có thể lấy từ qũl phúc lợi, từ trợ cấp của nhà nước và không được bù đắp từ thunhập hoạt động sản xuất kinh doanh.Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP & XÂY DỰNG
BÀI GIẢNG MÔN HỌC
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
(Phần 2)
Dùng cho hệ: Cao đẳng chuyên nghiệp Chuyên ngành:
(Lưu hành nội bộ)
Người biên soạn: Hoàng Thị Nguyên
Bùi Thị Mai Anh
Người phản biện: Nguyễn Thị Minh Ngọc
Uông Bí, năm 2010
Trang 2Chương 6: kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
6.1 CHI PHí sản xuất, GIá THàNH SảN PHẩM Và NHIệM Vụ Kế TOáN CHI PHí sản xuất Và TíNH GIá THàNH SảN PHẩM
6.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có thể khái quát với 3giai đoạn cơ bản, có mới quan hệ mật thiết với nhau:
- Quá trình mua sắm,chuẩn bị các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinhdoanh
- Quá trình tiêu dùng, biến đổi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinhdoanh một cách có mục đích thành kết quả cuối cùng
- Quá trình tiêu thụ kết quả cuối cùng của qui trình sản xuất kinh doanh
Hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự vận động, kết hợp, tiêu dùng, chuyển
đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo thành các sản phẩm, công việc, lao
vụ nhất định
Trên phương diện này, chi phí của doanh nghiệp có thể được hiểu là: Toàn bộ cáchao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanhnghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền
và tính cho một thời kỳ nhất định Như vậy bản chất của chi phí trong hoạt động củadoanh nghiệp luôn được xác định là những phí tổn (hao phí) về tài nguyên, vật chất, vềlao động và phải gắn liền với mục đích kinh doanh Mặt khác khi xem xét bản chất củachi phí trong doanh nghiệp, cần phải xác định rõ các mặt sau:
- Chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong mộtkhoản thời gian xác định
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào 2 nhân tố chủ yếu: khối lượng các yếu tố sảnxuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí
Nghiên cứu bản chất chi phí, giúp cho doanh nghiệp phân biệt được chi phí vớichi tiêu; chi phí với vốn
Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy của tài sản , không kểcác khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào
Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho các quá trình mua hàng,quá trình sản xuất, kinh doanh Chi tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản củadoanh nghiệp, còn chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêudùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên
Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ phần tài sản tiêu dùng hết choquá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ và số chi tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinhdoanh trong kỳ và số chi tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính nhập hoặc phân bố vàochi phí trong kỳ Ngoài ra khoản chi phí phải trả (chi phí trích trước) không phải là chitiêu trong kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ
Như vậy, giữa chi tiêu và chi phí của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết vớinhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và về thời điểm phát sinh Mặt khác chi phíphục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy nó được tài trợ từ vốn kinh doanh
và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh; chi tiêu không gắn liền vớimục đích sản xuất kinh doanh, vì vậy nó có thể được tài trợ từ những nguồn khác nhau,
Trang 3có thể lấy từ qũl phúc lợi, từ trợ cấp của nhà nước và không được bù đắp từ thunhập hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận trongtừng loại kế toán khác nhau:
+ Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phítổn
phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm, lao vụ,dịch vụ nhất định Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí về lao độngsống, lao động vật hóa trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn Ví dụ khixuất kho vật tư dùng vào sản xuất kinh doanh, tạo ra chi phí: gây ra sự giảm đi của giátrị hàng tồn kho, gắn liền với sản xuất kinh doanh và được chứng minh bằng chứng từchắc chắn
+ Trên góc độ của kế toán quản trị: Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cungcấp thông tin chi phí thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhàquản trị doanh nghiệp Vì vậy, đối với kế toán quản trị chi phí không chi đơn thuầnnhận thức chi phí như kế toán tài chính, chi phí còn được nhận thức theo phương thứcnhận diện thông tin ra quyết định: Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chiphí cũng có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi khi lựachọn phương án, bỏ qua cơ hội kinh doanh Khi đó trong kế toán quản trị lại cần chú ý
đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, môi trường kinh doanh hơn là chútrọng vào chứng minh bằng các chứng cứ, chứng từ
Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanhnghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trìnhsản xuất kinh doanh Vì vậy để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi
ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chiphí đã chi ra đó cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành là baonhiêu ? Giá thành sản phẩm, lao vụ dịch vụ sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệptrả lời được câu hỏi này
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống vàlao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoànthành nhất định
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tínhchất khách quan vừa mang tính chất chủ quan Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý củadoanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sửdụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn củanhững giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện để nhằm mục đích hạ thấp chiphí, tăng cao lợi nhuận
Về mặt bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặt củaquá trình sản xuất kinh doanh Cũng giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằngtiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa bỏ ra, nhưng khác nhau vềmặt lượng Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng một thời kỳ nhất định,không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa, còn khi nói đến giáthành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định, tính cho một đại.lượng kết quả hoàn thành nhất định
Trang 4Đứng trên góc dộ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là một quátrình hoạt động liên tục còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một điểm cắt cótính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoànthành Tại thời điểm tính giá thành có thể có một khối lượng sản phẩm chưa hoànthành, chứa đựng một lượng chi phí cho nó - đó là chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.Tương tự như vậy, đầu kỳ có thể có một số khối lượng sản phẩm sản xuất chưa hoànthành ở kỳ trước chuyển sang để tiếp tục sản xuất, chứa đựng một lượng chi phí cho nó
- đó là chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ.Như vậy giá thành sản phẩm hoàn thành trong
kỳ bao gồm chi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang và một phần của chi phí sảnxuất phát sinh trong kỳ
Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất
= dở dang + phát sinh - dở dang đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí tínhvào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm tính toánxác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định của chế độ quản lý kinh tế
- tài chính, chế độ kế toán hiện hành Những quan điểm và quy định đó đôi khi khônghoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm, đòi hỏi các nhàquản trị doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ ràng đầy đủ dể sử dụng thông tin chothích hợp
Trong công thức tính giá thành sản phẩm nêu trên, giá thành sản phẩm được hiểu làgiá thành sản xuất, chi phí bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, chếtạo sản phẩm; không bao gồm chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm và cáckhoản chi phí liên quan đến hoạt động quản lý chung toàn doanh nghiệp
Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp sẽ được tính trừ vào thu nhập của
số sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ để xác định kết quả
6.1.2 Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh nghiệp trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
Chi phí và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêukinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết vớidoanh thu, kết quả ( lãi lỗ ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được chủ doanhnghiệp rất quan tâm
Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học , hợp lý và
đúng đắn Có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản phẩm Việc
tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộphận, từng đối tượng , góp phần tăng cường quản lý tài sản , vật tư lao động, tiền vốnmột cách tiết kiệm, có hiệu quả Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí hạthấp giá thành sản phẩm Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanhnghiệp một ưu thế trong cạnh tranh
Mặt khác giá thành sản phẩm còn là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để
đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời còn là căn cứ để xác
định kết quả kinh doanh kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm với nội dung chủyếu thuộc về kế toán quản trị, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý doanhnghiệp Song nó lại là khâu trung tâm của toàn bộ công tác kế toán ở doanh nghiệp, chi
Giá thành
sản phẩm
Trang 5phối đến chất lượng của các phần hành kế toán khác cũng như chất lượng và hiệu quảcủa công tác quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp.'
Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trongviệc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:
- Trước hết cần nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của kế toán chi phí và tính giáthành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộphận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chiphí và tính giá thành
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất,loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thểcủa doanh nghiệp để lựa chọn, xác định dúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất,lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điềukiện của doanh nghiệp
- Căn cứ đặc điểm tổ chức SXKD, đặc điểm của sản phẩm, khả năng và yêu cầuquản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp
- Trên cơ sở mối quan hệ giữa dối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tínhgiá thành đã xác định để tổ chức áp dụng phương pháp tính giá thành cho phù hợp vàkhoa học
- Tổ chức bộ máy kế toán lột cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràngtrách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt bộ phận kếtoán các yếu tố chi phí
- Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toánphù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được yêu cầuthu nhận - xử lý - hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp
- Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm của các
bộ phận kế toán liên quan và bộ phận kế toán chi phí và giá thành sản phẩm
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm, cung cấpnhững thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanhnghiệp ra được các quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất -tiêu thụ sản phẩm
6.2 PHÂN LOạI CHI PHí SảN XUấT KINH DOANH
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứkhác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng nhưphục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải
được phân loại theo những tiêu thức phù hợp
6.2.l Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hoạt động và công dụng kinh tế
Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp, căn cứ vàocông dụng kinh tế của chi phí thì chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành:
6.2.1.1 Chi phí hoạt động chính và phụ
Bao gồm chi phí tạo ra doanh thu bán hàng của hoạt động sản xuất kinh doanh.Căn cứ vào chức năng - công dụng của chi phí, các khoản chi phí này được chia thànhchi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
Trang 6Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm:
a Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trựctiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ
b Chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp chocông nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinhphí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
c Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ vàquản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất Chi phí sản xuất chungbao gồm các yếu tố chí phí sản xuất sau:
- Chi phí nhân viên phân xường: bao gồm chí phí tiền lương, các khoản phải trả, cáckhoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, đội sản xuất
- Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất vớimục đích là phục vụ và quản lý sản xuất
- Chi phí đụng cụ: bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ dùng ở phân xưởng để phục
vụ sản xuất và quản lý sản xuất
- Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc cácphân xưởng sản xuất quản lý và sử dụng
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng chohoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng, đội sản xuất
- Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ
và quản lý sản xuất ở phân xưởng sản xuất
6.2.1.1.2 Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất ở doanh nghiệp được xác định bao gồm:
a Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ Loại chi phí này có: chi phí quảngcáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phíkhác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa
b Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ
và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh ngh.iệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệuquản lý, chi phí đồ dùng văn phòng - khấu hao TSCĐ dùng chung toàn doanh nghiệp,các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí khánh tiết,hội nghị
6.2.1.2 Chi phí khác
Chi phí khác là các khoản chi phí liên quan đến các hoạt động ngoài hoạt động sảnxuất kinh doanh chức năng của doanh nghiệp; chi phí khác bao gồm:
a Chi phí hoạt động tài chính:
Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí và các khoản ìỗ liên quan đến các hoạt
động về vốn như: chi phí liên doanh, chi phí đầu tư tài chính, chi phí liên quan cho vayvốn, lỗ liên doanh l
b Chi phí bất thường:
Chi phí bất thường là các chi phí và các khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp vụbất thường mà doanh nghiệp không thể dự kiến trước được, như: chi phí thanh lý,nhượng bán TSCĐ, tiền phạt do vi phạm hợp đồng, các khoản phạt, truy thu thuế
Trang 7- Chi phí dịch vụ mua ngoài:
Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc hiểu rõ yếu tố chi phí này giúp các nhàquản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ có liên quan đến hoạt động của doanhnghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị cung cấp tốt hơn
- Chi phí khác bằng tiền:
Là các chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanhngoài các yếu tố chi phí nói trên Việc nhận biết tốt yếu tố này góp phần giúpcác nhà quản trị hoạch định được lượng tiền mặt chi tiêu, hạn chế tồn đọng tiễnmặt
6.2.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp.
6.2.2.1 Chi phí ban đầu
Chi phí ban đầu là các chi phí mà doanh nghiệp phải lo liệu, mua sắm , chuẩn bị từ trước để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào tính chất kinh tế và hình thái nguyên thuỷ của chi phí, chi phíban đầu được xếp thành các yếu tố chi phí khác nhau, không kể chi phí đó phátsinh ở địa điểm nào, dùng vào việc gì?
- Chi phí nguyên vật liệu:
Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyênvật liệu
dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ Yếu tố này bao gồm: chi phínguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụtùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác
Sự nhận biết yếu tố chi phí nguyên vật liệu giúp cho các nhà quản trịdoanh nghiệp xác định được tổng giá trị nguyên vật liệu cần thiết cho nhu cầusản xuất kinh doanh trong kỳ Trên cơ sở đó các nhà quản trị sẽ hoạch định tổngmức luân chuyển, dự trữ cần thiết của nguyên vật liệu một cách hợp lý, có hiệuquả Mặt khác đây cũng là cơ sở để hoạch định các mặt hàng thiết yếu để chủ
động trong công tác cung ứng vật tư
- Chi phí nhân công:
Yếu tố chi phí nhân công là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao
động, các khoản trích Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn theo tiềnlương của người lao động
Sự nhận biết yếu tố chi phí nhân công giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác
định được tổng quĩ lương của doanh nghiệp Xác định được tổng quĩ lương của doanhnghiệp, từ đó hoạch định mức tiền lương bình quân cho người lao động
- Chi phí khấu hao Tài sản cố định:
Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuấtkinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Việc nhận biết được yếu tố chi phí khấu hao tàisản cố định giúp cho các nhà quản trị nhận biết được mức chuyển dịch, hao mòn tàisản, từ đây hoạch định tốt hơn chiến lược đầu tư, đầu tư mở rộng để đảm bảo cơ sở vậtchất thích hợp cho tiến trình sản xuất kinh doanh
- Chi phí dich vụ mua ngoài:
Chi phí dich vụ mua ngoài là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ
Trang 8này giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ có liên quan đến hoạt động củadoanh nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị cung cáp tốt hơn.
- Chi phí khác bằng tiền:
Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinhdoanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên Việc nhận biết tốt yếu tố chi phí này gópphần giúp các nhà quản trị hoạch định được lượng tiền mặt chi tiêu, hạn chế tồn
đọng tiền mặt
6.2.2.2 Chi phí luân chuyển nội bộ
Chi phí luân chuyển nội bộ là các chi phí phát sinh trong quá trình phân công
và hợp tác lao động trong doanh nghiệp Ví dụ: giá trị lao vụ sản xuất phụ cungcấp lẫn nhau trong các phân xưởng; giá trị bán thành phẩm tự chế được sử dụnglàm nguyên vật liệu trong quá trình chế biến khác trong doanh nghiệp
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trình sảnxuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng đối với quản lý vĩ mô cũng như đốivới quản trị doanh nghiệp Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố chi phí đầuvào là cơ sở để lập và kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanhtheo yếu tố, là cơ sở để lập kế hoạch cân đối trong phạm vi toàn bộ nền kinh tếquốc dân, cũng như ở từng doanh nghiệp; là cơ sở xác định mức tiêu hao vậtchất, tính thu nhập quốc dân cho ngành, toàn bộ nền kinh tế
6.2.3 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính (Theo mối quan hệ giữa chi phí với thời kỳ tính kết quả kinh doanh).
6.2.3.1 Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩmhay quá trình mua hàng hóa để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản phẩmbao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sảnxuất chung
Khi sản phẩm hàng hóa chưa được bán ra thì chi phí sản phầm nằm ở chi tiêugiá vốn hàng tồn kho trong
được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phí ''Giá vốn hàng bán'' trong báo cáokết quả kinh doanh và được bù đắp bằng doanh thu (thu nhập) của số sản phẩm hànghóa đã bán Như vậy sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải quanhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau
Trang 9Sơ đồ luân chuyển chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ
trong doanh nghiệp
6.2.3.2 Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ là các chi phí để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, không tạonên giá trị hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ mà chúngphát sinh
Chi phí thời kỳ bao gồm chi phí bán hà'ìlg và chi phí quản lý doanh nghiệp.Chi phí thời kỳ phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngày vào kỳ đó và ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh và được ghi nhận trên báo cáokết quả kinh doanh Ngược lại chi phí sản phẩm chỉ phải tính để xác định kết quả
Chi phísản xuấtchung
Chi phí
sản xuất
dở dang
Giá trịthànhphẩm hoànthành
Doanh thu bán hàng
Giá vốn hàng bán
Lợi nhuận gộp
Chi phí bán hàngChi phí quản lýdoanh nghiệp
Lợi nhuận thuầntrước thuế thu nhập
DN
Trang 10ở kỳ sau mà sản phẩm được tiêu thụ, không phải tính ở kỳ mà chúng phát sinh.Chi phí sản phẩm phát sinh trong lĩnh vực sản xuất dưới hình thức chi phí sảnxuất, sau đó chúng chuyển hóa thành giá trị sản phẩm dở dang, giá trị thànhphẩm tồn kho Khi tiêu thụ chúng chuyển hóa thành giá vốn hàng bán được ghinhận trên báo cáo kết quả kinh doanh.
6.2.4 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí (theo phương pháp quy nạp)
Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại: Chiphí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặthàng ); chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí Đốivới loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, chúng dễ nhậnbiết và hạch toán chính xác, ví dụ như Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp
- Chi phí gián tiếp: Là các loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế
toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp được, mà phảitập hợp, quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp
Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tượng, doanh nghiệp cần phảilựa chọn tiêu chuẩn phân bố phù hợp Mức độ chính xác của chi phí phân bổ chotừng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ lựachọn Vì vậy các nhà quản trị doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến việc lựachọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí nếu muốn có những thông tin đúng đắn chânthực về chi phí, kết quả lợi nhuận của từng sản phẩm, dịch vụ, từng loại hoạt
động của doanh nghiệp
6.2.5 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
- Chi phí cơ bản là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệ
sản xuất chế tạo sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trực tiếp vào sản xuất sảnphẩm
- Chi phí chung: là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý sản xuất có tính
chất chung như chi phí quản lý ở các phân xưởng sản xuất, chi phí quản lý doanhnghiệp
Với các phân loại chi phí này có thể giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác
định được phương hướng tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm
Đối với chi phí cơ bản là chi phí liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệsản xuất, chế tạo sản phẩm, vì vậy không thể cắt bỏ một loại chi phí cơ bản nào
mà phải phấn đấu giảm thấp các định mức tiêu hao, hoặc cải tiến quy trình côngnghệ, hợp lý hóa sản xuất vv Ngược lại, đối với chi phí chung cần phải tiếtkiệm triệt để, hạn chế, thậm chí loại trừ các khoản chi phí không cần thiết, tăngcường quản lý chi phí chung theo dự toán, chế độ chi tiêu
6.2.6 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động, chi phí được chiathành:
- Chi phí khả biến - gọi tắt là Biến phí
Trang 11- Chi phí bất biến - gọi tắt là Định phí
- Chi phí hốn hợp
6.2.6.1 Chi phí khả biến
Biến phí là những chi phí thay đổi tỉ lệ với mức hoạt động của đơn vị Mức
độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản phẩm sảnxuất, tiêu thụ ; số giờ máy hoạt động, doanh thu bán hàng thực hiện , tỷ lệ cóthể là tỷ lệ thuận trong một phạm vi hoạt động nhất định Chúng ta lưu ý nếu xét
về tổng số, biến phí thay đổi tỷ lệ; Ngược lại , nếu xét trên một đơn vị mức độhoạt động, biến phí là một đơn vị có thể hằng số Trong một doanh nghiệp sảnxuất biến phí tồn tại khá phổ biến như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp, chi phí năng lượng Những chi phí này, khi mức độ củahoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì chúng cũng gia tăng tỷ lệ thuận theo vàngược lại
Tuy vậy nếu khảo sát tỷ mỷ hơn về biến phí, chúng ta nhận thấy chúngkhông thuần nhất một hình thức tồn tại mà tồn tại dưới nhiều hình thức khácnhau:
- Biến phí tỷ lệ: là loại biến phí mà tổng chi phí quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp
với mức độ hoạt động, còn chi phí của một đơn vị hoạt động thì không thay đổi.Thuộc loại chi phí khả biến này thường có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chiphí nhân công trực tiếp, chi phí hoa hồng trả cho đại lý vv
- Biến phí thay đổi không tỷ lệ thuận.
