1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hành công tác thú y, theo dõi và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại Công ty Giống lợn Mỹ Văn – Mỹ Hào – Hưng Yên

64 942 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 16,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thành thục về tính Khi cơ quan sinh dục cái đã hoàn thiện, buồng trứng có noãn bao chin, cótrứng rụng và trứng có khả năng thụ thai,tử cung cũng biến đổi theo, đủ điềukiện để cho thai

Trang 1

MỤC LỤC

Phần I MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 2

Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH DỤC CÁI 3

2.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài 3

2.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong 3

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC LỢN CÁI 7

2.2.1 Sự thành thục về tính 7

2.2.2 Chu kỳ tính (chu kỳ động dục) 8

2.2.3 Sinh lý đẻ 11

2.2.3.1 Khái niệm 11

2.2.3.2 Những biểu hiện của lợn cái trong thời gian gần đẻ: 11

2.2.3.3 Quá trình sinh đẻ 12

2.3 VIÊM TỬ CUNG (METRITIS) 13

2.3.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung: 14

2.3.2 Hậu quả của viêm tử cung: 15

2.3.3 Các thể viêm tử cung: 16

2.3.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis) 16

2.3.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis) 17

2.3.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Permestritis puerperalis) 18

2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh viêm tử cung ở lợn nái 19

2.3.4.1 Phương pháp phối giống 19

2.3.4.2 Mùa vụ 19

Trang 2

2.3.4.3 Vệ sinh thú y 20

2.3.4.4 Lứa đẻ 20

.2.3.4.5 Quá trình đẻ 20

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 21

2.4.1 Trên thế giới 21

2.4.2 Tại Việt Nam 22

Phần III ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 ĐỐI TƯỢNG 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Thời gian, địa điểm và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

3.1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 24

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 24

3.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi và thực hành công tác thú y tại trại 24

3.2.2 Theo dõi bệnh viêm tử cung và điều trị bệnh trên đàn lợn nái của trại 25

3.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.3.1 Phương pháp điều tra 25

3.3.2 Chuẩn bị thí nghiệm 25

3.3.3 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái khoẻ và lợn nái mắc bệnh viêm tử cung.25 3.3.4 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị viêm tử cung 26

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 26

4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC THÚ Y CỦA CÔNG TY GIỐNG LỢN MỸ VĂN 27

4.1.1.Giới thiệu chung về công ty 27

4.1.1.1.Điều kiện tự nhiên – xã hội 27

4.1.1.2 Hoạt động sản xuất 27

4.1.1.3 Công tác vệ sinh phòng bệnh 32

Trang 3

4.1.2 Thực hành chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên đàn lợn tại trại trong

thời gian thực tập 36

4.1.2.1 Một số bệnh thường gặp tại trại 36

4.1.2.2 Thực hành công tác thú y tại trại trong thời gían thực tập: 38

4.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN ĐÀN LỢN NÁI CỦA CỦA CÔNG TY GIỐNG LỢN MỸ VĂN 43

4.2.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại công ty trong giai đoạn 2008 - 2010: 43

4.2.1.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung qua các năm: 43

4.2.1.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo mùa trong năm: 45

4.2.1.3 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ: 46

4.2.2.Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái tại công ty trong thời gian thực tập từ 01 – 04/2011 48

4.2.3 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản ở đàn nái sinh sản của công ty: 50

4.3 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung tại trại 51

4.4 Kết quả thử nghiệm phòng bệnh viêm tử cung theo quy trình của công ty 52

Phần V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 KẾT LUẬN 55

5.2 ĐỀ NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại qua các năm 32

Bảng 4.2 Quy trình tiêm phòng tại trại 35

Bảng 4.3 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn ở trại 38

Bảng 4.4 Kết quả điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái của trại trong thời gian thực tập 43

Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản qua các năm 44

Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo mùa trong năm 46

Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản qua các lứa đẻ 47

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 4 tháng đầu năm 2011 49

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 4 tháng đầu năm 2011 50

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản ở lợn nái 51

Bảng 4.11 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung tại trại 53

Bảng 4.12 Kết quả thử nghiệm vệ sinh phòng bệnh viêm tử cung theo quy trình của công ty 54

Trang 6

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 4.1 Hình ảnh dịch viêm chảy ra từ cơ quan sinh dục lợn nái 42Hình 4.2 Hình ảnh dịch hậu sản chảy ra từ cơ quan sinh dục 42Hình 4.3 Hình ảnh lợn con ỉa chảy 43Biểu đồ 4.1 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản qua các năm 45Biểu đồ 4.2 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo mùa trong năm 46Biểu đồ 4.3 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản qua các lứa đẻ 48Biểu đồ 4.4 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 50Biểu đồ 4.5 Tình hình mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 4 tháng đầu năm 2011 51

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐC Đối chứng

TN Thí nghiệmVTC Viêm tử cung

Trang 10

Phần II

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIẢI PHẪU CƠ QUAN SINH DỤC CÁI

2.1.1 Bộ phận sinh dục bên ngoài

Bộ phận sinh dục bên ngoài là những bộ phận mà ta có thể quan sát được.Bao gồm: âm môn, âm vật, tiền đình

Âm môn hay còn gọi là âm hộ (Vulva), nằm dưới hậu môn Phía ngoài

âm môn có hai môi (Labia vulva) Bờ trên của hai môi có sắc tố đen và nhiềutuyến tiết các chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi

Âm vật (Clitoris), giống như dương vật thu nhỏ lại Trong cấu tạo của âm

vật cũng có các thể hồng như ở con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật(Praepatium clitoridis), giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới

Tiền đình (Vestibulum vaginae sinus progenitalis) là giới hạn giữa âm

môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh (Hymen), phía trước màng trinh

là âm môn, phía sau mang trinh là âm đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi ởgiữa và do hai lá niêm mạc gáp thành một nếp Sau màng trinh có lỗ niệu đạo.tiền đình có một số tuyến, tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về phía

âm vật

2.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong

Bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng

Âm đạo (Vagina), trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh

che lỗ âm đạo Âm đạo là một ống tròn để chứa cơ quan sinh dục khi giao phối,đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ

Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:

Lớp liên kết ở ngoài

Trang 11

Lớp cơ trơn: có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạoliên kết với cơ ở cổ tử cung.

