1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk

57 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 671 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ởnước ta hiện nay đang phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức lớn đó là sự không ổn định trong đầu tư về giá cả, c

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước các doanhnghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng đã và đang trở thành xương sống, trụcột của nền kinh tế quốc dân Cho nên vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp luôn là vấn đề thời sự, cấp thiết của mọi thời điểm

Trong những năm qua hệ thống doanh nghiệp đã có những chuyển biếnquan trọng, nhiều doanh nghiệp đã đi dần vào thế ổn định, thích nghi với cơchế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên vẫn cònmột số doanh nghiệp gặp khó khăn lớn, làm ăn cầm chừng, thua lỗ, sự yếukém về nhiều mặt của một số doanh nghiệp như cơ sở vật chất nghèo nàn, kỹthuật lạc hậu, vốn ít, thị trường hạn hẹp, tổ chức sản xuất kinh doanh thiếukinh nghiệm, trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên chưa chuyển kịp theoyêu cầu của cơ chế mới trên nhiều mặt hoạt động sản xuất kinh doanh Việctìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanhnghiệp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nói riêng

và đổi mới nền kinh tế nói chung

Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ởnước ta hiện nay đang phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức lớn đó

là sự không ổn định trong đầu tư về giá cả, chất lượng, cơ chế quản lý, rào cảnthuế quan và mức độ cạnh tranh trong thị trường xuất nhập khẩu (XNK) ngàycàng trở nên gay gắt …

Chính vì vậy để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, để đảmbảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thì không một doanhnghiệp nào không quan tâm đến hiệu quả kinh doanh Công ty cổ phần đầu

tư XNK Đăk Lăk là một doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnhvực nhưng chủ yếu là xuất khẩu cà phê và nông sản Hoạt động sản xuất

Trang 2

kinh doanh từ trước đến nay của công ty không ngừng phát triển, từng bướcnâng cao chất lượng sản phẩm, bảo toàn vốn sản xuất, đời sống công nhânviên ngày càng được cải thiện Những thành công trên đã góp phần tăngthêm uy tín của thương hiệu Bên cạnh những mặt đã đạt được thì vẫn còn

đó một số tồn tại như việc đầu tư vốn chưa mang lại tỷ suất lợi nhuận mongmuốn, trình độ quản lý chưa cao, chưa bắt được nhu cầu mong muốn củathị trường, tiềm năng của doanh nghiệp chưa khai thác hết dẫn đến làm ảnhhưởng kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty trong thời gian qua.Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn và tình hình tại Công ty tôi quyết

định chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk” để làm chuyên đề tốt nghiệp.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công

Ty Cổ Phần Đầu Tư Xuất Nhập Khẩu Đăk Lăk cũng như những nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty

- Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Xuất Nhập Khẩu Đăk Lăk

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh của công ty vàcác nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung

+) Những vấn đề lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh

+) Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Đầu

Tư Xuất Nhập Khẩu Đăk Lăk

- Phạm vi không gian

Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Xuất Nhập Khẩu Đăk Lăk

Trang 3

PHẦN THỨ HAITỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Sản xuất kinh doanh

Sản xuất kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các giaiđoạn của quá trình đầu tư nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thịtrường và thu được lợi nhuận Quá trình này thể hiện ở công tác tổ chức quản

lý sản xuất, sự phối hợp các yếu tố sản xuất như nguyên liệu, lao động, máymóc thiết bị, vật tư, trang bị tài sản cố định … kết quả cuối cùng thể hiện ởcác chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của sự phối hợp đó

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả nói chung là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong cáckhoa học và trong đời sống hàng ngày Trong sản xuất kinh doanh, hiệu quảđược định nghĩa là: “Chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để lựa chọn cácphương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn của conngười ở mọi lĩnh vực và mọi thời điểm Bất kỳ mỗi quyết định đều đạt đượcphương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, là giải pháp hiện thực có cânnhắc tính toán chính xác, phù hợp với sự tất yếu khách quan trong từng điềukiện cụ thể nhất định Như vậy, hiểu một cách giản đơn, hiệu quả là kết quảhoạt động tốt nhất tron những hoàn cảnh cụ thể, hay hiệu quả là mối quan tâmtối ưu của quan hệ giữa đầu vào và đầu ra

Ngày nay con người đặc biệt quan tâm đến hiệu quả công việc, khôngchỉ nó là kết quả tốt nhất mong muốn đạt được mà còn do các giới hạn về tàinguyên, nhân lực, tài chính, thời gian … Để tiến hành sản xuất sản phẩm thìphải sử dụng các nguyên liệu, dụng cụ và sức lao động Đồng thời với quátrình này thì sản phẩm mới được tạo ra cho xã hội Những giá trị của sảnphẩm mới này vừa bù đắp những gì đã tiêu dùng, vừa tạo thêm vật chất để tái

Trang 4

sản xuất mở rộng và một phần giá trị thặng dư Cứ như vậy, sản phẩm sảnxuất ra nhiều hơn, các nguồn lực phục vụ cho quá trình sản xuất đó càng được

sử dụng hợp lý thì hiệu quả sản xuất càng cao

Lợi nhuận là kết quả cuối cùng trong quá trình hoạt động của doanhnghiệp nhưng không đồng nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh là lợi nhuận màhiệu quả phải được gắn liền vào việc hoàn thành mục tiêu đề ra, không thể cóđược hiệu quả nếu mục tiêu của doanh nghiệp không đạt được Vì vậy, doanhnghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh khi giải quyết được cácvấn đề trên cùng với việc xác định mục tiêu và lựa chọn phương án sản xuấtkinh doanh, xác định phương hướng đầu tư, phát triển doanh nghiệp, …Những vấn đề này mở đầu cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp và có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh saunày Bên cạnh đó, bản chất kinh tế còn bị chi phối bởi bản chất của xã hội.Nếu doanh nghiệp sản xuất được hàng hóa chất lượng cao, giá rẻ, tiết kiệmđược nhiều vật tư thì cả xã hội được lợi

Đất nước ta đang trên đà đổi mới, hội nhập và phát triển, tồn tại nhiềuthành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại và phát triển xen kẽ Các thànhphần kinh tế này có năng lực sản xuất và trình độ tổ chức, yêu cầu về khoahọc kỹ thuật, … không giống nhau và có mục tiêu cũng như lợi ích riêngtrong khi tiến hành sản xuất kinh doanh Cho nên đối với các thành phần kinh

tế, phạm trù hiệu quả kinh tế chỉ giống nhau về mặt hình thức còn nội dung vàbiện pháp đạt hiệu quả là khác nhau Song tất cả đều có chung một mục đích

là sản xuất ra nhiều sản phẩm, đáp ứng mọi nhu cầu phong phú của xã hộinhằm phát triển lâu dài Vì thế với khả năng sẵn có của mình, các doanhnghiệp cần tính toán tỉ mỉ và hết sức tiết kiệm trong việc chi dùng vật tư, vốn,lao động vào sản xuất để giảm chi phí trên từng sản phẩm xuống mức thấpnhất nhằm thu được lợi nhuận tối đa

Tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một đại lượng so sánh kết quảgiữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào, giữa khả năng với nhu cầu Vì vậy, hiệu

Trang 5

quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh kết quả tổng hợp nhấtcủa quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở xác định mối quan hệ giữa lợinhuận với chi phí sản xuất hoặc vốn đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh

đó Hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo chất lượng về trình độ tổ chức vàquản lý, nó phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các nguồn nhân, tài, vật lực củadoanh nghiệp để tạo ra kết quả lớn nhất với chi phí nhỏ nhất mà vẫn đảm bảođược hiệu quả sản xuất kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài

- Khái niệm về hiệu quả

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tuỳ từng trường hợp cụ thể chúng

ta sẽ có các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh tế Khi lấy tổng sản phẩm chiacho vốn sản xuất ta được hiệu suất vốn, lấy giá trị sản lượng trên một đồngchi phí ta được hiệu suất chi phí Hệ số H chỉ phản ánh được trình độ sử dụngđầu vào chứ không phản ánh được quy mô của hiệu quả của sử dụng đầu vào

Quan điểm hai

Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và lượngchi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

H = Q - CNếu trên phương diện kinh doanh kết quả trên chính là kết quả lợi nhuậntrong sản xuất Nhưng trên thực tế trong nhiều trường hợp phép trừ khôngthực hiện được hay phép trừ trên không có nghĩa Tuy vậy, nếu ta thực hiệnđược phép so sánh kết quả của hai phép trừ đối với cùng một đại lượng chiphí bỏ ra, ta được phần chênh lệch thì đó chính là hiệu quả kinh tế Hệ số H

Trang 6

(đại lượng tuyệt đối hay số chênh lệch) chỉ phản ánh được quy mô của hiệuquả chứ không phản ánh được trình độ sử dụng nguồn lực.

Quan điểm ba

Quan điểm kinh tế được xem xét trong phần biến động giữa chi phí vàkết quả sản xuất Nó được biểu hiện ở quan hệ giữa phần tăng thêm của kếtquả và tăng thêm chi phí

Hiệu quả kinh tế = Gia tăng giá trị sản xuất / Gia tăng chi phí bỏ ra

Ở quan điểm này hiệu quả kinh tế chỉ mới quan tâm đến phần tăng thêm

mà không đánh giá chung cho cả quá trình Tuy vậy, khi đánh giá hiệu quảcủa tiến bộ khoa học kỹ thuật và trong việc đánh giá lựa chọn phương án sảnxuất thì quan điểm này tỏ ra thích hợp

Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học về hiệu quả kinh tế tuy cókhía cạnh phân biệt như ý nghĩa kinh tế và phương pháp tính toán nhưng đềuthống nhất với nhau ở chỗ hiệu quả kinh tế là lợi ích tối ưu mang lại cho mỗiquá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy trên thực tế khi đánh giá hiệu quả kinh

tế người ta thường sử dụng các chỉ tiêu và phương pháp khác nhau

- Hiệu quả kinh tế

Hiệu qủa kinh tế là một phạm trù kinh tế mà trong đó doanh nghiệp phảiđạt được cả về hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả phân bổ, tức là doanh nghiệpphải đạt được số lượng sản phẩm nhiều nhất trên một đơn vị chi phí đầu vàohay nguồn lực được sử dụng vào trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật haycông nghiệp được áp dụng vào sản xuất, đồng thời giá trị biên của sản phẩmphải bằng giá trị chi phí biên của các yếu tố nguồn lực Hay nói cách khácdoanh nghiệp cần phải tính đến giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chiphí tăng thêm của các yếu tố đầu vào

Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp ta cần phải xem xét mộtcách toàn diện cả về mặt không gian lẫn thời gian Hiệu quả mà doanh nghiệpđạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ kinh doanh không được làm giảmsút hiệu quả của các giai đoạn, từng chu kỳ kinh doanh tiếp theo Mặt khác

Trang 7

hiệu quả kinh tế chỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi mà toàn bộhoạt động của các bộ phận, các xí nghiệp, các đơn vị sản xuất … mang lạihiệu qủa mà nó không làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung.

Để đạt được hiệu quả trong kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiếnlược kinh doanh thích hợp, không vì lợi ích trước mắt mà làm ảnh hưởng đếnlợi ích lâu dài trong tương lai Trong thực tế sản xuất kinh doanh ở nước ta khi

mà lợi nhuận được đặt trên hết thì điều này rất hay xảy ra khi mà con người khaithác sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi lãng phí gây thiệt hại đếnnguồn lực của đất nước và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Xét ở khía cạnh định lượng, hiệu quả kinh tế thể hiện ở mối tương quangiữa thu và chi theo xu hướng tăng thu giảm chi Điều này dẫn tới việc tiếtkiệm đến mức tối đa các chi phí sản xuất đồng thời ngày càng tạo ra nhiều sảnphẩm có ích cho xã hội

Trên góc độ nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả mà doanh nghiệp đạtđược phải gắn chặt với hiệu quả xã hội Điều này thể hiện tính đồng bộ, pháttriển toàn diện nền kinh tế thị trường Biểu hiện tập trung của hiệu quả kinh tế

là lợi nhuận của doanh nghiệp, đây là đích nhắm của hầu hết các đơn vị sảnxuất kinh doanh Lợi nhuận chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh,không có lợi nhuận thì không thể có kinh doanh Để sản xuất kinh doanh đạtđược hiệu quả cao nhất đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có các kế hoạch,phương hướng sử dụng các yếu tố sản xuất một cách tốt nhất Muốn vậy, việcnắm vững các nguyên nhân ảnh hưởng, mức độ, xu hướng ảnh hưởng củatừng yếu tố đến kết quả sản xuất kinh doanh của mình là một điều cần thiết.Hiệu quả kih tế có thể đạt được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động vàchất lượng công tác trên cơ sở các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanhngày càng cao đòi hỏi doanh nghiệp không những nắm chắc các tiềm năng laođộng, vật tư, tiền vốn, thị trường, chất lượng sản phẩm … mà phải nắm đượcchu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp từ đó mới có những biện pháp và quyếtđịnh đúng đắn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Trang 8

