Mục LụcTóm tắt Mặc dù có những mối quan tâm về “thâm hụt kép” thâm hụt tài khoản vãnglai và thâm hụt tài khóa đối với nền kinh tế Mỹ, các bằng chứng thực nghiệm cho thấyrằng “sự biến độn
Trang 1Mục Lục
Tóm tắt
Mặc dù có những mối quan tâm về “thâm hụt kép” (thâm hụt tài khoản vãnglai và thâm hụt tài khóa) đối với nền kinh tế Mỹ, các bằng chứng thực nghiệm cho thấyrằng “sự biến động ngược chiều” ( twin divergence) mới là một hiện tương phổ biến hơnkhi nghiên cứu dữ liệu lịch sử , đó là khi cán cân tài khóa xấu đi thì cán cân vãng lai cócải thiện và ngược lại Bài nghiên cứu này cũng thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm vềảnh hưởng của chính sách tài khóa (các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ) lên tàikhoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực, trong giai đoạn tỷ giá bị thả nổi Dựa trên mô hìnhVAR (Vector Auto-Regression), nhóm tác giả đã xác định những cú sốc ngoại sinh trongchính sách tài khóa sau khi đã kiểm soát các tác động của chu kỳ kinh tế lên cán cân tàikhóa Trái ngược với các suy đoán của các mô hình lý thuyết, những kết quả tại Mỹ chothấy rằng cú sốc của chính sách tài khóa mở rộng, hoặc là cú sốc trong thâm hụt ngânsách chính phủ, làm cải thiện tài khoản vãng lai và làm giảm giá tỷ giá hối đoái thực Sựgia tăng của tiết kiệm tư nhân và sự suy giảm trong đầu tư góp phần cải thiện tài khoảnvãng lai và làm giảm tỷ giá hối đoái danh nghĩa, ngược lại với sự thay đổi mức giá tương
Trang 2đối góp phần làm giảm tỷ giá hối đoái thực “sự biến động ngược chiều” ( twindivergence) của cán cân tài khóa và cán cân tài khoản vãng lai cũng được giải thích bởi
sự tồn tại của các cú sốc sản lượng đầu ra, ví dụ các cú sốc này –hơn là các cú sốc tàikhóa - xuất hiện tạo ra một sự dịch chuyển kép của tài khoản vãng lai và cán cân tàikhóa
& 2 cho thấy: sự xấu đi của cán cân tài khóa dưới hình thức tỷ lệ thuế thấp hơn và chitiêu quốc phòng cao hơn có quan hệ với sự gia tăng (hoặc sự giảm giá đồng tiền) của tỷgiá hối đoái thực & TGHĐ danh nghĩa và sự suy giảm nghiêm trọng của cán cân vãng lai
Mỹ Trong những năm gần đây, mối quan ngại về “thâm hụt kép” đã nổi lên trở lại bởi vì
sự thâm hụt nghiêm trọng trong cán cân tài khóa Mỹ (khoảng cách giữa thặng dư năm
2000 & thâm hụt năm 2004 là 6% GDP ) kết hợp với cán cân tài khoản vãng lai ngàycàng xấu đi (khoảng 5% GDP năm 2003 và tiếp tục theo chiều hướng xấu đi)
Trang 3Tuy nhiên, với kinh nghiệm thực tế của Mỹ trong quá khứ cũng không làmgiảm đi việc lặp lại thâm hụt kép và mối quan hệ cùng chiều giữa cân bằng ngân sáchchính phủ và tỷ giá hối đoái thực Hầu hết những diễn biến xấu trong thâm hụt tài khóađầu những năm 1980 có thể là hậu quả của khủng hoảng 1980-1982 Tiết kiệm khu vựccông bắt đầu cải thiện từ 1983 trong khi tài khoản vãng lai xấu đi trong giai đoạn 1982-
1986 chủ yếu bởi vì tỷ lệ đầu tư được phục hồi sau sự sụt giảm trong cuộc khủng hoảng1980-1982 Trong giai đoạn 1989-1991, tài khoản vãng lai được cải thiện trong khi cáncân tài khóa có lại có xu hướng xấu đi Quan trọng hơn, giai đoạn những năm 1992-2000,cán cân tài khóa Mỹ có cải thiện mạnh mẽ từ mức thâm hụt 5% GDP đến mức thặng dư2,5% GDP, nhưng tài khoản vãng lai thì xấu đi, từ -1% của GDP đến -4,5% của GDP.Liên quan đến tỷ giá hối đoái thực, việc thắt chặt tài khóa, dẫn đến thặng dư ngân sáchtrong những năm 1990 cùng với sự tăng giá thực (hoặc một sự giảm giá của tỷ giá hốiđoái thực) Mặc dù sự tăng giá thực của đồng dollar trong những năm 2000-2002 đượcquan sát trong giai đoạn mà thâm hụt ngân sách đã trở lại mạnh, tỷ giá hối đoái thực lạigiảm đi trong các năm 2002-2004 tại thời điểm mà thâm hụt ngân sách càng tồi tệ hơn
