Mộttrong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới là chuyển dịch cơ cấu lao độngnông thôn theo hướng tăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong đó yếu tốquan trọng để tạo ra sự chuyển dịch ấ
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây được sự quan tâm rất từ phía nhà nước và chínhquyền địa phương trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn theohướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, tiến kịp sự phát triển của đất nước Mộttrong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới là chuyển dịch cơ cấu lao độngnông thôn theo hướng tăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong đó yếu tốquan trọng để tạo ra sự chuyển dịch ấy là phát triển các làng nghề tiểu thủcông nghiệp làng nghề truyền thống
Sự phát triển làng nghề đã góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn,giải quyết một lượng lớn lao động ở nông thôn, tăng thu nhập và giữ gìn bảnsắc văn hóa dân tộc Nhận thức được sự quan trọng của làng nghề trong quátrình phát triển đất nước, Đảng và chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạtchính sách để hỗ trợ khu vực kinh tế này Gần đây nhất, nghị quyết 26 -NQ/TW tại hội nghị 7 năm 2008 của ban chấp hành trung ương khóa X củaĐảng Cộng Sản Việt Nam về (nông nghiệp, nông dân và nông thôn) đã mộtlần nữa khẳng định việc phát triển bền vững các ngành nghề ở nông thôn cóvai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Tuy nhiên những cơ sơ sản sản xuất trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫnbộc lộ một số yếu kém: khả năng tiếp cận thông tin và kĩ năng thị trường cònhạn chế tổ chức sản xuất còn phân tán nhỏ lẻ máy móc thiết bị cũ kĩ lạc hậutay nghề lao động chưa được tinh xảo cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh, đặc biệtmôi trường nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe cộng đồng dân cư và sự phát triển bền vững
Trang 2Một câu hỏi được đặt ra ở đây là làm thế nào để định hướng cho các làngnghề ở đây phát triển theo hướng bền vững ?
Xuất phát từ đó tôi đưa ra đề tài nghiên cứu: " Tìm hiểu thực trạng và
đề xuất một số giải phát phát triển làng nghề mộc Phương Độ xã Xuân Phương – huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên "
1.2 Mục tiêu của đề tài
* Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề xã Xuân Phương
* Góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất của làng nghề mộcPhương Độ
* Bổ sung thông tin nghiên cứu thực tế vấn đề phát triển làng nghề tạiViệt Nam
1.3 Mục đích của đề tài
Thông qua tìm hiểu thực trạng phát triển làng nghề tại xã XuânPhương - huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu này góp phần đềxuất chính sách hướng tới sự phát triển bền vững của làng nghề Việt Nam.Bên cạnh đó, bằng việc nghiên cứu trên thực địa, giúp sinh viên nâng cao khảnăng ứng dụng các kiến thức và lý thuyết đã được trang bị trong quá trình họctập và nghiên cứu thực tế
1.4 Ý nghĩa của đề tài
* Giúp sinh viên có kiến thức áp dụng các kiến thức và kĩ năng học vàonghiên cứu thực tế
* Góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất của làng nghề mộcPhương Độ
* Bổ sung nghiên cứu thực tế về vấn đề phát triển làng nghề Việt Nam
Trang 3
Phần 2 TỔNG QUAN PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ VIỆT NAM
2.1.Quá trình phát triển làng nghề truyền thống ở việt nam
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngànnăm trước đây, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thônViệt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được
cư dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính
Bởi lẽ trước đây kinh tế của người Việt cổ chủ yếu sống dựa vào việctrồng lúa nước mà nghề làm lúa không phải lúc nào cũng có việc Thôngthường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dânmới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặtlúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc đểlàm Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằmmục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hằng ngày vềsau là tăng thêm thu nhập cho gia đình
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của
nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân Như việc làm ra các đồ dùng bằngmây, tre, lụa phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất Nghềphụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đãmang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vàocác vụ lúa Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng họclàm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều lànggần nhau
Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đemlại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thìphát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù
Trang 4hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làngnghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làmchiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng.