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình

độ sử dụng nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh đạt kếtquả cao nhất với chi phí thấp nhất Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh làvấn đề sống còn của doanh nghiệp, song việc này lại phụ thuộc vào nhiều yếu

tố chủ quan và khách quan như: Tình hình thị trường, các chế độ chính sáchcủa nhà nước có liên quan, việc nắm giữ và sử dụng các nguồn lực của doanhnghiệp, hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh và mức độ cạnh tranh trên thịtrường … Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh không những chịu ảnhhưởng của các yếu tố bên trong mà còn luôn bị tác động bởi các yếu tố môitrường bên ngoài Để quá trình kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chếrủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời giantới và vạch ra chiến lược kinh doanh phù hợp Ngoài việc phân tích các điềukiện bên trong doanh nghiệp về tài chính, lao động, vật tư … doanh nghiệpcòn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như thịtường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh … trên cơ sở phân tích trên, doanhnghiệp dự đoán rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy

ra Muốn đạt hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu, phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, không chỉ có nhữngbiện pháp sử dụng nguồn lực bên trong hiệu quả mà còn phải nắm bắt các bấttrắc của môi trường bên ngoài có thể đưa ra những biện pháp đối phó, thậmchí có thể lấy đó làm cơ hội cho việc sản xuất kinh doanh

Sản xuất kinh doanh và hiệu quả sản xuất kinh doanh chịu sự tác độngcủa một số nhân tố sau đây:

+ Nhân tố nghệ thuật kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường nghệ thuật quản lý hoạt động sản xuất kinhdoanh luôn chiếm một vị trí quan trọng trong quyết định sự thành công haythất bại của doanh nghiệp Nghệ thuật kinh doanh khá phức tạp, nghệ thuật

Trang 9

quản lý càng cao khả năng linh hoạt nhạy bén, nắm bắt khả năng diễn biếntrên thị trường càng tốt, để từ đó đưa ra quyết định đúng đắn.

+ Nhóm nhân tố về kinh tế

- Địa hình địa điểm: Địa điểm sản xuất kinh doanh thuận lợi, gần khu vựphát triển kinh tế mạnh, đông dân cư, gần nguồn nguyên liệu là một thế mạnhlớn, tiêu thụ ít gặp nhiều khó khăn

- Vốn: Bất kỳ một công ty, doanh nghiệp nào muốn hoạt động, đầu tiên

và cần thiết là phải có vốn, vốn là nền tảng trên cơ sở đã tiến hành sản xuấtkinh doanh Nhu cầu về vốn là vấn đề cấp bách hiện nay Hoạt động sản xuấtkinh doanh chủ yếu tiến hành tốt khi có đầy đủ về vốn, mở rộng quy mô cầnphải có vốn, vốn là cơ sở vật chất để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh Vì vậy, vốn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh

- Lao động: Muốn tiến hành sản xuất cần kết hợp 2 yếu tố là lao động và

tư liệu sản xuất, lao động sáng tạo ra mọi của cải vật chất cho xã hội Sử dụngđầy đủ và hợp lý sức lao động, đào tạo năng lực nâng cao hiệu quả lao động,

hạ giá thành sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cao

+ Trình độ tổ chức sản xuất

Cơ sở sản xuất kinh doanh là tế bào của nền kinh tế quốc dân, là đơn vịtrức tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội, là đối tượng của việc tổ chức lại của nềnkinh tế quốc dân, bất kỳ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào đều yêu cầu phải

có sự chỉ đạo để điều tiết mọi hoạt động cá nhân Tổ chức sản xuất trong các

cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm tổ chức sử dụng lao đông, vốn, tư liệu sảnxuất … việc tổ chức sản xuất có mối quan hệ mật thiết với hiệu quả kinh tế,nên tổ chức sử dụng mọi yếu tố sản xuất, là cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế

+ Cơ chế, chính sách của nhà nước

Một doanh nghiệp hoạt động ở mức độ nào cũng đều chịu sự phụ thuộcvào hành lang pháp lý vào cơ chế chính sách của nước đó, nó bao gồm nhữngchính sách về giá cả, thuế, phân phối tiền lương, khi cơ chế đúng đắn sẽ tạo

Trang 10

đà phát triển thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đồng thời tạo môi trườngkinh tế thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

+ Điều kiện kinh tế xã hội

Hiệu quả kinh doanh sẽ lớn hơn khi doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi

về kinh tế xã hội như: Gần khu vực phát triển mạnh về kinh tế, các trung tâmchính trị xã hội, nơi có trình độ dân trí cao và đời sống người dân ổn định, gầnnguồn nguyên liệu … với những điều kiện như trên thì doanh nghiệp sẽ ít gặpkhó khăn hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm, có khả năng cung cấp nguồn nhânlực, phương tiện giao thông đi lại thuận tiện, sự vận chuyển hàng hóa đi lạinhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu mua bán đảm bảo choquá trình tiêu thụ sản phẩm

+ Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng là tổng thể các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và kiếntrúc đóng vai trò nền tảng cơ bản cho các hoạt động kinh tế, xã hội được diễn

ra một cách bình thường

Toàn bộ kết cấu hạ tầng được phân loại theo các lĩnh vực sau:

- Kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế: Các công trình công nghiệp, nănglượng, giao thông, thông tin liên lạc, bến bãi, kho tàng, cơ sở kinh doanh

- Kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội: Các cơ sở giáo dục, y tế,nghỉ ngơi, các công trình văn hóa phục vụ các hoạt động văn hóa

- Kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng: Các công trình phục vụcho quân sự, hệ thống thông tin, liên lạc, nghiên cứu khoa học … phục vụ anninh quốc phòng

Việc phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, trên thực tế có rất ítloại kết cấu hạ tầng nào chỉ hoàn toàn phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạtđộng xã hội và ngược lại, ngay cả hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ an ninhquốc phòng cũng vậy, trừ những công trình chuyên dụng cho an ninh quốcphòng, nhiều cơ sở vẫn có thể phục vụ cho các hoạt động kinh tế xã hội Việcphân loại như trên tuy có tính chất tương đối nhưng vẫn có ý nghĩa rất lớn

Trang 11

trong việc xác định cơ cấu đầu tư, thứ tự ưu tiên kế hoạch xây dựng kết cấu hạtầng có ý nghĩa quốc gia và vùng …

Kết cấu hạ tầng có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế, xã hội của đấtnước, kết cấu hạ tầng đảm bảo những điều kiện vật chất thuận lợi nhất để ccs

cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả, thật vậy, chỉ cần trục trặctrong một khâu nhất định của một loại hoạt động do sự yếu kém của hệ thốngkết cấu hạ tầng gây ra như cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, giao thông,thông tin liên lạc … thì lập tức sẽ gây ra sự cố cho hoạt động của các cơ sởsản xuất và dịch vụ khác Ngược lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại,đồng bộ sẽ rút ngắn chu kỳ sản xuất lưu thông sản phẩm, giảm bớt chi phí sảnxuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm làm cho các sản phẩm hànghóa dịch vụ mang tính cạnh tranh hơn

Việc xây dựng kết cấu hạ tầng đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớncủa nhà nước Đó cũng chính là một trở ngại đáng kể ở một nước đang pháttriển Song với nhận thức mới, coi kết cấu hạ tầng không phải là yếu tố đi sau,

hệ quả của phát triển kinh tế - xã hội mà là yếu tố mở đường, là bộ phận cấuthành của phát triển kinh tế - xã hội, có thể nói, không có kết cấu hạ tầng tốt,

sẽ không phát triển kinh tế hàng hóa Trong những năm gần đây, Đảng ra đãđặc biệt chú ý và dành phần thích đáng ngân sách, các khoản viện trợ củanước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài dưới mọi hình thức để phát triển