Việc thiếu tương quan cùng chiều giữa thâm hụt ngân sách chính phủ và thâmhụt tài khoản vãng lai có thể được giải thích bởi sự chuyển dịch nội sinh trong ngân sáchchính phủ và tài khoản vãng lai Sự dịch chuyển nội sinh này thực sự quan trọng cả trongthực nghiệm lẫn trong phân tích lý thuyết Trong suốt những cuộc khủng hoảng (haybùng nổ) kinh tế, sản lượng sụt giảm (hay gia tăng) và cán cân tài khóa xấu đi (hay cảithiện) Trong thời gian đó, tài khoản vãng lai sẽ được cải thiện một khi có sự sụt giảm sảnlượng dẫn đến một sự sụt giảm trong đầu tư, điều này mạnh hơn là sự sụt giảm trong tiếtkiệm quốc gia Đặc biệt, nếu có một cú sốc về công nghệ, như trong trường hợp Nền kinh
tế Mới của Mỹ và giai đoạn bùng nổ IT 1995-2000, có sự bùng nổ đầu tư dẫn đến làmxấu đi tài khoản vãng lai Trong khi đó, sự bùng nổ kinh tế sẽ dẫn đến sự cải thiện cáncân tài khóa (tạo ra các công cụ bình ổn tự động đối với thuế và chi tiêu) Điều này có thểgiải thích cho việc tại sao mà tài khoản vãng lai xấu đi tại Mỹ năm 1990 trong khi cáncân tài khóa thì có nhiều cải thiện Do đó, tài khoản vãng lai có thể phục hồi (hay xấu đi)
Trang 4khi cán cân tài khóa trở nên xấu đi (hay phục hồi) Chúng ta có thể quan sát “sự biếnđộng ngược chiều” ( twin divergence) hơn là “thâm hụt kép” khi mà tác nhân chính của
2 cán cân này là cú sốc về sản lượng
Để đánh giá vấn đề này, bài nghiên cứu đưa ra các phân tích thực nghiệm vềmối quan hệ giữa cán cân tài khóa, tài khoản vãng lai, và tỷ giá hối đoái thực tại Mỹ,trong đoạn tỷ giá hối đoái linh hoạt giai đoạn hậu Bretton Woods Chúng ta kiểm địnhnhững tác động của các cú sốc trong thâm hụt ngân sách chính phủ lên tài khoản vãng lai
và tỷ giá thực, và cũng suy ra mối quan hệ chung giữa các biến này Để xác định các cúsốc trong thâm hụt ngân sách chính phủ sau khi kiểm soát các ảnh hưởng của chu kỳ kinh
tế, tác giả sử dụng mô hình VAR (Vector Autor-Regression) Một kết quả thực nghiệmnghịch lý mới, ngược với hầu hết các mô hình kinh tế, cú sốc tài khóa mở rộng hay các
cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ có quan hệ với sự cải thiện của cán cân vãng lai và
sự sụt giá của tỷ giá thực Đây thực sự là vấn đề lý thú vì mối tương quan nghịch chiềunày xuất hiện cả sau khi chúng ta kiểm soát tác động của chu kỳ kinh tế hay các cú sốcsản lượng, yếu tố có thể tạo ra “sự biến động ngược chiều” ( twin divergence) như đãtrình bày ở trên Thậm chí các cú sốc thâm hụt tài khóa “ngoại sinh” dường như có liênquan đến một sự cải thiện trong tài khoản vãng lai
Các phân tích mở rộng chỉ ra rằng sự kết hợp các nhân tố như (1) hiệu ứng lấn
át đầu tư gây ra bởi sự gia tăng trong lãi suất thực và (2) sự dịch chuyển Ricardo theotừng phần trong tiết kiệm tư nhân, có thể giải thích cho các nghịch lý thực nghiệm Kếtquả này cũng liên quan đến một đặc trưng của nền kinh tế Mỹ, là một nền kinh tế mở lớn.Trong nền kinh tế này, sự mở rộng tài khóa có thể dẫn đến sự gia tăng trong lãi suất thực(như sự quan sát tại Mỹ đầu những năm 1980), làm lấn át đầu tư tư nhân nhưng lại làmgia tăng tiết kiệm tư nhân Mặt khác giá cố định dường như đóng vai trò quan trọng trongviệc làm suy giảm tỷ giá hối đoái thực kéo theo các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ,
vì sự suy giảm tỷ giá danh nghĩa (trái ngược với sự thay đổi trong mức giá tương đối) giảithích cho sự suy giảm tỷ giá thực
Trang 5Tiếp theo trong phần 2 cung cấp các bằng chứng thực nghiệm dựa trên môhình VAR Phần 3 giới thiệu một số công cụ kiểm tra độ mạnh Cuối cùng là phần kếtluận với các kết quả thu được.