Lớp niêm mạc: có nhiều tế bào thượng bì, gấp nếp dọc hai bên nhiều hơn

ở giữa

Tử cung (Uterus), có cấu tạo phù hợp với chức năng phát triển và dinh

dưỡng bào thai Trứng được thụ tinh ở ống dẫn trướng rồi trở về tử cung làm tổ, ởđây hợp tử phát triển là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc

tử cung cung cấp cho Tử cung còn có nhiệm vụ đẩy thai ra ngoài trong quá trìnhsinh đẻ nhờ vào các lớp cơ Tử cung của lợn thuộc loại tử cung phân nhánh

Tử cung được cấu tạo bởi lớp:

Ngoài cùng là tổ chức liên kết

Lớp cơ trơn của tử cung: giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy thai rangoài Nó có cấu tạo khá phức tạp, là lớp cơ khỏe nhất trong cơ thể Bên tronglớp cơ trơn là các sợi liên kết đàn hồi, có nhiều tĩnh mạch lớn Các lớp cơ đó đanvào nhau làm cho tử cung chắc và có sự đàn hồi lớn

Lớp niêm mạc tử cung: có màu hồng, được phủ lên bằng những tế bàobiểu mô kéo dài thành lông nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu mô là các tuyếntiết chất nhầy Chất nhầy được gạt về cổ tử cung khi các lông nhung rung động

Tử cung được chia thành 3 phần: gồm cổ,thân và sừng tử cung Sừng tử

cung thông với ống dẫn trứng Cổ tử cung thông với âm đạo Tử cung nằm trongxoang chậu, phía trên là trực tràng, bên dưới là bàng quang

Tử cung lợn rất dài, trong đó thân tử cung rất ngắn, hai sừng tử cung dàinhư ruột non, có con dài đến 1m Cổ tử cung lợn dài, tròn, không có gấp nếp nên

dễ thụ tinh nhân tạo hơn ở trâu bò

Kích thước tử cung lợn:

Sừng tử cung: 0,5 – 5 mThân tử cung: 3 – 5 cm

Cổ tử cung: 10 – 18 cm

Trang 12

Vị trí của tử cung được cố định trong xoang chậu là do các yếu tố sau:

Sự bám của âm đạo vào cổ tử cung

Dây chằng tròn: là một dây chằng nhỏ tù sừng tử cung đến vùng bẹn, bêntrong có nhiều mạch quản, cơ trơn

Dây chằng rộng: là do nếp phúc mạc chùm lên tử cung ở mặt trên, mặtdưới và kéo dài dến hai thành của chậu hông Dây chằng rộng ở giữa hai lá phúcmạc nên rất quan trọng và có nhiều mạch quản, dây thần kinh

Buồng trứng (Ovarium):

Buồng trứng gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng và nằm trongxoang chậu Bên ngoài là một lớp màng liên kết sợi chắc như màng bao dịchhoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy, hai miền

đó được cấu tạo bằng lớp mô liên kết sợi xốp tạo ra cho buồng trứng một chấtđệm (Stromaovaris).Ở miền tủy thì mạch máu nhiều hơn và tổ chức mô xốpcũng dày hơn Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứngchín và rụng trứng

Buồng trứng có chức năng nội tiết làm nhiệm vụ nuôi dưỡng trứng và tiếtcác hoocmon sinh dục tác động đến chức năng của tử cung và thay đổi tính biệtgiữa con đực và con cái

Bên dưới lớp màng của buồng trứng là lớp tế bào trứng nguyên thuỷ, haycòn gọi là tế bào trứng non (Folliculin ovocyt primario) Khi noãn bào chin thìcác tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tầng tế bào cóhình hạt (Stratum granulosum)

Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra một cái xoang

có chứa dịch (Liquar folliculin) Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên tạo ra một lớpmàng bao bọc ở ngoài, có chỗ dày lên để chứa tế bào trứng (Ovum)

Noãn bao nguyên thủy khi trở thành noãn bao chín được bao bọc bởi mộtlớp màng mỏng Tổ chức màng liên kết ngoài buồng trứng lúc này dày lên đểbảo vệ noãn bao chín, giữa màng bảo vệ liên kết và màng mỏng của noãn bao là

tổ chức mạch quản dày đặc

Trang 13

Noãn bao chín nằm ở phần lồi lên trên của màng liên kết buồng trứng.Noãn bao chín có kích thước 1cm Tế bào trứng trong noãn bao là tế bào lớnnhất trong cơ thể, có thể trông thấy được bằng mắt thường, kích thước 0,15 –0,25mm.

Lúc noãn bao đã thành thục thì màng bọc nang, màng bao liên lết buồngtrứng rách ra, tế bào trứng được rời khỏi buồng trứng, cùng với dịch nang, tế bàohạt đi vào loa kèn Màng noãn bao rách xong liền lại ngay, các tế bào hạt trongxoang phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bao vàtrở thành thể vàng (Corpus luteum)

Thể vàng tồn tại phụ thuộc vào tế bào trứng được thụ tinh hay không đượcthụ tinh Nếu tế bào trứng không được thụ tinh thì thể vàng tồn tại không lâu, rồitiêu tan mất Còn trứng đã được thụ tinh thì thể vàng tồn tại cho tới khi sinh đẻ.Trong suốt thời gian có thai thể vàng tiết ra hocmon Progesteron

Thể vàng được hình thành theo chu kỳ sau mỗi lần rụng trứng

Các loài hia súc khác nhau thì chúng khác nhau về vị trí buồng trứng, vềkích thước hay hình dáng cà cũng khác nhau về cả chu kỳ rụng trứng