Đó là các loại biến phí mà xét về tổng số thì có tốc độ tăng nhanh hơntốc độ tăng của khối lượng hoạt động, vì vậy chi phí cho một đơn vị hoạt độngcũng tăng lên Ngược lại có một số loại chi phí khả biến về tổng số lại có tốc đọtăng chậm hơn tốc độ tăng của khối lượng hoạt động, khi đó chi phí cho một đơn
vị hoạt động lại giảm đi
6.2.6.2 Chi phí bất biến (Định phí - chi phí cố định)
Định phí là những chi phí mà về tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi vềmức độ hoạt động của đơn vị Nếu xét tổng chi phí thì Định phí không thay đổi,ngược lại nết xét chi phí này trên một dợn vị khối lượng hoạt động thì nó tỷ lệnghịch với mức độ hoạt động Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động haykhông thì vẫn tồn tại định phí; Ngược lại khi doanh nghiệp gia gia tăng mức độhoạt động thì định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm dần
đơn vị
Trang 12Tuy vậy nếu khảo sát tỷ mỉ hơn về định phí Chúng ta nhận thấy định phí cũngtồn tại dưới nhiều hình thức
- Định phí tuyệt đối: là những chi phí mà xét tổng số thì không thay đổi khi có
sự thay đổi của khối lượng hoạt động, khi đó chi phí cho một đơn vị hoạt độnggiảm đi
- Định phí cấp bậc là những loại chi phí chỉ có tính chất cố định tương đối, nó
chỉ cố định trong một giới hạn mức độ hoạt động nhất định, sau đó nếu khốilượng hoạt động tăng lên thì khoản chi phí này sẽ tăng lên một mức mới tươngứng
- Định phí bắt buộc: là những định phí không thể thay đổi một cách nhanh
chóng, chúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức sản xuấtkinh doanh của Doanh nghiệp Những khoản chi phí này tồn tại lâu dài tronghoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và không thể cắt giảm hết trongmột thời gian ngắn Vì vậy khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định các nhàquản trị doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, một khi đã quyết định thìdoanh nghiệp sẽ buộc phải gắn chặt với quyết định đó trong một thời giandài.Mặt khác định phí bắt buộc không thể tùy tiện cắt giảm trong một thời ngắn,
do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải xác định: Vẫn phải giữ nguyên
định phí bắt buộc, không được thay đổi nếu vẫn muốn thay đổi và muốn đạt
được mục đích lâu dài của doanh nghiệp có thể bị suy giảm trong một thừi kỳ
đơn vị
Trang 13nào đó.
- Định phí không bắt buộc là các định phí có thể có thể được thay đổi nhanh
chóng bằng các quyết đinh của các nhà quản trị doanh nghiệp Định phí khôngbắt buộc thường liên quan tới kế hoạch ngắn hạn và ảnh hưởng đến chi phí củadoanh nghiệp hàng năm, có thể cắt bỏ khi cần thiết
Việc phân chia định phí bắt buộc và không bắt buộc chỉ có tính chất tương
đối, tuỳ thuộc vào nhận thức chủ quan của các nhsf quản trị doanh nghiệp Cónhững nhà quản trị nhìn nhận một khoản định phí nào đó là bắt buộc nên rấtngần ngại khi ra quyết định điều chỉnh Ngược lại , có nhà quản trị lại cho rằng
định phí đó là không bắt buộc và có thể thường xuyên xem xét và điều chỉnh khi
có điều kiện.
6.2.6.3 Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố của địnhphí và biến phí Ví dụ ở một công ty thuê một xe ô tô để hoạt động với giá thuê
cố định là 20.000.000 đồng/năm Ngoài ra hợp đồng còn quy định mỗi km hoạt
động phải trả thêm 1000đ/ 1 km Nếu trong năm mà công ty sử dụng 10.000 kmthì tổng chi phí thuê sẽ là:
đơn giá bình quân thấp đi, đồng thời phải thiết lập được mức biến phí trongthành phần hỗn hợp chi phí
Như vậy để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết
Yếu tố biến đổi
Yếu tố cố định Mức độ hoạt động
Tổng chi phí
Trang 14chi phí hỗn hợp, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải phân tích chi phí hỗnhợp thành các yếu tố định phí và biến phí Có nhiều phương pháp để phân tíchnhư: phương pháp đồ thị, phương pháp bình phương bé nhất, phương pháp cực
đại, cực tiểu Sau đây chúng tôi xin giới thiệu phương pháp cực đại, cực tiểu làphương pháp đơn giản và được áp dụng phổ biến
Phương pháp cực đại, cực tiểu còn được gọi là phương pháp chênh lệch,phương pháp này phân tích chi phí hỗn hợp dựa trên cơ sở đặc tính của chi phíhỗn hợp, thông quạ khảo sát chi phí hỗn hợp ở mức cao nhất và ở mức thấp nhất.Chênh lệch chi phí của hai cực được chia cho mức độ gia tăng của khối lượnghoạt động để xác định mức biến phí Sau đó loại trừ biến phí còn lại là định phítrong chi phí hỗn hợp
Ví dụ: Chúng ta quan sát chi phí điện năng của một đơn vị trong 6 tháng đầu năm N
Tháng Số giờ máy hoạt động(giờ) Tổng chi phí điện
Chi phí khả biến cho 1 giờ
Số giờ máy hoạt động Chi phí điện năng
= Chênh lệch mức hoạt độngChênh lệch chi phí
= 300.000600 = 500 đ/h
Trang 15về chi phí hỗn hợp có độ chính xác thấp, độ thích hợp kém hơn .
Việc phân biệt định phí, biến phí, chi phí hỗn hợp, có ý nghĩa quan trọngtrong việc thiết kế, xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí,khối lượng và lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn cũng như ra các quyết định kinhdoanh quan trọng Mặt khác còn giúp các nhà quản trì doanh nghiệp xác định
đúng đến phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí
6.2.7 Các nhận diện khác về chi phí
6.2.7.1 Chi phí hiểm soát được và chi phí không kiểm soát được
* Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà các nhà quản trị xác định được
chính xác sự phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh chi phí
đó Ngược lại chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị
không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó, và không có thẩm quyền quyết
định đối với khoản chi phí đó:
Sự nhận diện đâu là chi phí kiểm soát được, đâu là chi phí không kiểm soát
được tùy thuộc vào hai nhân tố cơ bản
- Đặc điểm phát sinh của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
- Sự phân cấp quản lý trong cơ cáu tổ chức sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Việc xác định đâu là chi phí kiểm soát được, đâu là chi phí không kiểmsoát được là một vấn đề quan trọng đối với các nhà quản trị, giúp các nhà quảntrị hoạch định được dự toán chi phí chính xác hơn, tránh bị động về vốn và tàisản để đảm bảo cho các khoản chi phí Mặt khác còn giúp các nhà quản trị đưa
ra phương hướng để tăng cường chi phí kiểm soát dược như mở rộng, phát triểncác quy trình sản xuất kinh doanh có tỷ lệ định phí cao hơn, phân cấp quản lý chitiết rõ ràng hơn về những chi phí gián tiếp, phục vụ, quản lý sản xuất kinh doanh
6.2.7.2 Các loại chi phí được sử dụng trong lựa chọn các phương án
-Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất kinh doanh này
nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuất kinh doanh khác Đây làmột khái niệm rộng về chi phí được dùng để so sánh chi phí khi lựa chọn phương ánkinh doanh
- Chi phí chìm: là những chi phí luôn luôn xuất hiện trong tất cả các phương án
sản xuất kinh doanh Đây là những chi phí mà các nhà quản trị phải chấp nhậnkhông có sự lựa chọn Ví dụ chi phí khấu hao của tài sản cố định hay chi phíthuê nhà xưởng là chi phí chìm mà nhà quản trị phải chấp nhận khi ký hợp
đồng thuê , dù lựa chọn phương án kinh doanh nào liên quan đến TSCĐ đó
- Chi phí cơ hội
Trong kinh doanh, một khoản chi phí phát sinh đều được phản ánh và theodõi trong sổ kế toán, cũng như báo cáo kế toán, tuy nhiên có một loại chi phíhoàn toàn không được phản ánh trên sổ kế toán, nhưng lại rất quan trọng, phải
được xem xét, cân nhắc mỗi khi doanh nghiệp cần lựa chọn phương án kinhdoanh Đó là chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội từ lợi ích bị mất đi do chọn phương án và hành động này thayvì chọn phương án và hành động khác (Hành động khác là phương án -Hành
động tối ưu nhất có sẵn so với phương án được chọn)
Như vậy, ngoài những chi phí kinh doanh đã được tập hợp, phản ánh trong
sổ kế toán, trước khi quyết định, nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội
Trang 16phát sinh do những yếu tố kinh doanh dó có thể sử dụng theo cách khác, mànhững cách này cũng mang lại lợi nhuận.