Trong suốt quá trình phát triển lịch sử của Việt Nam, làng xã nói chung
và làng nghề nói riêng luôn là những thể chế then chốt trong sản xuất nôngnghiệp và đời sống cư dân nông thôn Làng xã Việt Nam được phát triển từrất lâu đời
Bởi vậy có thể thấy rằng đa số các làng nghề truyền thống ở Việt Namđược hình thành và phát triển trải qua hàng trăm năm, đồng hành với sự pháttriển kinh tế xã hội, văn hóa và nông nghiệp của dân tộc Ví dụ: làng đúc đồngĐại Bái ở Bắc Ninh đã tồn tại và phát triển hơn 900 năm, làng nghề gốm BátTràng, Hà Nội đã tồn tại và phát triển được gần 500 năm (Đặng Kim Chi vàcộng sự 2005)
2.2 Khái niệm làng nghề
2.2.1 Làng
* Làng hành chính trong xã hội phong kiến
- Theo nhiều tài liệu lịch sử để lại, hệ thống hành chính của các triềuđại phong kiến nước ta gồm:
+ Chính quyền trung ương, gọi là triều đình, đứng đầu là vua (chúa) vàdưới vua là tể tướng
+ Chính quyền địa phương có tỉnh (hoặc châu) Đứng đầu tỉnh là tuần phủ.+ Dưới tỉnh có phủ và huyện Đứng đầu phủ là tri phủ, đứng đầu huyện
là quan tri huyện
+ Dưới huyện có các làng đứng đầu làng là lý trưởng làm chức quản lícác hoạt động trong làng (quản lí đinh, điền, thu thuế, trật tự an ninh) Đặctrưng của các làng là đình làng
+ Tuỳ thuộc vào quy mô của làng mà dưới làng chia ra một số thôn xóm
Trang 5* Làng hành chính trong xã hội hiện nay:
- Từ năm 1945, khi nước ta giành được độc lập, theo hiến pháp 1946,
1959, 1980 và đặc biệt là hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ chính quyền 4cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã Dưới xã tổ chức thành các thôn (xóm bảnhoặc phường) và khái niệm làng để chỉ địa danh của cụm dân cư gồm nhiềuthôn, xóm, bản hợp thành như xã Xuân Phương có 2 làng Phương Độ (9 xóm)Xuân La (4 xóm)
Từ những điểm trên có thể rút ra làng là một phạm trù lịch sử và vănhoá có sự thay đổi từ thời đại này sang thời đại khác Do vậy khi thống kê cóliên quan đến khái niệm làng phải hết sức chú ý nếu không sẽ gây ra sự tranhluận về số liệu
2.2.2 Nghề
Cùng với trồng trọt chăn nuôi hầu hết dân cư sống ở vùng nông thônđều có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu là sảnxuất ra một số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của
hộ gia đình mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyênliệu sẵn có Nhưng qua thời gian dài phát triển do có sự khác nhau về taynghề và kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương là khác nhau và các sảnphẩm làm ra bắt đầu được đưa ra thị trường trao đổi như những loại hàng hoá
và ở hầu hết các địa phương đều có làm thêm một vài nghề phụ Tuy nhiênvấn đề ở đây là những hoạt động ngành nghề nào được gọi là nghề
Theo quan điểm chung các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghệp ởđịa phương nào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượngsản phẩm chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất hoặc
hộ sản xuất đó lấy nghề đang làm là nguồn thu nhập chủ yếu thì mới đượcxem là nghề (Thông tư 116/2006/TT - BNN)
Trang 62.2.1.3 Làng nghề
Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT - BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống Theo đó:
- Làng nghề: là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng,
buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thịtrấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiềuloại sản phẩm khác nhau
*Nghề được coi là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau:
- Nghề truyền thống: là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra
những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triểnđến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền
- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc têntuổi của làng nghề
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thờiđiểm đề nghị công nhận
- Làng nghề truyền thống (cổ truyền).
Làng nghề truyền thống là làng có nghề được hình thành từ lâu đời.làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghềtruyền thống Tuy nhiên đối với những làng chưa đủ tiêu chí của làngnghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống thì vẫn được gọi là làngnghề truyền thống
* Làng nghề mới
- Trong một địa phương có một số tương đối các hộ cùng sản xuấtmột nghề (từ 35 - 40% số hộ trở lên tham gia hoạt động nghành nghề)
Trang 7- Thu nhập sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổngthu nhập của làng (có thể sinh sống bằng thu nhập từ nghề, thu nhập từ nghềchiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ).
