Kết quả của bài nghiên cứu này dựa trên mô hình tự hồi quy véc-tơ, có phần trái ngược với quan điểm truyền thống quan điểm truyền thống cho rằng ERPT tác động đến giá nhập khẩu và giá ti
Trang 1MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
I Tổng quan nghiên cứu: 2
1.1 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.2 Phương pháp nghiên cứu: 2
1.3 Kết quả nghiên cứu: 3
II Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá (ERPT): 5 2.1 Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nước phát triển: 5
2.2 Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nền kinh tế mới nổi: 6
2.3 Các nghiên cứu giải thích tại sao ERPT là không hoàn toàn: 7
2.4 Vai trò của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa: 8
2.5 Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào mức độ lạm phát: 9
2.6 Nghiên cứu về ERPT và mức độ mở cửa thương mại của một quốc gia: 9
III Đo lường hiệu ứng ERPT: 11
3.1 Mô hình và phương pháp luận: 11
3.2 Mô tả mẫu: 12
IV Kết quả: 16
4.1 Kết quả thực nghiệm: 16
4.2 Kiểm định Robustness: 19
4.2.1 Mô hình thay thế 1: 19
4.2.2 Mô hình thay thế 2: 21
V Kết luận: 24
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu: 24
5.2 Hạn chế của nghiên cứu: 24
5.3 Đề xuất từ nghiên cứu: 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 26
PHỤ LỤC: NGUỒN DỮ LIỆU 28
Trang 2TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bài viết nghiên cứu mức độ truyền dẫn tỷ giá (ERPT) tới giá cả ở 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Kết quả của bài nghiên cứu này dựa trên mô hình tự hồi quy véc-tơ, có phần trái ngược với quan điểm truyền thống (quan điểm truyền thống cho rằng ERPT tác động đến giá nhập khẩu và giá tiêu dùng tại các quốc gia mới nổi luôn cao hơn các quốc gia phát triển)
Kết quả nghiên cứu đưa ra vấn đề sau: Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá là thấp ở các nước mới nổi có lạm phát là một con số và không quá khác biệt so với ERPT tại các nền kinh tế phát triển Nghiên cứu cũng đưa ra những bằng chứng về mối tương quan dương giữa hiệu ứng ERPT và lạm phát Cuối cùng, mối tương quan dương giữa mức
độ mở cửa nhập khẩu và ERPT theo nghiên cứu thực nghiệm thì được cho là yếu
Trang 3I Tổng quan nghiên cứu:
Đứng trên khía cạnh chính sách, việc hiểu biết về tác động của biến động tỷ giá lên mặt bằng giá cả rất quan trọng trong việc đo lường sự tác động của chính sách tiền
tệ lên sự biến động tiền tệ Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng biến động tỷ giá hối đoái và mặt bằng giá cả không đi đôi trong ngắn và trung hạn theo một tài liệu
lý thuyết phổ biến trong 3 thập kỷ qua, đưa ra những giải thích khác nhau về việc truyền dẫn tỷ giá đến giá nhập khẩu va giá tiêu dùng là chưa hoàn toàn Phân tích thực nghiệm cũng đã cung cấp bằng chứng về sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia trong vấn đề ERPT Một tranh luận lớn về vấn đề này đã được đề xuất bởi Taylor (2000), ông đưa ra giả thuyết là sự phản ứng của giá cả trước biến động tỷ giá phụ thuộc đáng
kể vào lạm phát
Bài nghiên cứu “EXCHANGE RATE PASS-THROUGH IN EMERGING MARKETS” của Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez trình bày một cách ngắn gọn kết quả của các tài liệu nghiên cứu trước đây, khám phá tầm quan trọng của ERPT và sự khác biệt giữa các quốc gia bằng cách áp dụng mô hình (VAR) cho các nước thị trường mới nổi và các nền kinh tế công nghiệp chủ yếu
1.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Để biết được mức độ truyền dẫn tỷ giá, bài nghiên cứu xem xét mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hoái đối đến giá cả trên 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu các vấn đề sau:
Mức độ truyền dẫn ERPT ở các nền kinh tế mới nổi và ERPT ở các nước này
có khác biệt với các nước phát triển không?