Ví dụ: Giả sử doanh nghiệp A có một vị trí kinh doanh tốt, hàng năm thu lãi
100 triệu đồng Giả sử một doanh nghiệp khác đề nghị thuê lại vị trí đó 40 triệu
đồng một năm Như vậy nếu xem xét cả chi phí cơ hội thì rõ ràng doanh nghiệp
A hàng năm chỉ còn lãi 60 triệu đồng( 100 triệu - 40 triệu ) Nếu doanh nghiệp
có vị trí khác hiện tại thì đã đương nhiên tạo ra khoản thu 40 triệu Do chưa chothuê được mà vẫn tiếp tục kinh doanh tại đó, doanh nghiệp A đương nhiên chấpnhận mất khoản tiền thu được do cho thuê này
Ví dụ khác: Với 100 triệu đồng, nếu đầu tư vào sản xuất kinh doanh có thểmang lại lợi nhuận 15% hàng năm, nếu gửi vào Ngân hàng thì mỗi năm cũng thulãi 12% Mức lợi nhuận này là chi phí cơ hội mà chúng ta phải tính đến khiquyết định phương án sử dụng vốn đó
Như vậy, ta thấy rằng khi đã lựa chọn một phương án thì cũng có nghĩa là bỏcơ hội để thực hiện phương án khác, mà phương án bị loại bỏ cũng mang lại mộtkhoản lợi nhuận nhất định Có bao nhiêu phương án khác để lựa chọn thì cũng cóbấy nhiêu phương án có khả năng thu được lợi nhuận ở mức độ khác nhau Khi
đã lựa chọn một phương án thì đành phải bỏ cơ hội thực hiện các phương ánkhác
Vì vậy doanh nghiệp phải coi mức lợi nhuận cao nhất trong số các phương
án có thể lựa chọn là chi phí cơ hội cho phương án được chọn
6.3 Tổ CHứC Kế TOáN CHI PHí SảN XUất
6.3.l Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều
địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao
vụ khác nhau Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí phát sinh
đó ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào Chính vì vậy chi phí sản xuấtkinh doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi, giớihạn nhất định Đó chính là đối tượng kế toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chiphí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó Xác định đối tượng kế toán chi phísản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất Thực chấtcủa việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chiphí (phân xường, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ ) hoặc đối tượng chịuchi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng )
Khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất trước hết các nhà quản trịphải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổchức sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sảnxuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý củadoanh nghiệp
Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi phí sản xuấttrong các doanh nghiệp có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng
- Từng phân xường, giai đoạn công nghệ sản xuất
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp
Xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý là cơ sở để tổ
Trang 17chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp
số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết
Các chi phí phát sinh, sau khi đã được tập hợp xác định theo các đối tượng kếtoán chi phí sản xuất sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đốitượng đã xác định
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanhnghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Cũng như khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, việc xác định đốitượng tính giá thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sảnxuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng, yêu cầu quản lý cũng như tínhchất của từng loại sản phẩm cụ thể
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản phẩm được xác định
là đối tượng tính giá thành Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loạisản phẩm là một đối tượng tính giá thành Đối với quy trình công nghệ sản xuất giản
đơn thì đối tượng tính giá thành sẽ là sản phẩm hoàn thành cuối cùng của quy trìnhcông nghệ, còn các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất & chế biến phức tạpthì đối tượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩmhoàn thành ở giai đoạn, công nghệ cuối cùng và cũng có thể là từng bộ phận, từng chitiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành
Qua phân tích hai khái niệm trên cho thấy: Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và
đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất
định dể tập hợp chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phântích và kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm Tuy vậy giữa hai khái niệm này vẫn có sựkhác nhau nhất định
- Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định phạm vi, giới hạn tổchức kế toán chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
- Xác định đối tượng tính giá thành là xác định phạm vi, giới hạn của chi phí liênquan đến kết quả sản xuất đã hoàn thành của quy trình sản xuất
- Trong thực tế có những trường hợp một đối tượng kế toán chi phí sản xuất lạibao gồm nhiều đối tượng tính giá thành và ngược lại
Để thực hiện được đầy đủ chức năng kiểm tra và cung cấp thông tin về chi phí,giá thành một cách đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời phù hợp với yêu cầu của các nhàquản trị doanh nghiệp Kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm phải thườngxuyên xem xét tính hợp lý, khoa học của đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đốitượng tính giá thành đã xác định Khi có sự thay đổi cơ cấu tổ chức sản xuất, quy trìnhcông nghệ, yêu cầu quản lý, trình độ hạnh toán Kế toán chi phí sản xuất cần phải xác
định lại phạm vi và giới hạn mà các chi phí cần tập hợp cho phù hợp
Trang 18thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng riêngbiệt Theo phương pháp này chi phí sản xuất phát sinh được tính trực tiếp chotừng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo mức độ chính xác cao Vì vậy, cần sửdụng tối đa phương pháp này trong điều kiện có thể cho phép.
6.3.2.2 Phương pháp phân bố gián tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp 'chi phí sản xuất phát sinh liênquan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí, không tổ chức ghi chép ban đầu riêngcho từng đối tượng được Trong trường hợp đó phải tập hợp chung cho nhiều đốitượng Sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bố thích hợp để phân bổ khoản chi phínày cho từng đối tượng kế toán chi phí Việc phân bổ được tiến hành theo trìnhtự:
- Xác định hệ số phân bổ
Hệ số phân bổ(H) =
- Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng
Ci là chi phí phân bổ cho từng đối tượng i
Ci = Ti xH Ti là tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
H là hệ số phân bổ
Khi nghiên cứu các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, một vấn đề nữacần phải xác định rõ, đó là: không có nghĩa chi phí trực tiếp thì được tập hợp trựctiếp, chi phí gián tiếp thì phải phân bổ gián tiếp mà ngay cả chi phí trực tiếpnhiều khi cũng phân phân bổ gián tiếp cho các đối tượng chịu chi phí, mà khôngthể tập hợp trực tiếp được Điều quan trọng quyết định vấn đề tập hợp trực tiếphay phân bổ gián tiếp là do mối quan hệ của các khoản chi phí phát sinh với đốitượng chịu chi phí và việc tổ chức hạch toán chứng từ ban đầu quyết định
Ví dụ phân bổ chi phí:
- Số liệu về chi phí vật liệu phụ dừng cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm A,sản phẩm B trong kỳ là: 18.900.000 đ
- Trong kỳ sản xuất hoàn thành 200 sản phẩm A và 300 sản phẩm B
- Định mức chi phí vật liệu phụ cho sản phẩm A là 30.000 đ; sản phân B.là40.000đ
Quá trình phân bổ chi phí vật liệu phụ cho từng sản phẩm như sau:
Hệ số phân bổ = = l, 05
- Chi phí vật liệu phân bổ cho:
+ Sản phẩm A = 200 x 30.000 x l,05 = 6.300.000
+ Sản phẩm B = 300 x 40.000 x 1,05 = 12.600.000
6.3.3 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nửathành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chếtạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ
Khi phát sinh các khoản chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ vàocác phiếu xuất kho, các chứng từ khác có liên quan để xác định giá vốn của số nguyênvật liệu dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm ( Theo phương pháp tính giá vốn nguyên
Tổng chi phí cần phân bổ Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
18.900.000200x30.000+ 300x40.000
Trang 19vật liệu mà doanh nghiệp đã lựa chọn ) Trên cơ sở đó kế toán tập hợp chi phí nguyênvật liệu trực tiếp cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất cũng như từng đối tượng
sử dụng trong doanh nghiệp, công việc này thường được thực hiện trong “ Bảng phân
Bên có:- Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho
- Trị giá của phế liệu thu hồi ( nếu có )
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm.Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ
Trình tự kế toán:
(1) Xuất kho nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm, căn cứ
bảng phân bổ nguyên vật liệu kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CóTK152: Nguyên liệu, vật liệuCóTK611: Mua hàng ( phương pháp kiểm kê định kỳ )
(2) Trường hợp mua nguyên vật liệu sử dụng ngay cho sản xuất chế tạo sản phẩm,
không qua kho: Kế toán căn cứ các chứng từ liên quan ( Chứng từ thanh toán, hóa
đơn của người bán, bảng kê thanh toán tạm ứng ), kế toán ghi sổ theo định khoán:NợTK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
NợTK133: Thuế GTGT được khấu trừ
CóTK111,112,141,331 : Tổng giá thanh toánTrường hợp không có hóa đơn thuế GTGT, hoặc thuế GTGT không được khấutrừ, hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, số tiền tính vào chi phínguyên vật liệu trực tiếp là tổng giá thanh toán ( bao gồm cả thuế GTGT )
(3) Trường hợp cuối kỳ có nguyên vật liệu sử dụng chưa hết, không nhập lại kho.