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thờiđiểm đề nghị công nhận
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước
2.3 Hiện trạng và phân loại làng nghề
79
5.5
15.5
Miền Bắc Miền Trung Miền Nam
( Nguồn: Hiệp hội làng nghề Việt Nam, 2009)
Hình 2.1: Phân bố làng nghề Việt Nam theo khu vực
- Cuối năm 2010, Việt Nam có khoảng 2.100 làng nghề, trong đó có
300 làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho mười ba triệu lao động với thunhập cao hơn nhiều so với làm nông nghiệp (theo nhandan.com.vn)
- Hiện nay có nhiều cách phân loại làng nghề, bao gồm:
+ Phân loại theo tuổi đời làng nghề (làng nghề truyền thống và làngnghề mới)
+ Phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm
+ Phân loại theo quy mô sản xuất và quy trình công nghệ
+ Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
+ Phân loại theo mức độ sử dụng nguyên liệu
Trang 8+ Phân loại theo thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Dựa trên các tiêu trí phân loại trên, làng nghề được chia làm 6 nhómchính (Bộ TNMT 2008)
Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề mộc, sành sứ,
chạm khắc đá, thêu ren, dệt lụa…đây là nhóm nghề chiếm tỷ trọng lớn về sốlượng, có truyền thống lâu đời, sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét vănhóa và đặc trưng của địa phương, dân tộc Công việc sản xuất đòi hỏi taynghề cao, tỷ mỷ và sáng tạo
Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu là các ngành nghề mới hình thành,
số lượng ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (nhựa,sắt, giấy) đa số nằm ở phía bắc
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: hình thành từ
hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyênliệu cơ bản cho hoạt động xây dựng như (đá, cát, sỏi)
Làng nghề thuộc da, dệt nhuộm: các làng nghề này thường có lịch sử
lâu đời, có sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, bản sắc địa phương như (lụa
tơ tằm, thổ cẩm) tại các làng nghề này lao động thường là lao động chính
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: có số
lượng làng nghề lớn, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng laođộng nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và ítkhi thay đổi quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình thành nghề như (nấurượu, bánh trưng, bún) nguyên liệu chủ yếu là gạo, đậu, sắn, ngô…phế phẩmthường được dùng làm thức ăn chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình
Các nhóm nghành nghề khác: bao gồm các ngành nghề chế tạo nông cụ lao
động thô sơ như: cày bừa, cuốc xẻng, liềm, đan lưới, vó, làm lưỡi câu…Nhữngnhóm nghề này xuất hiện từ lâu, sản phẩm làm ra phục vụ trực tiếp cho nhu cầu củangười dân tại địa phương Lao động phần lớn là thủ công
Trang 92.4 Một số làng nghề ở việt nam
*Làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh)
Có 2.600 hộ với 10.200 nhân khẩu trong đó có 1.520 hộ và 4.540 laođộng làm nghề, ngoài ra còn thu hút 1.500 lao động từ các địa phương kháctới làm thuê Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là những mặt hàng mỹ nghệcao cấp có tính thẩm mỹ cao như: Tủ, Sập, Đồng Hồ Hoành Phi, CâuĐối….các sản phẩm của làng nghề đã có mặt trên khắp thị trường trong nước
và quốc tế, mỗi năm đem lai thu nhập hàng trăm tỷ đồng
Đồng Kỵ có khoảng hơn 160 công ty, chưa kể xí nghiệp, HTX với trên 500giám đốc, phó giám đốc Có gia đình cả bố và con đều là giám đốc(http://dongky.craftb2c.com)
* Làng nghề gốm sứ Bát Tràng ( Gia Lâm - Hà Nội):
Bát Tràng ngày nay trải dài gần 3km ven sông Hồng với 2 thôn, 11xóm Hiện có 1.600 hộ dân, trong đó 70% số hộ trực tiếp sản xuất và 30% làmdịch vụ Xã có hơn 1.100 lò gốm, mỗi năm sản xuất 100 - 120 tỷ đồng hànghóa, đã xuất hiện hàng chục Công ty TNHH, doanh thu hàng chục tỷ, cónhiều lô hàng xuất khẩu, đặc biệt được đặt trước từ Hàn Quốc, Nhật Bản.Khách trong, ngoài nước tấp nập đến thăm quan, mua hàng Trong các cửahàng, có đủ các mẫu gốm sứ từ cổ truyền đến hiện đại của các nước Pháp,Italy, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Toàn xã đã có trên 100 gia đình sắmmáy vi tính, nối mạng internet, mở trang thông tin giới thiệu sản phẩm, giaodịch buôn bán với bên ngoài Hàng gốm sứ Bát Tràng đang chiếm lĩnh thịtrường, được khách nước ngoài ngưỡng mộ Phát triển nghề gốm sứ, khôngchỉ Bát Tràng giàu, mà nơi đây cũng đã tạo việc làm cho 4.000 - 5.000 laođộng từ các địa phương khác đến, với mức thu nhập 2.5.000.000 - 3.000.000đ/tháng (http://battrang.craftb2c.com)
Trang 102.5 Một số làng nghề ở huyện phú bình
- Làng nghề mộc Phú Lâm - Kha Sơn - Phú Bình - Thái Nguyên
Là một làng nghề mới được hình thành nhưng do nắm bắt được cơ hộiphát triển làng nghề mộc Phú Lâm xã Kha Sơn huyện Phú Bình tỉnh TháiNguyên đang từng bước khẳng định được tên tuổi thương hiệu của mìnhkhông chỉ đối với người dân địa phương mà còn được nhiều địa phương khácbiết tới như thành phố Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh… Làng nghề thuộc xãKha Sơn bên cạnh quốc lộ 37 Các sản phẩm của làng nghề ngày càng đadạng hóa cho phù hợp với nhu cầu của thị trường trước đây từ những sảnphẩm đơn giản nay đã chuyển sang những sản phẩm có tính mỹ thuật cao, có
sự đầu tư tâm huyết và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào mỗi sản phẩm nhưgiường tủ, bàn ghế… đến nay làng nghề Phú Lâm đã mang lại việc làm ổnđịnh và thường xuyên cho 46 hộ gia đình với khoảng 225 lao động với thunhập bình quân 2.000.000đồng/người/tháng
Làng nghề cũng được các cấp chính quyền quan tâm bằng việc năm
