Thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [8] cho biết, có 7 giống loài phổ biếngồm trên 100 loài, gia sóc nhai lại nhiễm hỗn hợp các giống n
Trang 1Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp thúc đẩy chănnuôi trâu, bò phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm nâng cao đời sống chongười chăn nuôi.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số khó khăn, hạn chế việc phát triểnchăn nuôi trâu, bò, đặc biệt là dịch bệnh Trong các bệnh ký sinh trùng gây hại cho
trâu, bò, bệnh giun xoăn dạ múi khế khá phổ biến và gây nhiều thiệt hại đến sức sản
xuất của trâu, bò Giun xoăn ở dạ múi khế hút máu ký chủ, làm cho ký chủ bị thiếumáu nặng, đồng thời giun làm tổn thương niêm mạc dạ múi khế, gây hội chứng tiêuchảy Gia súc bị bệnh còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng với các bệnh khác và
dễ chết nếu mắc bệnh nặng
Phú Bình là một huyện của tỉnh Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên thuận lợicho chăn nuôi trâu, bò phát triển Theo điều tra sơ bộ của Chi cục thú y tỉnh TháiNguyên, trâu, bò ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Bình nói riêng bịnhiễm giun xoăn dạ múi khế với tỷ lệ cao
Ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Bình nói riêng, chưa có công
trình nào nghiên cứu về bệnh giun xoăn dạ múi khế, những hiểu biết của người chăn
nuôi về bệnh giun xoăn dạ múi khế còn rất hạn chế Xuất phát từ yêu cầu của thực
Trang 2tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ
bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò và thử nghiệm quy trình phòng trị tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên"
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế trâu, bò ởhuyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
- Xác định khả năng phát triển của trứng và khả năng tồn tại của Êu trùng
giun xoăn dạ múi khế có sức gây bệnh ở ngoại cảnh.
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò
Trang 3Phần 2Tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở gia sóc nhai lại
2.1.1.1 Vị trí của giun xoăn dạ múi khế trong hệ thống phân loại động vật
Giun xoăn ký sinh chủ yếu ở dạ múi khế trâu, bò, bê, nghé gồm nhiều giống loài
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết, họ Trichostrongylidae (Leiper, 1912)
có 3 họ phụ: họ Trichostrongylinae (Leiper, 1908); họ phụ Haemonchinae (Skrjabin
et Schulz, 1952); họ phụ Cooperinae (Skrjabin et Schikhobalova, 1952) Nhiều loài
giun của 5 giống trong 3 họ phụ này ký sinh ở dạ múi khế và ruột non loài nhai lại(trâu, bò, dê, cừu, hươu) Trong điều kiện tự nhiên, tất cả các loài động vật nhai lại
đều bị cảm nhiễm Trichostrongylidae Cụ thể theo Skrjabin K.I và cs (1963) [27];
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11], giunxoăn dạ múi khế có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học nh sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Líp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân líp Rhabditia Pearse, 1942
Bé Strongylida Railliet et Henry, 1913 Phân bé Strongylata Railliet et Henry, 1913 Siêu họ Trichostrongyloidea Cram, 1927
Họ Trichostrongylidae Leiper, 1912 Phân họ Trichostrongylinae Leiper, 1905 Giống Trichostrongylus Looss, 1905 Loài T colubriformis (Giles, 1892) Loài T axei (Cobbold, 1879) Loài T probolurus (Railliet, 1896) Giống Ostertagia Ransom, 1907 Loài O ostertagi (Stiles, 1892) Loài O circumcincta (Stadelmann, 1894) Giống Marshallagia Orloff, 1933