- Căn cứ vào phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ, kế toán ghi giảm chi phí nguyênvật liệu bằng bút toán:( Ghi đỏ )
NợTK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CóTK152: Nguyên liệu, vật liệuCóTK611: Mua hàng ( phương pháp kiểm kê định kỳ
- Sang đầu kỳ sau kế toán ghi tăng chi phí nguyên vật liệu bằng bút toán thườngNợTK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CóTK152: Nguyên liệu, vật liệu CóTK611: Mua hàng ( phương pháp kiểm kê định kỳ ) (4) Trường hợp cuối kỳ có nguyên vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho, Kế toáncăn cứ phiếu nhập kho ghi sổ theo định khoản:
NợTK152: Nguyên liệu,vật liệu
NợTK611: Mua hàng ( phương pháp kiểm kê định kỳ )
CóTK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(5) Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm, kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK154: Chi phí sản xuất dở dang
Trang 20NợTK 631: Giá thành sản xuất ( phương pháp kiểm kê định kỳ )
CóTK621: : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
6.3.4 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhântrực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm:tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội,bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất
Chi phí về tiền lương( tiền công ) được xác định cụ thể tuỳ thuộc hình thứctiền lương sản phẩm hay lương thời gian mà doanh nghiệp áp dụng Số tiền lươngphải trả cho công nhân sản xuất cũng như các đối tượng lao động khác thể hiệntrên bảng tính và thanh toán lương, được tổng hợp, phân bổ cho các đối tượng kếtoán chi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lương Trên cơ sở đó các khoản tríchtheo lương ( Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) tính vào chiphí nhân công trực tiếp được tính toán căn cứ vào số tiền lương công nhân sảnxuất của từng đối tượng và tỷ lệ trích quy định theo quy chế tài chính hiện hànhcủa từng thời kỳ
Để kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụngTK622:Chi phí nhân công trực tiếp
Kết cấu TK622:
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành sảnphẩm
Trang 21Tài khoản 622không có số dư cuối kỳ.
(3) Căn cứ bảng phân bổ tiền lương, trích Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK622: Chi phí nhân công trực tiếp
CóTK338: Phải trả phải nộp khác(TK3382- Kinh phí công đoàn
TK 3383 - Bảo hiểm xã hội
TK 3384 - Bảo hiểm y tế) (4) Cuối kỳ tính toán kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí nhân công trực tiếpcho các đối tượng chịu chi phí để tính giá thành sản phẩm, kế toán ghi:
NợTK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dangNợTK631:Giá thành sản xuất( Phương pháp kiểm kê định kỳ )
Có TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
sơ đồ Kế Toán chi phí nhân công trực tiếp
6.3.5 Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho
Trang 22phí sản xuất chung bao gồm:
- Chi phí nhân viên phân xưởng: Phản ảnh chi phí liên quan phải trả chonhân viên phân xưởng, bao gồm: Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụcấp lương, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàntính cho nhân viên phân xưởng, như: Quản đốc phân xưởng,nhân viên kinh tế,thống kê, thủ kho phân xưởng, nhân viên tiếp liệu, vận chuyển nội bộ
- Chi phí vật liệu: Phản ảnh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng,như vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ thuộc phân xưởng quản lý, sửdụng, vật liệu dùng cho nhu cầu văn phòng phân xưởng
- Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ảnh chi phí về công cụ, dụng cụ sản xuấtdùng cho phân xưởng sản xuất như khuân mẫu đúc, gá lắp, dụng cụ cầm tay
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định sửdụng ở phân xưởng sản xuất, như khấu hao của máy móc thiết bị, khấu hao củanhà xưởng, phương tiện vận tải
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ảnh chi phí dịch vụ mua ngoài để phục
vụ cho các hoạt động của phân xưởng như chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí điện,nước, điện thoại
- Chi phí khác bằng tiền: Phản ảnh những chi phí bằng tiền ngoài những khoảnchi phí kể trên, phục vụ cho hoạt động của phân xưởng như chi phí tiếp khách, hộinghị ở phân xưởng
Chi phí sản xuất chung được tổ chức tập hợp theo từng phân xưởng, độisản xuất , quản lý chi tiết theo từng yếu tố chi phí, mặt khác chi phí sản xuấtchung còn phải được tổng hợp theo chi phí cố định và chi phí biến đổi Cuối kỳsau khi đã tập hợp được chi phí sản xuất chung theo từng phân xương, kế toántính toán phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng kế toán chi phí sảnxuất trong phân xưởng theo những tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.Việc tính toán xác
định chi phí sản xuất chung tính vào chi phí chế biến sản phẩm còn phải căn cứvào mức công suất hoạt động thực tế của phân xưởng:
- Chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất.Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất cao hơn công suất bình thường thìchi phí sản xuất chung cố định phân bổ theo chi phí thực tế phát sinh Trườnghợp mức sản phẩm sản xuất thấp hơn công suất bình thường, thì chỉ được phân
bổ theo mức công suất bình thường, phần chi phí sản xuất chung không phân bổ,
được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
- Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết trong kỳ theo chi phí thực tế
Kế toán sử dụng TK627: Chi phí sản xuất chung,
Kết cấu tài khoản 627: Chi phí sản xuất chung
Bên nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung ( Nếu có )
- Chi phí sản xuất chung được phân bổ, kết chuyển vào chi phí chếbiến cho các đối tượng chịu chi phí
- Chi phí sản xuất chung không được phân bổ, kết chuyển vào chi phísản xuất kinh doanh trong kỳ
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ và được mở 06 tài khoản cấp 2 để tập hợptheo yếu tố chi phí:
Trang 23- TK6271: Chi phí nhân viên
- TK6272: Chi phí vật liệu
- TK6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
- TK6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
- TK6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
CóTK338: Các khoản phải trả, phải nộp khác
(2) Tập hợp chi phí vật liệu Căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ và các chứng
từ có liên quan khác (nếu có), kế toán ghi sổ theo định khoản:
NợTK627: Chi phí sản xuất chung (6272)
CóTK152: Nguyên vật liệu(3) Tập hợp chi phí dụng cụ sản xuất Căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụdụng cụ và các chứng từ có liên quan khác (nếu có), kế toán ghi sổ theo
định khoản:
NợTK627: Chi phí sản xuất chung (6273)
CóTK153: Công cụ, dụng cụ
(7) Cuối kỳ sau khi chi phí sản xuất chung đã được tập hợp theo từng phân xưởng,
đội sản xuất, chi tiết theo điều khoản chi phí và theo chi phí cố định, chiphí biến đổi, kế toán tiến hành tính toán, phân bổ vào chi phí chế biếntính cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất
Tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng
kế toán chi phí sản xuấ, kế toán có thể lựa chọn các tiêu chuẩn sau:
- Chi phí nhân công trực tiếp
Trang 24- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Dự toán hoặc định mức chi phí sản xuất chung
- Tổng chi phí sản xuất cơ bản ( bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trtực tiếp )
Căn cứ vào kết quả tính toán phân bổ, kế toán kết chuyển phần chi phí sảnxuất chung phân bổ vào chi phí chế biến sản phẩm bằng bút toán:
NợTK154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
NợTK631: Giá thành sản xuất ( Phương pháp kiểm kê định kỳ)
CóTK627: Chi phí sản xuất chungPhần chi phí sản xuất chung không phân bổ vào chi phí chế biến sảnphẩm, được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Kế toán ghi
sổ theo định khoản:
NợTK632: giá vốn hàng bán
CóTK627: Chi phí sản xuất chung
sơ đồ Kế Toán chi phí sản xuất chung
6.3.6 Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất kinh doanh phụ
Bộ phận sản xuất kinh doanh phụ là các phân xưởng, bộ phận sản xuấtcung cấp sản phẩm, lao vụ dịch vụ cho các phân xưởng, bộ phận sản xuất chínhcủa doanh nghiệp hoặc một phần cung cấp phục vụ lẫn nhau và bán ra ngoài
Đây là một bộ phận sản xuất phụ trợ của doanh nghiệp, đòi hỏi kế toán cần phải
TK 153 (142, 242)
TK 152
TK 154 (631) (7) CPSXC phân bổ
TK 214
TK 111,112,141,331
Chi phí nhân viên (1)
Chi phí vật liệu (2)
Trang 25tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, lao vụ phục vụ
cho các đối tượng
Mọi chi phí của các phân xưởng, bộ phận sản xuất phụ khi phát sinh cũng
đều được tập hợp vào các tài khoản chi phí: TK621,TK622,TK627, cuối kỳ kết
chuyển sang TK154(TK631) để tính giá thành sản phẩm lao vụ sản xuất phụ (
Các Tài khoản này đều được mở chi tiết cho từng phân xưởng, bộ phận sản xuất
phụ )
Trong trường hợp giữa các phân xưởng, bộ phận sản xuất phụ có sự cung
cấp, phục vụ lao vụ lẫn nhau thì cần phải xác định được giá trị lao vụ cung cấp
lẫn nhau để tính thêm phần giá trị lao vụ nhận của phân xưởng, bộ phận sản xuất
phụ khác và loại trừ đi phần giá trị lao vụ cung cấp cho phân xưởng, bộ phận sản
xuất phụ khác
Trong trường hợp này, giá thành thực tế sản phẩm, lao vụ của từng phân
xưởng sản xuất phụ được tính như sau:
Việc tính toán gía trị lao vụ phục vụ lẫn nhau có thể theo một trong các phương pháp
sau:
1) Phương pháp đại số