2009 UBND huyện có hướng dẫn lập sơ đồ làng nghề sau đó sở công thươngtỉnh Thái Nguyên đã trình UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ công nhận làng nghềcho: Làng nghề mộc mỹ nghệ Phú Lâm xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnhThái Nguyên Nghề mộc ở đây hình thành và phát triển trong những năm quamang lại việc làm và thu nhập ổn định cho ngươi dân cũng như giúp chínhquyền địa phương có hướng đi mới trong việc quy hoạch chính sách phát triểnkinh tế của địa phương
2.6 Vai trò của làng nghề trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
2.6.1 Giữ gìn bản sắc văn hoá độc đáo của từng địa phương
Giá trị văn hoá của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơcấu của làng, lối sống phong tục tập quán của cộng đồng Những sản phẩmhàng hoá mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm văn hoá vật thể chứa đựng giátrị phi vật thể mỗi sản phẩm ở làng nghề đều có gắn với các hình ảnh quen
Trang 11thuộc của hình ảnh đất nước và con người Việt Nam Những giá trị văn hoáchứa đựng trong làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo
đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hoá dân tộc Việt Nam
2.6.2 Góp phần giải quyết việc làm
- Cả nước có khoảng 2.100 làng có nghề, 13 triệu lao động với thu nhậpkhoảng 0,7 - 3 triệu đồng/người/tháng Các làng nghề đóng vai trò quan trọngtrong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho nông dân lúc nôngnhàn (http://Hanoimoi.com.vn)
- Khôi phục và phát triển làng nghề đã thu hút nhân lực, tạo thêmnhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy quá trình phân công laođộng ở nông thôn
- Khôi phục và phát triển LNTT đã thực sự tăng thu nhập cho ngườilao động, cải thiện đời sống dân cư nông thôn
- Sự phát triển của các LNTT đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn, góp phần tăng trưởng (GDP), tạo ra khối lượng hàng hoá
đa dạng phong phú, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
- Phát triển làng nghề giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động,thể hiện được chủ chương lớn của đảng, nhà nước ta là xoá đói giảm nghèo,tạo cơ hội làm giàu trên chính mảnh đất quê hương
- Làng nghề ngoài việc tạo việc làm tại chỗ còn cung cấp việc làm chomột số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu, và một số lao động ở địaphương khác
- Như vậy làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việclàm cho người lao động một cách hiệu quả
2.6.3 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
- Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hoá hiện đại hoá nông ngiệp nôngthôn là tạo ra một cơ cấu kinh tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trongquá trình vận động và phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực trongviệc tăng trưởng tỷ trọng của công nghiệp tiểu thủ công ngiệp và du lịch, dịch
vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông ngiệp Sự phát triển lan toả của làng nghề đã mở
Trang 12rộng quy mô và địa bàn sản xuất thu hút nhiều lao động đồng thời nó cònđóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất
- Việc phát triển làng nghề góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệphoá hiện đại hoá nông thôn, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập chongười dân trên địa bàn mà chủ yếu là nông thôn
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng dần lao độngtrong lĩnh vực phi nông nghiệp
- Phát triển nghề truyền thống đã góp phần bảo tồn truyền thống vănhoá dân tộc
2.6.4 Góp phần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội
Bảng 2.1 Đóng góp GDP của làng nghề
5 Thu nhập bình quân lao động
tham gia làm nghề
Đồng/người/
tháng
1.800.000 2.600.000
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương)
- Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đadạng và phong phú, phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, đóng gópcho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng Lànhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển hàng hoá ở nông thôn
- Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn phục vụ cho xuất khẩu(195.000 USD UBND xã Xuân Phương năm 2010)
2.7 Chủ trương chính sách phát triển làng nghề
Trang 13* Các văn bản quản lý nhà nước cho các làng nghề
Nghị định 66/2006/ND - CP về phát triển ngành nghề nông thôn
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1, Phạm vi áp dụng
Nghị định này quy định một số nội dung và chính sách phát triển ngànhnghề nông thôn
Điêu 2, Đối tượng áp dụng
1, Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trực tiếp đầu tư pháttriển sản xuất dịnh vụ ngành nghề nông thôn tại địa bàn nông thôn (sau đâyđược gọi chung là cơ sở ngành nghề nông thôn) bao gồm:
a) Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệp.b) Hợp tác xã thành lập hoạt động theo luật hợp tác xã
c) Hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng
ký kinh doanh
2, Các làng nghề cụm cơ sở ngành nghề nông thôn
Điều 3, Các hoạt động ngành nghề nông thôn
Các hạt động ngành nghề nông thôn tại địa bàn nông thôn quy địnhtrong nghị định này bao gồm:
1, Chế biến bảo quản nông lâm thủy sản
2, Sản xuất vật liệu xây dựng đồ gỗ mây tre đan gốm sứ thủy tinh dệtmay cơ khí nhỏ
3, Xử lí chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn
4, Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
6, Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh
6, Xây dựng vận tải trong nội bộ xã liên xã và các dịch vụ khác phục vụsản xuất đời sống cư dân nông thôn
Trang 147, Tổ chức đào tạo nghề truyền nghề tư vấn sản xuất kinh doanh tronglĩnh vực ngành nghề nông thôn.