Ống dẫn trứng (Ovidutus)

Ống dẫn trứng hay còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo của buồngtrứng Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng cóhình loa kèn, trên loa kèn hình thành một cái tán rộng và lô nhô không đều Đầukia thông với mút sừng tử cung là một cái ống ngoằn ngoèo

Cấu tạo của ống dẫn trứng chia thành 3 lớp: phía ngoài cùng là lớp sợiliên kết, ở giữa là lớp cơ trơn và phía trong cùng là lớp niêm mạc có các tế bàothượng bì tạo thành nhung mao.Khi tế bào trứng chín rơi vào loa kèn, nhờ nhungmao rung động và cơ trơn co bóp thì trứng sẽ đi về tử cung

Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 – 10 ngày Trênđường di hành trong ống dẫn trứng, tế bào trứng có thể đứng lại ở các đoạnkhác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Khi có tinh trùng đi voà đường

Trang 14

sinh dục cái, tế bào trứng được thụ tinh thì quá trình thụ tinh thường xảy ra ởống dẫn trứng.

Đường kính của ống dẫn trứng từ 0,2 – 0,4mm, ống dẫn trứng được chiathành 2 đoạn Đoạn ống dẫn trứng phía buồng trứng có phần đầu thông vớixoang ở gần buồng trứng, được phát triển to tạo thành một cái phễu để hứng tếbào trứng, loa kèn phủ toàn bộ buồng trứng Loa kèn có nhiều tua, nhung maorung động để hứng tế bào trứng Quá trình thụ tinh thường xảy ra khi trứng vàtinh trùng gặp nhau ở đoạn 1/3 phía trên ống dẫn trứng Đoạn 2 là đoạn ống dẫntrứng phía sừng tử cung gắn với mút sừng tử cung Đạn này có cấu tạo phíangoài cùng là lớp liên kết sợi, được kéo dài từ màng treo buồng trứng và ở giữahai lớp cơ, cơ vòng phía trong, cơ dọc ở phía ngoài Trong cùng là lớp niêm mạcđược cấu tạo bằng lớp tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết niêm dịch.Phía trên lớp niêm mạc có lớp nhung mao luôn luôn rung động để đẩy tế bàotrứng hay hợp tử xuống tử cung làm tổ

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC LỢN CÁI

2.2.1 Sự thành thục về tính

Khi cơ quan sinh dục cái đã hoàn thiện, buồng trứng có noãn bao chin, cótrứng rụng và trứng có khả năng thụ thai,tử cung cũng biến đổi theo, đủ điềukiện để cho thai phát triển trong tử cung Những dấu hiệu động dục xuất hiện đốivới gia súc như vậy được gọi là sự thành thục về tính

Theo A.A Xuxoep (1985), sự thành thục của gia súc được đặc trưng bởihang loạt những thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổibên trong của cơ quan sinh dục Sự thành thục về tính có ý nghĩa rất lớn là điềukiện cho sinh sản, một bản năng của gia súc cái

Sự thành thục về tính thường đến sớm hơn sự thành thục về thể vóc và nóphụ thuộc vào nhiều yếu tố, như: giống, điều kiện nuôi dưỡng quản lý, ngoạicảnh,…

Trang 15

Trong điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý tốt thì tính thành thụccủa lợn sẽ xuất hiện sớm hơn

Giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới sự thành thục vềtính nhanh hay chậm của con cái Các giống gia súc khác nhau thì tuổi thànhthục về tính cũng khác nhau và những gia súc có tầm vóc nhỏ sẽ thành thục sớmhơn gia súc có tầm vóc lớn Các giống lợn nội có tuổi thành thục khoảng 4 – 6tháng, các giống lợn Landrace, Yorkshire có tuổi thành thục khoảng 6 – 7 tháng

Khí hậu cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giốnglợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới thường thành thục sớm hơn ở cùng có khí hậu ônđới và hàn đới Ngoài ra, sự kích thích của con đực ảnh hưởng tới thành thục của concái hậu bị Nếu để 1 con lợn đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những concái hậu bị sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo Paul (1996), nếucho lợn cái hậu bị tiép xúc với đực 2lần/ngày, với thời gian 15 – 20 phút thì khoảng83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi

Lợn cái hậu bị nuôi nhốt lâu ngày sẽ có thời gian động dục lần đầu dàihơn lợn nuôi chăn thả, vì lợn chăn thả có thời gian tăng cường trao đổi chất,tổng hợp các chất và có dịp tiếp xúc với lợn đực nhiều hơn

Như vậy, tuổi thành thục về tính thường sớm hơn thành thục về thể vóc,

vì vậy để đảm bảo cho lợn sinh trưởng và phát triển bình thường, đạt năng suấtcao thì nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng đến một mức nhất địnhtuỳ theo giống Mặt khác, nó cũng giúp cho lợn con sinh ra có phẩm chất tốt.Tuy nhiên cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì như vậy sẽ ảnhhưởng tới năng suất sinh sản của một đời nái và tới đời sau của chúng

2.2.2 Chu kỳ tính (chu kỳ động dục)

Bắt đầu từ khi con cái thành thục về tính thì cơ thể con cái đặc biệt là cơquan sinh dục có nhiều biến đổi Các noãn bao trên buồng trứng phát triển, lớndần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang này

vỡ ra, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng thì con cái có biểu

Trang 16

hiện ra bên ngoài gội là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dụccũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005).