Mối tương quan giữa ERPT và lạm phát
Mối tương quan giữa ERPT và mức độ mở cửa
1.2 Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận chủ yếu của McCarthy (2000) trong mô hình cho các nước tiên tiến và được áp dụng bởi Hahn (2003) khu vực Euro Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình VAR, dựa trên các biến cơ bản như các biến sản lượng đầu ra, tỷ giá hối đoái, giá nhập khẩu và giá tiêu dùng, mức lãi suất ngắn hạn, và giá
Trang 4dầu Cách tiếp cận bằng mô hình VAR cho phép xử lý được hiện tượng nội sinh giữa các biến mà nhóm tác giả quan tâm Cơ cấu lựa chọn mô hình là để theo dõi các phản ứng của các biến với những cú sốc từ bên ngoài theo thời gian
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống cho các nước trong ba khu vực thị trường mới nổi chính trên thế giới, cụ thể là, châu
Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu Đồng thời, tác giả cũng sử dụng cách tiếp cận tương tự với ba nền kinh tế công nghiệp lớn, cụ thể là khu vực Euro, Mỹ và Nhật Bản
để so sánh hai nhóm nước này với nhau Bằng cách ước tính mô hình mỗi quốc gia là trong thời gian trở về trước xa nhất có thể, nhóm tác giả hướng đến mức độ chính xác cao nhất có thể trong việc ước tính ERPT cho mỗi quốc gia Theo đó, một thành phần quan trọng để phân tích là việc tạo ra một cơ sở dữ liệu phù hợp và so sánh cho mỗi quốc gia ở tần suất hàng quý Điều này giúp đảm bảo việc tiếp cận hệ thống dựa trên những biến có tương quan cao để đầy đủ và tránh việc những biến sai lệch bị loại trừ
Sau đó nhóm tác giả sử dụng các kết quả các nước này để kiểm tra quan điểm truyền thống rằng có phải ERPT tại thị trường mới nổi cao hơn các nền kinh tế công nghiệp và nghiên cứu mô hình truyền dẫn tỷ giá trong mối quan hệ tương quan theo
Mc Cathy và Choudhri & Hakura Việc ERPT cao hay không tại thị trường mới nổi
có ý nghĩa trong việc xác định cán cân thương mại và sự chọn lựa tỷ giá hối đoái của quốc gia đó Nếu truyền dẫn tại thị trường mới nổi là thấp thì có thể hiểu rằng sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp ở các nước này ngày càng tăng và không hề suy giảm Tuy nhiên, tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, điều khó khăn là làm sao ước tính được mức độ tin cậy trong việc ERPT Một số quốc gia châu Á theo đuổi những chính sách nhằm kiểm soát tỷ giá hối đoái Các nước Trung và Đông Âu đã trải qua một biến đổi triệt để nền kinh tế của họ trong những năm 1990 Cuối cùng, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước Mỹ Latinh chịu sự bất ổn kinh tế vĩ mô mạnh mẽ đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát rất cao và / hoặc những biến động mạnh mẽ trong lãi suất và tỷ giá hối đoái
1.3 Kết quả nghiên cứu:
Kết quả là ERPT làm sụt giảm trên toàn chuỗi giá cả, tuy nhiên giá tiêu dùng thì giảm thấp hơn giá nhập khẩu (tỷ giá có tác động không lớn đến lạm phát bằng tác
Trang 5động lên giá nhập khẩu) Ngoài ra còn có bằng chứng cho thấy rằng ERPT có tác động không cao đối với các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ và giá tiêu dùng ở Nhật Bản Đối với các nền kinh tế mới nổi với mức lạm phát chỉ ở mức một con số (đặc biệt là các nước châu Á trong mẫu của nhóm tác giả), ERPT là thấp và không quá khác biệt với ERPT trong các nền kinh tế phát triển
Một cách tổng quát, bài nghiên cứu này đưa ra nhận định chung về mối tương quan dương giữa mức độ ERPT và lạm phát (phù hợp với giả thuyết của Taylor) tại các thị trường mới nổi Mối tương quan này có ý nghĩa thống kê trên cả ba mô hình
mà nhóm tác giả đã thực hiện (mô hình cơ bản và hai mô hình thay thế) Kết quả này trở nên rõ ràng hơn sau khi hai nước Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ được loại trừ do những khó khăn liên quan đến hàng loạt bất ổn kinh tế vĩ mô nghiêm trọng xảy ra trên hai nước này (hai quốc gia này đã trải qua áp lực lạm phát mạnh mẽ trong giai đoạn mẫu được xem xét)