2.1.3 Ý nghĩa việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện sống còn để doanhnghiệp tồn tại và phát triển

+ Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề không thể thiếutrong bất kỳ một doanh nghiệp nào Khi mà hiện nay các “Thượng đế” nâgỳcàng trở nên khó tính hơn trong việc lựa chọn các chủng loại hàng hóa, sảnphẩm và mức độ cạnh tranh ngày càng tăng cao, nếu cá doanh nghiệp chỉ khưkhư chú trọng đến hiệu quả mà quên mất việc chú ý đến phát triển bền vữngthì cũng đồng nghĩa với tự sát Cho nên, có thể nói nâng cao hiệu quả sản xuất

Trang 12

kinh doanh thường xuyên là cách duy nhất để doanh nghiệp và sản phẩm củadoanh nghiệp tồn tại được trên thị trường Mục đích của việc nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh là:

- Giảm chi phí đầu vào dẫn đến giảm giá bán

- Nâng cao chất lượng sản phẩm

- Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

- Nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp

- Nâng cao uy tín và vị thế doanh nghiệp

Để đạt được điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải tạo cho mình mộtsức cạnh tranh mạnh trên thị trường để tồn tại và phát triển Hiệu quả sản xuấtkinh doanh còn là thước đo phản ánh trình độ quản trị của doanh nghiệp, việcđạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao chứng tỏ có sự thống nhất về mục tiêuhoạt động ở mỗi bộ phận chức năng

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cách thức để doanh nghiệp lậpchiến lược của mình cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai Vìthế quá trình phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho doanhnghiệp tìm thấy ưu, nhược điểm để từ đó có thể xác định được vị trí của mìnhtrên thương trường so với các đối thủ cạnh tranh để đề ra chiến lược kinhdoanh phù hợp nhất

Như vậy, việc nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa vôcùng quan trọng đối với mọi doanh nghiệp cũng như đối với bất kỳ hoạt độngsản xuất kinh doanh nào

2.2 Cơ sở thực tiễn

Sự phát triển của xã hội là một hình xoáy trôn ốc mà xã hội đi sau sẽ thịnhvượng và đầy đủ hơn xã hội trước là tất yếu Để xã hội phát triển được thì phải cótích lũy để sản xuất và tái sản xuất mở rộng Muốn có nhiều tích lũy đòi hỏi phải

có hiệu quả trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy hiệu quả tronghoạt động sản xuất kinh doanh là vấn đề cốt lõi cho sự phát triển cuả xã hội

Trang 13

Xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái, ngoại trừ xã hội Công xãnguyên thủy loài người sống bằng săn bắn hái lượm và sống theo bầy, đànnên chưa chú ý đến hiệu quả hoặc họ chưa biết đến khái niệm hiệu quả Các

xã hội nối tiếp ra đời tân tiến hơn thay thế xã hội cũ với quan hệ sản xuất mới,công cụ lao động, máy móc tiên tiến với các phương pháp quản lý mới, độingũ những nhà quản lý và công nhân được đào tạo ngày một bài bản hơn Cácông chủ ngày càng chú trọng hơn tới vấn đề hiệu quả trong lao động sản xuất

và họ cũng biết cách để tạo ra hiệu quả đó

Ở Việt nam, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh luôn được coi trọng

và sau 20 năm đổi mới, nước ta đã mang bộ mặt khác hẳn, tiềm lực tài chínhđược tăng cường, có tích lũy để đầu tư phát triển Việt Nam đang bước trên conđường công nghiệp hóa, hiện đại hóa với 6 thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau

đã chứng tỏ rằng Nhà nước đang muốn khai thác tối đa hiệu qủa kinh tế của cácthành phần mà trước đây chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đảm trách.Tuy vậy hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung vẫncòn nhỏ và yếu kém so với mặt bằng chung của khu vực Đa số các doanhnghiệp hoạt động theo quy mô nhỏ và siêu nhỏ nên ít có điều kiện sử dụng cácmáy móc, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ caocòn ít, tình trạng hoạt động thiếu vốn, quản lý yếu kém và mô hình công ty giađình vẫn tồn tại rất nhiều Những yếu kém trên thể hiện rõ nhất là công tác quyhoạch và phân bổ nguồn lực, sau đó là chất lượng và hiệu quả đầu tư Đối vớicác doanh nghiệp lớn thì xảy ra tình trạng đầu tư dàn trải trong khi nguồn vốn

có giới hạn gây ra tình trạng kéo dài thời gian làm lãng phí, thất thoát vốn vàtài sản Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhìn từ nhiều phía nói chungcòn thấp chứ chưa tính đến hiệu quả của các yếu tố xã hội

Trang 14

2.3 Các môi trường ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu

- Môi trường kinh tế

Những năm vừa qua, tổng nguồn vốn đầu tư cho toàn xã hội bình quânhằng năm gần 15% Tỷ trọng trên GDP đã tăng từ 32,9% năm 2000 lên 38,9%năm 2005 và 41% năm 2006 Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếmtrên 20% Có thể nói, đầu tư từ ngân sách nhà nước đã góp phần tạo dựng vàphát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực theo hướng công nghiệp hóa vàhiện đại hóa tăng đáng kể năng lực sản xuất mới Nguồn vốn đầu tư xây dựng từngân sách nhà nước đã thực sự giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt và thu hút các nguồnvốn huy động trong nền kinh tế cho đầu tư phát triển Công tác quản lý đầu tưxây dựng có một số tiến bộ đáng kể Việc khuyến khích tất cả các thành phầnkinh tế đã làm sôi động thêm nền kinh tế quốc gia Mở cửa hội nhập kinh tế thếgiới đã đưa đến nhiều cơ hội và nhiều thách thức tiềm ẩn

- Chính trị - pháp luật

Ổn định chính trị là một thế mạnh rất lớn của Việt Nam trong nhữngnăm vừa qua nước ta được đánh giá là điểm đến an toàn nhất trên thế giới.trong khi đó các nước khác và ngay cả các nước trong khu vực tình hìnhchính trị luôn tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn, chiến tranh, khủng bố, xung độtsắc tộc xảy ra triển miên thì nước ta đảm bảo được một nền chính trị vữngvàng không chiến tranh, không xung đột Đây là điều kiện lý tưởng cho việcsản xuất kinh doanh thuận lợi

- Kỹ thuật- công nghiệp

Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới đã

và đang đẩy thế giới tiến những bước dài trong nền văn minh nhân loại Việ ra đờicủa máy vi tính đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội và kéo theo sự phát triển vũ bãocủa các ngành công nghiệp tự động khác Một phần của thế giới đã bước sang nềnkinh tế tri thức, nơi mà sức lao động không còn là vấn đề sống còn đối với họ mà