Chu kỳ tính có sự khác nhau giữa các loài, thời gian kéo dài chu kỳ độngdục giữa các loài cũng khác nhau Ở thời gian đầu, do mới có sự thành thục vềtính nên chu kỳ tính chưa ổn định, phải sau 2 – 3 chu kỳ tiếp theo sau mới có sự

* Giai đoạn trước động dục:

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, nó xuất hiện đầy đủ các hoạtđộng về sinh lý, về tính thành thục, trong đó sự phát triển của noãn bao thànhthục nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường, các tếbào của vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinhdục sung huyết, nhu động sừng tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhầy

tử cung cũng tăng lên, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ tử cung tiết

ra kích thích cổ tử cung hé mở, các tuyến ở đường sinh dục tăng cường hoạtđộng

Ở giai đoạn này có tính hưng phấn cao, dần dần noãn bao chín và tế bàotrứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn, bộphận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều nhất, convật bắt đầu xuất hiện tính dục, giai đoạn này ở lợn kéo dài 1 – 2 ngày

Tất cả những biến đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vàođường sinh dục cái để thụ tinh với tế bào trứng

* Giai đoạn động dục:

Giai đoạn này thường kéo dài 2 -3 ngày Trong giai đoạn này, những biếnđổi về sinh lý so với giai đoạn trước động dục càng rõ rang hơn Bên ngoài âm

Trang 17

hộ phù thũng, niêm mạc sung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy ranhiều Cuối giai đoạn này tính hưng phần của con vật cao độ, gia súc ở trạngthái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ rệt, chạy, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩnngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái dắt, thích gầncon đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối (hai chân sau rạng ra, đuôicong về một bên) Các biểu hiện đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho tế bàotrứng gặp được tinh trùng để thụ tinh và phát triển hợp tử trong tử cung.

Nếu ở trong giai đoạn này mà trứng gặp tinh trùng và thụ tinh thì chu kỳtính dừng lại, gia súc cái mang thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳvào loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trìnhtrên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính

* Giai đoạn sau động dục:

Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơquan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường, rồi chuyển sanggiai đoạn yên tĩnh làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thầnkinh, con vật chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục ngừng tăngsinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

* Giai đoạn nghỉ ngơi:

Giai đoạn này kéo dài 10 – 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụngtrứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạncon vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lýbình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phátdục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dầnxuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạnđộng dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ dinh dưỡng, chăm sóc cho phùhợp và phối giống kịp thời, từ đó nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

Trang 18

2.2.3 Sinh lý đẻ

2.2.3.1 Khái niệm

Lợn nái mang thai đến một thời gian nhất định, khi bào thai đã phát triểnđầy đủ thì con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai ra ngoài cùngvới nhau thai, dịch thai Quá trình đó gọi là đẻ

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự chi phối của thần kinh – thể dịchcùng với sự tác động của bào thai đã thành thục Quá trình sinh đẻ của gia súc cáicũng là quá trình sinh lý bình thường Vì vậy, cuối thời kỳ mang thai gia súc cái cónhững biểu hiện của quá trình sinh đẻ, chủ yếu là ở đường sinh dục và bầu vú

Thời gian đẻ của gia súc: thời gian đẻ của gia súc được tính từ khi cổ tửcung mở hoàn toàn đến khi thai ra ngoài cơ thể mẹ và số lượng bào thai ra hết ởnhững loài gia súc đa thai

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), thời gian đẻ của lợn từ 2 – 6 giờ

2.2.3.2 Những biểu hiện của lợn cái trong thời gian gần đẻ:

Quá trình sinh đẻ của gia súc là một quá trình sinh lý bình thường Chonên cuối thời kỳ mang thai gia súc cái có những biểu hiện của quá trình đẻ, chủyếu là đường sinh dục và bầu vú

Triệu chứng ở thời kỳ sắp đẻ

Trước thời gian đẻ 1 – 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung đường sinh dụclỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Còn 1 – 2 ngày trước khi gia súc đẻ thì cơquan sinh dục bên ngoài có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xunghuyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, tĩnh mạch vú nổi rõ ràng Nhiệt độ cơthể thường thay đổi, trước khi đẻ nhiệt độ tăng cao hơn bình thường Bên ngoàigia súc có hiện tượng sụt mông

Sữa đầu cũng là một căn cứ đáng tin cậy để chẩn đoán ngày đẻ của lợn.Lợn nái trước khi đẻ 3 ngày thì cặp vú giữa đã tiết ra nước trong Trước khi đẻ

1 ngày có thể vắt được giọt sữa màu trắng Khi cặp vú phía trước đã vắt đượcvài giọt sữa đầu thì lợn sẽ đẻ trong vài giờ tới

Trang 19

Ngoài ra, lợn cái trước khi đẻ 3 – 5 ngày mép âm đạo sưng to, niêm mạc

âm đạo xung huyết, niêm dịch từ đặc chuyển sang loãng dần và nhớt Lợn trướckhi đẻ 6 – 12 giờ có hiện tượng cắn ổ

Triệu chứng rặn đẻ

Khi đẻ ra súc mẹ phải dung sức đẩy thai cùng các khí quan trong đườngsinh dục để đưa thai ra ngoài Sức rặn căn bản là do sự co bóp của tử cung, sự cobóp này bắt đầu từ sừng tử cung tới thân tử cung, đến cổ tử cung, kết quả là làm

mở rộng cổ tử cung

Nhưng chỉ nhờ vào sức co bóp của tử cung thì không đầy đủ thai ra ngoài

mà phải nhờ vào sự co bóp của cơ thành bụng, hoành cách mô và toàn thân, mặtkhác còn dựa vào sự co bóp của cơ âm đạo, chậu hông, sức co bóp của tử cung.Khi có triệu chứng đẻ thì tử cung bắt đầu co bóp, ban đầu yếu sau mạnh dần

2.2.3.3 Quá trình sinh đẻ

Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do sự co bóp của tử cung, cơ thành bụng,sức rặn toàn than, thai, màng nhau thai cùng với nước thai được tống ra ngoài.Quá trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ:

Thời kỳ mở cổ tử cung:

Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tửcung mở ra hoàn toàn Tùy từng giống mà biểu hiện bên ngoài không giốngnhau Lợn thường hay đứng nằm không yên, đi đi lại lại và có triệu chứng cắn ổ

Con vật xuất hiện cơn rặn đầu tiên trong thời kỳ này nhưng nói chung cơnrặn này yếu về cường độ, thời gian cơn rặn ngắn, thời gian nghỉ giữa hai cơn rặndài từ 20 – 30 phút, mỗi cơn rặn thường 2 – 3 giây Càng về sau thì thời gian cobóp càng dài hơn, khoảng cách giữa hai lần co bóp rút ngắn lại Thời kỳ nàythường kéo dài 3 – 4 giờ

Thời kỳ đẻ (hay thời kỳ sổ thai):

Thời kỳ này bắt đầu từ khi cổ tử cung mở và kết thúc khi thai lọt ra ngoài.Lúc này gia súc bồn chồn, đứng nằm không yên, chân cào đất, có con chân sau

Trang 20

đá vào bụng, lưng cong lên mà rặn Ở lợn thường rặn đẻ khác với các loài giasúc khác, tử cung co bóp đẩy thai theo chiều dọc và co bóp theo từng giai đoạn.

