1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN DẠY HỌC THƠ CỔ VIỆT NAM THUỘC THỂ ĐƯỜNG LUẬT TRONG TRƯỜNG THPT

19 1,4K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 104 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn thơ cổ là tên gọi chung cho các tác phẩm văn chương được sáng tác trong 10 thế kỷ của văn học dân tộc từ thế kỷ X – XIX, kể cả một số tác phẩm xuất hiện vào đầu thế kỷ XX nhưng được

Trang 1

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

I LỜI MỞ ĐẦU:

Văn thơ cổ Việt Nam – Văn học Việt Nam, từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là những tinh hoa quý giá của văn hóa dân tộc Nó là vốn quý góp phần bồi dưỡng niềm tự hào dân tộc, làm giàu nhân cách con người Việt Nam trong mọi thời đại

Văn thơ cổ là tên gọi chung cho các tác phẩm văn chương được sáng tác trong 10 thế kỷ của văn học dân tộc từ thế kỷ X – XIX, kể cả một số tác phẩm xuất hiện vào đầu thế kỷ XX nhưng được sáng tác theo quan điểm thẩm mĩ, theo đặc điểm đề tài, đặc điểm ngôn ngữ của các nhà thơ xưa như những bài thơ của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… sau này

II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC THƠ CỔ VIỆT NAM THUỘC THỂ ĐƯỜNG LUẬT TRONG TRƯỜNG THPT HIỆN NAY.

1 Thực trạng:

Qua thực tế giảng dạy và trao đổi cùng đồng nghiệp cũng như tìm hiểu thực tế học sinh tôi nhận thấy: Cả thầy và trò ít nhiều gặp khó khăn khi tiếp nhận một bài thơ cổ thuộc thể Đường luật

2 Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:

Chính vì vậy, một vấn đề đặt ra la: Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học văn thơ cổ? Làm thế nào để những em HS lớp 10 có thể cảm nhận được những nội dung tinh túy trong các tác phẩm thơ cổ thuộc thể Đường luật? Đó là câu hỏi đặt ra không chỉ cho bản thân tôi mà có lẽ cho tất cả những giáo viên dạy văn có tâm huyết

Trang 2

Do đó, sau một số năm trực tiếp giảng dạy, nhất là sau ba năm dạy chương trình lớp10 , tôi muốn đưa ra một vài kinh nghiệm để cùng trao đổi với các bạn đồng nghiệp Ở để tài này tôi chỉ tập trung vào việc trao đổi nội dung

Làm thế nào để dạy tốt một bài thơ cổ Việt Nam thuộc thể Đường luật trong chương trình Ngữ văn lớp 10

Phần nội dung đề tài gồm:

I Cơ sở lý luận

II Một số khó khăn với người dạy và học những bài thơ cổ Việt Nam thuộc thể Đường Luật

III Một vài kinh nghiệm để có thể dạy tốt một bài thơ cổ Việt Nam thuộc thể thơ Đường Luật

* Phương pháp nghiên cứu:

- Đọc nghiên cứu SGK, SGV, tìm tài liệu tham khảo khác

- Trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp

- Tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu điều tra qua các tiết dạy trên lớp

* Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Chương trình Ngữ văn 10 (phần thơ cổ Việt Nam thuộc thể thơ Đường luật)

- Đối tượng: Học sinh lớp 10 trường THPT Nguyễn Thị Lợi

Trang 3

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

1 Cơ sở lý luận:

Văn thơ Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là một bộ phận quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc gồm những tác phẩm ưu tú của các nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc, đã vượt qua những biến cố của lịch sử qua thử thách của thời gian đến với chúng ta và hôm nay vẫn còn nguyên giá trị

Với nội dung nhân đạo và giá trị hiện thượng sâu sắc văn thơ cổ cho học sinh, hình dung được đất nước, xã hội, con người Việt Nam trong những thời đại

đã qua, phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân để bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, bảo vệ ngôn ngữ dân tộc trong văn học Tác phẩm văn chương cổ thật sự

là nguồn cảm hứng vô tận mà người giáo viên dạy văn phải khai thác để bồi dưỡng tâm hồn thế hệ trẻ Đặc biệt những bài thơ Đường Luật này lại được sáng

tác với những ngôn từ mới mẻ, mang ý ngoài lời Ví như: Bài “Thuật hoài” của

phạm Ngũ Lão một bài thơ Đường luật tứ tuyệt viết bằng chữ Hán là một minh chứng tiêu biểu cho quy luật sống còn của văn chương nghệ thuật: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”(Quý tinh tuý, không cốt nhiều).Bài thơ thể hiện vẻ đẹp con người

và vẻ đẹp thời đạt Con người với sức mạnh lí tưởng lớn lao cao cả, với cái tâm sáng ngời nhân cách ;thời đại và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của hào khí