Trên cơ sở giải hệ phương trình đại số, trong đó các ẩn số là giá thành đơn
vị lao vụ của từng phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh phụ Việc tính toán
theo phương pháp đại số đảm bảo chính xác cao nhưng phức tạp nếu doanh
nghiệp có nhiều phân xưởng, bộ phận sản xuất kinh doanh phụ có sự cung cấp,
phục vụ lao vụ lẫn nhau
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất có 2 phân xưởng sản xuất kinh doanh phụ:
Phân xưởng sửa chữa và phân xưởng vận tải Chi phí sản xuất trong tháng
theo từng PX như bảng sau:
(Đơn vị tính: 1.000đ)
PX khác
Lao vụ phục vụ cho
PX khác
Giá trị SPLD cuối kỳ
Trang 26- Gọi x là giá thành thực tế 1 giờ công sửa chữa
- Gọi y là giá thành thực tế 1T/km vận chuyển
Ta có: 5.000x = 16.200 + 60.000 – 6.000 + 4.000 y (1)
40.000y = 190.800 + 3.500x (2’) Nhân cả 2 vế (1’)với 10
- PX sửa chữa phục vụ cho sửa chữa TSCĐ ở PX sản xuất chính
2) Phương pháp phân bổ lao vụ lẫn nhau theo chi phí ban đầu
Theo phương pháp này căn cứ vào số chi phí ban đầu của từng phân xưởng, từng
bộ phận và khối lượng sản phẩm, lao vụ hoàn thành ở từng phân xưởng, tính rachi phí ban đầu của 1 đơn vị sản phẩm, lao vụ sản xuất kinh doanh phụ Sau đóphần giá trị lao vụ phục vụ lẫn nhau được tính theo chi phí ban đầu ban đầu, từ
đó tổng hợp chi phí sản xuất thực tế của từng phân xưởng, tính giá thành thực tếcủa sản phẩm, lao vụ sản xuất phụ theo công thức chung và không điều chỉnh lại
Cũng với ví dụ trên ta có:
892.2000046.500
Đơn giá chi phí ban đầu 1 giờ công sửa chữa = 60.000
5.000 = 12,000
Trang 27+ Giá thành PX sửa chữa = 16.200 + 60.000 +(4.000 x 4,77) - (3.500 x 12 ) –6.000
= 47.280
+ Giá thành phân xưởng vận tải = 190.800 + 42.000 – 19.080 = 213.720
Bằng cách tính thứ 2 cho ta kết quả sai lệch so với cách tính 1
Nếu có sự phục vụ lao vụ cho bên ngoài nhiều thì tính theo đơn giá chi phíban đầu sẽ có ảnh hưởng lớn đến việc xác định kết quả tiêu thụ lao vụ ra ngoài
Để đơn giản cho công tác kế toán, mặt khác vẫn có thể đảm bảo mứac độ chínhxác nhất định, doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp phân bổ lẫn nhau theo đơngiá kế hoạch
3) Phương pháp phân bổ lao vụ lẫn nhau theo chi phí ban đầu
Theo phương pháp này, phần giá trị lao vụ cung cấp lẫn nhau được tính theo đơngiá kế hoạch, sau đó tổng hợp chi phí sản xuất thực tế của từng phân xưởng sản xuấtphụ, tính giá thành thực tế của lao vụ sản xuất phụ của từng phân xưởng và không điềuchỉnh lại
Cũng với ví dụ trên, bổ sung: ZKH 1 giờ công sửa chữa là 18.000đ
- Giá thành thực tế 1 giờ công sửa chữa = 229.800/ 40.000- 4.000 = 6,38
Với kết quả tính toán giá thành thực tế của sản phẩm lao vụ sản xuất phụbằng phương pháp này cho thấy kết quả khá chính xác so với phương pháp đại
số, công việc tính toán đơn giản, dễ làm, tuy vậy để thực hiện được thì doanhnghiệp phải xây dựng được đơn giá kế hoạch của từng loại sản phẩm lao vụ sảnxuất phụ
6.3.7 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ theo từng đối tượng đãxác định có liên quan đến cả sản phẩm hoàn thành và sản phẩm đang chế tạo(sản phẩm dở dang) Để có thông tin phục vụ cho công tác tính giá thành sảnphẩm hoàn thành cũng như phục vụ yêu cầu quản lý, kiểm tra và kiểm soát chiphí, kế toán cần phải xác định số chi phí sản xuất đã bỏ ra có liên quan đến sốsản phẩm chưa hoàn thành là bao nhiêu Đó chính là công việc đánh giá sảnphẩm dở dang
Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang có thể được đánh giá theo một trong
Đơn giá chi phí ban đầu 1 T/km = 190.800
40.000 = 4,770
Giá thành đơn vị thực tế 1 giờ công sửa chữa = 47.280
5.000 - 3.500 31,5Giá thành đơn vị thực tế 1 T/km = 213.720
40.000 - 4.000 5,94
Trang 28các phương pháp sau:
6.3.7.1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực
tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Theo phương pháp này giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính phần chi phí nguyênvật liệu chính trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn các khoản chiphí khác tính cả cho sản phẩm hoàn thành Mặt khác khi tính theo phương phápnày, để đơn giản, giảm bớt khối lượng tính toán, kế toán thường quan niệm chiphí nguyên vật liệu chính trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp bỏ hết một lần, ngay
từ đầu quy trình sản xuất Vi vậy giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ tính bằngcông thức sau:
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất Sản phẩm A, có các tài liệu sau:(đơn vị
tính:1000đ )
- Giá trị dở dang đầu kỳ tính theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: 20.000 trong đó chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp: 16.000
- Chi phí sản xuất trong kỳ tập hợp được:
+ Nguyên vật liệu trực tiếp 380.000trong đó nguyên vật liệu chính trực tiếp344.000
+ Chi phí nhân công trực tiếp 20.000
+ Chi phí sản xuất chung 25.000
- Kết quả sản xuất trong kỳ: hoàn thành 150 sản phẩm A, còn lại 50 sản phẩm dởcuối kỳ
Doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
6.3.7.2 Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương
đương
Theo phương pháp này, phải tính toán tất cả các khoản mục chi phí cho sảnphẩm dở dang theo mức độ hoàn thành của chúng Do vậy, trước hết cần căn cứkhối lượng sản phẩm dở dang và' mức độ chế biến của chúng để tính đổi khốilượng sản phẩm dở dang ra khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương Sau
đó, tính toán xác định từng khoản mục chi phí cho sản phẩm dở dang
- Đối với các khoản chi phí bỏ vào một lần ngay từ đầu quy trình sản xuất
Chi phí phát sinh trong kỳ
Số lượng sản phẩm
dở dang cuối kỳ
Số lượng sản phẩm
Trang 29(như nguyên vật liệu trực tiếp, 'nguyên vật liệu chính trực tiếp) thì tính cho sản
phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang như nhau
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
- Đối với các khoản chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất (như chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) thì tính cho sản phẩm dở dang theo công
1 Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
- Nguyên vật liệu trực tiếp 60.000
- Nhân công trực tiếp 16.200
- Chi phí sản xuất chung 8.000
2 Chi phí sản xuất trong kỳ tập hợp được:
- Nguyên vật liệu trực tiếp 540.000
- Chi phí nhân công trực tiếp 81.000
- Chi phí sản xuất chung 46.000
3 Kết quả sản xuất trong kỳ: hoàn thành nhập kho 240 sản phẩm B, còn 60 sản
phẩm dở dang cuối kỳ, mức độ hoàn thành 50%
Doanh nghiệp đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp khối lượng sản
So với phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản
phẩm hoàn thành tương đương đảm bảo tính hợp lý hơn và độ tin cậy cao hơn
của chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cũng như chỉ tiêu thành phẩm và giá
vốn hàng bán trong báo cáo kế toán Tuy vậy phương pháp này cũng có nhược
điểm là khối lượng tính toán nhiều, hơn nữa việc xác định mức độ chế biến hoàn
thành của sản phẩm dở dang là một công việc phức tạp, mang nặng tính chủ
++
Chi phí phát sinh trong kỳ
Số lượng SP
Dở dang cuối kỳ
Số lượng SP
Dở dang cuối kỳx
Số lượng SP Hoàn thành
16.200+ 81.000
x 30 = 10.800 8.000+ 46.000
240+ 60 x50% x 30 = 6.000
Trang 306.3.7.3 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Đối với cáo doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống định mức và dự toánchi phí cho từng loại sản phẩm tltlì doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp
đánh giá sản phẩm dở đang theo chi phí sản xuất định mức
Theo phương pháp này kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang,mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang ở từng công đoạn sản xuất và định,mức từng khoản mục chi phí ở từng công đoạn sản xuất để tính ra giá trị sảnphẩm dở dang theo chi phí định mức
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm C phải qua hai giai đoạn chếhiến liên tục Doanh nghiệp đã xây dựng định mức chi phí sản xuất cho đơn vịsản phẩm C ở từng giai đoạn như sau:Đơn vị: 1.000đ
Khoản mục chi phí Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 (gồm cả chi
phí giai đoạn 1 chuyểnsang)
10.0006.0005.000
- Theo báo cáo kiểm kê cuối kỳ
+ Giai đoạn 1: còn 400 sản phin dở dang mức độ hoàn thành 40%
+ Giai đoạn 2: còn 300 sản phẩm dở dang mức độ hoàn thành 50%
- Chi phí nguyên vật liệu xác định bỏ hết một lần từ đầu quy trình sản xuấtcủa từng giai đoạn
* Giá trị sản phẩm dở dang giai đoạn 1 theo chi phí định mức
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp = 10.000 x 400 = 4.000.000
- Chi phí nhân công trực tiếp = 4.000 x 400 x 40% = 640.000
- Chi phí sản xuất chung = 3.000 x 400 x 40% = 480.000
Cộng 5.120.000
* Giá trị sản phẩm dở dang giai đoạn 2 theo chi phí định mức
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp = 10.000 x 300 = 3.000.000
- Chi phí nhân công trực tiếp = (4.000 x 300) + (6.000 - 4.000) x 300 x 50% =1.500.000
- Chi phí sản xuất chung = (3.000 x 300) + (5.000 - '3.000) x 300 x 50% = 1.200.000
Cộng = 5.700.000 Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp phù hợp với điều kiện cụthể của từng doanh nghiệp sẽ là cơ sở để xác định đúng đắn giá trị sản phẩm dởdang, đây là tiền đề đảm bảo tính đúng đắn của chỉ tiêu giá thành sản phẩm, kếtquả kinh doanh
6.4 kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở các loại hình doanh nghiệp chủ yếu.
6.4.1 Doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn
Với loại hình doanh nghiệp này, đối tượng kế toán chi phí sản xuất và
Trang 31Tổng giá thành
150+50 X50 = 50.000
6.800+47.200 150+50x60% Cộng = 64.400X 30 = 9.000
đốitượng tính giá thành phù hợp nhau, kỳ tính giá thành phù hợp kỳ báo cáokếtoán là hàng tháng Kế toán chỉ việc căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp
được kết quả hạch toán nghiệp vụ về khối lượng sản phẩm hoàn thành và dởdang để đánh giá sản phẩm dở dang - từ đó tính tổng giá' thành sản phẩm theocông thức:
Giá thành đơn vị =
Ví dụ: Một đoành nghiệp, sản xuất sản phẩm A với quy trình công nghệ sản
xuất giản đơn Trong tháng 4/n có các tài liệu sau (đơn vị l.000 đồng)
- Giá thành sản phẩm dở dang đầu tháng :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
+ Chi phí nhân công trực tiếp :
+ Chi phí sản xuất chung :
15.000 8.000 6.800
- Chi phí sản xuất trong tháng tập hợp theo toàn bộ quy trình sản xuất sảnphẩm :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp :
+ Chi phí nhân công trực tiếp :
+ Chi phí sản xuất chung :
185.000 24.400 50.000Trong đó phần chi phí sản xuất chung cố định không được phân bổ vào chi phíchế biến sản phẩm là: 2.800
- Kết quả sản xuất trong tháng hoàn thành nhập kho 150 sản phẩm A, còn lại
50 sản phẩm dở dang cuối tháng với mức độ hoàn thành 60%
Trình tự tính giá thành sản phẩm A như sau :
- Chi phí sản xuất chung phân bổ vào chi phí chế biến sản phẩm trong tháng là:
50.000 - 2.800 = 47.200
1 Đánh giá sản phẩm dở dang cuối tháng:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
cuối kỳ
Số lượng sản phẩm hoàn thành
15.000+185.000 8.000+24.400 150+50x60%
X 30 = 5400
Trang 32* Quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành.
Để tập hợp được chi phí sản xuất - mỗi giai đoạn công nghệ (phân xưởng sảnxuất) mở một chi tiết TK 154 hoặc TK 631 để tập hợp chi phí sản xuất của từnggiai đoạn Các khoản chi phí sản xuất: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phínhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung phát sinh ở phân xưởng nào thì đượctập hợp trực tiếp cho phân xưởng đó Trong đó chi phí sản xuất chung vẫn phảithực hiện phân bổ vào chi phí chế biến sản phẩm phù hợp với mức công suất thực
tế, phần chi phí sản xuất chung không được phân bổ thì sẽ được tính vào chi phísản xuất kinh doanh trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh Chi phí sản xuất ởmỗi giai đoạn còn có thể bao gồm cả giá trị bán thành phẩm của những giai
đoạn trước chuyển sang
Quy trình kế toán tập hợp chi phí có thể khái quát chung như sau:Chi tiết
Trang 33ngoài thì đối tượng tính giá thành xác định là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn
và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng
- Với quy trình công nghệ sản xuất liên tục,nếu nửa thành phẩm khôngbán ra
ngoài, chỉ chuyển cho giai đoạn sau chế biến và cả quy trình sản xuất song song,lắp ráp thì đối tượng tính giá thành thường xác định chỉ là sản phẩm ở giai đoạncuối cùng đã chế biến hoặc lắp ráp hoàn chỉnh
6.4.2.1 Trường hợp đối tượng tính giá thành là nửa thành phần từng giai
đoạn và thành phần ở giai đoạn cuối cùng
Do đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là từng giai đoạn công nghệnên căn cứ vào chi phí sản xuất tập hợp được mới chỉ có chi phí sản xuất của bảnthân từng giai đoạn công nghệ Song để sản xuất sản phẩm từ giai đoạn 2 trở đi -lại phải nhận chi phí sản xuất của các giai đoạn trước chuyển sang (chi phí vềnửa thành phẩm)
Vì vậy để tính được giá thành sản phẩm theo các đối tượng đã xác định thì:
- Trước hết kế toán phải căn cứ vào chi phí sản xuất của giai đoạn đầu tiên đểtính giá thành nửa sản phẩm của giai đoạn 1
- Sau đó xác định chi phí sản xuất giai đoạn 1 chuyển sang cho giai đoạn sau,cùng với chi phí sản xuất của bản thân giai đoạn đó tổ chức tính giá thành nứathành phẩm của giai đoạn này, cứ kế tiếp liên tục như vậy cho đến giai đoạn cuốicùng sẽ tính được giá thành của thành phẩm
- Việc kết chuyển chỉ phí từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau có thể đượcthực hiện tuần tự từng khoản mục chi phí hoặc thực hiện tuần tự tổng hợpchung cho tất cả các khoản mục chi phí
- Quy trình tính giá thành này có thể khái quát qua sơ đồ sau:
Trang 34150+50 x50 = 50.00016.000+48.800
150+50x60% X30 = 10.80013.600 + 94.400
+ Chi phÝ s¶n xuÊt chung: 13.600
- Chi phÝ s¶n xuÊt trong th¸ng tËp hîp theo tõng giai ®o¹n
- Chi phÝ NVL trùc tiÕp
- Chi phÝ nh©n c«ng trùc tiÕp
- Chi phÝ s¶n xuÊt chung ph©n bæ
370.00048.80094.400
_75.60079.520
- Giai ®o¹n 2 kh«ng cã s¶n phÈm dë dang ®Çu th¸ng
- TÝnh gi¸ thµnh nöa thµnh phÈm vµ gi¸ thµnh s¶n phÈm A
Trang 35300.000130+20 x20 = 40.00054.000
130+20000
130+20x50% x10 = 12.60090.000
130+20x20
79.520130+20x50%
x10 = 17.680
dở dang
đầu tháng
CPSX trong tháng
CPSX dở dang cuối tháng
Tổng giá
370.00048.80094.400
100.00010.80018.000
300.00054.00090.000
2.000360600
- Chi phí NTP1 chuyển sang được phân bổ đều cho đến sản phẩm dở và sản
phẩm hoàn thành, vì NTP1 bỏ vào sản xuất hết một lần từ đầu giai đoạn 2
- Chi phí của giai đoạn 2 phân bổ cho sản phẩm dở theo mức độ hoàn
đoạn 1 Giaiđoạn 2 Cộng Giaiđoạn 1 Giaiđoạn 2 Cộng
Tổng giá
thành
Giá thàn h
đơn vị
75.60079.520
-300.000129.600169.520
40.0007.20012.000
5.4005.680
-40.00012.60017.680
260.000117.000151.840
2.0009001.168+
+
Trang 36Với việc tính giá thành cả nửa thành phẩm từng giai đoạn và giá thànhthành phẩm tạo điều kiện để kế toán cung cấp thêm những thông tin cần thiếtcho các nhà quản trị doanh nghiệp tăng cường công tác quản lý NTP, xác địnhkết quả và ra quyết định trong việc hạch toán nội bộ và chỉ đạo điều hành sảnxuất kinh doanh một cách thuận lợi
6.4.2.2 Trường hợp đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở giai
đoạn công nghệ cuối cùng (thành phẩm).