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Những kết quả nghiên cứu trước thường đưa ra những kết quả không tươngđồng với nhau, do những tác động chính xác phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau nhưbản chất của thâm hụt ngân sách chính phủ (ví dụ như những cú sốc trong chi tiêu chínhphủ hoặc cú sốc về thuế và sự kéo dài của các cú sốc này), đặc trưng mỗi quốc gia (quốcgia lớn hay nhỏ), cấu trúc thị trường tài sản quốc tế (thị trường hoàn hảo hay thị trườngkhông hoàn hảo) và đặc điểm kỹ thuật của mỗi mô hình (biến nội sinh hay biến lao động
cố định, đầu tư, và vốn tích lũy)
Sachs (1982) khi nghiên cứu mô hình 1 loại hàng hóa, tác giả nhận thấy sự
thay đổi trong chính sách tài chính có một ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai, thuế củachính phủ và chính sách nợ có thể có tác động quan trọng về mức độ thặng dư hay thâmhụt tài khoản vãng lai
Trang 6Trong mô hình chu kỳ kinh doanh quốc tế được hiệu chỉnh của Baxter (1995),
thâm hụt ngân sách chính phủ dẫn tới thâm hụt trong cán cân thương mại và thâm hụt tàikhoản vãng lai Nhiều quốc gia cho thấy một sự quan hệ rõ ràng giữa thâm hụt tài khóa
và thâm hụt tài khoản vãng lai và đặc biệt mạnh vào thời gian giữa những năm 1970
Erceg, Guerrieri, và Gust (2005) nhóm tác giả sử dụng một mô hình cân
bằng tổng thể tăng động của nền kinh tế mở để đánh giá hiệu quả định lượng của những
cú sốc tài chính trên cán cân thương mại ở Hoa Kỳ Cú sốc tài chính được chia ra 2 loại:
sự gia tăng trong tiêu dùng của chính phủ, và giảm mức thuế suất thuế thu nhập laođộng Phát hiện nổi bật của nhóm tác giả là một thâm hụt ngân sách có tác động tươngđối nhỏ đối với cán cân thương mại của Mỹ , bất kể nguồn gốc là một sự gia tăng chi tiêuhoặc cắt giảm thuế
Trong phần hiệu chỉnh của nhóm tác giả, chúng tôi nhận thấy một sự gia tăngthâm hụt ngân sách ( 1% GDP) làm cán cân thương mại xấu đi 0,2 % của GDP hoặc íthơn
Từ góc độ chính sách , phân tích của nhóm cho thấy rằng ngay cả việc giảmthâm hụt ngân sách hiện nay của Mỹ ( 3% GDP ) bằng không sẽ khó có khả năng thu hẹpthâm hụt thương mại đang phát triển Mĩ
Douglas Bemheim (1988) phân tích dữ liệu chuỗi thời gian từ 1960 đến 1984
cho sáu quốc gia cho thấy một mối liên hệ mạnh mẽ và có ý nghĩa giữa chính sách tài
khóa và thâm hụt thương mại Đối với Hoa Kỳ, Canada, vương quốc Anh, Đức và Tây
Đức, một sự gia tăng $ 1 trong thâm hụt ngân sách có liên quan đến một sự suy giảmkhoảng 0,30 $ trong thặng dư tài khoản vãng lai Đối với các quốc gia sản xuất thì con sốnày cao hơn( 0.40$) và lớn hơn đáng kể đối với Mexico (0,85 $ trên đồng đô la) Đối vớiNhật Bản, những bằng chứng nàylà rất yếu
Mặt khác, vay mượn chính phủ không làm giảm tiết kiệm quốc gia Kết luậnrằng một sự gia tăng 1$ trong thâm hụt ngân sách thu hút 0,30 $ của các quỹ đầu tư từ
Trang 7nước ngoài, tạo ra một phong trào bù trừ 0,30 $ trong tài khoản vãng lai Đây chính là kếtquả quan trọng mà tác giả thu được.