Loài M marshalli (Ransom, 1907)
Trang 4Phân họ Haemonchinae Skrjabin et Schulz, 1952 Giống Haemonchus Cobbold, 1898
Loài H contortus (Rudolphi, 1803) Loài H similis (Travassos, 1914) Phân họ Cooperinae Skrjabin et Schikhobalova, 1952 Giống Cooperia Ransom, 1907
Loài C curticei (Giles, 1892) Loài C punctata (Linstow, 1906) Phân họ Nematodirinae Skrjabin et Orloff, 1934 Giống Nematodirus Ransom, 1907
Loài N oiratianus (Rajevskaia, 1929) Loài N skrjabini (Mizkewisch, 1929) Giống Mecistocirrus Railliet et Henry, 1912 Loài M digitatus (Linstow, 1906)
2.1.1.2 Thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] cho biết, có 7 giống loài phổ biếngồm trên 100 loài, gia sóc nhai lại nhiễm hỗn hợp các giống này, trong đó có 2
giống gây tác hại lớn là Haemonchus và Mecistocirrus 7 giống gồm:
Các loài giun này thường gây bệnh hỗn hợp Trong đó có 3 loài
Haemonchus contortus, Haemonchus similis và Mecistocirrus digitatus gây tác
hại lớn cho ký chủ
Trang 5Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [21], thành phần loài giunxoăn dạ múi khế ở dạ dày trâu, bò Việt Nam nh sau:
Trichostrongylus axei (Cobbold, 1879) Cooperia laterouniformis (Chen, 1937) Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803) Mecistocisrrus digitatus (Linstow, 1906)
Dẫn liệu của Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết, thành phầnloài giun xoăn ký sinh trong dạ dày trâu, bò, dê, cừu và các loài nhai lại hoang dạikhác gồm:
Trichostrongylus axei (Cobbold, 1879) Trichostrongylus colubriformis (Giles, 1892) Ostertagia ostertagi (Stiles, 1892)
Ostertagia circuncincta (Stadelmanm, 1894) Marshalla marshalli (Ransom, 1907)
Haemonchuscontortus (Rudolphi, 1803) Cooperia curticei (Giles, 1892)
Cooperia punctata (Linstow, 1906)
Các nghiên cứu đều thống nhất rằng, các loài giun xoăn dạ múi khế của gia
sóc nhai lại rất phong phú, chúng đều thuộc họ Trichostrongylidae Leiper, 1912.
Giun tròn hình sợi chỉ to hoặc nhỏ Miệng ở tận cùng đầu, xoang miệng không có, ởmột số giun có bao miệng nhỏ nhưng xoang miệng không thể hiện rõ và có thể córăng ở trên thành hoặc ở dưới đáy xoang Ở con đực túi sinh dục phát triển tốt, đại
đa số thùy bên lớn, thùy lưng thể hiện yếu hoặc không có Có hai gai giao hợp, cóhoặc không có bánh lái Âm hộ của con cái nằm sau thân Giun cái đẻ trứng theophân ra ngoài
2.1.1.3 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun xoăn chủ yếu ở dạ múi khế
VÒ hình thái chung, giun xoăn dạ múi khế có thân hình sợi chỉ không phânđốt, cơ thể đối xứng hai bên Bên ngoài được che phủ một lớp Kitin hay còn gọi là
Trang 6lớp biểu bì có các vân, vân ngang hoặc vân chéo (Trịnh Văn Thịnh, Đỗ DươngThái, 1978) [21].
Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [22] mô tả cấu tạo của giun xoăn dạ múi khếgồm các bộ phận sau:
- Hệ tiêu hóa gồm: miệng, môi, túi miệng, thực quản, ruột, hậu môn
- Hệ thần kinh: đơn giản, có vòng dây thần kinh thực quản và các gai cảmgiác toàn thân
- Hệ bài tiết: gồm 2 ống bài tiết chạy từ phần sau của cơ thể lên đến phầnđầu, rồi xuống và đổ ra lỗ huyệt
- Hệ sinh dục của giun đực và giun cái có cơ quan sinh dục đực hoặc cái
* Các loài thuộc giống Haemonchus.