Điều 4, Công nhận nghề làng nghề quản lý chất lượng sản phẩm ngành nghề.
1, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định nội dung và tiêu chuẩncông nhận nghề truyền thống làng nghề, làng nghề truyền thống
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc đăng ký và giám sátchất lượng sản phẩm ngành nghề nông thôn trên địa bàn theo quy định củapháp luật về quản lí chất lượng sản phẩm
Điều 5, Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn
1, Nhà nước xây dựng quy định tổng thể và định hướng phát triển ngành nghềnông thôn dài hạn của cả nước và từng vùng kinh tế đảm bảo phát triển bềnvững thực hiện công ngiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xây dựng quy hoạch tổng thểphát triển ngành nghề nông thôn của cả nước Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xâydựng quy hoạch phát triển nghành nghề nông thôn trên địa bàn Việc phêduyệt quy hoạch thực hiện theo quy định hiện hành về quy hoạch
2, Nội dung quy hoạch phát triển nghành nghề nông thôn phải phù hợp quyhọach tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng vùng phù hợpquy định của pháp luật về quy hoạch nhằm khai thác phát huy nghành nghềlợi thế của từng vùng và địa phương
* Chính sách của nhà nước
CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH
Điều 6 Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề
1, Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề bao gồm:
a) Bảo tồn phát triển làng nghề truyền thống
b) Phát triển làng nghề gắn với du lịch
c) Phát triển làng nghề mới
Trang 152, Nhà nước có chương trình và kinh phí từ ngân sách hỗ trợ chươngtrình bảo tồn phát triển làng nghề quy định tại khoản 1 điều này.
3, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương có
cơ chế hỗ trợ các dự án bảo tồn phát triển làng nghề trên địa bàn ngoài kinhphí hỗ trợ quy định tại khoản 2 điều này
Điều 7 Mặt bằng sản xuất
1, Ủy ban nhân dân các cấp căn cứ quy hoạch kế hoạch sử dụng đất vàquy hoạch tổng thể định hướng phát triển nghành nghề nông thôn đã được phêduyệt lập quy hoạch xây dựng làng nghề cụm cơ sở ngành nghề phù hợp yêucầu phát triển sản xuất bảo vệ môi trường gắn sản xuất với tiêu thụ, trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt
2, Khuyến khích các tổ chức cá nhân và cơ sở ngành nghề nông thônđầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng làng quê, cụm cơ sở ngành nghề nông thônnhà nước hỗ trợ đầu tư hạ tầng làng nghề và ngoài hàng rào các các cụm cơ sởngành nghề nông thôn theo quy định tại khoản 1 điều 8 nghị định này
3, Các cơ sở ngành nghề nông thôn có dự án đầu tư có hiệu quả được:a) Tạo điều kiện thuận lợi về giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuêđất tại các cụm cơ sở ngành nghề nông thôn và được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
b) Đối với dự án đầu tư đòi hỏi nghiêm ngặt về xử lý ô nhiễm môi trườngbảo đảm yêu cầu nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới được ưu tiên giao đất có thutiền sử dụng đất hoặc thuê đất tại các khu cụm công nghiệp tập trung
c) Các cơ sở ngành nghề nông thôn di dời ra khỏi khu dân cư đến địađiểm được quy hoạch được ưu đãi về quyền sử dụng đất tiền thuê đất, thuế sửdụng đất và hỗ trợ kinh phí để di dời
Điều 8, Về đầu tư tín dụng
1, Ngân sách địa phương hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng và sử lý môi trường cho các làng nghề cụm cơ sở ngành nghề nông
Trang 16thôn Đối với các tỉnh khó khăn về nguồn thu ngân sách, ngân sách trungương hỗ trợ một phần trong dự toán hàng năm.