Tuy bài nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng cụ thể của viêc tồn tại thâmhụt kép, nhưng nghiên cứu Bernheim bị hạn chế bởi sự vắng mặt của các biến quantrọng , cụ thể là tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực tế, do đó một số khía cạnh của thâmhụt kép vẫn chưa được giải quyết
Boucher (1991) nghiên cứu trong một chuỗi thời gian dài và nhận thấy không
có một bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ giữa các tài khoản hiện tại và tiết kiệm quốcgia ròng đối với Hoa Kỳ Trong bài nghiên cứu, tiết kiệm quốc gia ròng được định nghĩa
là thâm hụt ngân sách cộng với tiết kiệm tư nhân ròng
Tuy nhiên hầu hết những mô hình trong các nghiên cứu này dựa trên một sốlượng lớn các giới hạn xác định được chỉ ra trong lý thuyết Vì vậy nó không được coinhư một bằng chứng thực nghiệm thiên về dữ liệu thực tế
Thứ hai, một số nghiên cứu kiểm định mối quan hệ trong dài hạn giữa chi tiêuchính phủ và tài khoản vãng lai Họ đưa ra phương pháp phương trình đơn tĩnh học bằngcác chuỗi dữ liệu dài hạn với tần số tính bằng năm bao gồm nhiều cơ chế tỷ giá Tuynhiên, kết quả cũng có nhiều hạn chế vì sự tương tác mạnh mẽ giữa các biến số khôngđược xem xét và những nghiên cứu này lại không sử dụng một giai đoạn mẫu nào vớimột cơ chế tỷ giá không thay đổi
Thứ 3, một số nghiên cứu sử dụng mô hình VAR với ít các điều kiện hạn chế
và không phụ thuộc vào mô hình lý thuyết riêng biệt nào Tuy nhiên, những nghiên cứunày chỉ kiểm định những tác động lên tỷ giá thực với dữ liệu tần suất thấp
Ngược lại, bài viết này đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng củachính sách tài khóa lên tài khoản vãng lai và tỷ giá thực sử dụng mô hình VAR Những
mô hình này cho phép sự tương tác mạnh giữa các biến và đưa ra ít các điều kiện hạn chế
Trang 8và không phụ thuộc vào mô hình lý thuyết riêng biệt nào Tác giả đã sử dụng ra bộ dữliệu với tần suất đặc trưng theo quý có khảo sát các nghiên cứu chu kỳ kinh doanh Họthực hiện các phân tích trong các giai đoạn mà cơ chế tỷ giá không đổi (đó là một cơ chế
tỷ giá thả nổi) vì các hiệu ứng có thể khác với cơ chế tỷ giá khác nhau
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Thống kê và các vấn đề cơ bản
Nhóm tác giả giới thiệu một số đặc tính cơ bản của dữ liệu và một số sự kiện màgiúp hiểu được các thay đổi xảy ra đồng thời giữa thâm hụt ngân sách chính phủ, tàikhoản vãng lai và tỷ giá thực Tài khoản vãng lai thường được gọi là đầu tư nước ngoàiròng Về khái niệm, nó là chênh lệch giữa tiết kiệm quốc gia và đầu tư, mặc dù các dữliệu thực tế có sai số thống kê không đáng kể Tiết kiệm được chia thành tiết kiệm tưnhân và tiết kiệm của chính phủ (hoặc cán cân ngân sách chính phủ hoặc số âm trongthâm hụt ngân sách chính phủ) Tiết kiệm của chính phủ lại được chia thành lãi ròngtrong tài sản tài chính của chính phủ và cán cân ngân sách chính phủ sơ cấp (hoặc số âmcủa thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp) Đó là,
Current Account = Saving-Investment+Statistical Discrepancy
= (PrivateSaving-Government Primary BudgetDeficit +Government Net Interest Receipts)-Investment+Statistical Discrepancy (1)
Trang 9Fig (1) cho thấy hai thành phần chính của tài khoản vãng lai (đầu tư và tiết kiệmcộng với sai số thống kê), tiết kiệm của chính phủ và tài khoản vãng lai của Mỹ trong giaiđoạn chế độ tỷ giá thả nổi gần đây (1973 - 2004) "GovSav / GDP", "Sav & SD / GDP",
"CurAcct / GDP," và "Inv / GDP" lần lượt là ký hiệu của tiết kiệm của chính phủ, tiếtkiệm quốc gia và sai số thống kê, tài khoản vãng lai, và đầu tư (tất cả đều tính theo tỷ lệphần trăm của GDP)
