa là đang thực hiện nhiệm vụ liên quan đến dịch hội nghị, nhưng nếu dịch trong buổi phỏng vấn ngôi sao điện ảnh cho tạp chí thì lại không thuộc loại hình phiên dịch này Tương tự
Trang 21như thế, nếu phiên dịch viên tòa án dịch trong buổi khiếu kiện công khai nơi mà các
vị quan tòa ngồi trên ghế cao, những người bị khiếu kiện thì lắng nghe những lời dịch thầm, thì sẽ thực hiện những nhiệm vụ rất khác với kiểu dịch cho luật sư và khách hàng trong nhà tù, hoặc sự chất vấn nhân chứng của bồi thẩm đoàn trong quá trình xét xử Các đặc điểm như: khoảng cách xa và gần, bối cảnh quan trọng và thân mật, mục đích chung và mục đích đối lập, đều góp phần làm sáng tỏ bản chất của tình huống giao tiếp Tất nhiên cải cách mà các đặc tính này được áp dụng vào các
sự kiện khác nhau do phiên dịch viên tổ chức phù thuộc vào mục đích của các nhà nghiên cứu Để trả lời cho câu hỏi đặt ra ở trên, người ta đã thực hiện xa hơn nữa cách tiếp cận của Hexieva bằng cách đưa ra thêm một số nhân tố ngoại cảnh Yếu tố ngoại cảnh chứ không phải là yếu tố bản chất đã gây ra sự khác biệt về thu nhập, điều kiện làm việc và địa vị xã hội của người phiên dịch Tôi sẽ xem xét đến một số yếu tố sau đây:
+ Địa vị của ngôn ngữ mà những phiên dịch sử dụng
+ Môi trường của các sự kiện là đa ngôn ngữ hay song ngữ, và phiên dịch viên phải cùng dịch trực tiếp hay gián tiếp
+ Mức độ đòi hỏi và cho phép người phiên dịch chuẩn bị tài liệu
+ Tài liệu được lựa chọn
+ Thị trường việc làm tại địa phương
+ Quy mô địa điểm tổ chức của các sự kiện
* Địa vị ngôn ngữ: địa vị ngôn ngữ của người phiên dịch trong xã hội ảnh hưởng đến địa vị xã hội
Nhân tố này liên quan đến đặc điểm "bất bình đẳng - quyền lực" đưa ra bởi Alexieva (1997) Hãy xem xét ví dụ này:
Một phiên dịch viên làm việc trong Hội đồng Liên hợp quốc sẽ phiên dịch cho một số nhân vật quyền lực nhất thế giới và ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc
là ngôn ngữ của những quốc gia quyền lực nhất thế giới Vì vậy điều kiện làm việc của các phiên dịch ở đây tật tuyệt vời, và đây là công việc có địa vị xã hội Trong khi đó, các phiên dịch viên hội nghị ở Đài Loan cũng sử dụng hai ngôn ngữ của Liên hợp quốc (tiếng Anh và tiếng phổ thông Trung Quốc) nhưng lại có địa vị xã
Trang 22hội tương đối thấp Điều đó một phần là bởi tiếng Anh là ngôn ngữ có quyền lực, được ưa chuộng và giảng dạy rộng rãi, nên họ thích sử dụng chút tiếng Anh họ biết hơn là phải phụ thuộc vào phiên dịch, để khoe khoang với bạn bè và để khỏi mất mặt khi phải thuê phiên dịch Bởi thế cũng cần xem xét đến thái độ của mọi người đối với ngôn ngữ được sử dụng trong các sự kiện diễn ra ở nơi đó.