Sự co bóp bắt đầu từ gốc sừng tử cung, lan dần đến đầu nhọn của sừng tử cung,hai sừng thay nhau co bóp Trong cơn rặn đẻ lợn thường nằm nghiêng, nhưngcũng có khi đứng lên lại nằm xuống ngay Thời gian đẻ của lợn phụ thuộc vàokhoảng cách các thai ra và số lượng thai trong tử cung của gia súc mẹ

Thời kỳ sổ nhau (hay gọi là thời kỳ bong nhau):

Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục gia súc mẹ một thời gian, con mẹtrở nên yên tĩnh, nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần

co bóp từ 1,5 – 2 phút, thời gian giữa hai lần co bóp là 2 phút, nhưng lúc nàycường độ yếu hơn

Sau khi sổ nhau thai khoảng 2 – 3 giờ, tử cung co nhỏ lại, thành tử cungdày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn, bên trong tử cung có nhiều núm nhau Cơnrặn lúc này của gia súc cái chủ yếu là để đưa nhau thai ra ngoài

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), thời gian bong nhau thai củalợn khoảng 10 – 15 phút sau khi thai đã ra hết toàn bộ Nhau thai của lợn chiathành hai đống, mỗi đống gồm nhau thai của tất cả các thai chưa trong một sừng

tử cung

Trong sừng tử cung lợn có ít thai thì nhau thai không dính lại như vậy mà

ra từng cái một, thai sau có thể đẩy nhau của thai trước ra Nếu trong sừng tửcung lợn có xen kẽ nhiều thai bình thường và thai bị chết khô thì nhau thai cũng

ra thành nhiều đống Thường thai chết khô trong sừng tử cung sẽ ra cùng vớinhau thai

2.3 VIÊM TỬ CUNG (METRITIS)

Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sau đẻ.Quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của lớp hay tầng tử cung gây rối loạnsinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ởgia súc cái (Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh, 2002)

Trang 21

2.3.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung:

Theo tác giả Đào Trọng Đạt và cộng sự (2002), bệnh viêm tử cung ở lợnnái thường do các nguyên nhân sau:

Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinhkhông được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào trong tửcung của lợn nái gây viêm

Lợn nái trong trường hợp phối giống trực tiếp mà lợn đực mắc bệnh viêmbao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tửcung, viêm âm đạo truyền sang con khỏe

Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tửcung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

Lợn nái sau khi đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dễ gây viêm tử cung

Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phóthương hàn,…

Do vệ sinh chuồng đẻ Vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau khi đẻkhông sạch sẽ Nếu chuồng trại không được dọn rửa kỹ lưỡng, nhất là chỗ thoátphân, nước tiểu tồn đọng thì vi khuẩn rất dễ xâm nhập vào tử cung và gây viêm

Theo Lê Văn Năm và cộng sự (1997), bệnh viêm tử cung còn có thể làbiến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây viêm nên trongthời gian động dục vì lúc đó cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theođường máu và viêm niêm mạc tử cung là một triệu chứng lâm sàng chung

Theo F.Madec và C.Neva (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh đườngtiết niệu có mối quan hệ mật thiết với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng pháttriển trong âm đạo và gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sing trưởng ở một cơquan nào đó kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phốinhưng cũng bị viêm tử cung

Trang 22

2.3.2 Hậu quả của viêm tử cung:

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinhdục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnhhưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển củalợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽdẫn đến một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến xẩy thai:

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắtcủa cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thểbám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cungtiết nhiều Protaglandin F2α(PG F2α), PG F2α gây phá hủy thể vàng ở buồng trứngbằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào của thể vàng để làmchết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảmlưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy sẽ không tiết Progesterone,làm hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của

cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị xẩy thai

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến thai kém phát triển hoặc chết lưu: Lớp nội mạc tử cung làm nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúpphôi thai phát triển Khi lớp niêm mạc tử cung bị viêm cấp tính, hàm lượngProgesterone trong máu sẽ giảm làm khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêmmạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinhdưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữu giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Lợn nái bị viêm tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt vi khuẩnE.coli Vi khuẩn này tiết nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa

Trang 23

Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữu giảm,thành phần sữu cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc.

- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PG F2α giảm, do đó thể vàngvẫn tồn tại, vân tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyếnyên tiết ra LH, từ đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nênlợn nái không thể động dục trở lại và không thải trứng được

2.3.3 Các thể viêm tử cung:

Theo Đặng Đình Tín (1985), Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), bệnh

viêm tử cung chia thành 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm

tương mạc tử cung.