GovSav: Government Saving
Sav & SD: Saving & Discrepancy
CurAcct: Current Account
Inv: Investment
Phần thứ hai của các mối quan hệ trong phương trình (1) thường được sử dụnglàm cơ sở cho "giả thuyết thâm hụt kép" hoặc một mối quan hệ cùng chiều giữa các tàikhoản vãng lai và tiết kiệm của chính phủ (hoặc một mối quan hệ cùng chiều giữa thâmhụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách chính phủ) Điều đó có nghĩa là, khi cácđiều kiện khác không đổi, tiết kiệm của chính phủ và tài khoản vãng lai nên dịch chuyểncùng chiều: sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến một sự xấu đi của tài khoản vãnglai Tuy nhiên, như đã thảo luận trong phần giới thiệu, một mối quan hệ cùng chiều nhưvậy là khó có thể tìm thấy trong các dữ liệu thực tế và sự tương quan dường như là ngượcchiều trong hình 1 Bảng 1 cho thấy mối tương quan giữa tài khoản vãng lai và tiết kiệmcủa chính phủ trong toàn bộ giai đoạn mẫu Mối tương quan là ngược chiều: -0.11 Mốitương quan giữa tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách chính phủ sơ cấp thậm chí cònngược chiều mạnh hơn, -0.16 Điều này khẳng định rằng, nhìn chung, ngân sách chínhphủ và tài khoản vãng lai không dịch chuyển cùng chiều Có nghĩa là, rằng “sự biến độngngược chiều (twin divergence)” hơn là "thâm hụt kép" mới là mẫu hình thông dụng chocác dữ liệu trong toàn giai đoạn mẫu
Trang 10Fig 2 cho thấy biểu đồ log của tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa của đồng Mỹ sovới các nước công nghiệp lớn khác (lưu ý rằng sự gia tăng tỷ giá là sự mất giá đồng tiềncủa Mỹ), tiết kiệm chính phủ sơ cấp, và tiết kiệm của chính phủ Tỷ giá hối đoái danhnghĩa và tỷ giá thực tương quan chặt chẽ Tương tự cho mối quan hệ giữa tiết kiệm chínhphủ sơ cấp và tiết kiệm chung của chính phủ Tuy nhiên, không dễ dàng để đánh giá một
mô hình đồng dịch chuyển rõ ràng giữa tỷ giá thực và ngân sách chính phủ Trong Bảng
1, mối tương quan giữa tỷ giá thực và ngân sách chính phủ (ngân sách chính phủ sơ cấp)
là -0.08 (0.03)
Như đã đề cập trong phần giới thiệu, một lý do quan trọng tại sao tài khoản vãnglai và tiết kiệm của chính phủ không có một mối quan hệ cùng chiều là do phản ứng nộisinh của tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai đối với biến động sản lượng Cán cânngân sách của chính phủ, đặc biệt là phần doanh thu mang tính chu kỳ trong khi các lýthuyết về tài khoản vãng lai truyền thống và các lý thuyết về chu kỳ kinh tế quốc tế hiệnđại đều dự đoán một sự biến động phản chu kỳ của tài khoản vãng lai khi xảy ra các cúsốc sản lượng hoặc năng suất Vì vậy, để xác định những tác động của các cú sốc thâmhụt ngân sách chính phủ lên tài khoản vãng lai, điều quan trọng là kiểm soát đối với cácchuyển động nội sinh của cán cân ngân sách chính phủ và tài khoản vãng lai, nhất là có
sự hiện diện của những cú sốc sản lượng Mô hình thực nghiệm mà nhóm tác giả giớithiệu trong phần tiếp theo được tạo ra để kiểm soát các thuộc tính nội sinh của ngân sáchchính phủ và tài khoản vãng lai và để xác định các thành phần ngoại sinh trong cán cânngân sách chính phủ Các tác giả sử dụng mô hình VAR vì phương pháp kiểm định của
Trang 11nó hữu ích trong việc kiểm soát các thành phần nội sinh và tách biệt các thành phần ngoạisinh Cấu trúc này sử dụng thông tin dựa trên nhiều biến số vĩ mô khác nhau, sự tươngtác và mối quan hệ của chúng để xây dựng thành phần ngoại sinh trong thâm hụt ngânsách chính phủ và để phân tích những tác động của các cú sốc thâm hụt ngân sách chínhphủ ngoại sinh này lên tài khoản vãng lai và tỷ giá thực.