Ngoại trừ tiếng Tây Ban Nha được sử dụng ở Mỹ, thì phần lớn các thứ tiếng khác dùng trong phiên dịch cộng đồng (bệnh viện, các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội, các trung tâm tị nạn,…) đều có địa vị xã hội tương đối thấp và hạn chế phổ biến (Contile etal, 1996) và các phiên dịch viên cho các tòa án thì làm việc trong những điều kiện tồi tàn Thật nực cười khi các nghiên cứu uyên thâm nhất, xuất sắc nhất về dịch thuật ở Mỹ lại được thực hiện bởi các nhà phiên dịch bằng ngôn ngữ cử chỉ (Patue, 1993, Roy 1989; Cokely, 1984), thế nhưng dịch thuật bằng ngôn ngữ cử chỉ vẫn chưa được công nhận những đóng góp mà bây giờ một số loại hình dịch thuật bằng ngôn ngữ nói được hưởng Rất nhiều ngôn ngữ cử chỉ được những người điếc trên thế giới sử dụng đều là những ngôn ngữ có địa vị xã hội thấp Thực tế gần đây rất nhiều nhà ngôn ngữ đã thừa nhận vị trí của ngôn ngữ này trong xã hội, nhưng nhìn chung thì công chúng không thuộc chuyên môn vẫn không nhận thức được sự phức tạp của ngôn ngữ này (Faisherg, 1986) Vì vậy những công việc liên quan đến dịch thuật cho người điếc (không xem xét đến bối cảnh, sự phức tạp của tình huống giao tiếp) đều bị đánh giá chỉ thấp như các ngôn ngữ thiểu số trong xã hội
* Môi trường dịch thuật đa ngôn ngữ, phương hướng dịch thuật liệu có phải việc các nhà phiên dịch sử dụng nhiều ngôn ngữ hoặc chỉ biết sử dụng hai ngôn ngữ
sẽ là một nhân tố nữa để phân biệt sự khác nhau giữa một công việc có địa vị cao và một công việc có địa vị thấp hơn Các nhân viên phiên dịch cho các tổ chức quốc tế như liên minh Châu âu và các tổ chức của Mỹ phải có khả năng sử dụng được hai thứ tiếng trở lên nhưng nhìn chung họ chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ, tuy nhiên trong môi trường dịch hội nghị nhìn chung các cuộc họp chỉ sử dụng hai thứ tiếng và các phiên dịch viên chỉ làm việc với hai thứ tiếng đó (Tomes 1998) Không phải cứ phiên dịch viên nào chỉ dịch một hướng với hai thứ tiếng sẽ mất uy tín bởi vì nếu tính chuyên môn trong công việc của họ càng cao thì họ càng được trọng vọng (như
Trang 23trường hợp các phiên dịch viên hội nghị ở Nhật Bản) (Inggs, 1998) báo cáo rằng các phiên dịch tòa án ở Châu Phi thường phiên dịch với nhiều thứ tiếng nhưng trong một số trường hợp họ chỉ phải dịch một chiều với hai thứ tiếng, các phiên dịch viên
ở đó không phải kiểm tra năng lực vì cả ngôn ngữ, cả những người cần dịch vụ phiên dịch cũng như các phiên dịch viên không được coi trọng ở Châu Phi
* Chuẩn bị tài liệu: Mức độ cho phép phiên dịch viên chuẩn bị tài liệu trước chứng tỏ mức độ quan trọng của dịch vụ phiên dịch mà khách hàng cần Công ước
về điều kiện chung của công việc được thông qua bởi tổ chức các nhà phiên dịch quốc tế đã khẳng định rằng: để chuẩn bị thuật ngữ và kỹ thuật các nhà tổ chức phải gửi cho các nhà phiên dịch toàn bộ tài liệu (bao gồm: chương trình, kế hoạch và biên bản của cuộc hội thảo lần trước, các bản báo cáo, etc…) dưới dạng một ngôn ngữ được sử dụng trong cuộc họp đó sớm nếu có thể, nhưng không quá 15 ngày trước khi bắt đầu cuộc hội thảo Tất nhiên quy tắc này không phải bao giờ cũng được thực hiện ở mọi cuộc hội thảo, nhưng nó được chấp nhận như là kế hoạch chuẩn bị trong các cuộc hội thảo quốc tế Các nhà tổ chức hội thảo và các đại biểu
đã quen với yêu cầu này và nhìn chung họ đều chấp hành vì họ đánh giá cao các bản dịch chính xác Trái ngược với điều này, Tseng (1992) lại báo cáo rằng các nhà phiên dịch hội thảo ở Đài Loan thường bị gây khó khăn khi họ cố gắng lấy tài liệu trước Các phiên dịch viên toà án cũng phàn nàn một số vấn đề khi họ cố gắng chuẩn bị tài liệu đầy đủ (Gonzalek Clal, 1991, Gentile etal, 1996) Các luật sư và bác sĩ đặc biệt không cho phép các nhà phiên dịch xem tài liệu của họ vì vấn đề bảo mật nhưng ở tòa và những nơi chăm sóc sức khoẻ nơi mà nghề phiên dịch được coi
là chuyên nghiệp thì yêu cầu về tài liệu của họ cũng được xem trọng
* Sự chọn lựa phiên dịch viên: ở thị trường phiên dịch nơi mà khách hàng thường xuyên sử dụng cá dịch vụ phiên dịch và yêu cầu cao về tiêu chuẩn của các dịch vụ phiên dịch thì nghề này mang tính cạnh tranh cao Để được chọn lựa các phiên dịch viên phải thể hiện hết năng lực của mình để cạnh tranh, như ở tổ chức phiên dịch chuyên nghiệp: các thành viên được tổ chức này lựa chọn là các nhà phiên dịch có bề dày kinh nhiệm các cử nhân phiên dịch được đào tạo bởi một trường Đại học nổi tiếng được coi là thành viên của nhóm dịch thuật ưu tú nhất, địa
Trang 24vị của người phiên dịch trong thị trường khắc nghiệt như thế này phản ánh tính chọn lọc của quá trình đi xin việc Mặt khác các khách hàng không thường xuyên sử dụng các dịch vụ phiên dịch thì không có khả năng chọn lọc bởi vì họ không biết hỏi câu hỏi gì và không có tiêu chuẩn nào để đánh giá như bằng cấp, trình độ học vấn Tseng (1992) đã khẳng định đây là tình trạng chính xảy ra ở Đài Loan và rất nhiều học giả khác cũng phàn nàn về việc thiếu các tiêu chuẩn để chọn lọc phiên dịch viên trong thị trường lao động (Robent, 1997; Nicholson and Mantinsen, 1997, Martina, 1997, Szokodzinska 1997) Tseng (1992:100-101) cũng báo cáo rằng trong
số 24 phiên dịch hội ngị tham gia phỏng vấn ở Đài Loan chỉ có 6 người được đào tạo nghiêm túc về phiên dịch trong thời gian 2 năm, 11 người ít hơn 6 tháng và 5 người còn lại không qua đào tạo Bởi vì thiếu các tiêu chuẩn chung để đánh giá trình độ học thức của người phiên dịch, nên các chương trình đào tạo cấp bằng trong đó người phiên dịch phải vượt qua các kỳ thi kiểm tra năng lực, đã phát triển
ở rất nhiều nơi Đây là phương tiện giúp cho các khách hàng tiềm năng có thể lựa chọn được những phiên dịch viên tài giỏi nhất Tuy nhiên, việc thiếu các chương trình đào tạo để giúp cho các thí sinh chuẩn bị cho các kỳ thi đã gây ra tỷ lệ trượt rất cao (Gonzaler etal, 1991) Lascar, 1997) Một cái vòng luẩn quẩn đã được tạo ra, vì
bị trả lương thấp và phải làm việc trong những điều kiện tồi tàn khiến cho các phiên dịch viên tương lai cảm thấy không mấy mặn mà với việc đầu tư cho các khoá đào tạo dài hạn, và kết quả là các trường đại học, cao đẳng cũng không có động lực để thành lập ra các chương trình này
* Thị trường làm việc tại địa phương: Các nhân tố như kinh tế, dân số, chính trị và văn hoá của mỗi quốc gia, mỗi khu vực nới các phiên dịch viên làm việc ảnh hưởng rất lớn tới sự lựa chọn nghề nghiệp Ví dụ như một phiên dịch hội nghị biết
sử dụng cả 3 thứ tiếng Pháp, Đức, Anh có thể kiếm được rất nhiều việc làm ở châu
Âu, nhưng ở Mỹ thì lại không được
Vào cuối những năm 70, nhu cầu về phiên dịch viên tiếng Hmong/Anh tăng vọt vì lúc đó rất nhiều dân tị nạn là người dân tộc thiểu số Lào sang định cư ở bang Minnesota, nhưng về sau này, khi những dân nhập cư già đi, và thế hệ mới ra đời được học tiếng Anh thì nhu cầu này không còn nữa (Interpreten Standards Adusory
Trang 25Committee 1998).
Một cuộc xung đột quốc tế hoặc một bộ luật được thông qua cũng tạo nên nhu cầu rất lớn về phiên dịch viên ở một ngôn ngữ nào đó và ở một toà án nào đó, như trường hợp dân tị nạn Ctuatemalan ở Mỹ đột nhiên phản đối sự trục xuất của chính phủ Mỹ hoặc khi chính phủ Mỹ điều quân đội sang Somalia, mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia bị gián đoạn có thể xoá sổ thị trường phiên dịch tiếng Anh và tiếng Somalia Khi việc làm khan hiếm, người phiên dịch phải tìm công việc khác
để kiếm sống, điều này làm mai một các kỹ năng của họ và họ không còn liên lạc với các khách hàng tiềm năng (Tseng, 1992; Robents 1997) Tất cả các trường hợp này đều ảnh hưởng đến nhu cầu về các dịch vụ phiên dịch Tseng, 1992; Robents 1997)
* Tổ chức và điều khiển: Cuối cùng, mức độ tổ chức và điều khiển của các tổ chức đối với các phiên dịch viên cũng ảnh hưởng đến địa vị xã hội của họ Tseng (1992, 148) chỉ ra rằng vị trí của các phiên dịch viên hội nghị ở Đài Loan sẽ cao hơn rất nhiều nếu họ thành lập một tổ chức phiên dịch chuyên nhiệp, vì các phiên dịch viên dịch trong một hội nghị quốc tế có thể làm việc trong điều kiện tốt hơn nhờ vào những đàm phán được thực hiện bởi các tổ chức dịch thuật chuyên nghiệp trong quá khứ Khi thảo luận về sự chuyên nghiệp hoá, nhìn chung ông lưu ý rằng
có thể đạt được uy tín nghề nghiệp nếu nắm giữ được thị trường lao động Một phương pháp đều có thể nắm giữ thị trường lao động là cố gắng liên hiệp với chính phủ bằng cách ủng hộ các chính sách của chính phủ Điều này được chứng minh là đúng với trường hợp của các phiên dịch viên toà án ở Mỹ, luật pháp của quốc gia này quy định rằng các phiên dịch viên làm việc trong các tòa án liên bang mà vượt qua được kỳ thi kiểm tra năng lực sẽ lập tức được tăng lương và phạm vi quyền lực thi hành pháp lý cũng được nâng lên cao, trái ngược hẳn với các đồng nghiệp trong các tòa án tại các bang Gonzalez etal, 1991)
Kết luận: Tóm lại việc phân tích các loại hình phiên dịch khác nhau đã chỉ ra
rằng: cho dù có thuộc loại hình phiên dịch nào đi chăng nữa thì phiên dịch viên trên toàn thế giới cũng đều thực hiện một công việc, đều phải có trình độ và năng lực Bản chất của phiên dịch không phải là yếu tố tạo ra sự khác biệt tương đối về điều
Trang 26kiện làm việc và địa vị xã hội của người phiên dịch mà là do các yếu tố ngoại cảnh
đã ảnh hưởng đến nhu cầu về các dịch vụ phiên dịch Vậy biện pháp để làm sự khác biệt này là phải công nhận sự tương đồng trong công việc của người phiên dịch và xây dựng thể chế trong tình hữu nghị một cách chuyên nghiệp nhằm liên kết các nhà phiên dịch lại với nhau để cùng cố gắng đạt được mục tiêu chung
1.6 Sự cần thiết của trang thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và hướng dẫn thực tập phiên dịch.
Trong những năm gần đây, do sự phát triển ngày càng mạnh của khoa học kỹ thuật việc dạy và học ngoại ngữ đặc biệt là bộ môn phiên dịch có nhiều tiến bộ mới Các thành tựu khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng không ít tới quá trình dạy và học ngoại ngữ Việc đưa các thiết bị của khoa học vào giảng dạy là một việc làm tất yếu, cần thiết, đáp ứng nhu cầu giao tiếp ngày càng cao của người học và phù hợp với mục đích của việc dạy và học ngoại ngữ trong giai đoạn mới Giai đoạn phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, giao lưu văn hoá, trao đổi thông tin, do vậy nhu cầu
về các phiên dịch có năng lực là vô cùng cấp bách và cần thiết Như chúng ta đã biết, một phiên dịch sau khi ra trường phải có khả năng diễn đạt ngôn ngữ lưu loát với độ chuẩn xác cao về các vấn đề chuyên môn cũng như về xã hội Và những sinh viên này phải có khả năng phiên dịch cho các hội thảo, hội nghị quốc tế cũng như các phiên họp thông thường khác Các phương tiện máy móc (ghi âm, truyền hình, máy tính, đèn chiếu, phim…) được sử dụng triệt để và có hiệu quả cao đối với những kỹ năng cần thiết trong thực hành phiên dịch đó là nghe tập trung, ghi nhớ, ghi chép lại ý chính, phân tích nội dung văn bản và trình bày diễn đạt lưu loát thông qua những hình thức luyện tập như: nghe tập trung - ghi nhanh - kể lại nội dung hoặc là nghe nhanh - nhớ nhanh - kể lại luôn nội dung
Trong điều kiện Việt Nam, việc dạy và học ngoại ngữ đang là trung tâm chú ý của Nhà nước Ở bậc đại học "Cần vững mạnh việc trau dồi ngoại ngữ rất cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu chuyên môn" Nghị quyết của Thủ tướng Chính phủ ngày 7/9/1972 đã nêu "Từng bước trang bị cho trường những phương tiện hiện đại cần thiết, trước hết là những thiết bị nghe nhìn và luyện tiếng, và cung cấp những sách báo chuyên môn về giảng dạy ngoại ngữ cho cán bộ và học sinh"
Trang 27Xuất phát từ những yêu cầu trên đây, trong phần này chúng tôi sẽ bàn tới những phần sau đây:
- Sự cần thiết của trang thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và hướng dẫn thực tập phiên dịch
- Nhu cầu sử dụng thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và học ngoại ngữ ở một trường đại học chuyên ngữ nói chung
- Việc áp dụng thiết bị kỹ thuật vào giảng dạy và hướng dẫn thực tập phiên dịch cần phải tính đến những cơ sở khoa học
1 Sự cần thiết của trang thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và hướng dẫn thực tập phiên dịch.
Trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ (nhất là khẩu ngữ) việc sử dụng những thiết bị kỹ thuật hiện đại là một trong những vấn đề có triển vọng lớn nhất và là một
bộ phận không thể tách rời và cần thiết của cơ sở lý luận và phương pháp luận chung của khoa học ngoại ngữ Sử dụng hợp lý thiết bị kỹ thuật trong giảng dạy ngoại ngữ có tác dụng làm cho quá trình học tiếng nước ngoài đạt hiệu quả cao hơn, nhanh hơn và chất lượng hơn về mọi mặt, cả khẩu ngữ cũng như về mặt truyền đạt, tiếp thu, thực hành, củng cố và mở rộng kiến thức của học sinh
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã gây ra nhiều ảnh hưởng tích cực đến việc dạy và học ngoại ngữ Người ta đã đưa vào nhà trường một số thiết bị kỹ thuật trong đó có các phương tiện nghe nhìn Các phương tiện nghe nhìn là những công
cụ quý báu đối người dạy trong các giai đoạn của việc giảng dạy ngoại ngữ ở nhà trường Những phương tiện này đang ngày càng được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trên thế giới Ngày nay trong một trường chuyên dạy và ngoại ngữ, người dạy không thể thỏa mãn trong việc sử dụng bảng đen hoặc một vài hình ảnh dùng làm trực quan giảng dạy Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi người dạy phải tạo ra một môi trường tiếng và làm cho học sinh nói về những chủ điểm nhất định theo những tình huống cụ thể nhất định Các phương tiện nghe nhìn cho phép tạo ra môi trường học tiếng và giới thiệu ngữ pháp - từ vựng gắn liền với tình huống cụ thể Điều đó giúp cho học sinh sử dụng ở mức độ nhanh nhất ngữ liệu tiếp thu được trong những tình huống tương tự Trong việc tiếp thu ngữ liệu của học sinh
Trang 28các phương tiện nghe nhìn có tác dụng kích thích, tích cực hoá hoạt động của học sinh Để học sinh đạt được mục đích cuối cùng là sử dụng thành tạo tiếng nước ngoài, người ta cố gắng sử dụng các phương tiện nghe nhìn tập trung trong phòng học tiếng Phòng học tiếng là một bộ phận khăng khít của việc dạy và học ngoại ngữ, tuy nhiên
nó không thể và không bao giờ có thể thay thế hoạt động dạy ở trên lớp mà trái lại
nó gắn bó và hoàn thiện công việc dạy của thầy giáo và học của học sinh
Tóm lại: Việc áp dụng thiết bị kỹ thuật vào dạy và học ngoại ngữ đem lại nhiều hiệu quả lớn, thiết bị kỹ thuật được sử dụng cho phép:
- Mở rộng khả năng của thầy giáo trong việc truyền đạt thông báo
- Nâng cao hiệu quả điều khiển hoạt động của học sinh trong tiến trình một bài học cụ thể
- Tích cực hoá việc luyện tập người học trong một số hình thức hoạt động lời nói đặc biệt là những hình thức phiên dịch cơ bản đó là phiên dịch nối tiếp (consecutive) và phiên dịch song song (simultaneous) Và những hình thức phiên dịch này được áp dụng để hướng dẫn thực tập phiên dịch tại trường Các chủ điểm
về hình thức thực tập thể hiện gần giống như tiến hành các môn học nhưng mang tính chuyên sâu cho các chuyên ngành Chẳng hạn về lĩnh vực Kinh tế - Xã hội, chúng tôi đưa vào những chủ điểm ví dụ như:
+ Bảo tồn các khu phố cổ (Hà Nội, Hội An đặc điểm, cộng đồng dân cư, chính quyền, giá trị văn hoá, phương pháp bảo tồn…)
+ Gia nhập WTO thời cơ và thách thức (lộ trình, quy chế, giải quyết tranh chấp, những cái được, cái mất…)
Về lĩnh vực Y tế và Giáo dục, chúng tôi đưa vào những chủ điểm như:
+ Thuốc Tamiflu, nhập khẩu hay tự sản xuất (kỹ thuật, luật pháp, thuận lợi, khó khăn về tài chính)
+ Tuyển sinh đại học (bất cập và giải pháp, mô hình của các nước tiên tiến áp dụng đối với Việt Nam….)
Và những chủ điểm này thường được thực hiện dưới nhiều hình thức giao tiếp phong phú và trong những bài phát biểu, diễn văn, hội nghị quốc tế, họp báo, toạ đàm, hội nghị khoa học, phỏng vấn, đàm phán thương lượng, ký kết hợp đồng…
Trang 29Sinh viên thực tập sẽ tham gia đóng vai các nhân vật quan trọng phát biểu, phiên dịch viên và những nhà báo đến phỏng vấn… Các phương thức trên được áp dụng một cách linh hoạt tuỳ theo sáng tạo và khả năng tổ chức của giáo viên hướng dẫn
và tiến hành thực tập trong các phòng học tiếng và trong các phòng hội thảo… Việc thực tập ở những địa điểm này chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao hơn là tiến hành ở trên lớp học bình thường mà không có trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ
2 Nhu cầu sử dụng thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và học ngoại ngữ ở một trường đại học chuyên ngữ nói chung.
Do yêu cầu mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển kinh tế xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã chú ý đầu tư những thiết bị kỹ thuật hiện đại trong các ngành nói chung và trong ngành giáo dục nói riêng Cho nên trong Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã nêu những yêu cầu cơ bản của cải cách giáo dục đối với công tác thiết bị trường học
"Cơ sở vật chất và kỹ thuật của nhà trường là những điều kiện vật chất cần thiết giúp cho học sinh nắm vững kiến thức, tiến hành lao động sản xuất thực nghiệp và nghiên cứu khoa học Đưa vào trường học những phương tiện kỹ thuật hiện đại, máy ghi âm, điện ảnh, vô tuyến truyền hình và những phương tiện kỹ thuật nghe nhìn khác…"
Việc trang bị các thiết bị kỹ thuật trong các trường không những trong các trường đại học mà là cả trong các trường phổ thông đã trở thành một nhu cầu mới của xã hội
Việc sử dụng thiết bị dạy học có thể rút ngắn thời gian, rèn luyện kỹ năng và tăng hiệu quả đào tạo rất nhiều Chẳng hạn một sinh viên phiên dịch sau khi học sẽ đảm bảo được những kỹ năng cơ bản như kỹ năng diễn đạt ngôn ngữ vững vàng cả tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ, chuyển ngữ tốt, tạo được những đoạn dịch dễ hiểu và trong sáng về mặt ngôn ngữ, có hiểu biết về vốn văn hoá chung của nhân loại, kỹ năng tư duy, ghi nhớ tốt và kỹ năng ghi chép lại văn bản chính xác
Trường ta là trường ngoại ngữ nên việc sử dụng thiết bị kỹ thuật trong việc dạy và học đại học càng cần thiết Là một trung tâm đào tạo cán bộ, giáo viên dạy tiếng nước ngoài, vấn đề sử dụng thiết bị kỹ thuật để giảng dạy càng phải được coi
Trang 30trọng Giáo trình sẽ được nâng cao, phương pháp giảng dạy sẽ ngày càng phong phú, hiện đại, việc giảng dạy bằng thiết bị kỹ thuật nhất định phải được coi trọng đúng mực.
3 Việc áp dụng thiết bị kỹ thuật vào giảng dạy và hướng dẫn thực tập phiên dịch cần phải tính đến những cơ sở khoa học sau đây:
a Cơ sở tâm lý học
Các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đã cho chúng ta thấy rõ vai trò và tác dụng của việc sử dụng thiết bị kỹ thuật vào dạy và học ngoại ngữ
Thực hành tiếng là một hoạt động có ý thức của con người dùng ngôn ngữ với
tư cách là công cụ để nhận thức và để thông báo Bản chất của thực hành ngôn ngữ
là hai quá trình sản sinh và tri giác lời nói diễn ra dưới dạng nói, nghe, đọc, viết Do vậy ta muốn thông qua tai nghe, mắt thấy mà tác động vào trí nhớ vào óc thông minh của người học để luyện tập kỹ năng, kỹ xảo lời nói, thì ta phải dựa trên nhận thức khoa học về ngôn ngữ và phải phù hợp với diễn biến tự nhiên của tâm lý con người Con người với tiếng nói của mình là một Từ cái tai tiếp thu âm thanh, cách phát âm đến các các dây thanh quản và các thớ thịt của cơ quan cấu âm căng lên hay chùng ra đều đã được tập luyện chuyên chú và đều tham gia vào việc lĩnh hội
sự vật Theo K.D Usinxky "Càng nhiều giác quan tham gia vào việc lĩnh hội một
ấn tượng hay một nhóm ấn tượng nào đó thì những ấn tượng đó càng bền vững trong ký ức cơ chế thần kinh của chúng ta Chúng càng được giữ chính xác trong bộ nhớ đó và càng được tái hiện nhanh chóng hơn" Vì các ấn tượng do các kiểu lĩnh hội đưa lại có những mối liên hệ với nhau song lại độc lập với nhau nên phải lặp đi lặp lại sự lĩnh hội bằng các con đường trong đó việc sử dụng phương tiện kỹ thuật (thiết bị nghe nhìn) cho phép hình thành mối liên hệ bền vững Nếu không sẽ xảy ra hai trường hợp: nhận biết sự vật mà quên từ hoặc ngược lại nhận biết từ (ở dạng âm thanh hoặc chữ viết) mà quên mất ý nghĩa Thực tế giảng dạy cho thấy rằng một khái niệm được lĩnh hội bằng cả hai giác quan nghe và nhìn (có sử dụng thiết bị kỹ thuật) sẽ được nhớ lâu, chính xác và khi cần sẽ tái hiện nhanh hơn
Tóm lại: Thiế bị kỹ thuật là phương tiện tốt nhất để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo lời nói, đặc biệt là rèn luyện hình thức luyện tập phiên dịch cơ bản (phiên dịch nối
Trang 31tiếp và phiên dịch song song).
- Càng sử dụng nhiều tri giác thì quá trình học càng tốt
và bằng thị giác thấy được tình huống trong đó nó được sử dụng Điều đó cho phép hình thành sự tự động hoá việc sử dụng ngữ liệu Điều đó cho phép hình thành sự tự động hoá việc sử dụng ngữ liệu ngôn ngữ, đồng hoá âm thanh, ngữ điều, nhịp điều
và mọi sắc thái của lời nói
Hình ảnh trong giảng dạy ngôn ngữ không chỉ có tác dụng minh hoạ ở giai đoạn đầu học ngoại ngữ, hình ảnh là một yếu tố cần thiết giúp người học hiểu được môt cách trực tiếp đơn vị ngôn ngữ của tiếng nước ngoài không cần qua khâu trung gian là dịch thuật, với điều kiện là hình ảnh đó chỉ đơn thuần là sự biểu hiện một thực tế hoàn toàn quen thuộc với học sinh Việc sử dụng các loại máy chiếu hình tĩnh (chiếu phim) và phim điện ảnh tạo điều kiện thực hiện đầy đủ nguyên tắc trực quan nhìn này
Để đảm bảo việc dạy và học ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp cần phải
Trang 32áp dụng thiết bị kỹ thuật chủ yếu là các thiết bị nghe nhìn tổng hợp Trong việc sử dụng kết hợp hình ảnh với âm thanh ghi âm, hình ảnh bù đắp lại các việc mà việc ghi âm làm mất đi "Khi một văn bản nói được ghi vào máy ghi âm thì không còn tình huống nữa, một lần nữa nó trở nên tách rời tình huống, hoàn toàn như một văn bản viết Đó chính là lý do mà ta cần đến phim bất động trong giảng dạy ngôn ngữ - loại phim này cho phép tạo lại tình huống của văn bản nói…" (M.A.K.Halliday, nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng) Như vậy hình ảnh tham gia trực tiếp và là một yếu tố quan trọng, một trợ lý của âm thanh trong việc sử dụng thiết bị kỹ thuật.Tóm lại: Cơ sở lý luận (về mặt ngôn ngữ học) của việc áp dụng phương tiện kỹ thuật vào giảng dạy ngoại ngữ là mối quan hệ chặt chẽ giữa hình ảnh và âm thanh Thật vậy nghĩa của một từ được hiểu trước hết bằng hình ảnh (dùng phim đèn chiếu, máy chiếu ảnh…) bằng tri giác (bằng mắt, bằng tai) những yếu tố phụ của ngữ cảnh Hiểu được nghĩa của từ rồi học sinh sẽ tìm hiểu lại toàn bộ nghĩa của bài khoá qua hình ảnh được chiếu lên Hình ảnh kết hợp với hình thức nghe làm dễ thêm quá trình tiếp thu kiến thức, quá trình tái hiện và ghi nhớ lại bằng ngôn ngữ của người học Mặt khác nếu vốn ngôn ngữ của người học cho phép, hình ảnh có thể giúp người học sáng tạo ra những đoạn hội thoại khác nhau theo một chủ đề cụ thể nhưng với những cách diễn đạt khác nhau.
- Tranh, hình ảnh được máy chiếu lên đóng vai trò chủ yếu trong việc hiểu nghĩa từ và quá trình ghi nhớ tái hiện
- Âm thanh (được máy ghi hoặc phát ra) đóng vai trò quan trọng trong việc phát âm, luyện ngữ điệu, tiết tấu, học sinh phải có khả năng vận dụng lại bền bỉ những cấu trúc mới đó trong những ngữ cảnh khác nhau đến khi vận dụng đó trở nên thuần thục, thành thạo, tự động hoá Do vậy, phương tiện tốt nhất có thể đáp ứng những đòi hỏi đó là máy ghi âm và phòng học tiếng
Hai quá trình âm và hình ảnh này bổ sung chặt chẽ cho nhau trong quá trình học tiếng và tạo nên tác dụng to lớn của thiết bị kỹ thuật
c Cơ sở giáo học luận:
Như chúng ta đã biết: Nội dung dạy và học ngoại ngữ là một trong những vấn
đề cơ bản của giáo học pháp Xác định đúng đắn nội dung cho phù hợp với mục
Trang 33đích đề ra là một bảo đảm cho sự thành công của quá trình dạy học.
Bác Hồ đã từng dạy: "… Phải tìm cách dạy… dạy thế nào để học trò hiểu chóng nhớ lâu, tiến bộ nhanh Trong lúc học cũng cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học" Việc áp dụng thiết bị kỹ thuật vào giảng dạy và học ngoại ngữ là một trong những cách học giúp học sinh hình thành một cách nhanh chóng và vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo lời nói, hiểu và ghi nhớ lâu ngữ điệu, đồng thời hiểu được những khái niệm và hiện tượng xa lạ về đất nước mà học sinh học tiếng
Mục đích và nội dung của phương hướng thực hành là đạt được nhu cầu giao tiếp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo lời nói (nghe, nói, đọc, viết) Để đạt được nhu cầu giao tiếp thì cần phải có môi trường tiếng để học sinh thực hành, môi trường tiếng được tạo ra tốt nhất là khi chúng ta sử dụng thiết bị kỹ thuật Thật vậy chỉ cần nghe một vài đoạn băng tài liệu hoặc văn học nghệ thuật, chứ chưa nói là xem một cuốn phim khoa học thường thức, hay một cuốn phim truyện, thì trong những điều kiện nhất định cũng đã có lợi cho sự phát triển những kỹ năng lời nói hơn là ngồi một chỗ học thuộc lòng một quy tắc nào đó hoặc làm một bài tập dịch viết trong cùng một thời gian như nhau Những phương tiện kỹ thuật được áp dụng để tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khoá văn hoá quần chúng bằng tiếng nước ngoài lại càng có hiệu quả đặc biệt
Đồng thời quá trình dạy và học ngoại ngữ luyện tập là chính nên chỉ có sử dụng thiết bị kỹ thuật thì mới đáp ứng được yêu cầu đó Thật vậy, nhờ có thiết bị kỹ thuật băng ghi âm được phát đi phát lại nhiều lần sẽ làm cho lời nói chuẩn mực trở thành đối tượng của sự mô phỏng và phân tích tỷ mỉ có chủ định, kích thích được tối đa năng lực phân tích và bắt chước của người học Mặt khác kỹ năng nghe tự kiểm tra đã phát triển nhanh chóng ngay từ giai đoạn đầu học khẩu ngữ tạo điều kiện cho việc học tiếng đạt kết quả ở những giai đoạn sau
Việc sử dụng một cách rộng rãi và có hệ thống những thiết bị kỹ thuật cho phép thực hiện một cách đầy đủ nhất những nguyên tắc chung và riêng của giáo học luận như là:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực: Tính tích cực là một đặc điểm nổi bật