2, Đối với các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được:
a) Hưởng ưu đãi đầu tư theo luật đầu tư
b) Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định hiện hành
c) Vay vốn từ quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm theo quy định hiện hành d) Thực hiện theo quy định của nhà nước về tín dụng đầu tư phát triển,tín dụng xuất khẩu
e) Qũy bảo lãnh tín dụng doanh ngiệp nhỏ và vừa bảo lãnh vay vốn tại
cá nhân, tổ chức tín dụng
Điều 9, Xúc tiến thương mại
1, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ
sở nghành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiệnhành của chương trình xúc tiến thương mại quốc gia
2, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địaphương để hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn xây dựng thương hiệu, chỉdẫn địa lí, xuất sứ hàng hóa, có chính sách bảo hộ sở hữu thương hiệu
Điều 10, Khoa học công nghệ
1, Cơ sở nghành nghề nông thôn khi thực hiện các hoạt động triển khaiứng dụng kết quả khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ, sản xuất sảnphẩm mới và thực hiện các dịch vụ khoa học công nghệ hay tiếp nhận tiến bộkhoa học kĩ thuật từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thì được hưởngcác ưu đãi theo chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích cá nhân, doanhnghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học công nghệ
2, Cơ sở ngành nghề nông thôn thực hiện đề tài nghiên cứu độc lậphoặc phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học để tạo ra công nghệ mới,hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu có khả năng thương mại hóa thuộc lĩnh vực
Trang 17nghành nghề nông thôn thì được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ nguồnkinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ.
3, Ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí khuyến nông, khuyến ngư,khuyến công hỗ trợ cơ sở nghành nghề nông thôn về các nội dung: thông tin,tuyên truyền, xây dựng mô hình, chuyển giao khoa học công nghệ, bồi dưỡngtập huấn và đào tạo, tư vấn và dịch vụ
Điều 11, Đào tạo nhân lực
1, Các dự án đầu tư cơ sở dạy nghề nông thôn được hưởng các chínhsách về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước theo quy định để đào tạonguồn nhân lực đối với các ngành nghề cần phát triển theo quy hoạch pháttriển ngành nghề nông thôn
2, Ngân sách địa phương hỗ trợ một phần chi phí lớp học cho các cơ sởngành nghề nông thôn trực tiếp mở lớp truyền nghề
3, Các nghệ nhân ngành nghề nông thôn tổ chức truyền nghề được thu tiềnhọc phí của học viên theo nguyên tắc thỏa thuận được trả thù lao theo quy địnhcủa cơ sở đào tạo khi tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, được hưởng các ưuđãi về thuế trong hoạt động truyền nghề theo quy định hiện hành
4, Lao động nông thôn khi tham gia học nghề được hổ trợ kinh phí đàotạo theo chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, đượcvay vốn từ chương trình quốc gia giải quyết việc làm
2.8 Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề tác động đến môi trường
- Theo báo cáo tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường
tại các khu kinh tế, khu công nghiệp và làng nghề của Ủy ban Thường vụQuốc hội từ cuối năm 2010 đến đầu năm 2011 cho thấy chất thải từ các làngnghề đa phần không nhiều nhưng việc thải bỏ không đúng cách và tùy tiện(thường không được xử lý) dẫn đến mất mỹ quan, văn hóa và gây ô nhiễmmôi trường nghiêm trọng
Trang 18Các làng nghề chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn, tập trung đến 80%dân số cả nước Nhận thức của người dân nơi đây còn hạn chế nhiều mặt, đặcbiệt là vấn đề bảo vệ môi trường, sản xuất xen lẫn sinh hoạt, công nghệ sảnxuất hầu hết thủ công lạc hậu Kết quả khảo sát 52 làng nghề, theo đề án kiểmsoát ô nhiễm môi trường làng nghề năm 2006 của Cục bảo vệ môi trường chothấy 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng, 27% bị ô nhiễm vừa, 27% ô nhiễm nhẹ.Chất lượng môi trường tại hầu hết khu vực sản xuất trong các làng nghề đềukhông đạt chuẩn.
Ô nhiễm tại các làng nghề ảnh hưởng rất lớn tới những người trực tiếptham gia sản xuất và những người sống tại làng nghề đó Các nguy cơ màngười lao động tiếp xúc khá cao: 95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc vớikhói bụi, 85,9% tiếp xúc với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất
Làng da trống Lâm Yên (Đại Lộc, Quảng Nam), hằng năm bán ra thịtrường từ 1.500 đến 2.000 sản phẩm các loại, tuy là nghề phụ nhưng đã manglại cho người dân làm nghề nơi đây khoản thu nhập thường xuyên, ổn định.Đổi lại, hằng ngày, người dân nơi đây đang phải sống và hít thở bầu khôngkhí hôi thối, khó chịu của khoảng 20kg da thừa, lông, mỡ thải ra (chiếm 5%tổng khối lượng da dùng cho sản xuất trống hằng ngày)
Hay ở làng rèn Cầu Vực (Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) lượng chấtthải rắn thải ra hằng ngày khoảng 260 kg gây mất mỹ quan làng xã Tại cáclàng nghề sử dụng nhiên liệu bột và các nguyên vật liệu hóa chất trong dâychuyền công nghề sản xuất tạo khí thải, khói thải và bụi Điển hình như tạilàng nghề tái chế Đa Hội (Bắc Ninh) đã thải ra môi trường gần 2.500 tấn bụi,
81 tấn khi CO2, gần 3000 tấn khí SO2 và 2.359 tấn NO2 mỗi lần
Làng nghề bún Phú Đô, cứ trong 10.200 tấn sản phẩm mỗi năm đã thảicác chất ô nhiễm 76,9 tấn COD, 53,14 tấn BOD gây ô nhiễm môi trường nướcnghiêm trọng Những con số khiến ai nghe qua không khỏi giật mình
Trang 19Những vấn đề nổi cộm trên không chỉ làm ô nhiễm nghiêm trọng khôngkhí, nguồn nước, mất mỹ quan làm suy thoái môi trường nghiêm trọng màcòn tác động xấu tới sức khỏe người dân của làng nghề và cộng đồng dân cưlân cận, đe dọa tới sự phát triển bền vững các làng nghề Việt Nam.