* Đối tượng tính giá thành chỉ xác định là thành phẩm, không cần tínhgiá thành nửa thành phẩm từng giai đoạn Song để sản xuất sản phẩm ở giai đoạn
cố cùng thì vẫn phải cần có nửa thành phẩm của các giai đoạn chuyển kế tiếp
đến giai đoạn cuối cùng Trong giá thành của thành phẩm sẽ chứa đựng chi phísản xuất của tất cả các giai đoạn trong doanh nghiệp Vì vậy trong trường hợpnày kế toán phải căn cứ vào chi phí sản xuất của giai đoạn đã tập hợp được đểxác định phần chi phí của từng giai đoạn có giá thành của thành phẩm, sau đótổng hợp lại và tính được giá thành thành phẩm
Sơ đồ tính giá thành của thành phẩm có thể khái quát theo sơ đồ sau:
- Khi xác định chi phí sản xuất của từng giai đoạn có trong giá thành của thànhphẩm cần chú ý:
+ Tùy thuộc vào phương pháp đánh giá sản phẩm dở mà xác định có cần quy đổisản phẩm dở theo nức độ hoàn thành hay không
giai đoạn cuối cùng + cuối kỳ giai đoạn iSản phẩm dở
x Thành phẩm
Trang 37+ Căn cứ vào quan hệ tỷ lệ chế biến giữa các giai đoạn so với giai đoạn cuốicùng để quy đổi sản phẩm của từng giai đoạn theo sản phẩm của giai đoạn cuốicùng hoặc ngược lại.
- Phương pháp tính giá thành này cũng có thể được vận dụng cho các doanhnghiệp có quy trình công nghệ sản xuất song song, lắp ráp - khi đó chỉ căn cứtính giá thành cho sản phẩm đã lắp ráp hoàn chỉnh, giá thành của từng chi tiết
bộ phận nếu cần tính giá thành thì vẫn vận dụng các kỹ thuật tính toán đã trìnhbày
*Ví dụ: Cùng với số liệu đã cho ở ví dụ mục 3.6.1 Kế toán tính giá thành
của thành phẩm A theo phương pháp này
Bước 1 Xác định chi phí sản xuất của giai đoạn l có trong thành phẩm
_70.20073.840
260.000117.000151.840
2.0009001.168
Trang 38Đơn vị tính : 1000đ Sản lượng : 800 tấn
6.4.3 Trường hợp doanh nghiệp trong cùng nuột quy trình công nghệ sản xuất
- kết quả sản xuất thu được cả sản phẩm chính và sản phẩm phụ có giá trị.
Trường hợp này đối tượng kế toán tập hợp chi plự sản xuất được xác định
là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm liên quan đến cả sản phầnchính lẫn sản phẩm phụ Do vậy để tính được giá thành sản phẩm chính (sảnphẩm chính là đối tượng tính giá thành), kế toán phải căn cứ vào tổng số chi phí
đã tập hợp cho toàn bộ quy trình công nghệ trừ đi phần chi phí tính cho sản phẩmphụ Phần chi phí sản xuất tính cho sản phẩm phụ thường tính theo giá kế hoạch
Để đơn giản và giảm bớt khối lượng tính toán, chi phí sản xuất sản phần phụ cóthể được tính trừ vào khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất với quy trình công nghệ sản xuất giản
đơn, khép kín, trong kỳ có các tài liệu sau: (Đơn vị tính l.000 đồng)
- Giá trị sản phẩm dở đầu kỳ tính theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:400.000
- Chi phí sản xuất trong kỳ tập hợp cho toàn bộ quy trình công nghệ:
+ Chi phí nguyên Vật liệu trực tiếp:
+ Chi phí nhân công trực tiếp:
+ Chi phí sản xuất chung phân bổ:
3.600.000600.000400.000
- Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ đánh giá: 600.000
- Kết quả sản xuất: trong kỳ hoàn thành 800 tấn sản phẩm chính D; thu
được20 tấn sản phẩm phụ R; giá kế hoạch l tấn sản phẩm phụ R là 2.000
Vớl tài liệu trên kế toán lập bảng tính giá thành như sau:
Bảng tính giá thành sản phẩm Đ
Khoản mục
Gía trịsảnphẩm
dở đầukỳ
Chi phísản xuấttrong kỳ
Giá trịsảnphẩm
dở cuốikỳ
Chi phísản xuấtsảnphẩmphụ
Tổng giá
thành
Giáthành
600.000 40.000 3.360.000
600.000400.000
4.200750500
0 600.000 40.000 4.360.000 5.450Chi phí sản xuất sản phẩm phụ = 20 x 2.000 = 40.000, giá bán – Lđm
6.4.4 Trường hợp đối với các doanh nghiệp trong cùng một quy trình công nghệ - cùng sử dụng một loại nguyên vật liệu, kết quả sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm khác nhau
Trường hợp này áp dụng phù hợp cho các doanh nghiệp sản xuất hoá chất,
Tổng giá thành
sản phẩm
chính
= Giá trị sảnphẩm dở dang đầu kỳ
+ Chi phísản xuất trong kỳ
- Giá trị sản
phẩm dở cuối kỳ -
Chi phí sản xuất sản phẩm phụ
Trang 39chế biến dầu mỏ Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất được xác định là
toàn bộ quy trình công nghệ , nhưng đối tượng tính giá thành lại phải là từng loại
sản phẩm riêng biệt
Phương pháp tính giá thành sản phẩm :
- Căn cứ vào đặc điểm và các định mức kinh tế kỹ thuật để xây dựng hệ số tính
giá thành cho từng loại sản phẩm
- Quy đổi sản lượng thực tế của từng loại sản phẩm theo hệ số giá thành để xác
định tiêu chuẩn phân bổ:
- Tính hệ số phân bổ giá thành:
Tính giá thành thực tế của từng loại sản phẩm:
Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất hóa chất, trong cùng một quy trình công
nghệ, đồng thời thu được 2 Loại sản phẩm A và B, trong tháng có các tài liệu
sau: (Đơn vị 1.000đ)
- Hệ số giá thành quy định:
- Chi phí sản xuất sản phẩln dở đầu tháng
+ Chi phí n.nguyên vật liệu trực tiếp: 5.000
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 1.000
+ Chi phí sản xuất chung: 1.500
- Chi phí sản xuất trong tháng tập hợp cho toàn bộ quy trình công nghệ
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: 45.000
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 9.000
+ Chi phí sản xuất chung phân ,bổ: 11.500
- Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối tháng
+ Chi phí nguyên vật' liệu trực tiếp: 2.000
+ Chi phí nhân công trực tiếp: 700
+ Chi phí sản xuất chung: 1.000
- Kết quả sản xuất: trong tháng hoàn thành 180 sản phẩm A và 150 sản phẩm B
Giá thành của từng loại Bản phẩm được tính như sau:
- Sản lượng qui đổi của từng loại sản phẩm:
=
Tổng giá thành
sản phẩm Giá trị SP
dở dang đầu kỳ
Chi phí
SX trong kỳ
Giá trị SP
dở dang cuối kỳ
giá thành SP i
x
300 180 120
Trang 40dở dang
đầu tháng
CPSX trong tháng
CPSX
dở dang cuối tháng
Tổng giá
thành liên sản phẩm
45.0009.00011.500
2.0007001.000
48.0009.30012.000 0.6
28.8005.5807.200
1603140
Khoản
dở dang
đầu tháng
CPSX trong tháng
CPSX
dở dang cuối tháng
Tổng giá
thành liên sản phẩm
Hệsố
TổngZ
45.0009.00011.500
2.0007001.000
48.0009.30012.000 0.4
19.2003.7204.800
12824.832
6.4.3.5 Trường hợp đối với các doanh nghiệp trong một quy trình công nghệ kết quả sản xuất thu được là nhóm sản phẩm cùng loại có quy cách, kích cỡ khác nhau:
Trong trường hợp này đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộquy trình công nghệ sản xuất của nhóm sản phẩm, đối tượng tính giá thành sẽ làtừng quy cách sản phẩm trong nhóm sản phẩm
Để tính được giá thành, kế toán phải tiến hành theo trình tự sau:
- Chọn tiêu chuẩn phân bổ để tính tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế cho từngquy cách trong nhóm sản phẩm Tiêu chuẩn phân bổ có thể chọn giá thành kếhoạch hoặc giá thành định mức