3.2 Phương pháp xác định cơ bản
Mô hình cơ bản bao gồm năm biến, {RGDP, GOV, CUR, RIR, RER}, lần lượt là
ký hiệu của GDP thực (RGDP); một biến có liên quan đến ngân sách chính phủ (GOV) tính theo tỷ lệ phần trăm của GDP; tài khoản vãng lai (CUR) - tính theo tỷ lệ phần trămcủa GDP; lãi suất thực kỳ hạn 3 tháng (RIR) và tỷ giá hối đoái thực (RER) Trong môhình cơ bản này, thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp được ký hiệu là GOV GOV, CUR
-và RER là những biến chính cần quan tâm trong nghiên cứu này RGDP là biến vĩ môquan trọng đại diện cho hiệu quả của nền kinh tế RGDP được đưa vào để kiểm soát cácthành phần có tính chu kỳ của thâm hụt ngân sách chính phủ RIR cũng là một biến số vĩ
mô quan trọng, nó có thể cung cấp một đầu mối đối với sự truyền tải của chính sách tàikhóa RIR có thể liên quan đến các quyết sách của chính sách tiền tệ mà chúng ta cũngmuốn kiểm soát
Phương pháp xác định cơ bản của bài nghiên cứu này sử dụng một mô hình VAR
đệ quy (do Sims đề xuất năm 1980) Thứ tự của các biến là {RGDP, GOV, CUR, RIR,RER} trong đó các biến ngoại sinh xảy ra đồng thời được đưa ra trước tiên Trong môhình này, những cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ (ngoại sinh) được dẫn xuất bằngcách đặt điều kiện lên RGDP hiện tại và biến trễ của nó, và tất cả các biến trễ khác Cáctác giả đặt điều kiện trên RGDP hiện tại vì (thâm hụt) ngân sách chính phủ có khả năng
Trang 12bị ảnh hưởng nội sinh bởi tình trạng hiện tại của hoạt động kinh tế trong vòng một quý.
Cụ thể, các yếu tố của doanh thu của chính phủ, chẳng hạn như thuế bán hàng (đánh lênsản phẩm và dịch vụ) và thuế thu nhập, có khả năng phụ thuộc vào mức độ hiện tại củahoạt động kinh tế trong vòng một quý Giả định này được tán thành bởi Blanchard vàPerotti (2002) Họ tìm thấy một hiệu ứng khác-không của sản lượng lên thuế ròng trongthời gian một quý Ngoài ra, thâm hụt ngân sách chính phủ cũng có thể phụ thuộc vào độtrễ của các biến khác nhau Ví dụ, một số yếu tố thu nhập của chính phủ, chẳng hạn nhưthuế thu nhập, có thể phụ thuộc vào độ trễ của hoạt động kinh tế Tuy nhiên, các tác giảkhông đặt điều kiện lên các biến hiện tại khác biệt như là với GDP thực khi xem xét độtrễ của các quyết định quan trọng trong chính sách tài khóa Điều đó có nghĩa là việc đặtđiều kiện lên GDP thực hiện tại là điều cần thiết để kiểm soát các phản ứng nội sinh củathâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp đến các hoạt động kinh tế hiện nay, trong khi khôngđặt điều kiện lên các biến hiện tại khác là hợp lý để xác định những thay đổi ngoại sinhhoặc tùy ý trong thâm hụt ngân sách khi những thay đổi này ít có khả năng phụ thuộc vàocác biến hiện hành khác vì độ trễ của các quyết định của chính sách tài khóa
Giai đoạn ước lượng là giai đoạn theo chế độ tỷ giá thả nổi gần đây 2004:1) Dữ liệu được sử dụng theo quý Một điều kiện liên tục được đưa vào môhình Độ trễ là bốn kỳ
(1973-4 Nội dung và kết quả nghiên cứu
4.1 Kết quả cơ bản
Hình 3 cho thấy những phản ứng xung của từng biến đến từng cú sốc cấu trúctrong bốn năm với một dãy sai số chuẩn (68% dãy xác suất) Tên của các cú sốc cấu trúcđược biểu hiện ở đầu mỗi cột và những biến có phản ứng được biểu hiện ở bên trái của
Trang 13mỗi hàng Các tác giả áp dụng cùng thang đođối với các đồ thị trong mỗi hàng để dễ dàng