Đông A (Hào khí đời Trần) Thuật Hoài là một tia hào quang của thời Trần, thời

kỳ phục hưng của dân tộc, thời kỳ có nhiều người con anh hùng khí phách,và

tâm hồn rộng mở Hay trong bài “Bảo kính cảnh giới – Bài số 43” của Nguyễn

Trãi viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật đã khiến người đọc vài nét

phác họa trong bài “Bảo kính cảnh giới – Bài số 43” về cảnh cảm nhận được vẻ

đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, nặng lòng với nhân dân, đất nước Và vẻ đep trong thơ Nôm Nguyễn Trãi: bình dị, tự nhiên, mới mẻ, đan xen câu sáu tiếng (lục

Trang 4

ngôn) trong bài thơ thất ngôn (bảy tiếng) Ý tại ngôn ngoại, đó chính là sự khó khăn không chỉ đối với người học mà cả với người dạy là vì lẽ đó

2 Một số khó khăn với người với người dạy và người học những bài thơ cổ Việt Nam thuộc thể Đường luật.

Không chỉ riêng đối với HS mà đối với một số giáo viên văn THPT hiện nay khi tiếp cận với cá bải thơ cổ gặp rất nhiều khó khăn về khoảng cách lớn giữa các thế hệ Dù có là những áng thơ cổ nổi tiếng cũng vẫn là những tiếng nói

và cách nói tương đối xa lạ Đó là tiếng nói, cách nói của những người từng sống cách ta hàng mấy trăm năm, họ có cách cảm, cách nghĩ, cách sinh hoạt, quan điểm thẩm mĩ, cách trình bày, diễn đạt khác hẳn chúng ta ngày nay

Khó khăn thứ hai mà người dạy mà người học gặp phải khi tiếp cận một bài thơ Đường Luật là “ Hàng rào ngôn ngữ” Ngôn ngữ trong các tác phẩm thơ

cổ có nhiều hình ảnh ước lệ, tượng trưng, các dùng điển tích, từ ngữ Hán Việt, thuật ngữ xưa nếu không được hướng dẫn giải thích thì các em sẽ rất khó trong việc nắm bắt nội dung tác phẩm Bởi vậy, để dạy tốt một bài thơ cổ Việt Nam thể Đường Luật, giáo viên cần nắm vững những đặc trưng thẩm mĩ của thể thơ Đường luật Đặc trưng thẩm mĩ và tu duy nghệ thuật của thời xưa có những tiêu chuẩn đánh giá được quy định rõ ràng

Thiên nhiên là đối tượng quen thuộc là đề tài phổ biến: Trời, mây, sông, nước; phong, hoa, tuyết, nguyệt… đã trở thành người bạn tâm tình, là nguồn cảm hứng của thi sĩ

Không khí tĩnh tại, tính chất cân đối hài hòa, niêm luật chặt chẽ là yêu cầu nghiêm ngặt trong quan niệm về cái đẹp của người xưa

Trong một xã hội luôn lấy quá khứ là khuôn mẫu, người xưa là mẫu mực thì việc mô phỏng quá khứ tuân theo khuôn mẫu có sẵn là nguyên tắc sáng tạo

Trang 5

Song thực tế vẫn có một số bài thơ cổ Việt Nam được sáng tác một cách độc đáo, thể hiện được cá tính cách sáng tạo của tác giả

Với những tính chất trên đã làm cho một số giáo viên ngữ văn và đa số học sinh lớp 10 cảm thấy lúng túng trong việc tiếp nhận một bài thơ cổ Đường luật Qua quá trình học tập ở trường sư phạm và nhất là qua những năm trực tiếp giảng dạy tôi xin phép đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân để trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp, cùng quan tâm khi dạy những bài thơ Cổ Việt Nam trong chương trình Ngữ văn lớp 10 (tập 1)

III/ CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ CÓ THỂ DẠY TỐT MỘT BÀI THƠ CỔ VIỆT NAM THUỘC THỂ ĐƯỜNG LUẬT (NGỮ VĂN 10 – TẬP 1)

1 Đọc bài thơ, giải nghĩ từ khó:

Đây là một nguyên tắc chung và là bước đầu tiên phải làm để tìm hiểu một tác phẩm thơ Với những bài thơ Đường luật cổ càng phải đọc kỹ nhiều lần

để hiểu rõ chữ và nghĩa Phải đọc kỹ không chỉ riêng về văn bản mà cả phần chú thích Phải đọc nhiều và suy ngẫm không ngại dài, ngại khó không kiên nhẫn đọc hàng loạt chú thích sẽ không thể hiểu nghĩa của câu, của từ được chú giải

mà cốt hiểu cả câu, cả đoạn trong đó có từ được chú giải, cốt thâu tóm ý của câu hoặc của đoạn chứa từ đó Từng bước có thể hiểu được cả bài việc hiểu được nghĩa toàn bài thì mới có điều kiện để từ chỉnh thể văn bản quay lại từng đơn vị ngôn từ cấu thành Khi ấy việc hiểu, cảm mới được sâu sắc

Thời gian ở lớp có hạn nên đây là phần giáo viên phải chuẩn bị kỹ trước khi đến lớp Và với học sinh cũng cần hướng dẫn cho các em thực hiện những thao tac này khi chuẩn bị bài ở nhà để phần nào nắm được nội dung cơ bản của bài thơ

Đến lớp, trước khi phân tích bài thơ vẫn hướng dẫn học sinh đọc Tùy từng bài cụ thể, phải hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm đọc cho âm vang bài thơ

Trang 6

Khâu đọc phải được chú ý ngay từ đầu giờ Trong khi phân tích và cả khi kết thúc Đặc điệt, giáo viên phải tập luyện để có giọng đọc khó phai mờ trong lòng học sinh Có thể cho một vài học sinh đọc trước sau khi đã hướng dẫn cách đọc cho em rồi sau đó giáo viên đọc đúng theo ý tưởng mà tác giả gửi gắm trong bài thơ Giáo viên cần bố trí linh hoạt giữa đọc và giảng, tránh gò bó Nếu có điều kiện nên hướng dẫn các em tập ngâm thơ để tiết sau kiểm tra bài cũ hoặc trong

bài tổng kết, tiết ngoại khó Chẳng hạn ở tiết 35 văn bản “ Thuật hoài” của

Phạm Ngũ Lão để giúp học sinh cảm nhận được giá trị biểu hiện đặc sắc của bài thơ trước hết phải gợi để học sinh hình dung được không khí lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong thời đại Lý – Trần Bài thơ đã thể hiện bản lĩnh khí phách của dân tộc ta.Vì vậy giáo viên yêu cầu học sinh đọc cả phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ.Giọng hùng tráng, chậm rãi, ngắt nhịp 4/3

Sau khi cho học sinh đọc bài thơ để các em hiểu rõ chữ và nghĩa cần cho các em hiểu được những từ khó những điển tích, điển cố (nếu có) Trong tiết 35 bài thơ đều được viết bằng chữ Hán nên ở SGK đã có giải thích rất kỹ về nghĩa của từng tiếng Do đó mặc HS đã đọc và chuẩn bị bài ở nhà nhưng đến lớp tùy từng bài, tùy từng đối tượng học sinh mà giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc lại toàn bộ nội dung phần giải nghĩa phiên âm tiếng Hán, từ khó hoặc yêu cầu học sinh trình bày cách hiểu của mình về một trong số những từ khó đó nhằm kiểm tra việc chuẩn bị bài trước ở nhà của học sinh Đặc biệt trong văn bản

“Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão cũng đã tồn tai hai cách hiểu câu thơ thứ hai

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Cách hiểu thứ nhất: Ba quân như hổ báo nuốt trôi trâu

Cách hiểu thứ hai: Khí thế ba quân như hổ báo át cả sao Ngưu

Tuy nhiên cách hiểu đúng là cách thứ nhất với nghệ thuật so sánh trực tiếp vừa diễn tả được sức mạnh vật chất, vừ nói lên được khí phách, sức mạnh tinh thần

của quân đội thời Trần Nếu ngưu là sao Ngưu thì trong Hán tự thường là cụm từ

Trang 7

ngưu đẩu.Hơn nữa thôn với nghĩa nuốt thì cách biểu hiện nuốt sao ngưu có phần

gượng ép

Như thế khi học sinh đã rõ được nghĩa các phiên âm chữ Hán, nghiên cứu một

số từ khó có nghĩa các em phần nào nắm được nội dung bài thơ Đây sẽ là cơ sở

để các em đi vào phân tích bài thơ

2 Chú ý tới những yếu tố ngoài tác phẩm:

Khi phân tích tác phẩm văn học phải bám vào tác phẩm, xong có những điều ngoài tác phẩm không thể không biết tới bởi nó sẽ giúp ích cho người tiếp nhận tác phẩm một cách sâu sắc hơn

Nội dung của tác phẩm văn chương nói chung và của các bài thơ Đường luật nói riêng thường gắn liền với nội dung của lịch sử xã hội, mà tác phẩm ra đời Vì vậy, khi dạy các bài thơ cổ Việt Nam thuộc thể Đường Luật để học sinh hiểu thấu đáo được nội dung tư tưởng tác phẩm, giáo viên cần phải làm sống lại, tái hiện lại hoàn cảnh lịch sử xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc tìm hiểu bài thơ, bởi văn học là tấm gương phản chiếu cuộc sống xã hội hiện thực

Xã hội mà văn học cổ ra đời khác xã hội chúng ta ngày nay Điều đó kéo theo cả

sự khác nhau về tư tưởng dẫn đến sự chi phối trong sáng tác của nhà thơ, nhà văn Vì vậy, khi phân tích bài thơ Đường luật cổ giáo viên phải gắn việc tìm hiểu tác phẩm vào điều kiện lịch sử xã hội cụ thể, đã sản sinh ra tác phẩm, nhận

rõ mỗi quan hệ trong tác phẩm với thời đại với cuộc đời và tư tưởng sáng tác của tác giả

Trở lại với văn bản “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão học sinh sẽ hiểu

thêm về hoàn cảnh ra đời, cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Ngũ Lão thong qua phần chú thích cặn kẽ và phần tiểu dẫn trong SGK.Học sinh cần nắm là :Bài

thơ“Thuật hoài” thuộc loại thơ tỏ chí, nhân vật trữ tình bộc lộ nhận thức và tình

cảm của mình về lẽ sống và ý chí noi theo lẽ sống đó.Thời trung đại ở nước ta loại thơ nay nhiều, ý nghĩa của nó không chỉ thuộc vào nhân cách và cảnh ngộ

Trang 8

của nhân vật trữ tình, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử xã hội khi bài thơ được sáng tác

Hoặc với bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm cần cho học sinh biết

được đôi nét về tác giả và hoàn cảnh sáng tác bài thơ ngoài chú thích

SGK:Trong bài tựa tập thơ chữ Hán Am Bạch Vân,Nguyễn Bỉnh Khiêm viết”Tôi

lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhần dật, lấy cảnh núi non song nước làm vui….” Câu văn đã thâu tóm những chặng đường đời và cốt cách của Tuyết Giang phu tử.Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ngót gần một thế kỷ(1491- 1585) Mãi 44 tuổi ông mới đi thi.Ông vôn mang hoài bão kinh bang tế thế, muốn “nâng đỡ vân nước lúc ngả nghiêng,

kéo lại giang san đế kinh được vững vàng như cũ”(Cự ngao đới sơn).Tám năm

làm quan triều Mạc tận mắt chứng kiến sự hủ bại của triều chính đương thời, ông can đảm dâng sớ xin chém mười tám lộng thần trong đó có cả nhạc phụ của vua.Không được chấp nhận, ông liền từ quan về sống ở quê nhà.Người ta nói vào chốn quan trường không dễ, thoát ly nó cũng không hề dễ Tài năng và phẩm cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến ông làm được hai điều khó khăn đó.Về ở ẩn chí sĩ vui vơi cảnh điền viên, được làm người ung dung tự tại.Vì vậy giúp học sinh hiểu được quan niệm sống nhàn và cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hay với bài thơ “Đọc Tiểu Thanh kí” cần giúp học sinh hiểu một số nét

cơ bản về số phận bất hạnh của người phụ nữ tài sắc Tiểu Thanh qua cái nhìn và cảm nhận của thiêu tài Nguyễn Du Cảm hứng bao trùm bài thơ nói riêng và xuyên suốt các sáng tác của Nguyễn Du nói chung: thương xót cho số phận bất hạnh của ngưòi phụ nữ tài sắc, sự đau đớn xót xa, tiếc nuối khi phải chúng kiến những giá trị tinh thần cao đẹp của con người bị vùi dập

3 Khám phá hình thức nghệ thuật:

Các bài thơ cổ thường dùng những hình ảnh lối nối lệ tượng trưng, ít tả các chi tiết chân thực có trong đời sống xã hội mà thiên về những cái không