Bên cạnh những hệ lụy đó, ô nhiễm môi trường làng nghề còn ảnhhưởng đến các vấn đề kinh tế - xã hội như làm tăng chi phí khám chữa bệnh,giảm năng suất lao động, mất ngày công lao động do nghỉ ốm đau… ảnhhưởng tới năng suất sản xuất nông nghiệp, giảm sức thu hút du lịch, giảmlượng khách du lịch dẫn đến thiệt hại về kinh tế
(http://giaiphapmoitruong.com)
- Trong quá trình xây dựng và phát triển làng nghề chưa có sự đầu tư về
hệ thống sử lý chất thải làng nghề bởi vậy môi trường tại làng nghề đang bị ônhiễm bụi gỗ, sơn và việc ngâm gỗ…
- Chưa có ban nghành nào của xã đảm nhận công việc quản lý môitrường tại làng nghề nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường
- Ý thức của người dân làng nghề về bảo vệ môi trường chưa cao
Trang 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là các hộ gia đình làm nghề mộc tại xã Xuân Phương huyệnPhú Bình tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện
Xã Xuân Phương, huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên được lựa chọn đểthực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá hiện trạng sản xuất kinh doanh của làngnghề để đưa ra những giải pháp giúp định hướng cho làng nghề phát triểntheo hướng bền vững, giảm thiểu tác hại đến môi trường
Nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian 3 tháng từ ngày25/1/2011 đến ngày 26/4/2011
3.3 Nội dung nghiên cứu
* Tìm hiểu vị trí địa lý và tình hình kinh tế xã hội xã Xuân Phương,huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
* Phân tích hiệu quả các hoạt động trong lĩnh vực làng nghề của xã vớicác nội dung sau:
- Diễn biến thay đổi quy mô sản xuất của các hộ, trong giai đoạn 2008 - 2010
Cơ cấu các sản phẩm chính, tốc độ phát triển các sản phẩm trong giaiđoạn này
- Thực trạng lao động trong các cơ sở làm nghề
- Vấn đề tiếp cận nguồn vốn tín dụng
- Vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm
* Tác động của làng nghề Phương Độ đến điều kiện môi trường tựnhiên và xã hội của địa phương
Trang 21* Phân tích điểm mạnh yếu, cơ hội và thách thức đối với làng nghề mộcPhương Độ
* Đưa ra những định hướng phát triển làng nghề trong thời gian tới
* Tìm hiểu các vấn đề tồn tại của xã cản trở việc thực hiện các phươnghướng này
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Tiến hành thu thập các tài liệu báo cáo, nghiên cứu khoa học, văn
bản chính sách và các số liệu liên quan đến hiện trạng phát triển chung củacủa làng nghề Việt Nam tại các thư viện quốc gia, bộ tài nguyên môi trường,
bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và trên mạng internet
Bước 2: Tiến hành thu thập điều tra thực địa.