2.3.3.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)

Viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, nó là thể bệnhphổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh viêm tử cung Bệnh thường xảy rasau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay vàdụng cụ khác làm niêm mạc tử cung bị xây xát, tổn thương, từ đó vi khuẩn xâmnhập vào và phát triển gây viêm tử cung

Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý bệnh viêm niêmmạc tử cung có thể chia thành 2 loại: viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ

và viêm nội mạc tử cung thể màng giả

* Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endometritis puerperalis

catarrhalis purulenta acuta):

Thể bệnh này xuất hiện ở tất cả các loài gia súc Sau khi đẻ, niêm mạc cổ

tử cung và âm đạo bị tổn thương, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau,

đẻ khó bị can thiệp

Gia súc bị bệnh này thân nhiệt hơi cao hơn bình thường, ăn uống giảm,lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻkhông yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch gồm niêm dịch lẫn

Trang 24

với dịch viêm, mủ lợn cợn những mảnh tổ chức chết,… Khi con vật nằm, niêmdịch thải ra ngoài càng nhiều Xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông cónhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy màu trắng xám.Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở

và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường

* Viêm nội mạc tử cung thể màng giả:

Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương

đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử

Trong trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn than rõ rệt: thânnhiệt lên cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vậtbiểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinhdục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổchức hoại tử, niêm dịch,…

2.3.3.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả.Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâuvào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản vàlâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít tương mạc cũng bị hoại tử, cóthể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng mủ Đôi khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tửcung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám

Lợn nái bị bệnh thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ rệt: thân nhiệttăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, giảm sản lượng sữa hoặc mất hẳn Convật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc.Gia súc biểuhiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục, từ cơ quan sinh dục luôn chảy ra ngoài hỗndịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanhthối

Thể viêm này thường ảnh hưởng tới quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Cónhiều trường hợp bị viêm đã điều trị khỏi nhưng không còn khả năng sinh sản

Trang 25

2.3.3.3 Viêm tương mạc tử cung (Permestritis puerperalis)

Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Bệnh nàythường ở thể cấp tính, cục bộ và toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình

và nặng Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu trắng, sau chuyển sang màu đỏsẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó, các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịchthẩm xuất tăng tiết

Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc có thểdính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm Parametristis và có thể

kế phát viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ, đại tiểutiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, giảm hay ngừng nhai lại Con vật luônbiểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộthải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm.Kiểm tra trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối,khi kích thích con vật hiện đau đớn càng rõ và càng rặn xung quanh thì có thểphát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khikhông thấy một hoặc cả hai buồng trứng

Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết,huyết nhiễm mủ Nếu điều trị không kịp thời bệnh thường chuyển thành thểviêm mãn tính Thành ngoài tử cung thường dính với các tổ chức xung quanh, vịtrí các bộ phận của cơ quan sinh dục bị thay đổi, quá trình thụ tinh và sinh đẻ lầnsau gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng sinh sản

Triệu chứng Viêm nội mạc tử

cung Viêm cơ tử cung

Viêm tương mạc tử cung

Dịch viêm: màu, mùi Trắng xám, trắngsữa, mùi tanh Hồng, nâu đỏ, tanhthối Nâu rỉ sắt, thốikhắm

Phản ứng co cơ tử cung Phản ứng co giảm Phản ứng co rất yếu Phản ứng comất hẳnPhản xạ ăn Bỏ ăn 1 phần hoặc

hoàn toàn bỏ ăn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Trang 26

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra chỉ có tính chất tương đối Với một trại

có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ thì ta nên kếthợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nênkết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác.Nhiều trường hợp viêm tử cung không sinh mủ

2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh viêm tử cung ở lợn nái

Có rất nhiều yếu tố có thể gây ra bệnh viêm tử cung ở lợn nái, như:phương pháp phối giống, mùa vụ, tình hình vệ sinh thú y, lứa đẻ, quá trình đẻ

2.3.4.1 Phương pháp phối giống

Phương pháp phối giống là một trong các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ mắcviêm tử cung ở lợn nái

Theo Lee và cộng sự (1995), phối giống nhảy trực tiếp có tỷ lệ mắc bệnhsinh dục thấp hơn phương pháp thụ tinh nhân tạo Đó là do nhảy trực tiếp làphương pháp tự nhiên tác động cơ học rất ít đến các bộ phận của cơ quan sinhdục cái, còn thụ tinh nhân tạo dễ gây xây xát do đưa dụng cụ phối vào con cái,con cái dịch chuyển trong khi phối gây xây xát niêm mạc, dụng cụ phối khôngđược vô trùng,… rất dễ gây viêm

2.3.4.2 Mùa vụ

Khí hậu Việt Nam bao gồm 4 mùa xuân, hạ, thu, đông với các đặc điểmkhác nhau Trong đó có sự phân hoá rõ giữa hai cặp là xuân – hạ và thu – đông

Mùa xuân hạ có đặc điểm mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao

là điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh phát triển Nhiệt độ cao làmkhả năng thu nhận thức ăn giảm, sức đề kháng của con vật giảm nên tỷ lệ mắcbệnh của lợn nái tăng cao, trong đó có bệnh ở đường sinh dục

Trong giai đoạn thu đông, thời tiết máy mẻ, vì vậy sức đề kháng của convật được nâng cao Đồng thời có những thời điểm nhiệt độ hạ xuống rất thấplàm bất lợi cho sự phát triển của vi sinh vật.Vì vậy mà các bệnh xảy ra trên đànlợn cúng ít hơn

Trang 27

2.3.4.3 Vệ sinh thú y

Công tác vệ sinh thú y đối với lợn nái là yếu tố quan trọng liên quan đến

tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y gốm vệ sinh môi trường và vệ sinhtrong quá trình sinh sản

- Vệ sinh môi trường: rửa máng ăn hàng ngày, hót phân liên tục, rửachuồng 2lần/ngày, phun sát trùng định kỳ theo quy định,…

- Vệ sinh trong quá trình sinh sản: vệ sinh con đực và con cái trong quátrình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, nước pha và dụng cụ pha tinh, dụng cụ phốitinh, vệ sinh trước và sau khi đẻ,…

2.3.4.4 Lứa đẻ

Ở các lứa đẻ khác nhau thì tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung cũng khác nhau.Lợn nái ở lứa đẻ thứ nhất, thứ hai thường có tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung caohơn ở những lứa đẻ sau do lợn chưa thuần, xương chậu chưa thích nghi,hoocmon sinh sản chưa hoàn thiện nên phải can thiệp nhiều bằng thủ thuật gâyxây xát đường sinh dục