- H cotortus: Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], loài Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803) ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của bò, trâu, dê trên phạm vi toàn
quốc và phổ biến trên toàn cầu Tác giả đã mô tả hình thái H contortus (theo Kamenskii,
1929): giun đực dài 18,7 - 22,3 mm, rộng nhất 0,352 - 0,416 mm Trứng có vỏ mỏng,kích thước 0,080 - 0,085 mm x 0,040 - 0,045 mm Đặc điểm hình thái cấu tạo của loài
Haemonchus contortus mà Nguyễn Thị Lê mô tả ở trên phù hợp với sự mô tả của
nhiều tác giả khác (Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963; Trịnh Văn Thịnh, 1978,1982; Johannes Kaufmann, 1996; Urquharrt, 1996 )
H similis: Thân nhỏ, màu vàng sẫm Gai cổ rất rõ Lỗ bài tiết ở phía trước
cách đầu 0,231 mm Túi miệng rất nhỏ, có răng Quanh miệng có môi bao bọc, phầnsau thực quản phình to Giun đực dài 8,000 - 11,000 mm, rộng 0,232 - 0, 265mm.Giun cái dài 12,500 - 21,000 mm, rộng 0,315 - 0,378 mm Trứng hình bầu dục, cókích thước 0,073 - 0,079 x 0,031 - 0,042 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999[8]) Vỏ trứng mỏng, có phôi bào (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982) [22]
* Loài Mecistocirrus digitatus
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] đã mô tả: giun màu hồng nhạt,biểu bì có vân Túi miệng nhỏ, có 1 răng lớn, thực quản dài 1,600 - 1,800 mm,rất nhỏ, phần sau hơi rộng
Giun đực dài 25,000 - 31,000 mm, giun cái dài 35,000 - 39, 000 mm Trứng dài0,099 - 0,105 mm, rộng 0,046 - 0,049 mm, có hai lớp vỏ mỏng bao bọc
Trang 7* Các loài thuộc giống Trichostrongylus.
Giống Trichostrongylus gồm nhiều loài, trong đó có một số loài quan
trọng ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của gia sóc nhai lại
- T axei (Cobbold, 1879): được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới Ở Việt
Nam, các nhà khoa học đã tìm thấy loài giun này ở các tỉnh Quảng Ninh, LạngSơn Nhiều tác giả đã mô tả (theo Ransom, 1911): giun đực dài 3,4 - 4,5 mm,rộng nhất 0,05 - 0,07 mm Giun cái dài 4,6 - 5,5 mm, rộng 0,055 - 0,075 mm.Kích thước trứng 90 - 92 x 35 - 42 m (Drozdz và Malcrewski, 1967; Phan ThếViệt, 1977; Trịnh Văn Thịnh, 1978 Nguyễn Thị Lê, 1996; Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 2008)
- T colubriformis: Ngoài loài giun T axei còn có một loài, mà theo Skrjabin K.I
và Petrov A.M (1963) [27], điển hình cho giống Trichostrongylus, đó là loài T.colubriformis Theo nhiều tác giả thì loài giun này phổ biến ở bò, dê, cừu trên phạm vitoàn cầu Ở nước ta, phát hiện giun ở dạ múi khế và ruột non bò, dê ở các tỉnh phíaBắc Giun đực dài 4,0 - 6,0 mm, rộng 0,078 - 0,095 mm Giun cái dài 5,0 - 6,0 mm;rộng nhất ở vùng lỗ sinh dục (0,080 - 0,100 mm) Trứng có kích thước 73 - 76 x 40 -
43 m (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [17]
- T probolurus: Giun đực dài 4,300 - 6,500 mm Giun cái dài
4,833 - 6,270 mm, rộng 0,066 - 0,1112 mm Trứng có kích thước0,072 - 0,095 x 0,042 - 0,0582 mm
*Các loài thuộc giống Cooperia.