Trao đổi cán bộ phòng lao động thương binh xã hội và cán bộ UBND
xã Xuân Phương xin thu thập các tài liệu, báo cáo, chính sách và số liệuthống kê có liên quan đến hiện trạng làng nghề mộc Phương Độ
Tiến hành thu thập thông tin bằng cách tiếp cận trao đổi với 30 hộ dân
là những người sản xuất đồ gỗ tại địa phương (xem bảng 4.3)
Phương pháp chính được sử dụng ở đây là điều tra bằng phiếu điều tranông hộ, phân tích điểm mạnh yếu cơ hội và thách thức của làng nghề vàquan sát thực địa
Bước 3: Sử dụng phần mềm Microsoft Word để tiến hành tổng hợp, phân tích
số liệu và viết báo cáo
Trang 22Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Vị trí địa lý
Xã Xuân Phương là một xã trung du nằm ở trung tâm huyện Phú Bình,
có diện tích tự nhiên 737,5 ha, diện tích đất canh tác 603,5 ha, xã nằm cáchtrung tâm huyện lị Phú Bình 1,5 km về phía Tây Bắc (Nguồn: địa chính xãXuân Phương)
Phía đông giáp xã Úc KỳPhía tây giáp thị trấn Hương SơnPhía bắc giáp xã Nga My
Phía nam giáp xã Tân Kim
4.1.2 Điều kiện tự nhiên
Xã Xuân Phương nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, với mùa hènóng ẩm và mùa đông lạnh, địa phương có đủ 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông
Lượng mưa phân bố không đều trong năm, mưa chủ yếu tập trung vàomùa hè chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Hàng năm có hai mùa gió chính:
+ Gió mùa đông bắc (từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau) gâylạnh và khô
+ Gió mùa đông nam (từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau) gây
Trang 23Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của xã Xuân Phương năm 2010
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương, năm 2010)
Xã Xuân Phương là một xã trung du nằm ở trung tâm huyện Phú Bình, códiện tích tự nhiên 737,5 ha, diện tích đất canh tác 603,5 ha chiếm 81,9 % diện tíchđất thổ cư 85,7 ha chiếm 11,3 %, diện tích đất chuyên dùng làm ngành nghề 10 hachiếm 1,4 %, diện tích các loại đất khác 39,7ha chiếm 5,4 %
4.2 Tình hình nhân khẩu, lao động và giáo dục
*Tình hình nhân khẩu và lao động
Bảng 4.2: Cơ cấu lao động theo nghành nghề ở xã Xuân Phương
(Nguồn: UBND xã Xuân Phương, năm 2010)
Có 1938 hộ với 8023 nhân khẩu được phân bổ ở 14 xóm Với số ngườitrong độ tuổi lao động chiếm 70% đây là một thuận lợi cho địa phương về vấn
đề lao động, đồng thời cũng là một gánh nặng về vấn đề giải quyết việc làmảnh hưởng đến trật tự xã hội trên địa bàn
Trang 24*Về giáo dục:
Xã có 3 trường, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non, trong đó có 2trường Tiểu học và trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ I Hoànthành phổ cập Trung học cơ sở
*Trình độ dân trí:
Xã Xuân Phương đã hoàn thành phổ cập cấp 2, trình độ dân trí khôngngừng được nâng cao nhờ sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền tạiđịa phương và nhận thức đúng đắn của người dân về giáo dục nhiều quỹkhuyến học của các dòng họ được thành lập, hằng năm số học sinh đỗ vào cáctrường cao đẳng đại học được tăng lên Điều đó làm nâng cao trình độ dân trícũng như chất lượng lao động của địa phương (UBND xã Xuân Phương)
* Ý nghĩa: Từ những số liệu trên cho ta thấy xã Xuân Phương có nguồn lao động
lớn, chất lượng lao động không ngừng được nâng cao tạo điều kiện thúc đẩy quátrình chuyển dịch nhanh nền kinh tế ở địa phương, theo hướng hiện đại hóa nôngthôn, đồng thời lực lượng lao động lớn cũng là một ghánh nặng đối với địaphương trong vấn đề giải quyết việc làm, gây mất trật tự an ninh xã hội
4.3 Tình hình phát triển kinh tế của xã xuân phương
Bảng 4.3: Bảng cơ cấu kinh tế của xã trong 3 năm 2008 – 2010
Chỉ tiêu
Giá trị sản xuất (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Giá trị sản xuất (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Giá trị sản xuất (Triệu đồng)
Cơ cấu (%)
Trang 25Tốc độ tăng trưởng kinh tế phấn đấu tăng 12%.
Sản lượng lương thực có hạt = 3348 tấn
Sản lượng lợn thịt hơi xuất chuồng = 575 tấn, lợn sữa 250 tấn
Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp = 20 tỷ đồng, dịch vụ thương mại =
Giải quyết việc làm mới = 200 lao động (nguồn UBND xã Xuân Phương)
* Đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng
Triển khai thu hồi đất phục vụ các dự án công trình nước sinh hoạt, chợcầu Mây, đền thờ liệt sỹ và 2 khu tái định cư dự án đường 120 các dự án phầnlớn đã hoàn thành còn lại đang chờ nhà đầu tư giải phóng mặt bằng nhữngcông trình này góp phần thay đổi bộ mặt của địa phương tạo tiền đề thuận lợicho các nhà đầu tư sau này vào địa bàn xã
Hiện tại xã Xuân Phương đang tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầngnông thôn tạo điều kiện cho phát triển nông thôn theo hướng hiện đại hóanhư: bê tông hóa kênh mương, đường liên xã, giao thông nội đồng…
Các dự án đầu tư của nhà nước góp phần thay đổi bộ mặt của địaphương như: xây trương cấp 1, 2 đạt trường chuẩn quốc gia, đền liệt sĩ
4.4 Thực trạng sản xuất làng nghề mộc mỹ nghệ xã xuân phương
4.4.1 Lịch sử phát triển làng nghề mộc Phương Độ
Hình thành và phát triển qua hơn 20 năm nay làng nghề Phương Độ xãxuân Phương huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khẳng địnhđược tên tuổi thương hiệu của mình không chỉ đối với người dân địa phương
mà còn được nhiều địa phương khác biết tới như thành phố Thái Nguyên, Hà