Cuối cùng là tìm thấy mối tương quan dương giữa ERPT và độ mở cửa, tuy nhiên mối tương quan này là yếu, ngay cả khi đã kiểm soát lạm phát
Trang 6II Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá (ERPT):
Trong hai thập kỷ qua học thuyết kinh tế về truyền dẫn tỷ giá (ERPT) ngày càng phát triển Bắt đầu từ việc khác nhau trong các luận điểm, nghiên cứu thực nghiệm xem xét vai trò của ERPT trong các nền kinh tế nhỏ và lớn
2.1 Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nước phát triển:
Bao gồm các nhóm tác giả như Anderton (2003), Campa và Goldberg (2004), Campa (2005), Gagnon và Ihrig (2004), Hahn (2003), Ihrig (2006) và McCarthy (2000)
Anderton (2003): “Extra-Euro Area Manufacturing Import Prices and Exchange
Rate Pass-Through”
Sự truyền dẫn trong thay đổi tỷ giá đồng Euro tới giá sản phẩm nhập khẩu trong khu vực ngoài châu Âu thì dao động khoảng 50%-70% Trong khi giá thị trường thì ước tính dao động từ 30%-50%
Các quốc gia thành viên Châu Âu nhưng không phải trong khu vực chung Châu Âu áp một mức lớn hơn lên giá thị trường trong khi khu vực chung Châu Âu nhập khẩu từ Mỹ chịu mức độ ảnh hưởng lớn của ERPT
Campa và Goldberg (2004): “Exchange Rate Pass-Through into Import Prices”
Đánh giá mức độ truyền dẫn tỷ giá vào giá nhập khẩu của 23 nước OECD Các nước có tỷ giá hối đoái và lạm phát biến động ít hơn có thể sẽ có tỷ lệ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá nhập khẩu thấp hơn
Điều quan trọng cho sự thay đổi truyền dẫn là một thay đổi đáng kể trong thành phần của cơ cấu hàng nhập khẩu quốc gia
Campa, Goldberg và González-Mínguez (2005): “Exchange Rate Pass-Through
to Import Prices in the Euro Area”
Phân tích thực nghiệm sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến giá nhập khẩu, giữa các nước và các loại sản phẩm, trong khu vực đồng Euro
Không tìm thấy bằng chứng thuyết phục rằng sự ra đời của đồng Euro gây ra một sự thay đổi trong sự truyền dẫn của tỷ giá vào giá
Hahn (2003): “Pass-Through of External Shocks To Euro Area Inflation”
Trang 7Việc truyền dẫn là lớn nhất và nhanh nhất đối với cú sốc bên ngoài đó là cú sốc giá nhập khẩu mặt hàng không phải dầu mỏ, tiếp đến là cú sốc về thay đổi tỷ giá, và cuối cùng là cú sốc về giá dầu
Tốc độ và mức độ truyền dẫn của các cú sốc giảm dần dọc theo chuỗi phân phối
Ihrig và cộng sự (2006): “Exchange Rate Pass-Through in the G-7 countries”
Có sự sụt giảm giá nhập khẩu và biến động giá tiêu dùng gần như tất cả các nước G7 trước các biến động tỷ giá hối đoái Khoảng một nửa các quốc gia này có sự biến động sụt giảm đáng kể trong các khoảng thời gian từ 1975-1989 và 1990-2004
Biến động tỷ giá hối đoái cho cả hai giá tiêu dùng và nhập khẩu đã giảm trong cùng một khoảng thời gian Phần lớn biến động giá tiêu dùng được giải thích bởi sự suy giảm trong biến động tỷ giá hối đoái
Những nước mà sự suy giảm trong giá cả nhập khẩu và biến động giá tiêu dùng cũng tương đối lớn, cho thấy giảm biến động giá nhập khẩu có thể giải thích sự thay đổi trong biến động giá tiêu dùng
McCarthy (2000): “Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices to
Domestic Inflation in Some Industrialized Economies”
Bài nghiên cứu này xem xét hiệu ứng truyền dẫn vào giá nhập khẩu, PPI, CPI hàng quý của 9 nước phát triển
Kết quả chỉ ra rằng hiệu ứng truyền dẫn là rất nhỏ, và cao nhất ở giá nhập khẩu, tiếp đến là PPI và cuối cùng là CPI Sự truyền dẫn là lớn hơn ở những nước có thị phần nhập khẩu lớn và cú sốc tỷ giá hối đoái dai dẳng hơn
2.2 Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nền kinh tế mới nổi:
Như các nghiên cứu của Choudhri và Hakura (2006), Frankel (2005) và Mihaljek (2000)
Choudri và Hakura (2006): “Exchange Rate Pass-Through to Domestic Prices:
Does the Inflationary Environment Matter?”