Trang 15

đã trở thành vấn đề thứ yếu Họ sản xuất ra một lượng lớn của cải vật chất nhưngchỉ cần một vài người làm công tác điều hành quản lý còn lại do máy móc làm.Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đặc biệt là ở các nước phương tây

đã làm cho tốc độ tăng trưởng của họ luôn đạt ở mức cao

Ở Việt Nam sau thời gian chiến tranh, nước ta bước vào thời kỳ kếhoạch hóa tập trung Bị chiến tranh tàn phá nặng nề cộng với đường lối xâydựng đất nước chưa phù hợp đã hạn chế rất lớn sự phát triển của xã hội.Bước vào thời kỳ đổi mới, chỉ là những hợp tác xã, những doanh nghiệpnhà nước nhỏ với những công cụ lao động thô sơ nhưng sau hơn 20 nămđổi mới đất nước ta đã mang một bộ mặt khác hẳn Việc lao động khôngchỉ đơn thuần là con trâu đi trrước cái cày theo sau nữa mà máy móc trangthiết bj công nghiệp đã được sử dụng nhiều trong sản xuất, chế biến Tuynhiên về cơ bản nước ta vẫn còn nghèo so với các nước khác, nền nôngnghiệp là chủ yếu và Đảng và Nhà nước đặt ra mục tiêu là đến năm 2020

cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa

Trong những năm vừa qua, công ty cổ phần và đầu tư xuất nhập khẩu

đã chủ động đầu tư nhiều máy móc trang thiết bị và công nghệ mới Song tốc

độ đổi mới trang thiết bị và công nghệ còn chậm, chưa đồng đều và chưa theomột định hướng phát triển rõ rệt Hiện vẫn còn tồn tại đan xen các loại thiết bịcông nghệ lạc hậu và trung bình do vậy đã làm hạn chết hiệu quả vận hanhthiết bị và giảm mức độ tương thích, đồng nhất giữa các sản phẩm

Sự lạc hậu về công nghệ và kỹ thuật sẽ tạo ra chất lượng sản phẩm thấp

và không ổn định làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lựa chọnchủng loại đầu tư, sản phẩm kinh doanh và khả năng cạnh tranh bằng giá cả

- Mối đe dọa từ các đối thủ cạnh tranh

Phần lớn các công ty trong nước nói chung và công ty cổ phần đầu tưxấut nhập khẩu nói riêng đang hoạt động trong tình trạng không đủ vốn cầnthiết, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanhcũng như năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Đây là

Trang 16

điều đáng lo ngại khi các chính sách bảo hộ của nhà nước hầu như khôngcòn nữa vì theo lịch trình giảm thuế quan cho khu vực mậu dịch tự doASEAN- AFTA Khi đó doanh nghiệp Việt Nam dễ bị các tập đoàn lớn củacác nước đánh bại.

Với khả năng tiếp cận nguồn vốn hạn chế, các doanh nghiệp có tìnhtrạng phổ biến là chiếm dụng vốn lẫn nhau, làm lây nhiễm rủi ro giữa cácdoanh nghiệp Các doanh nghiệp không đủ thông tin về thị trường, ra quyếtđịnh theo kinh nghiệm và cảm tính là chủ yếu

Chưa đẩy mạnh chiến lược Marketing tổng thể hoặc Maketing đa dạngsản phẩm và đa dạng thương hiệu

Việc có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh trong cùng mộtngành đã dẫn đến tình trạng năng lực cạnh tranh bị sụt giảm Tình trạng cácdoanh nghiệp trong nước cạnh tranh với nhau đã làm giảm giá một cáchkhông cần thiết

Tiềm lực tài chính hạn chế, vốn đầu tư ban đầu ít, vốn lưu động lại càng ít.Thiếu vốn dẫn đến tình trạng không có điều kiện để lựa chọn mặt hàng có chấtlượng cao trong kinh doanh, đầu tư vào đổi mới các thiết bị công nghệ kinh doanh.Nhận thức về tầm quan trọng của kênh phân phối còn hạn chế Khôngxây dựng được mạng lưới phân phối trực tiếp ở nhiều khu vực Việc tạo lậpthương hiệu cho sản phẩm còn bị xem nhẹ, chưa thực sự coi thương hiệu là tàisản của doanh nghiệp Thiếu khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp đã làmgiảm rất nhiều sức mạnh của cả cộng đồng kinh doanh

Chi phí kinh doanh còn quá cao, năng lực và bộ máy quản lý điều hànhchưa tốt, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của hệ thống doanh nghiệp nhànước còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ kinhdoanh và khả năng tiếp cận đổi mới công nghệ kinh doanh còn lạc hậu

Như vậy, nhìn một cách toàn diện, năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp của Việt Nam nói chung và của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩuĐăk Lăk nói riêng là rất hạn chế trong khi chúng ta đang đi trên con đường

Trang 17

của hội nhập toàn diện Những sân chơi mới không chỉ mang tầm khu vực màcòn ra toàn thế giới Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thếgiới WTO, điều tất yếu trong tương lai là các doanh nghiệp lớn của nướcngoài sẽ đến với vùng đất nhiều tiềm năng này và khi đó những yếu kém nêutrên sẽ là bất lợi vô cùng to lớn đối với các doanh nghiệp trong nước.

Trang 18

PHẦN THỨ BAĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

ĐăkLăk là một tỉnh miền núi cao biên giới cao nguyên Trung bộ, nằm ởkhu vực ngã ba biên giới Việt Nam- Lào- Cămpuchia, phần lớn lãnh thổ nằm

ở phía Tây Trường Sơn, địa hình đa dạng và thấp từ Bắc xuống Đông và từĐông sang Tây bao gồm đồi núi độ dốc lớn, cao nguyên và thung lũng xen kẻnhau phức tạp… Quanh năm chỉ có hai mùa nắng và mùa mưu , nhiệt độtrung bình là 25oC thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp

3.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội tỉnh ĐăkLăk

Buôn Ma Thuột là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đăk Lăk, đây là trung tâmkinh tế, hành chính và văn hóa của tỉnh và của vùng Tây Nguyên, nằm ở vị trítrung tâm tỉnh có tọa độ 12.4400 vĩ Bắc và 108.3200 kinh Đông, thành phốtiếp giáp với các huyện khác của tỉnh là CưM’gar phía Bắc, Eakar ở phíaNam, Krông Pắc ở phía Tây và Cư Jút ở phía Tây