so sánh kích thước của các phản ứng của mỗi biến theo những cú sốc cấu trúc khác nhau
Những phản ứng xung của thâm hụt ngân sách chính phủ đến mỗi cú sốc cấutrúc (ở hàng thứ hai) cho thấy chuyển động tổng thể của thâm hụt ngân sách chính phủ donhững cú sốc thâm hụt ngân sách phi chính phủ, đặc biệt là kết quả từ những cú sốc sảnlượng đầu ra, lớn hơn nhiều so với những cú sốc từ thâm hụt ngân sách chính phủ, ngoạitrừ những cú sốc diễn ra rất nhanh.Sai số trong dự báo phương sai (forecast errorvariance decomposition)của thâm hụt ngân sách chính trong bảng 2 (các con số trongngoặc là dãy sai số 68%) cung cấp bằng chứng rõ ràng hơn về kết quả này Các cú sốcngân sách thâm hụt chính phủ (ngoại sinh) làm cho ngân sách chính phủ biến động 42,8%trong khoảng thời gian ước lượng bốn quý và thấp hơn so với các khoảng thời gian ướclượng dài hơn Điều đó có nghĩa là, phần ngoại sinh là ít hơn một nửa trong tổng sự thayđổi của thâm hụt ngân sách chính phủ Mặt khác, đối với những cú sốc sản lượng đầu ra,phần ngoại sinh chiếm hơn 50% ở tất cả các khoảng thời gian, theo bảng 2 Điều này chothấy mô hình thực nghiệm này có tính đến phần nội sinh của thâm hụt ngân sách chínhphủ, đặc biệt là yếu tố nội sinh của cán cân tài khóa đối với những cú sốc đầu ra
Trang 14Những tác động của các cú sốc đầu ra (RGDP) cũng cần được chú ý xem xét.Thâm hụt ngân sách chính phủ giảm ( hoặc cải thiện ngân sách chính phủ) trong nhiềunăm là sự phản ứng của ngân sách chính phủ đối với một cú sốc sản lượng tích cực Điềunày phù hợp với vai trò ổn định tự động của ngân sách chính phủ và biến động mang tínhchu kỳ của ngân sách chính phủ Khi có một cú sốc sản lượng đầu ra tích cực xảy ra, tàikhoản vãng lai xấu đi, tỷ giá hối đoái thực giảm, và lãi suất thực tăng Sự biến động phảnchu kỳ của tài khoản vãng lai là phù hợp với các lý thuyết truyền thống và hiện đại về tàikhoản vãng lai Theo lý thuyết truyền thống, sự gia tăng trong sản lượng làm tăng nhucầu hàng ngoại và làm xấu đi tài khoản vãng lai Theo lý thuyết hiện đại, cú sốc sảnlượng đầu ra có thể được coi là một cú sốc năng suất Một cú sốc năng suất tích cực, kéo
Trang 15dài có thể làm gia tăng đầu tư mạnh mẽ và làm xấu đi các tài khoản vãng lai Các hiệuứng này tạo ra một biến động phản chu kỳ của tài khoản vãng lai, như gợi ý của Mendoza(1991), Backus và các cộng sự ( 1992) Sự gia tăng trong lãi suất thực cũng là một phảnứng đối với cú sốc năng suất tích cực, kéo dài (Ví dụ, King và Rebelo , 1999) Sự giatăng của tỷ giá hối đoái thực cũng phù hợp với kết quả một số nghiên cứu (ví dụ, Corsetti
và các cộng sự, 2006) Nhìn chung, các phản ứng xung là phù hợp với ý tưởng rằngnhững cú sốc sản lượng đầu ra tạo ra một sự dịch chuyển ngược chiều giữa tài khoảnvãng lai và tiết kiệm của chính phủ Ngoài ra, các kết quả này cho thấy mô hình củanhóm tác giả có quan tâm đếnsự nội sinh trong các dịch chuyển của tài khoản vãng lai vàthâm hụt ngân sách chính phủ (đặc biệt là do tác động bởi những cú sốc sản lượng đầura) Nhìn chung, các kết quả này hỗ trợ cho các nghiên cứu thực nghiệm của tác giả trongviệc kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các cú sốc thâm hụt ngân sách ngoại sinh vàtài khoản vãng lai