Từ lứa thứ 3 trở đi, lợn nái có sức đề kháng tốt hơn, quá trình sinh đẻ dễdàng hơn, quá trình phối giống dễ dàng hơn, lợn đã thích nghi nên tỷ lệ viêm tửcung ít hơn Bắt đầu đến lứa thứ 5 - 6, lợn nái có sức đề kháng giảm, sức rặnyếu, sự co bóp tử cung giảm, thời gian đóng kín cổ tử cung cũng chậm hơn do

đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung gây viêm Mặt khác dokhai thác nhiều, sức đề kháng kém, các hoạt động sinh dục giảm vì vậy việc canthiệp vào quá trình sinh sản lại cần thiết nên tỷ lệ viêm tử cung lại tăng lên

Trang 28

Theo tác giả Đặng Đình Tín (1986), phương pháp đỡ đẻ thô bạo, khôngđúng kỹ thuật là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung Đặc biệt là trườnghợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay và dụng cụ.

2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Theo A.I.Sobko và N.I.Gadenko (1978), nguyên nhân của bệnh viêm tửcung là do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là donuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích đẻ làmphá huỷ hoặc làm kết tủa chất nhầy ở bộ máy sinh dục

A.Vtrekaxova (1983), trong số các nguyên nhân dẫn tới ít sinh đẻ và vôsinh của lợn thì các bệnh ở cơ quan sinh dục chiếm 5 – 15%

M.Varadin và các cộng sự (1971), khi kiểm tra trực tràng 147 lợn nái 1 –

6 tuổi trong vòng 1 – 2 năm không chửa thấy 50% trường hợp bị viêm tử cung

và những biến đổi có u nước ở ống dẫn trứng, buồng trứng và tử cung

Theo F.Madec và C.Neva (1995) (trích dẫn bởi Đặng Công Trung, 2007),hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo

có thể giải thích nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng suấtsinh sản Ông cũng nghiên cứu về nguyên nhân gây tử vong ở lợn nái tại các trạilợn cho thấy thời điểm đặc biệt gay go là vào lúc 10 ngày sau khi sinh đẻ (tỷ lệchết cao 17% và chiếm 5% tổng số nái sinh sản)

Trang 29

Mặt khác, năm 1987 qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ (Pháp thấy 26% sốlợn nái có bệnh tích viêm tử cung, 2% số lợn nái có bệnh tích thoái hoá mô nộimạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrin Tỷ lệ bệnh tíchđường tiêt niệu sinh dục ở đàn lợn nái loại thải tăng lên theo số lứa đẻ Và khitiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh thái vào năm 1991 trên số đàn lợn xứ này vớichủ đề bệnh lý sinh đẻ cho thấy 15% số lợn nái bị viêm tử cung, viêm thườngbắt đầu bằng sốt một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ ngày hôm sau và bệnh thườngkéo dài 48 đến 72 giờ

Cũng theo ông, các bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ còn ảnh hưởng đến năngsuất sau này của lợn nái Một nghiên cứu dịch tễ gần đây cho thấy tỷ lệ phốikhông đạt (xác định bằng siêu âm) tăng lên ở đàn lợn nái bị viêm tử cung saukhi đẻ Phối giống lại có tính chất chu kỳ do ảnh hưởng của thụ thai hoặc tỷ lệphôi chết cao

2.4.2 Tại Việt Nam

Theo đà phát triển của thế giới cũng như đặc điểm kinh tế nước ta là nướcnông nghiệp, ngành chăn nuôi nước ta cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ vàđem lại hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, công tác chăn nuôi đã và đang được quantâm nhiều, trong đó có nhiều nghiên cứu về các bệnh xảy ra trên đàn gia súc.Lợn nái là một trong những đối tượng quan trọng Bệnh viêm tử cung ở lợn náiđược các nhà khoa học nghiên cứu, song vẫn còn ít

Lê Xuân Cương (1986), lợn nái chậm sinh sản do nhiều nghuyên nhân.Trong đó, tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Đặc biệt các lợn nái

đẻ khó cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa thì niêm mạc đường sinh dục rất dễ

bị tổn thương và dẫn tới viêm tử cung

Bùi Thị Tho, Trần Công Hoà, Nguyễn Khắc Tích (1995), lợn Yorshire,Landrace trong giai đoạn nuôi con mắc bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ 5% dochữa chạy kịp thời nên khỏi 100% song đã ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản củalợn nái, phần lớn là do những trường hợp đẻ khó dẫn đến viêm tử cung

Trang 30

Theo Phạm Chí Thành và cộng sự (1997), khi sử dụng Rivanol 1%, dungdịch Lugol 0,5%, kháng sinh để điều trị viêm tử cung cho kết quả cao.

Theo Hồ Văn Nam, Nguyễn Văn Thanh (1999), bệnh viêm tử cung ở đạigia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thểkhác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rốiloạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của gia súc cái

Nguyễn Văn Thành (2002), lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung42,40% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%, trên nhóm lai chiếm 50,84%.Viêm tử cung xảy ra cao nhất ở lứa 1 và lứa 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bịviêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không bị viêm tử cung

Nguyễn Văn Thanh (2003), tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn náingoại hướng nạc đang được nuôi tại các địa phương vùng đồng bằng châu thổSông Hồng là tương đối cao (7,1%) và có sự khác nhau giữa các địa phương

Trần Tiến Dũng (2004), bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao

từ 30 – 50%, trong đó viêm cơ quan ngoài chiếm 20%, còn lại 80% là viêm tửcung, và tỷ lệ mắc viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái ngoại cũng từ 1,82 – 23,33%

Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), khigia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cungthìkhông nên tiến hành thụt rửa tử cung bằng các chất sát trùng Các tác giả đềnghị dung thuốc kích thích tăng cường tử cung co bóp để thải dịch viêm, mủ,máu, tổ chức hoại tử,… ra ngoài Sau đó dùng kháng sinh các dạng để đặt haybơm trực tiếp vào tử cung, kết kợp dùng kháng sinh để tiêm bắp, trợ sức, trợ lực

và tăng cường sức đề kháng cho gia súc

Trang 31

Phần III

ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại công ty giống lợn Mỹ Văn – Mỹ Hào –Hưng Yên

3.1.2 Thời gian, địa điểm và phạm vi nghiên cứu

3.1.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 1/2011 – 4/2011

Địa điểm: Công ty giống lợn Mỹ Văn – Mỹ Hào – Hưng Yên

3.1.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu một số bệnh thường xảy ra trên đàn lợn và nghiên cứu lợn náisinh sản bị bệnh viêm tử cung tại trại và so sánh tỷ lệ mắc theo lứa đẻ, mùa vụ,

và qua các năm

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi và thực hành công tác thú y tại trại

- Tìm hiểu rõ về các điều kiện tự nhiên – xã hội ở công ty

- Tìm hiểu quy trình vệ sinh môi trường và vệ sinh thú y ở công ty

- Theo dõi tình hình phát triển chăn nuôi ở công ty

- Điều tra tình hình dịch bệnh xảy ra trên đàn lợn của trại từ năm 2008 đếnđầu tháng 4/2011

- Tham gia công tác tiêm phòng và chăm sóc đàn lợn

- Tiến hành chẩn đoán và điều trị bệnh viêm tử cung cũng như một sốbệnh thường xảy ra trên đàn lợn nái, sơ sinh và lợn con theo mẹ

Trang 32

3.2.2 Theo dõi bệnh viêm tử cung và điều trị bệnh trên đàn lợn nái của trại

- Điều tra tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái sinh sản nuôi tạicông ty từ năm 2008 đến đầu tháng 4/2011

+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung qua các năm

+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo mùa vụ

+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ

+ Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống

- Các chỉ tiêu lâm sàng của lợn mắc bệnh viêm tử cung: Thân nhiệt, tần số

hô hấp, bỏ ăn, dịch viêm,…

- Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung tới năng suất sinh sản ở lợn nái

- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung

- Quy trình phòng bệnh viêm tử cung của công ty

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1 Phương pháp điều tra

Dựa vào tài liệu ghi chép của phòng kỹ thuật của công ty từ năm 2008 đến4/2011 và dựa vào tìm hiểu thực tế trong quá trình thực tập Các số liệu thu thậpđược xử lý trên máy tình bằng các phần mềm

3.3.2 Chuẩn bị thí nghiệm

- Theo dõi ở các khu chuồng lợn nái đang chờ đẻ và nuôi con cho đến khicai sữa và chuyển tới chuồng chờ phối thì kết thúc

- Dụng cụ đo nhiệt độ: nhiệt kế

3.3.3 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái khoẻ và lợn nái mắc bệnh viêm tử cung

Xác định chỉ tiêu lâm sàng thân nhiệt, tần số hô hấp: sử dụng phươngpháp đếm nhiều lần vào thời gian quy định và lấy số bình quân

- Thân nhiệt: Dùng nhiệt kế thuỷ ngân đo nhiệt độ Mỗi ngày đo 2 lần: Sáng: 7 – 9 giờ

Chiều: 16 – 18 giờ

Ngày đăng: 22/04/2015, 09:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáotrình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Nguyễn Văn Thanh (2003), Khảo sát tỷ lệ viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng song Hồng và thử nghiệm điều trị, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 10, số 2 – 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ viêm tử cung trên đàn lợnnái ngoại nuôi tại đồng bằng song Hồng và thử nghiệm điều tr
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2003
3. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch (1997), Giáo trình chẩn đoán lâm sàng thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chẩn đoán lâm sàng thú y
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
4. Nguyễn Hữu Nam (2004), Giáo trình bệnh lý học thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp
Năm: 2004
5. Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương (2002), Giáo trình dược lý học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dược lý học
Tác giả: Đặng Quang Nam, Phạm Đức Chương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
6. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXN Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Năm: 2000
7. Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (2002), Giáo trình sinh lý học gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học gia súc
Tác giả: Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Bùi Thị Tho, Trần Công Hoà, Nguyễn Khắc Tích (1995), Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái giống Yorkshire, Landrace nuôi tại xí nghiệp giống Mỹ Văn – Tỉnh Hưng Yên, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học Khoa CNTY 1991 – 1995, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnhthường gặp trên đàn lợn nái giống Yorkshire, Landrace nuôi tại xí nghiệp giốngMỹ Văn – Tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Bùi Thị Tho, Trần Công Hoà, Nguyễn Khắc Tích
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
9. Lê Văn Năm và cộng sự (1997), Kinh nghiệm phòng và trị bệnh cho lợn cao sản, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phòng và trị bệnh cholợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
10. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khác Tích, Đinh Thị Nông (2000), Giáo trình chăn nuôi lợn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khác Tích, Đinh Thị Nông
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Hình ảnh dịch viêm chảy ra từ cơ quan sinh dục lợn nái - Thực hành công tác thú y, theo dõi và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại Công ty Giống lợn Mỹ Văn – Mỹ Hào – Hưng Yên
Hình 4.1. Hình ảnh dịch viêm chảy ra từ cơ quan sinh dục lợn nái (Trang 47)
Hình 4.3. Hình ảnh lợn con ỉa chảy - Thực hành công tác thú y, theo dõi và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại Công ty Giống lợn Mỹ Văn – Mỹ Hào – Hưng Yên
Hình 4.3. Hình ảnh lợn con ỉa chảy (Trang 47)
Hình 4.2. Hình ảnh dịch hậu sản chảy ra từ cơ quan sinh dục - Thực hành công tác thú y, theo dõi và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản tại Công ty Giống lợn Mỹ Văn – Mỹ Hào – Hưng Yên
Hình 4.2. Hình ảnh dịch hậu sản chảy ra từ cơ quan sinh dục (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w