Thị xã Buôn Ma Thuột đã được nâng cấp lên thành phố đô thị loại hai,đây là một công nhận về tầm quan trọng ngày càng tăng của thành phố trungtâm hành chính của tỉnh Đăk Lăk Buôn Ma Thuột là thành phố lớn nhất ởkhu vực Tây Nguyên cả về diện tích và quy mô dân số, diện tích tự nhiên là26.200 ha, trong đó đất nội thành 10092 ha thành phố hiện có số dân khoảng100.000 cư dân sống ở ngoại vi Về cơ cấu hành chính thành phố được cơ cấu

tổ chức thành 13 phường nội đô và 5 xã ngoại vi

Nằm ở nút giao thông quan trọng, trên giao lộ của quốc lộ 14 (nối vớithành phố Pleiku- Kon Tum về phía Bắc và Bình Dương- Thành phố Hồ ChíMinh về phía Nam) quốc lộ 26 nối với thành phố biển Nha Trang và quốc lộ

27 đi Đà Lạt, thành phố Buôn Ma Thuột là vị trí chiến lược quan trọng trongphát triển vùng và khu vực

Trang 19

3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần đâu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk

Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk là doanh nghiệp Nhànước được thành lập theo giấy phép cấp ngày 20 tháng 08 năm 1976 của UBNDtỉnh Đăk Lăk với tên gọi ban đầu là “Công ty ngoại thương” với số lượng cán

bộ công nhân viên hơn mười 10 người , vốn lưu động được cấp ban đầu là 12triệu đồng Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn phát triển ,Công ty đã qua 5 lần đổi tên

+ Công ty Ngoại Thương Đăk Lăk (1976-1982)

+ Công ty liên hợp xuất khẩu Đăk Lăk (1982-1985)

+ Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu Đăk Lăk (1986-1988)

+ Liên hiệp xí nghiệp đầu tư xuất nhập khẩu ĐăkLăk (1988-1992)

+ Ngày 29/09/1992Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Đăk Lăk có quyết định

số :591/QĐ-UB đổi tên Công ty thành: Công ty Đầu tư Xuất nhập khẩu Đăk Lăk(INEXIM DAKLAK)

Ngày 21/04/2007: Đơn vị tổ chức Đại Hội đồng cổ đông thành lập Công ty

Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu ĐăLăk

Ngày 27/04/2007: Sở Kế hoạch Đầu tư Đăk Lăk cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh số: 40.03.000126 Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩuĐăkLăk chính thức hoạt động theo loại hình Công ty Cổ phần

Tên tiếng việt: Công ty cổ phần đầu tư - xuất nhập khẩu Đăk Lăk

Tên tiếng anh: DAKLAK INVESTMENT EXPORT- IMPORT JOINT,STOCK CORPORATION

Tên viết tắt: INEXIM DAKLAK

Có trụ sở tại 228 Hoàng Diệu -TP.Buôn Ma Thuột- Đăk Lăk

Điện thoại: 0500.852233- 0500.856250

Fax: 0500.852864

Email: Inc ximdl@dng.com.vn

Trang 20

3.1.3 Chức năng nhiệm vụ công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk.

- Kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ và khách sạn, du lịch, dịch vụ cho thuê nhà

- Kinh doanh xuất khẩu máy móc, thiết bị phụ tùng, tư liệu sản xuất, tư liệutiêu dùng, dây chuyền công nghệ tự động hóa, hàng nông lâm sản, hàng tiêu dùng

- Khai thác, thu mua, chế biến các mặt hàng nông sản- lâm sản các loạivật liệu xây dựng

- Làm đại lý tiêu thụ cho các hãng trong và ngoài nước các mặt hàngphục vụ tiêu dùng

*Nhiệm vụ

Đẩy mạnh việc tăng trưởng, phát triển kinh tế , tăng thu nhập cho Côngty.Phát triển bền vững ,có giá trị lâu dài thể hiện niềm tin trong kinh doanh Bên cạnh đó Công ty cần phải nâng cao trình độ quản lý, cũng như đào tạonguồn các nhân viên để thay thế

Trang 21

3.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy và tình hình sử dụng lao động của công ty

Sơ đồ tổ chức công ty.

Trung tâm xuất khẩu lao động

và chuyên gia

Các xí nghiệp chế biến sản xuất

Chi nhánh Cty tại Bình Dương và TP.HCM

Trực tuyến chức năngBan kiểm soát

Ban giám sát

Trang 22

- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý cao nhất của công ty, có toànquyền nhân danh công ty để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích,quyền lợi của công ty, Hội đồng quản trị có nhiệm vụ quyết định chiến lượcphát triển của công ty, quyết định giải pháp phát triển thị trường, quyết địnhnội dung tài liệu phục vụ họp đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp đại hội đồng

cổ đông, thiết lập cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty

- Ban kiểm soát: Do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, Ban kiểm soát cónhiệm vụ kiểm tra tính trung thực hợp pháp trong quản lý điều hành mọi hoạtđộng kinh doanh của công ty, thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị

về kết quả hoạt động, tham khảo ý kiến Hội đồng quản trị trước khi trình báocáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông

- Ban giám đốc: Bao gồm giám đốc và Phó giám đốc do Hội đồng quảntrị bổ nhiệm Giám đốc điều hành có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động hàngngày của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về thực hiện cácquyền và nhiệm vụ được giao, giám đốc là người đại diện theo pháp luật củacông ty, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh vàphương án đầu tư của công ty

- Các trưởng phòng chức năng và trưởng các đơn vị sản xuất

+ Trách nhiệm và quyền hạn của các Trưởng phòng ban chức năng vàtrưởng các đơn vị sản xuất thể hiện trong quy định tổ chức hoạt động của mỗi bộphận và trong các văn bản phân quyền khác do Giám đốc công ty quy định.+ Về nguyên tắc, Trưởng các phòng ban chức năng và trưởng các đơn vịsản xuất có quyền phân công công việc cho nhân sự thuộc bộ phận mình, phêduyệt các công việc thuộc phạm vi chức năng được giao

+ Trưởng các phòng ban chức năng và trưởng các đơn vị sản xuất chịutrách nhiệm về kết quả công việc của bộ phận trước Giám đốc công ty vàpháp luật

* Tình hình sử dụng lao động của công ty

Nguồn kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp luôn chịu sự cạnhtranh gay gắt, cho nên để tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quảthì yếu tố con người đóng một vai trò quyết định, đặc biệt trong lĩnh vực sản

Trang 23

xuất kinh doanh Do đó cần phải tổ chức và quản lý lao động hợp lý và tiếtkiệm chi phí mà thông qua đó quản lý tốt các yếu tố sản xuất khác, tiết kiệmđược nguyên vật liệu, tận dụng được công suất máy móc thiết bị từ đó nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Để thấy rõ tình hình lao động

và sử dụng lao động của công ty trong những năm qua ta xét bảng số liệu sau:

Bảng 3.1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm

Về trình độ của cán bộ công nhân viên trong công ty, số người tốtnghiệp Đại học và cao đẳng chiếm tỷ trọng thấp, đa số là lao động phổ thôngchưa được qua đào tạo Để tạo tính ổn định lâu dài cho đội ngũ công nhântrong công ty cần phải chú ý nhiều hơn tới lực lượng thanh niên dân tộc bảnđịa họ có sức khỏe tốt và khả năng gắn bó lâu dài với công ty