Bây giờ bài nghiên cứu sẽ chuyển sang phần chính: những tác động của các cúsốc thâm hụt ngân sách chính phủ Để phản ứng lại với một cú sốc thâm hụt ngân sáchchính phủ tích cực, sản lượng tăng liên tục và lãi suất thực tăng Những tác động này phùhợp với lý thuyết chuẩn Mặt khác, các tác động lên tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoáithực là khá bất ngờ Tài khoản vãng lai được cải thiện trong khoảng một năm Sự thayđổi là khác 0 với xác suất 95% Tỷ giá hối đoái thực giảm liên tục Sự thay đổi là 0 nhauvới xác suất đến hơn 68 % trong hầu hết các khoảng thời gian ước lượng Những tácđộng đối với tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực là khác với những dự đoán chuẩncủa hầu hết các mô hình lý thuyết
Các tác giả cố gắng để suy ra sự kéo dài, dai dẳng của những cú sốc từ cácphản ứng xung động của thâm hụt ngân sách chính vì dự đoán của các mô hình lý thuyếtđôi khi khác nhau tùy thuộc vào sự dai dẳng của các cú sốc tài khóa Khoảng 50 % mứctăng đầu tiên trong thâm hụt ngân sách mất đi trong khoảng thời gian ước lượng bốn quý(có nghĩa là, nửa chu kỳ là khoảng bốn quý) Khoảng 75 % mất đi trong khoảng thời giasáu hoặc bảy quý Đây là sự tồn tại của chu trình AR – 1 với hệ số hồi quy là 0.8AR -1
Trang 16Do đó, các cú sốc tài khóa dường như khá dai dẳng mặc dù ít dai dẳng hơn một trườnghợp đơn vị gốc (unit root case).
Các tác giả cũng đưa ra một giải thích ngắn gọn về những tác động của các cúsốc cấu trúc khác mặc dù không phải là dễ dàng để giải thích rõ những cú sốc cấu trúcnày Một cú sốc tích cực đối với suất thực làm tăng tỷ giá thực, một hiệu ứng được đềxuất bởi điều kiện cân bằng lãi suất không phòng ngừa( UIPC ) Những cú sốc lãi suấtthực có thể là sự đại diện của những cú sốc chính sách tiền tệ kể từ vì các nhà điều hànhchính sách tiền tệ có thể kiểm soát lải suất thực ngắn hạn lãi suất bằng cách thay đổi lãisuất danh nghĩa với tỷ lệ lạm phát cho trước (như trong mô hình giá cố định) Các phảnứng xung đối với những cú sốc lãi suất thực phù hợp với cách giải thích rằng trong một
cơ chế tiền tệ, một sự gia tăng trong tỷ lệ lãi suất thực dẫn đến giảm sản lượng, điều nàylàm tăng thâm hụt ngân sách và cũng dẫn đến một sự gia tăng của giá tỷ giá hối đoáithực Phản ứng của tài khoản vãng lai đối với cú sốc này là sự cải thiện trong ngắn hạn vàtiếp theo là sự xấu đi trong dài hạn, điều này cũng tương tự như những tác động của các
cú sốc chính sách tiền tệ được tìm thấy trong nghiên cứu trước đây như Kim (2001) Kim(2001) phát hiện ra rằng sự thay đổi trong tài khoản vãng lai có thể được giải thích bởihiệu hấp thụ thu nhập ngắn hạn, và hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu dài hạn dựa trên mô hìnhgiá cố định truyền thống và sự tương tác củatiết kiệm và đầu tư dựa trên mô hình chuỗi thờigian Cuối cùng, một cú sốc tích cực đối với tỷ giá thực (sự giảm giá) giúp cải thiện tài khoảnvãng lai Điều này phù hợp với hiệu ứng chi tiêu-chuyển đổi
Trang 174.2 Tác động vào các thành phần của tài khoản vãng lai và tỷ giá hối
đoái thực
Trong phần trước, tác giả đã nêu ra những kết quả đáng ngạc nhiên, đó lànhững cú sốc thâm hụt ngân sách giúp cải thiện tài khoản vãng lai và làm giảm giá tỷ giáhối đoái thực Phần này nghiên cứu sâu hơn về nguyên nhân và cách thức tác độngbằngcách phân tích các tác động của những chính sách tài khóa này lên các thành phần chi tiếtcủa tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực