Mô hình hệ thống tài chính tín dụng phục vụ phát triển nông thôn trong giai đoạn CNH-HĐH
Trang 1MÔ HINH HE THONG TAI CHINH TIN DUNG PHỤC VỤ PHAT
TRIEN NONG NGHIEP, NONG THON TRONG GIAI DOAN
CONG NGHIEP HOA - HIEN DAI HOA
I THUC TRANG VE HOAT DONG CUA CAC LOAI HINH TIN
DUNG PHUC VU PHAT TRIEN NONG NGHIEP VA NONG
THON HIEN NAY
A TIN DUNG PHUC VU PHAT TRIEN NONG NGHIEP VA
NONG THON THONG QUA HE THONG NGAN HANG ~
1 Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và các
chương ífrình kính tế của chính phủ
Trong những năm gần đây, cơ chế tín dụng đã trở nên thông thoáng
hơn, đặc biệt từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
67/1999/QDÐ - TTg ngày 30/3/1999 về một số chính sách tín dụng ngân
hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn Theo Quyết định này,
Nhà nước quan tâm đến nguồn vốn huy động cho phát triển nông nghiệp
và nông thôn, cũng như về chính sách, cơ chế tín dụng; thời hạn cho vay;
mạng lưới phục vụ và giao dịch của các ngân hàng; xử lý rủi ro khi vốn
cho vay phát triển nông nghiệp và nông thôn bị thiệt hại Trong đó, nội
dung về chính sách, cơ chế tín dụng đối với hộ gia đình đã tạo sức bật,
đòn bẩy làm khai thông dòng chảy vốn tín dụng về với nông nghiệp, nông
thôn
Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã phối hợp với các
Bộ, ngành triển khai đồng bộ các giải pháp để phát triển thị trường tín
dụng nông thôn theo chiều sâu, mở rộng quy mô tín dụng, cụ thể là: Đa
dang va phat triển nhiều kênh cung ứng vốn tín dụng cho nông nghiệp -
nông thôn như các ngân hàng thương mại quốc doanh, mà chủ đạo là
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng Phục vụ
người nghèo, 816 Quỹ Tín dụng nhân dân (tính đến 30/9/2002), nhiều tổ
Trang 2chức tín dụng (TCTD) khác mở chi nhánh kinh doanh ở khu vực nông thôn; Các TCTD đã liên kết chặt chẽ với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, và tranh thủ sự hỗ trợ của chính quyền địa phương để cho vay và thu hồi nợ;
Đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng như cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh,
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn đạt 20 - 30%/năm, lớn hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn bộ nên kinh tế Nguyên nhân do: Cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở một số địa phương được thay đổi, điện tích canh tác
và đối tượng cho vay được mở rộng, cơ chế cho vay nông nghiệp thông thoáng hơn Đến hết tháng 6 năm 2001, dư nợ cho vay khu vực nông thôn đạt 48.500 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 4,6% Các TCTD Nhà nước đóng vai trò chủ lực trong cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể là:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: 32.300
tỷ đồng;
- Ngan hang Công thương Việt Nam: 3000 tỷ đồng;
-_ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam: 1.900 tỷ đồng;
- Ngan hàng Đâu tư và Phát triển Việt Nam: 3.700 tỷ đồng;
- _ Ngân hàng Phục vụ người nghèo: 5.100 tỷ đồng;
- _ Hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân: 2.400 tỷ đồng
- _ Các NHTM cổ phần nông thôn và đô thị: 2000 - 3000 tỷ đồng Tính đến tháng 8/2002, dư nợ cho vay đối với địa bàn nông thôn đạt 60.000 tỷ đồng, trong đó cho vay thông thường: 48.000 tỷ đồng, tin dung
hộ nghèo: 8.000 tỷ đồng, tín dụng với lãi suất ưu đãi: 4.000 tỷ đồng Tín dụng trung, dài hạn chiếm 47% tổng tín dụng cho nông nghiệp, nông
Trang 3thành thị và nông thôn để huy động, khai thác tối đa nguồn vốn của dân
cư, tổ chức kinh tế để đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn; Trong điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra chính sách tạo điều kiện về vốn cho các TCTD hoạt động kinh doanh ở địa bàn nông thôn như áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức thấp hơn các TCTD khác, tăng vốn cho vay đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khi mùa vụ để đáp ứng nhu câu vốn cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá nông sản; Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước đối với đầu tư cơ sở hạ tầng, chương trình kinh tế trọng điểm, khắc phục hậu quả thiên tai; Tăng cường huy động vốn bằng hình thức đi vay hoặc kêu gợi tài trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài như NGO, WB, ADB, để đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn
Về cơ chế tín dụng phục vụ phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn:
Cơ chế tín dụng được ban hành tương đối đồng bộ, thông thoáng, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các TCTD trong hoạt động tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn Bên cạnh cơ chế tín dụng mà đối tượng phục vụ chủ yếu là kinh tế hộ, Chính phủ và Ngân-hàng Nhà nước
đã và đang ban hành nhiều chính sách tín dụng đối với các đối tượng khác như: hợp tác xã, chủ trang trại, hộ nuôi trồng thuỷ, hải sản; người sản xuất và-doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua
hợp đồng; xuất khẩu lương thực; phát triển ngành nghề ở nông thôn
Hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn được vay vốn để đáp ứng cho các nhu cầu chỉ phí sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống, bao gồm cả chỉ phí thuỷ lợi, kênh mương liên xã, liên thôn, làm đường giao thông nông thôn, xây dựng trạm điện, cho vay mua sắm máy móc, trang thiết bị hiện đại đối với hộ nông dân, kinh tế trang trại, các chỉ phí sản xuất và tiêu thụ nông sản khác
Trang 4Về thời hạn cho vay: được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh và thời hạn thu hồi vốn của dự án cây trồng, vật nuôi, không phụ thuộc vào đối tượng vay vốn là tài sản lưu động hay tài sản cố định như trước đây Người vay không có khả năng trả nợ với lý do chính đáng, được TCTD xem xét áp dụng các biện pháp xử lý rủi ro như: điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ gốc và lãi; miễn giảm lãi vốn vay, giãn nợ, khoanh nợ theo chủ trương của Chính phủ
Về cơ chế bảo đảm tiền vay: Khi vay vốn, người vay có thể lựa chọn các hình thức bảo đảm bằng tài sản như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, vay vốn không có tài sản làm bảo đảm; thủ tục bảo dam tiền vay được đơn giản hoá như không bắt buộc công chứng, đăng ký thế chấp,
Đối với hộ nông dân, chủ trang trại, đại diện hộ nông dân, cá nhân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối có thể vay vốn đến 20 triệu đồng để sản xuất nông sản hàng hoá, hoặc vay dưới
50 triệu đồng để sản xuất giống thuỷ sản không phải thế chấp tài sản; hợp tác xã, doanh nghiệp vay vốn dưới 50 triệu đồng để sản xuất không phải thế chấp tài sản Ngoài ra, các TCTD xem xét lựa chọn che vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với người sản xuất, doanh nghiệp theo các quy định hiện hành Người sản xuất, doânh nghiệp đã ký kết hợp đồng tiêu thụ hàng hoá nông sản được vay vốn bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay trong trường hợp vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Về cơ chế lãi suất: Từ 1/6/2002, thực hiện theo cơ chế lãi suất thoả thuận, tạo điều kiện cho lãi suất cho vay và huy động tự điều chỉnh linh hoạt phù hợp với quan hệ cung - cầu vốn thị trường, khuyến khích các TCTD phát triển nhanh chóng mạng lưới chí nhánh ở nông thôn; người sản xuất và tổ chức kinh tế ở nông thôn được vay vốn nhiều hơn do khối lượng vốn dành cho khu vực nông thôn tăng lên
Các NHTM Nhà nước giảm 15% - 30% lãi suất cho vay thông thường
đối với hộ gia đình, tổ chức kinh tế, cá nhân ở khu vực II, II, vùng miền
Trang 5núi, hải đảo, vùng đồng bào Khơ me sống tập trung; giảm 30% lãi suất cho vay đối với hộ nghèo ở các xã thuộc phạm vi Chương trình các xã đặc biệt khó khăn ở các tỉnh Gia lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng; thương nhân ở khu vực II, HI miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc được giảm 20% so với lãi suất thông thường
Ngoài hình thức cho vay, các TCTD thực hiện việc bảo lãnh cho hợp
tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp, trong trường hợp bảo lãnh vay
vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng và các loại bảo lãnh khác; các công ty cho thuê tài chính cho hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác
1.2 Ngân hàng cho vay theo các chương trình kinh tế lớn của Chính phủ
Các chương trình cho vay của Chính phủ được triển khai kịp thời, theo đúng yêu cầu chỉ đạo của Chính phủ, góp phần xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tổng dư nợ cho vay các chương trình của hệ thống ngân hàng đến hết tháng 6/2001 là 19.418 tỷ đồng, trong đó:
-_ Cho vay xoá đói giảm nghèo là: 5.100 tỷ đồng;
-_ Cho vay tôn nên làm sàn nhà trên cọc tại 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: 950 tỷ đồng;
- Cho vay danh bat xa bo: 234 ty đồng;
- Cho vay khac phuc con bao sé 5 nam 1997: 1.348 ty đồng;
- _ Cho vay khắc phục nắng hạn năm 1998: 53 tỷ đồng;
- Cho vay khac phục hậu quả lũ lụt năm 1998: 182 tỷ đồng;
- Cho vay khắc phục hậu quả lũ lụt năm 1999 tại các tỉnh Miền Trung: 329 tỷ đồng;
- _ Cho vay khác phục hậu quả lũ lụt năm 2000: 900 tỷ đồng:
Trang 6- Cho vay dé thuc hién Chuong trinh 1 triéu tấn mía đường: khoảng
-_ Cho vay thu mua lương thực xuất khẩu hàng năm: khoảng 3.000 tỷ đồng theo giá sàn nhằm tránh tình trạng rớt giá, ảnh hưởng đến thu nhập, sản xuất và đời sống của hộ nông dân
- Riêng cho vay tạm trữ, gia hạn nợ, giãn nợ đối với cà phê và lúa gạo, thực hiện chỉ đạo của Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản
triển khai và hướng dẫn kịp thời để các TCTD thực hiện, với số vốn lên tới
hàng nghìn tỷ đồng tạo điều kiện cho người sản xuất bớt thiệt hại về giá
bán
Mặc dù hiệu quả các chương trình này không cao, nhưng đã giải quyết được một phần lao động dôi dư ở nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi bộ mặt nông thôn,
Chính phủ đã có cơ chế xử lý nợ tổn đọng đối với các đối tượng chính sách như: Các khoản nợ của hợp tác xã (HT) nông nghiệp còn hoạt động nhưng có khó khăn trong việc trả nợ do các khoản nợ phải thu có liên quan đến xã viên thuộc diện hộ nghèo, gia đình chính sách, khi HTX nông nghiệp được xoá nợ thì xã viên thuộc diện hộ nghèo,-gia đình chính sách cũng được xoá nợ đối với HTX; Xử lý nợ vay sản xuất kinh doanh cà phê của các hộ gia đình, doanh nghiệp ở 4 tỉnh Tây Nguyên
Phần dưới đây sẽ đi sâu phân tích về tình hình hoạt động của các loại hình tín dụng nông nghiệp, nông thôn tại một số NHTM Nhà nước và tổ
chức chính trị, xã hội
2 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo) được thành
lập ngày 01/7/1988 theo Nghị định 53/HĐBT ngày 20/3/1988 của Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng Hiện tại, VBARD có 2 văn phòng đại diện tại Miền Nam, Miền Trung, và 1.418 chỉ nhánh
Chiến: lược phát triển của NHNG: lấy nông thôn làm thị trường, lấy
hộ nông dân làm đối tượng phục vụ chính, chuyển đối tượng khách hàng
Trang 7từ cho vay DNNN là chủ yếu (DNNN cấp tỉnh và cấp huyện do làm ăn thưa lỗ nên lần lượt bị giải thể) sang cho vay hộ sản xuất, phát triển kinh doanh đa năng, từng bước mở rộng dịch vụ ngân hàng
2.1 Chính sách tín dụng của NHNo
Tính đến cuối năm 2000, tổng nguồn vốn của NHNo là 50.413 tỷ đồng; Tổng dư nợ là 44.999 tỷ đồng, trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm 51,32%, dư nợ trung - dài hạn chiếm 42,68% tổng dư nợ
- Định hướng khách hàng: Hiện nay, NHNoVN có quan hệ thường xuyên với 7 triệu hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, 1.438 DNNN, 2.241
ĐN ngoài QD Qua 14 năm triển khai, hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân của NHNo đã tăng trưởng liên tục, mạnh mẽ Dư nợ cuối tháng 9/2002 so với cuối tháng 12/1991 tăng 192 lần (47.000.000 triệu đồng/244.919 triệu đồng) chiếm 64% tổng dư nợ của NHNo Số hộ nông dân có dư nợ tăng dan qua cdc nam tir 2,1 triệu hộ năm 1993 lên 7 triệu
hộ năm 2002 (Xem bảng 1: Cho vay hộ sản xuất nông nghiệp)
Bảng 1: CHO VAY HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Trong những năm tới, mục tiêu của NHNoVN phải tăng gấp đôi số hộ
có quan hệ tín dụng lên 10 triệu hộ, dư nợ cho vay hộ tăng bình quân 10 - 15%/năm Cùng với xu thế hội nhập ngân hàng, NHNNo tiếp tục tập trung cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.Tuy nhiên, cần chuyển hướng đầu tư thông qua đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp, ngành nghề, đẩy mạnh cho vay kinh tế trang trại, cho vay phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn NHNoVN phân vùng khách hàng như sau:
+ Vùng nông thôn: bao gồm các chỉ nhánh ở khu vực nông thôn, miền
Trang 8thực hiện lãi suất cho vay tối đa nhưng đồng thời phải tính đến tính xã hội
của hoạt động cho vay ở khu vực cho phù hợp Khu vực này chủ yếu đầu
tư cho nhóm khách hàng là hộ sản xuất nông nghiệp, và vẫn chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong cơ cấu đầu tư của NHNoVN Vùng này có thể chia
thành 2 khu vực: Thứ nhất, khu vực giao thông thuận tiện, kinh tế phát
triển Đối với khu vực này, chủ yếu đầu tư cho hộ sản xuất hàng hoá, hộ
làng nghề, hộ làm kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thứ
bai, khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa Đối với khu vực này, chủ yếu
làm địch vụ cho ngân hàng chính sách là chính
~ + Vùng đô thị (gồm các thành phố, thị xã): Tập trung đầu tư cho các
doanh nghiệp lớn gắn với đầu vào, đầu ra sản phẩm nông nghiệp, thuỷ
sản, kết hợp với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, coi trọng huy động vốn
và kinh doanh tài sản nợ; chú trọng nhóm khách hàng là hộ gia đình, cá
nhân có thu nhập ổn định, khá giả (Xem bảng 2: Cơ cấu khách hàng của
Loại hình cho vay Đến 31/8/2000 Đến 31/12/2001
Cho vay hộ sản xuât 23894 67,25 37818 63
[Cho vay DN nhà nước phục vụ 10041 28,25 12614 21
sản xuất nông nghiệp
Cho vay DN ngoài quốc doanh 1043 3 3211 5,35
Cho vay kinh tế trang trại 479 1,34 6319 10,5
Trang 9Định hướng thị trường:
- Cho vay: Tập trung vào thị trường nông nghiệp, nông thôn với khách hàng là hộ sản xuất trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia các chương trình phát triển kinh tế như nuôi trồng thuỷ - hải sản, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi; các thành phần kinh tế phát triển ngành nghề nông thôn
+ Thị trường nông nghiệp, nông thôn chia làm 2 nhóm khách hàng: Nhóm hộ nghèo và các đối tượng chính sách - NHNoVN nhận làm dịch
vụ 100% (các nguồn vốn uỷ thác) Nhóm vay vốn bình thường - NHNoVN phấn đấu chiếm thị phần trên 70%
_* Đối với khách hàng cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ (gồm chế biến, xuất khẩu) sản phẩm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp):
NHNOoVN cho vay nội, ngoại tệ kết hợp với thanh toán trong, ngoài nước
và các tiện ích thuận lợi, áp dụng lãi suất hợp lý để chiếm thị phần trên 50%
Phuong thifc cho vay: Trén co sé Quyét dinh s6 1627 /2001/QD cia Ngân hàng Nhà nước, NHNoVN đã ban hành Quy định cho vay với khách hàng (Quy định số 72 ngày 31/3/2002), trong đó giới thi¢u một số phương thức cho vay mới như: Cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi,
Như đã để cập ở trên, nhóm khách hàng chủ yếu của NHNoVN là hộ nông dân Bởi vậy, trong thời gian vừa qua có hai phương thức cho vay chủ yếu áp dụng trong cho vay hộ nông dân là: cho vay từng lần và cho
vay theo hạn mức tín dụng
- Phương thức cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTĐ thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Như vậy, cho vay từng lần là phương thức cung ứng tiền vay thích hợp đối .với những khách hàng có vốn tự có đổi dào, nhu cầu vốn vay chỉ có tính chất tạm thời và chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng mức luân chuyển vốn của ngudl vay
Trang 10+ Xác định khoản vay: Trong cho vay từng lần, khoản vay được xác
định theo số tiền mà ngân hàng sẽ đưa cho khách hàng vay, tức là được
xác định dưới hình thức doanh số cho vay Một lần vay được cho là kết thúc sau khi bên vay trả hết số tiền đã vay và tiền lãi Trả hết nợ cũ là điều kiện bất buộc được vay mới tiếp lần sau
+ Cách giải ngân: Khách hàng vay theo phương thức này phải nhận toàn bộ khoản vay 1 lần mặc dù có thể họ chưa cần sử dụng hết ngay một
lúc số tiền đó vào sản xuất kinh doanh của mình Nhược điểm của cách
giải ngân này là người vay phải chịu lãi về số tiền vay chưa sử dụng hết
đó Cách giải ngân này còn làm lãng phí vốn của ngân hàng,
+ Cách ấn định thời hạn trả nợ, thu nợ, chuyển nợ quá hạn: Trong phương thức cho vay từng lần, người vay phải cam kết về thời hạn trả nợ
cụ thể Đến cuối ngày cụ thể đó nếu không trả đủ số nợ đã cam kết thì số
nợ chưa trả lập tức bị chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu phạt lãi quá
hạn kể từ ngày đó cho đến khi trả hết nợ
+ Thủ tục, hồ sơ vay vốn: Trong cho vay từng lần thì mỗi lần vay người vay phải làm mọi thủ tục, giấy tờ theo quy định và phải chờ qua các bước thẩm định xét duyệt cho vay của ngân hàng nên bị mất nhiều thời gian chờ đợi và đi lại nhiều lần
Có thể nói, trong cho vay từng lần, người vay ở thế bị áp đặt và chịu sự giám sát chặt chẽ của ngân hàng, mặc dù trên danh nghĩa họ là đối tác
bình đẳng trong hợp đồng tín dụng
- Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng: TỔ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận mọi hạn mức tín đụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức ưu đãi về vốn và về thủ tục vay vốn đối với những khách hàng sản xuất kinh doanh ổn định, tỷ trọng vốn tự có trong tổng vốn luân chuyển thấp nên họ có nhu cầu vay ngân hàng thường xuyên, liên tục Tuy vậy, phương thức cho vay này chỉ có thể áp dụng đối với những khách hàng có tín nhiệm đối với ngân hàng
Trang 11+ Cho vay theo han mức được định khoản bằng số dư nợ cao nhất, không hạn chế số tiền mà khách hàng lĩnh tiền vay ra; nợ cũ chưa trả hết vẫn được vay tiếp nợ mới nếu tổng mức đư nợ thực tế nhỏ hơn hạn mức tín dụng còn thời hạn hiệu lực
+ Về đối tượng cho vay: Trong phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, toàn bộ nhu cầu vay vốn của người vay được coi là đối tượng tổng hợp, không tách bạch từng loại hàng hoá, chi phí Người vay được tuỳ ý
sử dụng tiền vay để mua sắm những gì cần thiết cho việc hoàn thành phương án kinh doanh của mình, không có sự áp đặt nào từ phía ngân hàng cho vay Trước khi giải ngân, ngân hàng chỉ quan tâm xem xét phương án sản phẩm cuỉa người vay có phù hợp với yêu cầu của thị trường hay không Sau khi giải ngân, ngân hàng coi trọng việc theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch doanh thu của người vay
+ Giải ngân: trong phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, người vay được nhận dần tiền vay nhiều lần phù hợp với nhu cầu thực tế của mình
+ Thời hạn trả nợ, thu nợ, chuyển nợ quá hạn: Trong phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng, bên vay không bị bắt buộc phẩttrả nợ vào một thời điểm nào trong khoảng thời gian hạn mức tín dụng còn hiệu lực + Thủ tục, hồ sơ vay vốn: Các thủ tục vay của phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng đơn giản hơn so với phương thức cho vay từng lần
Có thể nói, giữa hai phương thức cho vay nói trên có sự khác biệt lớn
về quyền và lợi ích của người vay Trong cho vay theo hạn mức tín dụng, giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn có quan hệ thực sự bình đẳng Người vay được vay và sử dụng tiền vay linh hoạt, do vậy có thể chủ động chuyển hướng kinh doanh bắt kịp những cơ hội thị trường có lợi nhất Hơn nữa, người vay lại được nhận tiền vay hoặc trả nợ khi cần, nhờ đó mà giảm thiểu được số tiền lãi phải trả và có thể tránh được chuyển nợ quá hạn một cách máy móc của ngân hàng Đối với ngân hàng, cho vay theo hạn mức tín dụng cho phép loại bỏ những thao tác sự vụ không cần thiết
Trang 12của cán bộ tín đụng nên có thể giảm thiểu tình trạng quá tải của đội ngũ cán bộ này Tóm lại, cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thúc cho vay thích hợp đối với những hộ nông dân vay vốn không phải thực hiện thế chấp tài sản
2.1.1 Chính sách cho vay hộ sản xuất của NHNo
Đầu tư tín dụng cho kinh tế hộ được NHNG hết sức quan tâm qua các hình thức cho vay như sau:
- Cho vay trực tiếp: Cho vay đến từng hộ sản xuất đơn lẻ và cho vay thông qua tổ nhóm Đây là hình thức cho vay chủ yếu, chiếm 90%, tổng
dư nợ cho vay hộ Hình thức này được áp dụng phổ biến ở những địa bàn
có kinh tế hàng hoá phát triển, món vay lớn Còn ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa cho vay món nhỏ không có tài sản thế chấp, nhằm nâng cao năng lực tiếp cận khách hàng, giảm chỉ phí giao dịch Nhiều chỉ nhánh đã chú trọng cho vay thông qua tổ tương hỗ tín chấp như Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh Để mở rộng và nâng cao hiệu quả tiếp cận cho vay hộ nông dân có thu nhập thấp, NHNoVN đã cho vay thông qua tổ vay vốn Tổ vay vốn do các thành viên là hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, điêm nghiệp, mở mang ngành nghề, tạo công ăn việc làm, có nhu cầu vay vốn, tự nguyện thành
lập
- Cho vay gián tiếp thông qua các Tổ chức Tài chính trung gian và các
tổ chức kinh tế chỉ chiếm 2% trong tổng dư nợ cho vay hộ Ngoài các
hình thức cho vay truyền thống đã được các chỉ nhánh tiến hành, còn một
số mô hình chuyển tải vốn tín dụng đến hộ sản xuất theo hướng nâng cao năng lực tiếp cận khách hàng và giảm chi phí giao dịch đã được triển khai
ở một số chỉ nhánh bước đầu có kết quả như: Tổ cho vay lưu động ở Hà Tây, cho vay thanh toán tay ba ở An Giang, cho vay qua tổ liên doanh tại chi nhánh Gia Lâm, Hà Nội
Một số mô hình cho vay khác ngày càng đi vào thực tiễn như cho vay lưu vụ đối với hộ chuyên canh trồng lúa tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ
Trang 13Một số chỉ nhánh đã từng bước cho vay để phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế trang trại như chỉ nhánh Sóc Trăng, Cần Thơ, Bình Dương, Bình Phước, Yên Bái, Bắc Ninh, Thanh Hoá Cho vay phát triển kinh tế
hộ đã góp phần tích cực vào việc làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Trong quá trình thực hiện đối mới hoạt động tín dụng, các chi nhánh NHNo đã từng bước cung cấp dịch vụ tín dụng và thông tin giá cả thị trường cho hộ sản xuất, chỉ nhánh An Giang đã hướng dẫn nông dân ký hợp đồng tiêu thụ cá với công ty AGIFISH trước khi cấp tín dụng cho nông dân nuôi cá Chi nhánh Bắc Hà (Lào Cai) hướng dẫn nông dân mua giống mận Nhờ vậy, mà nông dân tiêu thụ được sản phẩm với giá cả hợp
lý
Bảng 3: SỐ HỘ SẢN XUẤT CÓ DƯ NỢ PHÂN THEO VÙNG KINH TẾ
T | Vùng kinh tế Tổng số hộ | Số hộ dư nợ | Mức dư nợ | Tỷ lệ số hộ
T nông thôn (31/12/99) _} b/q hộ (tr.đ) | có dư nợ (%)
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001 của NHNo Việt Nam)
Qua 10 năm triển khai hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân của NHNG đã tăng trưởng liên tục, mạnh mẽ Nếu tính cả trên 2 triệu hộ nông dân nghèo có đư nợ tại Ngân hàng phục vụ người nghèo (cũng do NHNo giải ngân) và 1 triệu hộ nông đân có dư nợ tại các tổ chức tín dụng khác thì có trên 8 triệu hộ nông dân tiếp cận với tín dụng Ngân hàng, chiếm trên 70% số hộ nông dân Việt Nam, tỷ lệ nợ quá hạn của hộ nông dân so
Trang 14với dư nợ đến cuối tháng 6/2001 là 0,98%, thấp hơn so với các đối tượng vay khác
Trong những năm qua, màng lưới tín dụng không ngừng được mở rộng ở tất cả các thành phố, tỉnh, huyện, xã, làng Đến nay NHNo đã tiếp cận được 99% trong tổng số 12.000 xã ở Việt Nam, thu hút được đông _ đảo các hộ nông dân nhất là ở vùng sâu, vùng xa; phối hợp chặt chẽ với các địa phương và đoàn thể, tổ chức xã hội như Hội nông dân, Hội Phụ
nữ, các tổ chức khuyến nông, khuyến ngư, các hội nghề nghiệp Các hội này hướng dẫn hội viên lập tổ vay vốn, thúc đẩy hội viên trả nợ đúng hạn, đồng thời chuyển giao kỹ thuật mới, giúp nông dân sản xuất, chế biến, tiêu thụ sắn phẩm
Bang 4: MON CHO VAY BINH QUAN /1 CAN BO TIN DUNG
Các TCTC nông thôn Nước Số món vay bq/I cán bộ
TD (cuối năm 1995)
Ngan hang Grameen Bangladesh “245
Ngân hang BAAC Thai Lan 270
Tuy nhiên, mức dư nợ và tăng trưởng du nợ hộ sản xuất giữa các vùng không đồng đều Đối với các chỉ nhánh ở những vùng kinh tế chậm phát triển như trung du và miền núi phía Bắc có độ tăng trưởng tín dụng
thấp Các chỉ nhánh thuộc vùng kinh tế phát triển mạnh như Đông Nam
Bộ, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao (khoảng 37,8%) Tình hình cán bộ tín dụng hộ sản xuất cũng đang có những điều bất cập Hiện nay, bình quân mỗi cấn bộ tín dụng quản lý nợ 556 khách hàng của NHNo Đối với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, mức này lên tới 8,040 tỷ đồng với
1378 hộ dư nợ một cán bộ Nếu so sánh với các tổ chức Tài chính nông thôn cung cấp tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn ở một số nước Châu
Trang 15Á có thể thấy rằng số món vay này quá tải đối với cán bộ tín dụng ở NHNG Việt Nam (Xem bảng 4: Món vay bình quân/1 cán bộ tín dụng) 2.1.2 Cho vay đối với Hợp tác xã (HTX)
Việc cho vay vốn tín dụng đối với các HTX là cần thiết, nhưng đây cũng là khu vực đầu tư đầy khó khăn, phức tạp, bởi vì, hiện nay phần lớn các HTX thuộc điện yếu kém Một số HTX có nhiều vấn dé tồn đọng không được giải quyết, nhất là vấn để ruộng đất, công nợ và tài sản chung,
số HTX có nhu cầu và đủ điều kiện vay vốn rất ít Vì vậy, cho vay HTIX không mở rộng được, tính đến 31/12/1999 mới đạt 59 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng đư nợ cho vay phục vu phát triển nông nghiệp, nông thôn Theo tổng hợp điều tra của NHNo, trong tổng số 8343 HTX đã chuyển đổi, chỉ có 999 HTX có nhu cầu và điều kiện vay vốn, chiếm 12%
số HTX đã chuyển đổi, số HTX cần vay nhưng không đủ điều kiện vay
vốn là 3128 HTX, số HTX cần vay vốn với lãi suất ưu đãi là 1248 HTX và
1968 HTX không cần vay vốn
2.1.3 Tình hình thực hiện các dự án dịch vụ tín dụng
Tính đến ngày 31/12/1999, Ban Tín dụng hộ sản xuất và HTX của NHNG đã theo dõi quản lý, chỉ đạo thực hiện quay vòng vốn tín dụng của
10 dự án uỷ thác đầu tư với tổng nguồn vốn khoảng 3316 tỷ đồng, trong
đó tổng số vốn đã giải ngân là 2194 tỷ đồng chiếm 66% tổng nguồn vốn
Số vốn này được phân bổ theo các chi nhánh, thực hiện quay vòng vốn với tổng đư nợ của các dự án là 2004 tỷ đồng chiếm 91% tổng nguồn vốn đã giải ngân Hướng đầu tư của các dự án như sau:
- Dự án Tín dụng nông nghiệp CED: Do Quỹ phát triển Pháp (ADF) tài trợ, thực hiện tại 8 tỉnh: Sơn La, Phú Thọ, Hải Dương, Hưng Yên, Đồng Nai, Bình Phước, Quảng Ngãi, và Vĩnh Phú
Trang 16- Dự án Xoá đói giảm nghèo giai đoạn I va II do Chinh pha Ditc tai trợ thông qua Ngân hàng tái thiết Đức được thực hiện tại các tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình
- Dự án tín dụng nông thôn do Chính phủ Đức tài trợ thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức thực hiện ở 5 tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Tĩnh
- Dự án Phục hồi nông nghiệp do Ngân hàng Thế giới tài trợ gồm 2 phần:
+ Hợp phân tín dụng nông thôn gồm tiểu phần cho vay lại hộ nông
dân và tiểu phần phát triển thể chế NHNo
+ Hợp phần khôi phục cây cao su, NHNo làm đại lý giải ngân cho
Bộ Tài chính thực hiện cho vay tới 10 công ty Cao su thuộc Tổng công ty Cao su Việt Nam
- Dự án Tài chính nông thôn (WB) do Ngân hàng Thế giới tài trợ thực hiện cho vay lại hộ nông dân tại 40 tỉnh và thành phố trên toàn quốc
- Dự án Bảo tồn và phát triển tài nguyên nông nghiệp (FAD)
- Chương trình tín dụng EC và RAP: Trợ giúp người hồi hương do -
cộng đồng Châu Âu (EC) tài trợ thực hiện tại 26 tỉnh, thành phố
- Dự án tín dụng nông thôn ADB do Ngân hàng phát triển Châu Á tài trợ để thực hiện cho vay lại vốn trung hạn tới các hộ nông đân tại 37 tỉnh
- Dự án đa dạng hoá nông nghiệp do Ngân hàng Thế giới (WB) và
Cơ quan Phát triển Pháp đồng tài trợ nhằm cho vay tới hộ nông đân tại 11 tỉnh Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung để trồng, chăm sóc cây cao su
và nuôi trồng các loại cây con khác
Trang 17- Dự án xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ rừng Dự án được thực hiện tại tỉnh Hà Giang từ nguồn chuyển đổi nợ của Chính phủ Cộng hòa liên
bang Đức cho Việt Nam
Nhìn chung, các dự án có tỷ lệ giải ngân cao Một số dự án đã tiến hành rút toàn bộ vốn Số vốn giải ngân được phân bổ cho các tỉnh, thực hiện cho vay tới hộ nông đân có hiệu quả, nâng cao uy tín của NHNo với các tổ chức Quốc tế Bên cạnh đó, vẫn còn một số vấn đề nảy sinh làm ảnh hưởng tới việc thực hiện dự án Cụ thể như sau:
- Lãi suất điều vốn của các đự án còn cao hơn phí điều vốn của NHNo va thay déi chưa linh hoạt so với sự thay đổi của lãi suất cho vay (ãi suất cho vay hạ liên tục) dẫn đến thu nhập của cdc chi nhánh thực hiện dự án bị giảm sút ảnh hưởng đến kết quả tài chính của Ngân hàng
- Quyền chủ động của NHNo trong việc xử lý lãi suất đầu vào của các dự án chưa cao, nhất là đối với các dự án mà việc quay vòng vốn không được thực hiện tại NHNo, làm cho các chi nhánh NHNo chưa chủ động trong việc lập kế hoạch, và báo cáo thực hiện dự án
2.1.4 Cho vay doanh nghiệp của NHNo
Trọng điểm hoạt động cho vay đoanh nghiệp của NHNo được phản ánh qua bảng 5 về dư nợ NHNo giai đoạn 1999 - 2001
Trong tổng số dư nợ cho vay doanh nghiệp năm 1999 là 11.107 tỷ đồng thì dư nợ ngành nông nghiệp chiếm 4780 tỷ đồng (47,3%) Nếu kể
cả thuỷ, hải sản và lâm nghiệp thì dư nợ của các doanh nghiệp nông, lâm, ngư nghiệp là 5062 tỷ đồng chiếm 50,09% Trong năm 2001, cho vay ngành nông nghiệp lên tới 29.306 tỷ đồng chiếm 54,2% trong tổng dư nợ,
và nếu tính cả nông, lâm, thuỷ, hải sản, thì dư nợ doanh nghiệp những
Trang 18ngành này lên tới 34.025 tỷ đồng chiếm 62,95% Điều nay cho thấy, NHNo đã xác định đúng địa bàn, đúng đối tượng, đúng trọng điểm phục
vụ là Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá.nông nghiệp, nông thôn
Bảng 5: DƯ NỢ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
(giai đoạn 1999 - 2001)
2.1.5 Cho vay lương thực
Thực hiện chính sách thu mua xuất khẩu gạo và tạm trữ thóc của Chính phủ, NHNo thường xuyên cho 42 doanh nghiệp vay thu mua gạo theo chương trình xuất khẩu gạo quốc gia và tạm trữ thóc quốc gia Cơ chế điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ được ban hành kịp thời với mục tiêu “Tiêu thụ hết lúa hàng hoá với giá có lợi cho nông dân, ổn định
Trang 19giá cả lương thực trên thị trường nội địa, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, xuất khẩu có hiệu quả, góp phần tăng thu ngoại tệ Chính phủ đã đưa
ra quyết định cấp bù 100% lãi suất cho vay vốn Ngân hàng cho các doanh nghiệp mua 1,5 triệu tấn (1999) chờ xuất khẩu Vì vậy, giá bán lúa không
bị giảm thấp, lợi ích của người nông dân trồng lúa được đảm bảo
Cho vay lương thực tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh (chiếm gần 90% tổng doanh số của toàn ngành) Các chỉ nhánh có doanh số cho vay cao là: Cần Thơ 1153 tỷ đồng, ˆ Đồng Tháp 685 tỷ đồng, An Giang 562 tỷ đồng, Vĩnh-Long 665 tỷ đồng, Sóc Trăng 431 tỷ đồng (Xem bảng 6: Cho vay lương thực )
Bảng 6: CHO VAY LƯƠNG THỰC GIAI ĐOẠN 1998-2001
(Nguồn: Báo cáo các hoạt động cho vay doanh nghiệp giai đoạn 199§ -
2001 của NHNo Việt Nam)
Trang 20Hiện nay, cho vay lương thực có khuynh hướng giảm Hai doanh nghiệp có đư nợ cho vay giảm lớn nhất là Văn phòng Tổng công ty lương thực miền Nam, và Công ty lương thực An Giang
Năm 1995 Chính phủ duyệt dự án mía đường quốc gia Đây là một dự án vào loại lớn của Nhà nước, nhằm đạt những mục tiêu kinh tế xã hội quan
ˆ trọng, khắc phục tình trạng nhập khẩu đường, phát triển vùng nguyên liệu trồng mía, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông dân vùng nguyên liệu mía đường, khơi dậy những tiểm năng ở vùng sâu, vùng xa, tạo những
tụ điểm công nghiệp nông thôn, cải thiện, nâng cao đời sống văn hoá, xã hội góp phân xoá đói giảm nghèo, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn
2.1.6 Cho vay vật tư nông nghiệp
Hàng năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 1,6 triệu tấn UREA, Ngân hàng Nông nghiệp đã mở L/C cho vay bảo lãnh hàng trăm triệu USD cho các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón Các chỉ nhánh cho vay cao là Hà nội: 43 triệu USD Sở giao địch I cho vay 298 ty VNĐ,
2.1.7 Cho vay phát triển cây công nghiệp
Bang 7: CHO VAY PHAT TRIEN CAY CONG NGHIEP NAM 1999
(Đơn vị: tỷ đồng)
Trang 21
NHNG đã đầu tư có hiệu quả vào hầu hết các loại cây công nghiệp như chè, tiêu, điều, bông, dâu tầm (Xem bảng 7: Cho vay phát triển cây công
nghiệp)
2.2 Đánh giá hiệu quả của xe ô tô ngân hàng lưu động
Có thể nói, khả năng tiếp cận tới các hộ gia đình của các định chế tài chính được mở rộng một phần nhờ vào trang bị xe ôtô ngân hàng lưu động (NHLĐ) Tại các chi nhánh của NHNo&PTNT, hiệu quả của các xe ôtô ngân hàng lưu động được đánh giá cao
Bảng 8: HIỆU QUÁ TRONG VIỆC MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP
I Huy dong tiét kiém
1.1 Số lượng món tiết kiệm | Món vay 206 huy động
tiết kiệm
2.1 Số lượng món vay giải | Món vay 551
ngân
2.3 Số lượng món vay thunợ | Món vay 512
thu nợ
IH Vận chuyển tiền
3.3 Tổng số điểm vận chuyển | Điểm 3
(Nguồn: Báo cáo của NHNo&PTNT trong 4 tháng hoạt động đầu tiên của
xe ôiô NHLĐ)
Trang 22
Việc trang bị xe ôtô ngân hàng lưu động còn mang lại hiệu quả tài chính thiết thực cho các chỉ nhánh NHNo&PTNT Sau khi trừ mọi chi phí, mỗi xe ôtô ngân hàng lưu động góp phần tăng thêm lợi nhuận 2,43 triệu đông/tháng (Xem bảng 9: Hiệu quả tài chính trong sử dụng xe ô tô NHLĐ)
Bang 8 cho thấy, trong bốn tháng đầu sử dụng, do hoạt động của một xe NHLĐ, số lượng món vay giải ngân tăng trung bình 55I món/tháng; số lượng món vay thu nợ tăng trung bình 512 món/tháng; số lượng món tiết kiệm tăng trung bình 206 món/tháng Bên cạnh đó, mỗi xe còn tham gia trung bình 62 lượt vận chuyển tiển/tháng Như vậy, hoạt động của các xe ngân hàng lựu động đã góp phần quan trọng mở rộng khả năng tiếp cận của các chỉ nhánh NHNo&PTTN, qua đó giúp người dân ở
các làng, xã xa xôi tiếp cận tới các dịch vụ tài chính chính thức
Bảng 9: HIỆU QUÁ TÀI CHÍNH TRONG SỬ DỤNG XE ÔTÔ
Trang 23
mục đích lợi nhuận NHNg là một tổ chức tín dụng đặc thù về mô hình tổ chức, quân lý theo phương thức các cơ quan quản lý nhà nước tham gia ban hành chính sách, cồn việc tác nghiệp uỷ thác cho NHNNo & PTNN Việt Nam Với những đặc thù này, khách hàng vay vốn là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh thông qua tổ vay vốn và xác nhận của chính quyền xã, phường; thực hiện cho vay với lãi suất ưu đãi hợp lý; áp dụng cho vay không phải thế chấp tài sản, thủ tục cho vay đơn giản Cho đến nay, đã có 61 chỉ nhánh NHNg tỉnh, thành phố với hơn 500 chi nhánh huyện, thị trên phạm vi toàn quốc thực thi chính sách tín dụng cho hộ nghèo
_ 3.1 Két quả cho vay hộ nghèo của NHNg
Vốn tín dụng của NHNg chiếm trên 80% thị phần tín dụng cho hộ nghèo ở nông thôn; Trong giai đoạn 1996 - 2000, NHNg đã cho vay với tổng doanh số là 11.677 tỷ đồng; doanh số thu nợ là 5.877 tỷ đồng; dư nợ đến 31/10/2001 là 5.800 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn chiếm
tỷ trọng 23,4%; dư nợ cho vay trung hạn chiếm tỷ trọng 76,6%; số lượt hộ nghèo vay vốn là 6.724 ngàn hộ Cụ thể là:
- Dung cho vay ho nghèo tại vùng núi cao (vùng IIrlà 725 tỷ đồng với 359 ngàn hộ vay Dư nợ cho vay hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 của Chính phủ là 890 tỷ đồng với 429 ngàn hộ vay
~_ Dư nợ cho vay hộ nghèo là người dân tộc thiểu số có số dư là 1.038
tỷ đồng với 512 ngàn hộ vay, chủ yếu là người dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường
Dư nợ cho vay chủ yếu là các hộ nghèo ở vùng nông thôn, có đến 88% vốn vay được đầu tư vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi; 2,4% vào ngư nghiệp, điêm nghiệp; 3,2% vào ngành nghẻ thủ công và buôn bán nhỏ; nghề khác 6,4%
-_ Từ khi thành lập đến 31/10/2001, vốn NHNg đã góp phần giúp cho
562 ngàn hộ thoát khỏi ngưỡng nghèo đói Như vậy, cứ 6 hộ vay vốn
Trang 24NHNg thì có 1 hộ thoát nghèo Chỉ riêng trong năm 2001, số hộ thoát nghèo là 120 ngàn hộ, và con Số này sẽ tiếp tục tăng trong các năm tới
Bảng 10: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG DƯ NỢ
THEO CÁC VÙNG KINH TẾ
Đơn vị: % Vùng 2000 31/10/2000 Bình quân giai
- _ Nếu tính cả nợ thiệt hại đã được Chính phủ xử lý cho khoanh, giãn
nợ thì kết quả nợ quá hạn qua các năm như sau: năm 1996: 0,71%; năm
1997: 1,82%; năm 1998: 4,8%; năm 1999: 4,7%; năm 2000: 64% và đến
31/10/2001: 6,6% trong tổng dư nợ
-_ Nguyên nhân nợ quá hạn:
Trang 25+ Nguyên nhân khách quan: Thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, biến động giá cả tiêu thụ sản phẩm
+ Nguyên nhân chủ quan: Một số hộ nghèo không sử dụng vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh mà sử dụng vốn để mua lương thực cứu đói, tiêu dùng nên không thể trả nợ, trả lãi ngân hàng; có hộ ỷ lại vào các chính sách trợ cấp của Nhà nước, không phân biệt được vốn tín dụng ngân hàng với vốn cứu trợ từ ngân sách nhà nước Các chính sách khuyến nông, khuyến lâm, hướng dẫn cách làm ăn cho các hộ nghèo chưa được phối hợp đồng bộ với chính sách tín dụng Suất đầu tư cho mỗi hộ thời kỳ đầu quá nhỏ (từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/hộ) Phương thức cho vay trực tiếp đến hộ nghèo chưa thật phù hợp với những hộ không có đất đai, ngành nghề
- Mức cho vay tối đa được nâng từ 2,5 triệu đồng lên 3 triệu đồng/ hộ Riêng đối với những hộ nghèo đầu tư cho chăn nuôi đàn gia súc, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, mua sắm công cụ, nuôi trồng đánh bắt hải sản, kinh đoanh ngành nghề được vay vốn tối đa đến 5 triệu đồng/hộ, phù hợp với việc tăng trưởng nguồn vốn và quy mô sử dụng vốn đối với hộ nghèo
- Thời hạn cho vay trung hạn tối đa tăng từ 36 tháng lên 60 tháng Ngoài ra còn áp dụng các hình thức cho vay lưu vụ, gia hạn nợ, cho vay lại cho đến khi hộ nghèo thoát ngưỡng nghèo, tạo điều kiện thuận lợi cho
hộ nghèo sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng
Trang 26- Vé diéu kién va thủ tục vay von: Hộ nghèo vay vốn không phải thế
chấp tài sản, khi vay vốn hộ nghèo chỉ cần điển vào đơn đã được ngân
hàng in sẵn, nêu rõ mục đích và số tiền xin vay thông qua tổ vay vốn, gửi
Ban Xoá đói giảm nghèo xã xét duyệt danh sách hộ nghèo cần vốn Ngoài
lãi suất cho vay, hộ nghèo không phải trả một khoản phí nào cho ngân
hàng hoặc các tổ chức chính trị - xã hội khác
- Tổ vay vốn được hình thành gồm những hộ nghèo có cùng hoàn
cảnh, có từ 3 - 50 thành viên trên cơ sở tự nguyện, hợp tác, có quy ước
cộng đồng về trách nhiệm vay vốn, trả nợ ngân hàng và được UBNH xã
công nhận hoạt động Đến nay, các địa phương đã hình thành trên 220
ngàn tổ vay vốn Thông qua hoạt động của các tổ vay vốn đã góp phần ' cùng ngân hàng đưa vốn vay trực tiếp đến hộ nghèo đúng đối tượng, thu
nợ, thu lãi đúng hạn, giúp đỡ nhau trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh và sử dụng vốn vay có hiệu quả
Có thể nói, nhờ áp dụng hợp lý các chính sách mà đồng vốn tín dụng
NHNg đã giúp cho một bộ phận không nhỏ người nghèo có công ăn việc
làm, tăng thu nhập, góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22,8% năm
Căn cứ vào số hộ nghèo theo tiêu chí mới được áp dụng là 2,8 triệu hộ,
NHNg xây dựng kế hoạch hoạt động giai đoạn 2001 - 2005 như phản ánh
trong bang 11 dưới đây
ˆ Bảng 11; KẾT QUÁ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
Trang 27Những khó khăn, vướng mắc trong cho vay hộ nghèo
- Việc xác định hộ nghèo thiếu vốn sản xuất và phân loại theo chuẩn mực đói nghèo của Bộ Lao động - Thương bình xã hội (xây dựng chuẩn đói nghèo theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ/tháng quy ra gạo và tiễn lương ứng theo từng vùng, làm cơ sở để các Ban XĐGN xã lập danh sách hộ đói nghèo của địa phương) Cụ thể như sau:
+ Hộ đói: có thu nhập dưới 13 kg gao/tháng, tương ứng 45.000 đồng
(cho tất cả các vùng);
+ Hộ nghèo: Chia làm 3 vùng: dưới 15 kg gạo/tháng, tương ứng với 55.000 đồng đối với vùng nông thôn miền núi, hải đảo; dưới 20 kg gạo /tháng (70.000 đồng) đối với vùng nông thôn đồng bằng, trung du; đưới
25 kg gao/thang (90.000 đồng) đối với vùng thành thị Cuối năm 2000, do mức sống của dân cư tăng lên 1,5 lần, so với năm 1996, nên chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn 2001 - 2005 cũng được nâng lên tương ứng ở các vùng là 80.000 đ, 100.000 đ, và 150.000 đ/thán, 100.000 đ, và 150.000 đ/tháng Theo cách tính này rất khó khăn cho việc xác định đâu
là hộ nghèo để được vay vốn NHNg Vì vậy, để đự án tín dụng có hiệu quả, đảm bảo sự giám sát của xã hội, của cộng đồng, đúng với mục tiêu của dự án thì việc điều tra, phân loại hộ nghèo tại các địa phương thông qua việc củng cố Ban Xoá đói giảm nghèo của xã, huyện là việc làm rất quan trọng và cần thiết, Điều tra phân loại rõ ràng nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của từng hộ để có những giải pháp phù hợp Hộ nghèo muốn được vay vốn phải là hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, nghĩa là: hộ nghèo phải
có sức lao động, có tư liệu sản xuất, có kỹ năng lao động kết hợp với vốn vay để tạo ra sản phẩm, cải thiện được cuộc sống của chính họ Việc phân loại đúng đối tượng đòi hỏi tính thần trách nhiệm cao của các cơ quan chức năng phù hợp với mục đích là vốn đến đúng đối tượng Mặt khác, không lấn sân sang các đối tượng kinh doanh của các NHTM
Trang 28- Các vấn đề phát sinh từ phía hộ nghèo: Trên thực tế, mặc đà nguồn vốn tín dụng thông qua NHNg ngày càng tăng, nhưng vẫn còn nhiều hộ nghèo, thậm chí rất nghèo ở những vùng đặc biệt khó khăn chưa được vay vốn Nguyên nhân do bản chất của vốn tín dụng là cho vay có hoàn trả (cả gốc và lãi) theo một thời hạn nhất định, nên chính quyền xã và các tổ chức xã hội ở xã (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) chưa thật tin vào khả năng hoàn trả vốn vay của hộ nghèo nên chưa cung cấp danh sách những hộ nghèo nhất để nhận vốn Mặt khác, bản thân hộ nghèo cũng không đủ tự tin để vay vốn, họ không biết vay để làm gì, nếu bí sẽ dùng cho nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng Hơn nữa, ở một số nơi, nhận vốn tín dụng ưu đãi được xem như một đặc ân, mặc dù chưa biết sử dụng vào việc gì nhưng cứ nhận tiền vay, họ còn hiểu đây là khoản tiền Nhà nước tài trợ cho hộ nghèo, Nhà nước sẽ xoá nợ
Từ thực trạng trên đây, có thể nói rằng, vấn để đầu tiên cần giúp đỡ
những hộ nghèo không phải là vốn tín dụng mà phải ưu tiên xử lý một cách tổng thể trong mối quan hệ chung của các giải pháp trong Chương trình Quốc gia Xoá đói giảm nghèo (vấn để cơ sở hạ tầng, thông tin thị trường, kiến thức về khuyến nông, khuyến lâm, kỹ năng sản xuất, trao đổi
hàng hoá, )
- Vai trò quản lý của chính quyên địa phương, các đoàn thể xã hội còn nhiều bất cập: Cơ chế cho vay đối với hộ nghèo là không phải thế chấp tài sản Vì vậy, phương thức giải ngân phải sử dụng cơ chế tín chấp qua các
tổ tương trợ, tổ tiết kiệm và vay vốn của cộng đồng người nghèo và các tổ chức chính trị xã hội Tuy nhiên, hiện nay, Chính phủ chưa ban hành các văn bản dưới luật để quy định cụ thể về trách nhiệm dân sự khi thực hiện
cơ chế tín chấp này Các Tổ tương trợ, tổ tiết kiệm vay vốn được NHNg
uỷ nhiệm thực hiện một số công đoạn về quy trình nghiệp vụ tín dụng, nhưng trình độ dân trí ở những tổ này còn thấp; các cán bộ xã còn hạn chế
về kiến thức, học vấn, làm cho hiệu quả giám sát của cộng đồng chưa cao, thậm chí gây trở ngại và lợi dụng tín dụng của hộ nghèo