Trang 24

Như vậy trong 3 năm vừa qua số lao động của công ty liên tục giảm đặcbiệt là đội ngũ công nhân trực tiếp sản xuất Việc người lao động không gắn

bó lâu dài với công ty là một biểu hiện bất ổn trong hoạt động sản xuất trongtình hình tài chính và cả trong thu nhập của người lao động

- Tình hình vốn và nguồn vốn của công ty cổ phần đầu tư xuất nhậpkhẩu Đăk Lăk:

3.1.5 Tình hình vốn của công ty trong 3 năm 2005 - 2007

Qua bảng 3.2 ta thấy: Năm 2005 tổng tài sản của công ty hiện có là76.771.038.000đ, sang năm 2006 số vốn tăng thêm 354.887.000đ nhưng năm

2007 lại bị giảm xuống 1.430.257.000đ trong đó:

Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn có xu hướng tăng lên, cụ thể là năm

2005 số tiền là 51.138.899.000đ, năm 2006 là 60.987.939.000đ còn sang năm

2007 số tiền tăng 3.843.326.000đ làm cho tổng tài sản lưu động và đầu tưngắn hạn trong năm này là 64.831.265.000đ Chênh lệch giữa năm 2005 và

2007 là 13.692.366.000đ

Trái ngược với tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định vàđầu tư dài hạn lại có chiều hướng giảm xuống Trong 3 năm hoạt động khoảnvốn này giảm gần 15 tỷ đồng, 25.632.139.000đ năm 2005 còn10.864.403.000đ năm 2007 Trong đó tài sản cố định là khoản mục giảmnhiều nhất và nhanh nhất qua các năm với 24.385.129.000đ năm 2005,15.114.435.000đ năm 2006, giảm 9.270.676.000đ và năm 2007 tiếp tục giảm5.211.134.000đ còn lại 9.903.319.000đ

Như vậy, qua bảng tổng kết nguồn vốn của công ty cổ phần đầu tư xuấtnhập khẩu Đăk Lăk trong 3 năm 2005, 2006, 2007 ta thấy rằng tài sản lưuđộng và đầu tư ngắn hạn tăng lên qua từng năm còn tài sản cố định và đầu tưdài hạn lại giảm xuống Trong khi vốn hoạt động của công ty chủ yếu là vốn

đi vay nhưng vay với mức độ quá nhiều và ngày càng tăng cao, vốn tài sản cốđịnh lại thấp là những dấu hiệu bất ổn cho tình hình tài chính của công ty nếu

có biến động Nếu vì một lý do gì đó công ty không huy động được vốn hoặc

Trang 25

không trả được nợ thì chắc chắn sẽ bị phá sản vì vốn của công ty chủ yếu làvốn đi vay từ những nguồn vốn ngắn hạn.

Bảng 3.2: Tình hình vốn của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu

Đăk Lăk qua 3 năm

Đơn vị tính: 1000 đồng

Chỉ tiêu 2005 2006 2007

So sánh 2006/2005 2007/2006

Nguồn: Phòng tài chính - Kế toán

* Tình hình về nguồn vốn của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩuĐăk Lăk

Vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh của bất kỳ một công ty nào Vốn đảm bảo cho công ty hoạt động sản xuấtkinh doanh có hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu, đảmbảocho số dư cuối kỳ mang dấu cộng để tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng

Nguồn vốn của Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk đượchình thành bởi hai loại chính là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay Qua 3 nămhoạt động ta thấy vốn chủ sở hữu giảm rất nhânh Năm 2005 là

Trang 26

7.523.797.000đ thì năm 2006 còn lại 4.199.701.000đ, năm 2007 nguồn vốnnày tiếp tục giảm xuống còn 2.153.499.000đ So với năm 2005 thì năm 2007nguồn vốn này đã giảm hơn 4 tỷ đồng.

Trong nhóm vốn chủ sở hữu ta thấy khoản mục nguồn kinh phí của hainăm 2006, 2007 mang dấu âm, nguồn kinh phí năm 2006 đã giảm so với năm

2005 là 82.771.000đ từ 71.061.000đ xuống còn -11.710.000đ và sang năm

2007 giảm tiếp 69.413.000đ nên số còn lại của năm 2007 là -81.123.000đ Dodoanh thu và lợi nhuận của năm 2006 và 2007 không có mà còn thua lỗ nêncông ty đã lấy tiền từ các quỹ như khen thưởng phúc lợi, kinh phí công đoàn

… để bù vào nguồn vốn sản xuất nhưng do hoạt động không hiệu quả nênkhoản tiền này ngày càng bị âm nhiều hơn

Nhìn vào khoản nợ phải trả ta thấy đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng rấtlớn trong tổng nguồn vốn của công ty, năm 2005 chiếm 90%, năm 2006chiếm 94.5% và năm 2007 chiếm 97,15% Như vậy, nhìn vào cơ cấu vốn củacông ty trong 3 năm ta thấy vốn hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là vốn

đi vay, các khoản vay ngày càng tăng lên khi nguồn vốn chủ sở hữu ngàycàng giảm xuống

Trong tổng số nợ phải trả thì nợ dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ và có xuhướng ngày càng giảm xuống sau 3 năm nhưng nợ ngắn hạn lại tăng rấtnhânh và chiếm tỷ trọng lớn Năm 2007 nợ ngắn hạn chiếm 95,3% trong tổng

số nợ phải trả

Tuy nhiên khi nhìn vào khoản nợ phải trả của công ty ta thấy một điềuđáng mừng là số nợ khác của công ty trong năm 2006 là 41.120.197.000đchiếm 53,3% thì sang năm 2007 khoản nợ này công ty đã xóa hết

Như vậy qua bảng cơ cấu nguồn vốn của công ty trong 3 năm ta thấy cơcấu vốn có sự chênh lệch lớn giữa vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Trong khivốn chủ sở hữu ngày càng giảm thì nợ phải trả lại càng tăng lên và chiếm tỷtrọng lớn Nợ phải trả chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn thì đây là một bất

ổn lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bởi vì chỉ cần một

Trang 27

biến động nhỏ trong việc cung cấp vốn của các đối tác thì công ty sẽ xoay xởkhông kip.