- C laterouniformis: Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [21] cho biết:
Loài này thân hình sợi chỉ, biểu bì mỏng có vân ngang, vân dọc dài khắp thân;chóp đầu thường có hình một túi phình; thực quản hơi rộng ở phần trên và phầncuối; vòng thần kinh ở khoảng 2/3 thực quản
Giun đực dài 4,944 mm, rộng 0,071 mm Giun cái dài 5,700 mm, rộng nhất0,069 mm; chỗ phình đầu dài 0,023 mm và rộng 0,011 mm; thực quản dài 0,297
mm, rộng nhất 0,069 mm Trứng có kích thước 0,073 - 0,030 mm
- C pectinata: Giun đực dài 7,000 mm, rộng 0,130 - 0,160 mm Giun cái dài
7,500 - 9,000 mm, rộng 0,110 - 0,135 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [8]
- C punctata: Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27], giun cái dài
5,700 - 10,000 mm Giun đực dài 5,000 - 9,000 mm Giun cái dài 5,700 - 10,00 mm
Trang 8* Các loài thuộc giống Nematodirus.
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết:
- N oiratianus: Con đực dài 11,000 - 16,500 mm Con cái dài 14, 500 - 17,6
00 mm Trứng rất lớn, dài 0,255 - 0,272 mm, rộng 0,119 - 0,153 mm
- Loài N skrjabin: Con đực dài 15,500 - 17, 250 mm và rộng 0,124 - 0,183
mm Con cái dài 28,500 - 29,500 mm, rộng 0,450 - 0,650 mm Trứng lớn, dài0,229 - 0,265 mm, rộng 0,084 - 0,114 mm
* Phần lớn trứng giun thuộc họ Trichostrongylidae có hình dạng và
kích thước gần giống nhau nên nếu chỉ căn cứ vào hình thái trứng thì khôngthể xác định được loài giun Theo nhiều tác giả, có thể nuôi trứng
Trichostrongylidae nở và phát triÓn thành Êu trùng có sức gây bệnh Sau đó
phân loại theo khoá định loài của Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] dựa vàohình thái, kích thước và cấu tạo của ấu trùng có sức gây bệnh
Hình 2.1 Các dạng Êu trùng cảm nhiễm bộ Strongylida
1 Haemonchus contortus; 2 Cooperia; 3 Trichostrongylus; 4 Ostertagia;
5 Chabertia; 6 Oesophagostomum columbianum; 7 Oesophagostomum
venulosum; 8 Bunostomum; 9 Nematodirus
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17]
Trang 92.1.1.4 Chu kỳ sinh học của một số loài giun xoăn chủ yếu ở dạ múi khế
- Chu kỳ sinh học (vòng đời) của các loài giun xoăn dạ múi khế tương đối
giống nhau Giun cái đẻ trứng với số lượng lớn trong một ngày Trứng phát triển ởmôi trường bên ngoài thành Êu trùng có sức gây bệnh rồi lại nhiễm vào ký chủ
Hình 2.2 Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế
* Chu kỳ sinh học của Haemonchus sp.
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết: giun cái đẻ trứng, trứngđược bài xuất cùng phân ra môi trường bên ngoài Nhiệt độ của môi trường bênngoài thích hợp cho trứng phát triển tiếp tục là 20 - 300C Trong phân, vào ngày thứhai đã thấy có Êu trùng giai đoạn I nở ra khỏi trứng Những Êu trùng này ăn phân
và sống trong phân một thời gian, nhưng không cảm nhiễm được cho súc vật Ở giaiđoạn này, Êu trùng kém bền vững hơn ở các giai đoạn sau: chúng chết khi phơi khô
và ở nhiệt độ trên 300C Sù thay đổi về nóng và lạnh cũng làm cho Êu trùng bị chết
Ở nhiệt độ 15 - 200C, ấu trùng giai đoạn I chỉ sau 1 đêm đã ở giai đoạn tiềm sinh,kéo dài 12 - 15 giê Trong thời gian này, Êu trùng lột xác, sau đó sống trở lại vàchuyển vào giai đoạn II
Ở giai đoạn II, Êu trùng mất đi khả năng ăn uống và cũng không thể ký sinhđược Qua một ngày sau, đôi khi chưa đến 1 ngày, Êu trùng lại trở lại giai đoạn tiềmsinh lần thứ hai Trong thời gian này, Êu trùng lớn lên, nhưng tầng cutin bao quanh
Trang 10vẫn giữ nguyên và tạo thành nắp Sau khi hình thành nắp thì Êu trùng chuyển vàogiai đoạn III Lúc này, Êu trùng đã có khả năng cảm nhiễm cho động vật Từ khi đẻtrứng đến giai đoạn Êu trùng cảm nhiễm cần thời gian không dưới 4 - 5 ngày.