Trang 9

hoàn toàn xác thực, nhưng có sức gợi cảm và mang ý nghĩa tượng trưng theo công thức có sẵn hoặc những hình thức tu từ rất văn chương, hoa mĩ Đây chính

là đặc trưng nổi bật của “ Văn dĩ tải đạo” (Văn chương chủ yếu tuyên truyền – giáo huấn về đạo đức nho giáo) Vì vậy, những tác phẩm văn chương đi ngược lại những nguyên lý đạo đức Nho giáo không được coi là mẫu mực Những tác phẩm thơ cổ phải thấm nhuần tính chất quy phạm của quan điểm mĩ học phong kiến, do đó phải tuân theo những quy định hết sức nghiêm ngặt

Ở nội dung này tôi sẽ trao đổi về việc tìm hiểu hình thức nghệ thuật qua

văn bản thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật :Văn bản “Nhàn” của Nguyễn

Bỉnh Khiêm

Chúng ta biết: Một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật rất chặt chẽ về kết cấu và niêm luật Qua bốn phần: đề - thực – luận – kết, cấu tứ của bài thơ ngày càng lộ dần theo trình tự lô gíc, có sự mở rộng và nâng cao dần Giữa “thực ”và

“luận” nhiều khi ranh giới không rõ ràng Còn giữa “đề” và “kết” lại có quan hệ hết sức mật thiết từ hình thức đến nội dung Như vậy có thể dựa vào kết cấu từng phần để cắt ngang phân tích tác phẩm rồi cuối cùng tổng hợp lại hoặc phân tích theo mạch cảm xúc của tác giả

Khi tiến hành phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài thơ thuộc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chữ Nôm.Có thể đơn thuần phân tích theo bố cục bốn phần: đề - thực – luận – kết Nhưng theo các vấn đề chủ yếu trong văn bản chúng ta thấy rõ không theo kết cấu : đề- thực- luận – kết Nhưng theo mạch cảm xúc của tác giả thì chúng ta có thể có thể thể phân tích như sau:

Vẻ đẹp cuộc sống ở Bạch Vân am của Nguyễn Bỉnh Khiêm (trong câu 1

và 2, câu 5 và 6)

Đó là cuộc sống lao động như một lão nông tri điền ở nông thôn, một ông tiều nơi rừng núi với những công cụ lao động: đào đất, chiếc cuốc để cuốc, xới

Trang 10

vườn, chiếc cần câu cá. Điệp số từ một cho thấy tất cả đã sẵn sàng, chu đáo, còn

cho thấy sự ung dung, thanh thản của con người

Vốn là một quan lớn triều Mạc mà bây giờ về ở nơi rừng núi sống một cuộc sống đơn giản như: cày ruộng, đào giếng, câu cá….Như thế chẳng bản lĩnh lắm sao? Đó là một cuộc sống thuần hậu tự cung, tự cấp, đó lại là cái vui thú tự nhiên

Cuộc sống này gợi nhớ cuộc sống của Nguyễn Trãi ở Côn Sơn Hai nhà nho, nhà thơ lớn ở hai thế kỉ nhưng lại có hoàn cảnh một quãng đời gần nhau và một tấm lòng, một lẽ nhân sinh rất gần

Đó là một cuộc sống đạm bạc thanh cao Đạm bạc mà không khắc khổ, đạm bạc mà thanh nhã, thanh thản Đó là cuộc sống chan hòa với tự nhiên, với thiên nhiên

Hai câu thơ như vẽ bộ tứ bình bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với các cảnh sinh hoạt mùa nào thức ấy, có mùi vị, có hương sắc, nhẹ nhàng , trong sáng

Vẻ đẹo nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua hai câu 3-4, 7-8

Một phẩm chất quan trọng của người trí thức chân chính là luôn có ý thức sâu sắc về sự sống, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có điều đó Nhà thơ so sánh lối sống của mình với lối sống của người đời, và tự nhận mình dại vì không như thói thường của thế nhân

Câu thơ mang ý vị mỉa mai Theo cách nghĩ thông thường thì quả là khôn ngoan khi từ bỏ cuộc sống phú quý hiển vinh đến với cuộc sống đơn sơ thanh đạm

Nhà thơ tìm đến rượu, uống say, để chiêm bao, để nhận ra lẽ sống, nhân cách trí tuệ Công danh, phú quý, của cải trên đời chỉ như một giắc mơ dưới gốc cây hòe thoảng qua, chẳng có ý nghĩa gì Cái tồn tại mãi, cái vĩnh hằng chính là thiên nhiên và nhân cách con người

Ngày đăng: 21/04/2015, 21:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w