Bảng 3.3: Tình hình nguồn vốn của Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập

khẩu Đăk Lăk qua 3 năm 2005-2007

Nguồn: Phòng tài chính - Kế toán

- Tình hình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty

Để tiến hành sản xuất một cách có hiệu quả ngoài các yếu tố như vốn,lao động … cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất là vô cùng quan trọng, nó ảnhhưởng đến việc nâng cao năng suất sản xuất kinh doanh của đơn vị Bởi vì,trong đó bao gồm máy móc thiết bị sản xuất là điều kiện quan trọng và cầnthiết để sản xuất đem lại hiệu quả cao Vì vậy, việc phân tích tình hình sửdụng cơ sở vật chất là để có biện pháp sử dụng một cách triệt để chúng đểđem lại hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh của công ty Để thấy rõ đượctình hình sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty chúng ta xem xét bảng

số liệu số 4 sau:

Bảng 3.4: Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty cổ

phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk

Trang 28

2 Giá trị hao mòn TS 5.425.064 3.263.486 2.126.748 -2.161.578 60,2 -1.136.738 65,2

3 Giá trị còn lại 18.960.065 11.850.967 7.776.571 -7.109.098 62,5 -4.074.396 65,6

Nguồn: Phòng tài chính - Kế toán

Trong ba năm qua, giá trị của tài sản cố định có chiều hướng giảm xuống.Năm 2006 tổng tài sản cố định là 24.385.129.000đ nhưng năm 2006 lại giảmmất 9.270.670.000đ và năm 2007 giảm tiếp 5.211.134.000đ còn lại9.903.319.000đ Trong khi vốn chủ sở hữu giảm thì tài sản cũng giảm tức là mức

độ phụ thuộc của công ty ngày càng tăng đối với các tổ chức cho vay vốn

- Nhà cửa, vật kiến trúc: Năm 2006 đã bị giảm đi 2.387.863.000đ tươngđương với 74.69% Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do năm 2006 công ty

đã bán bớt một số nhà cửa hiện đang kinh doanh ngành khách sạn, nhà nghỉ.Qua năm 2006, nhà cửa, vật kiến trúc không có gì thay đổi

- Về máy móc thiết bị: Qua ba năm không có biến động lớn Nếu nhưnhà cử, vật kiến trúc bị giảm qua năm 2006 thì máy móc thiết bị lại tăng lên.Điều này chứng tỏ công ty đã chú trọng nhiều hơn vào khâu kỹ thuật, nâng caonăng suất lao động bằng cách đầu tư vào công nghệ tiên tiến hiện đại Tuy nhiên

do làm ăn không mấy hiệu quả nên mức đầu tư không cao và bước sang năm

2006, tổng số máy móc thiết bị vẫn giữ nguyên không được đầu tư thêm gì mới

- Phương tiện vận tải: Qua ba năm hoạt động, do được đầu tư từ trướcvới đội xe tải chất lượng cao nhập khẩu từ Hàn Quốc nên vẫn đảm bảo chấtlượng hoạt động Công ty không phải đầu tư mua sắm gì thêm nên đã tiếtgiảm được rất nhiều gánh nặng trong đầu tư tài sản cố định cho công ty trong

ba năm qua

- Thiết bị văn phòng và tài sản cố định khác: Văn phòng công ty đượcxây dựng hoành tráng với trang thiết bị tương đối hiện đại nên trong nhữngnăm vừa qua và trong các năm tiếp theo, công ty không phải đầu tư thêmnhiều cho những thứ này Năm 2006 thiết bị văn phòng và tài sản cố địnhkhác đã tăng so với năm 2005 là 170.313.000đ và qua năm 2007 mọi thứ vẫngiữ nguyên không có gì thay đổi

3.1.6.Đánh giá những thuận lợi và khó khoăn của Công ty

Ngày đăng: 22/04/2015, 11:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Phạm Văn Linh (2003), “Đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước”, Kinh tế và dự báo (số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Phạm Văn Linh
Năm: 2003
1. Báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh và thuyết minh báo cáo tài chính năm 2005, 2006, 2007 của công ty Khác
3. Huỳnh Đức Lộng, Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp, NXB thống kê năm 2007 Khác
4. Nguyễn Văn Công, Phân tích hoạt động báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh, NXB thống kê Khác
6. Phan Văn Dược, Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh, NXB thống kê Khác
7. PTS Nguyễn Đăng Phúc, Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, NXB thống kê năm 1998 Khác
8. Th.s Nguyễn Danh Sắc, Bài giảng môn quản trị sản xuất Khác
9. TS Phạm Văn Dược- Đặng Kim Cương, Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB thống kê- Hà Nội năm 2000 Khác
10. Samuelson.P (1981) Kinh tế học tập 1, NXB Viện quan hệ quốc tế Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức công ty. - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Sơ đồ t ổ chức công ty (Trang 21)
Bảng 3.1: Tình hình lao động của công ty qua 3 năm - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 3.1 Tình hình lao động của công ty qua 3 năm (Trang 23)
Bảng 3.2: Tình hình vốn của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 3.2 Tình hình vốn của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu (Trang 25)
Bảng 3.4: Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty cổ - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 3.4 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty cổ (Trang 27)
Bảng 4.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ  phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk qua 3 năm 2005, 2006, 2007 - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk qua 3 năm 2005, 2006, 2007 (Trang 34)
Bảng 4.2: Tình hình xuất khẩu kinh doanh của công ty trong 3 năm - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.2 Tình hình xuất khẩu kinh doanh của công ty trong 3 năm (Trang 36)
Bảng 4.3: Phân tích các khoản mục chi phí sản xuất của công ty cổ phần đầu tư - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.3 Phân tích các khoản mục chi phí sản xuất của công ty cổ phần đầu tư (Trang 39)
Bảng 4.4: Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả chi phí sản xuất kinh  doanh của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.4 Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả chi phí sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Đăk Lăk (Trang 40)
Bảng số liệu trên phản ánh trong những năm qua công ty chủ yếu là vay  vốn của đơn vị khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, do nội lực  thấp nên các công ty cho thuê tài chính không dám cho vay dài hạn nên tỷ lệ  vay dài hạn trên tổng số nợ vay - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng s ố liệu trên phản ánh trong những năm qua công ty chủ yếu là vay vốn của đơn vị khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, do nội lực thấp nên các công ty cho thuê tài chính không dám cho vay dài hạn nên tỷ lệ vay dài hạn trên tổng số nợ vay (Trang 42)
Bảng 4.6: Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty trong 3 năm 2005 - 2007 - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.6 Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty trong 3 năm 2005 - 2007 (Trang 43)
Bảng số liệu của công ty cũng cho biết thêm hệ số đảm nhiệm vốn lưu  động là: năm 2005 hệ số đảm nhiệm vốn lưu động là 0,5, năm 2006 là 0,93 và  năm 2007 là 1,1 - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng s ố liệu của công ty cũng cho biết thêm hệ số đảm nhiệm vốn lưu động là: năm 2005 hệ số đảm nhiệm vốn lưu động là 0,5, năm 2006 là 0,93 và năm 2007 là 1,1 (Trang 44)
Bảng 4.9: Bảng tính các chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn của - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.9 Bảng tính các chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn của (Trang 47)
Bảng 4.11:  Tình hình lợi nhuận của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập - Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu đăk lăk
Bảng 4.11 Tình hình lợi nhuận của công ty cổ phần đầu tư xuất nhập (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w