Ở giai đoạn III, Êu trùng có sức đề kháng đặc biệt Chúng chết trong môitrường Èm khi nhiệt độ 500C và trong môi trường khô khi 600C Những Êu trùngnày đặc biệt chịu được sự khô hạn Khi khô hạn, chúng có thể ở trong trạng tháitiềm sinh trên 1 năm rưỡi Đối với các chất tiêu độc, Êu trùng cũng rất bền vững:dung dịch creolin 2 - 3%, lizol và các chất khác không giết được Êu trùng Êu trùngchết trong dung dịch axit cacbonic 5% không tinh khiết Cũng nh ở giai đoạn I và II,
Êu trùng cảm nhiễm chết dưới tác động của nước tiểu Bởi vậy, trong các chuồngnuôi súc vật không thể tìm thấy Êu trùng sống Phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm
ở trong phân, sau đó Êu trùng tự rời bỏ phân đi nơi khác
Vào mùa đông, Êu trùng ở trên đồng cỏ thường bị chết Mùa hè, Êu trùngcũng có thể bị chết dưới tác động của ánh nắng mặt trời và nhiệt độ cao
Khi Êu trùng chui ra khỏi phân, nếu môi trường xung quanh phân Èm thì Êutrùng có khả năng bò lên phía trên theo vật Èm đó Nếu phân ở trong cỏ thì Êu trùng
sẽ chuyển động theo những ngọn cỏ ở xung quanh Quá trình chuyển động thẳngđứng theo ngọn cỏ xảy ra càng nhanh hơn nữa ở những nơi đồng cỏ thấp, trong cácmùa vụ Èm ướt, trong thời gian mưa nhiều, trong sương mù và khi có nhiều sươngxuống Để Êu trùng có thể bò theo ngọn cỏ không cần phải có lượng Èm nhiều, màchỉ cần một lớp Èm rất Ýt bọc trên cỏ cũng đã đủ cho Êu trùng chuyển động Khi độ
Èm cao, Êu trùng không có khả năng bám vào cỏ, mà rơi xuống cùng với nước vàđược nước mang đến những nơi thấp hơn Bởi vậy, tất cả những nơi đồng cỏ thấp,đầm lầy và các vũng đọng nước mưa là những nơi chính làm cho trâu, bò nhiễm
Haemonchus.
Trong những điều kiện bất lợi (khô hoặc quá ướt) thì Êu trùng cảm nhiễmcuộn tròn lại Nếu Êu trùng bị khô (kể cả trong thời gian dài) được làm Èm ướt thìchỉ sau 20 - 30 phót, Êu trùng sẽ sống trở lại, duỗi thẳng và tiếp tục di chuyển theongọn cỏ Êu trùng giai đoạn III, mặc dù không ăn uống gì, trong điều kiện môitrường Èm vẫn có khả năng sống tới 3 - 4 tháng
Những Êu trùng cảm nhiễm được súc vật nhai lại nuốt cùng thức ăn và nướcuống vào dạ dày Ở đây, chúng "vứt bỏ" vỏ và chuyển sang giai đoạn IV Thực hiện
Trang 11xong 1 lần lột xác nữa, Êu trùng có khả năng ký sinh và hút máu ký chủ Sau 2 - 3 tuần,
Haemonchus trở thành thành thục, con cái bắt đầu đẻ trứng.