Bài nghiên cứu này dựa trên cơ sở dữ liệu của 71 nước phát triển và mới nổi trong giai đoạn 1979 – 2000 để kiểm chứng mối quan hệ giữa lạm phát, mức độ tuyền dẫn và sức mạnh định giá của các công ty
Trang 8Mức độ truyền dẫn có mối tương quan đáng kể với tỷ lệ lạm phát trung bình
Dubravko Mihaljek and Marc Klau: “A Note on the Pass-Through from
Exchange Rate and Foreign Price Changes to Inflation in Selected Emerging Market Economies”
Jeffrey Frankel, David Parsley, and Shang-Jin Wei: “Slow Pass-Through Around
the World: A New Import for Developing Countries”
Hệ số truyền dẫn cao hơn đáng kể trong một môi trường lạm phát cao Thường thì chúng cũng bị ảnh hưởng bởi một môi trường có tỷ giá thay đổi tạm thời
2.3 Các nghiên cứu giải thích tại sao ERPT là không hoàn toàn:
Các nhà kinh tế thường đưa ra giả định đơn giản là giá cả của hàng hóa có thể giao dịch – biểu hiện trong cùng loại tiền tệ - được cân bằng giữa các quốc gia, theo lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) Tuy nhiên, giả thiết này không được hỗ trợ nhiều trong thực nghiệm, ít nhất là trong trường hợp các mẫu nhỏ trong ngắn hạn và trung hạn Các tài liệu lý thuyết phát triển trong hai thập niên vừa qua cũng cung cấp lời giải thích khác nhau tại sao ERPT là không hoàn toàn
Một vài giả thuyết đã được đưa ra để giải thích sự giảm sút này trong hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái và sự khác nhau của hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia Trong bài nghiên cứu “Exchange rates and prices” của Dornbusch (1987), ông cho rằng cho rằng nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm hiệu ứng truyền dẫn trong tỷ giá hối đoái do có các công ty trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sẽ điều chỉnh mark-up tăng lên (không chỉ điều chỉnh mỗi giá cả) để phản ứng với một cú sốc tỷ giá hối đoái Burstein (2003) nhấn mạnh vai trò của yếu tố đầu vào nội địa (hàng hóa được sản xuất và giao dịch trong nước (non-trade)) trong việc phân phối chuỗi hàng hóa xuất khẩu (tradable good) Cũng trong một bài nghiên cứu của mình (2005), Burstein tập trung vào vấn đề đo lường trong chỉ số CPI,
bỏ qua việc điều chỉnh giá trị của hàng hóa xuất khẩu khi có sự điều chỉnh lớn trong
tỷ giá hối đoái Cụ thể như sau:
Dornbusch (1987): “Exchange Rates and Prices”
Trang 9Nghiên cứu xem những lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều và những lĩnh vực bị ảnh hưởng ít khi tỷ giá thay đổi.Sự thay đổi của tỷ giá làm cho các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng mạnh
Dự đoán về sự di chuyển quốc tế của các công ty và sự mất cân bằng tỷ giá hối đoái trong tương lai
Burstein và cộng sự (2003): “Distribution Costs And Real Exchange Rate
Dynamics During Exchange-Rate-Based-Stabilizations”
Nghiên cứu vai trò của các lĩnh vực phân phối trong việc hình thành hành vi của tỷ giá hối đoái thực trong quá trình thay đổi tỷ giá
Chi phí phân phối là một trong những lý do tại sao PPP thất bại vì chi phí phân phối thường không được coi là yếu tố quyết định quan trọng của RER
Burstein và cộng sự (2005): “Large Devaluations and the Real Exchange Rate”
Nguyên nhân chính đằng sau sự sụp đổ lớn trong tỷ giá hối đoái thực xảy ra sau khi phá giá lớn là sự điều chỉnh giảm trong giá hàng hóa chỉ sản xuất và tiêu dùng trong nước chứ không phải là sự thất bại của tương quan PPP đối với hàng hoá xuất khẩu
2.4 Vai trò của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa:
Một luận điểm khác nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa và tiền tệ bù đắp một phần những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá (Gagnon và Ihrig, 2004), Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003) đã khám phá vai trò của giá cả nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT
Gagnon và Ihrig (2004): “Monetary Policy And Exchange Rate Pass-Through”
Tìm thấy bằng chứng cho rằng việc điều hành chính sách tiền tệ là yếu tố tác động tới việc truyền dẫn
Khi doanh nghiệp tín nhiệm và tin vào việc ổn định lạm phát của ngân hàng trung ương thì ít có sự biến động sẽ làm giảm sự chuyển dịch của tỷ giá vào giá trong nước
Devereux và Engel (2001): “Endogenous Currency Of Price Setting In A Dynamic
Open Economy Model”
Trang 10Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể lựa chọn đồng tiền mà họ được định giá cho việc bán hàng ra thị trường nước ngoài
Một quốc gia có chính sách tiền tệ có nhiều biến động sẽ thấy rằng giá nhập khẩu sẽ được thiết lập lại bằng ngoại tệ (theo đồng tiền của người bán), và có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tỷ giá hối đoái sang giá nhập khẩu
Một đất nước có chính sách tiền tệ ít biến đổi và thị trường tài chính quốc tế hoàn hảo có nhiều khả năng thiết lập giá hàng hóa nhập khẩu theo đồng nội tệ và sự chuyển dịch của tỷ giá là rất thấp
Bacchetta và Van Wincoop (2003): “Why Do Consumer Prices React Less Than
Import Prices To Exchange Rates?”
Mức độ truyền dẫn của biến động tỷ giá lên giá tiêu dùng thấp hơn nhiều so với giá nhập khẩu Các nhà xuất khẩu có xu hướng định giá bằng đồng tiền của nước xuất khẩu và nhà sản xuất định giá bằng nội tệ, trong trường hợp này sự chuyển dịch hoàn toàn lên giá nhập khẩu và không có sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng
Các nhà sản xuất hàng hóa cuối cùng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá bên cạnh chi phí sản xuất, nên họ muốn đặt giá bằng nội tệ để tránh biến động giá lớn so với hàng tiêu dùng khác
2.5 Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào mức độ lạm phát:
Một số nghiên cứu thực nghiệm cho các nền kinh tế tiên tiến và các nền kinh tế mới nổi đã tìm thấy bằng chứng của ERPT không hoàn toàn Các nghiên cứu này cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia về những yếu tố cơ bản quyết định đến việc truyền dẫn Có thể giải thích cho vấn đề này thông qua các biến số vĩ mô, đặc biệt là lạm phát
Theo Taylor (2000) thì sự phản ứng của giá cả trước biến động tỷ giá phụ thuộc đáng
kể vào lạm phát Ông khẳng định rằng môi trường lạm phát càng thấp và ổn định thì ERPT cũng càng nhỏ
2.6 Nghiên cứu về ERPT và mức độ mở cửa thương mại của một quốc gia:
Một yếu tố quan trọng quyết định ERPT là mức độ mở cửa thương mại của một quốc gia Một quốc gia càng mở cửa, sự biến động trong tỷ giá hối đoái truyền
Trang 11dẫn qua giá nhập khẩu vào chỉ số CPI thay đổi càng nhiều Tuy nhiên, nhóm tác giả nhận thấy rằng lạm phát có thể tỷ lệ nghịch với sự mở cửa, thực nghiệm chứng minh mối tương quan nghịch chiều này được tìm thấy trong nghiên cứu của Romer (1993)
Theo cách tiếp cận gián tiếp có thể hiểu như sau sự mở cửa sẽ tương quan nghịch chiều với lạm phát, tuy nhiên theo giả thiết của Taylor thì lạm phát tương quan dương với mức độ của truyền dẫn, do đó sự mở cửa sẽ tương quan nghịch chiều với ERPT Cách tiếp cận trực tiếp và gián tiếp đi theo hướng ngược nhau và một cách tổng thể của sự tương quan giữa truyền dẫn và sự mở cửa có thể đồng biến hoặc nghịch biến
Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory and Evidence”
Việc mở rộng chính sách tiền tệ không được dự đoán trước sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực sụt giảm và trên thực tế những thiệt hại của sự sụt giảm này sẽ lớn hơn trong nền kinh tế mở cửa nhiều hơn
Trang 12III Đo lường hiệu ứng ERPT:
3.1 Mô hình và phương pháp luận:
Bài nghiên cứu sử dụng một mô hình VAR tiêu chuẩn sau:
= + ∑ + (1)
Trong đó: Yt là véc tơ biến nội sinh nghiên cứu
c là véc tơ của các hằng số
Φi biểu thị cho ma trận các hệ số tự tương quan
εt là véc tơ sai số ngẫu nhiên
Việc xác định các cú sốc cấu trúc thực hiện bằng cách sắp xếp thích hợp các biến quan tâm và áp dụng phân rã Cholesky cho ma trận hiệp phương sai để làm giảm sai số εt
Nhóm tác giả phân tích bằng mô hình VAR 6 biến tương tự như trong các mô hình nghiên cứu trước đây của McCarthy và Hahn Mô hình VAR cơ bản áp dụng cho
các quốc gia khác nhau, với các biến bao gồm chỉ số giá dầu oilt, sản lượng đầu ra yt,
tỷ giá hối đoái et, chỉ số giá nhập khẩu pimpt, chỉ số giá tiêu dùng cpit, và lãi suất ngắn hạn it Tỷ giá hối đoái, chỉ số giá nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng là các biến
quan trọng trong phân tích, các biến sản lượng đầu ra và giá dầu được tính đến để nắm bắt được hiệu ứng thật sự của nền kinh tế Biến tỷ lệ lãi suất thể hiện việc thị trường tiền tệ, bao gồm cả chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến mối quan hệ truyền dẫn
Trong mô hình cơ sở, các biến được sắp xếp theo thứ tự như trên Việc sử dụng
mô hình nội sinh ngụ ý rằng những cú sốc được xác định ảnh hưởng đồng thời lên các biến tương ứng của nó và các biến xếp sau nó Tuy nhiên, không có tác động ngược trở lại các biến được sắp xếp đứng trước Trong mô hình của nhóm tác giả, biến được xếp đầu tiên là giá dầu Do đó, những cú sốc giá dầu có thể ảnh hưởng đến tất cả các biến khác trong thời cũng nhưng giá dầu không ảnh hưởng lên chính nó và bởi bất kỳ các cú sốc khác Biến tiếp theo là sản lượng và tỷ giá hối đoái Sự sắp xếp này ngầm giả định sẽ xảy ra một tác động đồng thời của cú sốc cầu lên tỷ giá hối đoái và tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái lên sản lượng đầu ra chịu một độ trễ nhất định theo thời gian Các biến giá được sắp xếp tiếp theo và do đó thời cũng bị ảnh hưởng bởi tất
cả các cú sốc nói trên Giá nhập khẩu được đặt trước giá tiêu dùng được tính đến là
Trang 13một ảnh hưởng hiện thời của những cú sốc giá nhập khẩu trên giá tiêu dùng nhưng không có chiều ngược lại Lãi suất được đặt ở cuối cùng, là đại diện của thị trường tiền tệ, và trong chính sách tiền tệ cụ thể, nó phản ứng lại đồng thời với tất cả các biến trong mô hình Các đặc điểm cơ bản trên chỉ đại diện cho một trong những giải pháp
để nhận dạng các biến và cũng mang tính tương đối.Vì vậy, sau đó chúng tôi thực hiện một phân tích độ nhạy bằng cách sử dụng hai công thức đáng tin cậy khác
3.2 Mô tả mẫu:
Bài nghiên cứu tập trung phân tích các nước từ ba khu vực lớn trên thế giới: châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, và Hồng Kông), Trung và Đông Âu (Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan) cộng thêm Thổ Nhĩ Kỳ, và Châu Mỹ La Tinh (Argentina, Chile và Mexico) Đây là các nền kinh tế mới nổi chính ở các khu vực này Đối với mỗi quốc gia, dữ liệu được lấy theo quý và dữ liệu sẽ được tổng hợp trong khoảng thời gian trở về trước xa nhất có thể Giá dầu được thể hiện bằng chỉ số giá dầu thô tính bằng đô la Mỹ Các biến sản lượng là GDP, trong một vài trường hợp, bài nghiên cứu đã sử dụng sản lượng sản xuất công nghiệp để có được một khoảng thời gian mẫu dài hơn Tỉ giá hối đoái, đối với tất cả các nước sử dụng một chuỗi tỉ giá danh nghĩa hiệu lực Hơn nữa, nhập khẩu bằng đồng nội tệ và chỉ số giá tiêu dùng cũng được bao gồm, (Ngoại trừ Trung Quốc bị giới hạn trong phân tích cho giá tiêu dùng và chỉ số giá nhập khẩu bởi vì chúng không sẵn có) Cuối cùng, các công cụ chính sách tiền tệ được thể hiện bằng lãi suất ngắn hạn
Bảng 1 tóm tắt các điều kiện kinh tế vĩ mô ở các thị trường mới nổi trong giai đoạn
lấy mẫu dữ liệu
Trang 14Các nước châu Á: lạm phát trung bình tương đối thấp, đặc biệt là Đài Loan và
Singapore Hai nước này đã quản lý hiệu quả để kết hợp tăng trưởng GDP thực sự
mạnh mẽ, lạm phát thấp và tỷ giá danh nghĩa hiệu lực, cả về giá trị và các điều kiện
biến động
Các nước Trung và Đông Âu: kết hợp tăng trưởng sản lượng khoảng 2% đến 3% với
tỷ lệ lạm phát giảm nhanh tương ứng Cụ thể hơn, giảm phát đã đạt được tại Cộng hòa
Séc, mặc dù trong bối cảnh suy thoái kéo dài sau khi cuộc khủng hoảng ngân hàng
năm 1997 Thời kỳ được nghiên cứu là thời kỳ trở lại của hệ thống kinh tế thị trường,
Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan không những cho phép áp dụng một hệ thống định
giá thực theo hiệu ứng Balassa - Samuelson theo một quy trình thống nhất giữa các
quốc gia mà còn mở rộng cho vay dưới chuẩn trong thời kỳ đầu của việc tái cấu trúc
Các nước Mỹ-Latinh: một số quốc gia đã trải qua áp lực lạm phát mạnh mẽ trong giai
đoạn mẫu được xem xét Hai trường hợp nổi bật là Argentina và Thổ Nhĩ Kì (áp lực
lạm phát mạnh mẽ và biến động TGHĐ cao với những khó khăn tài chính xảy ra
nhiều lần tại TNK) Mexico cũng trải qua những khủng hoảng đáng kể, bất ổn thị
trường thể hiện bởi sự biến động tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực cao Chile quản
lý giữ lạm phát trung bình thấp hơn khoảng 13% kể từ năm 1980
Cuối cùng, nhiều thị trường mới nổi trong mẫu được mô tả như các nền kinh tế
mở cửa trong các cơ cấu giao dịch Lấy tỷ lệ nhập khẩu theo phần trăm GDP, chúng ta
Trang 15thấy rằng các nền kinh tế mở cửa nhất trong mẫu (theo thứ tự giảm dần) là Hồng
Kông, Singapore tiếp theo là Cộng hòa Séc và Hungary Các nền kinh tế lớn hơn,
Trung Quốc và Argentina được thấy là tương đối khép kín so với các thị trường mới
nổi khác trong nghiên cứu này
Bảng 2 tóm tắt các điều kiện kinh tế vĩ mô trung bình trong ba nền kinh tế tiên tiến và
cũng là điểm chuẩn của nhóm tác giả so sánh Đó là Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật
Bản
Các nền kinh tế này có tỉ lệ lạm phát trung bình thấp cũng như điều kiện kinh
tế vĩ mô ổn định hơn so với các thị trường mới nổi Trên cơ sở lịch sử lạm phát, trong
số các thị trường mới nổi, người ta có lẽ sẽ mong đợi có thể tìm thấy các hệ số ERPT
thấp nhất ở châu Á và cao nhất ở châu Mỹ Latinh, ngoại trừ Chile Mức độ mở của
nền kinh tế, có thể đóng góp để đóng một vai trò làm cân bằng bằng cách làm giảm
các tác động của ERPT đến chỉ số giá tiêu dùng vì các nền kinh tế Mỹ Latinh có độ
mở không cao, trong khi mang lại một tác động dương, làm tăng ERPT, đặc biệt là
trong các trường hợp của Hồng Kông và Singapore - các quốc gia có độ mở lớn nhất
trong mẫu nghiên cứu
Mức độ ERPT trong mỗi quốc gia được tính toán bằng cách ước tính một đặc
điểm kỹ thuật của mô hình (1) cho các vector được chọn của các biến nội sinh Kiểm
định nghiệm đơn vị units root cho thấy hầu hết các biến trong các nước được coi là