Thời gian sống của Haemonchus trong cơ thể gia sóc nhai lại chưa rõ, nhưng
người ta cho rằng, thời gian này không quá 1 năm Càng về sau, giun càng già vàmất đi khả năng tiếp tục ký sinh
Urquhart G M (1996) [36], làm rõ thêm vòng đời của Haemonchus contortus: ấu trùng cảm nhiễm vào ống tiêu hoá súc vật nhai lại, thực hiện hai
lần lột xác trong ống dẫn tuyến Chỉ trước khi lột xác lần cuối chúng mới pháttriển đến giai đoạn lấy máu ký chủ từ những mao quản ở niêm mạc Khi trưởngthành, chúng di chuyển tự do trên bề mặt niêm mạc Thời gian hoàn thành vòngđời ở dê, cừu là 2 - 3 tuần và ở đại gia súc là 4 tuần
* Chu kỳ sinh học của Trichostrongylus sp.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11] cho biết: Nhiều tác giả, khi nghiêncứu về chu kỳ sinh học của giun tròn đều thống nhất: các loài thuộc giống
Trichostrongylus có vòng đời trực tiếp, không cần ký chủ trung gian (nghĩa là
không có sự thay đổi ký chủ) (Direct nematode life cycle) Trứng giun theo phân rangoài, gặp điều kiện thích hợp (nhiệt độ và Èm độ), sau 20 - 24 giờ nở ra Êu trùng
kỳ I Êu trùng này hình gậy, thực quản hình ống và có ruột cấu tạo đơn giản, hoạtđộng mạnh Chúng dùng các loại vi sinh vật ở xung quanh làm chất dinh dưỡng, sau
10 - 30 giờ lột xác thành Êu trùng kỳ II to hơn Êu trùng kỳ I, cấu tạo tương đốigiống nhau Êu trùng này hoạt động rất mạnh và cũng lấy vi sinh vật xung quanhnuôi sống bản thân Sau 12 - 60 giờ thành Êu trùng kỳ III có sức gây nhiễm Trướckhi thành Êu trùng kỳ III, Êu trùng kỳ II không lột xác, màng bọc ngoài trở thànhmàng ngoài của Êu trùng kỳ III Lúc này Êu trùng kỳ III không thể lấy thức ăn ởbên ngoài mà chỉ sống dựa vào thức ăn do Êu trùng kỳ II tích luỹ lại ở trong ruột
Êu trùng ở bên ngoài đến giai đoạn này là kết thúc, chúng có sức đề kháng mạnh, cóthể sống lâu Tuy nhiên, nếu khô hoặc có ánh nắng Êu trùng dễ chết
Khi gia sóc nhai lại ăn cỏ, uống nước có Êu trùng gây nhiễm, vào đường tiêuhoá, Êu trùng mất màng ngoài, tiếp tục phát triển, lột xác thành Êu trùng kỳ IV, lạitiếp tục phát triển, lột xác thành Êu trùng kỳ V và phát triển thành giun trưởng thành(Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963) [27], Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [7]
Trang 12* Vòng đời của Mecistocirrus digitatus
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1997) [12] cho biết: Loài này có vòng đời
cơ bản giống vòng đời của Haemonchus Êu trùng gây nhiễm qua thức ăn nước
uống vào đường tiêu hóa vật chủ Sau 3 ngày một số Êu trùng xâm nhập vào tuyếnniêm mạc dạ múi khế hoàn thành vòng đời là 59 - 82 ngày Tuổi thọ của giun 9 - 12tháng
2.1.2 Bệnh giun xoăn dạ múi khế ở gia sóc nhai lại
2.1.2.1 Thiệt hại kinh tế do bệnh giun xoăn dạ múi khế gây ra
Nguyễn Phước Tương (2002) [24] cho biết: Chăn nuôi trâu, bò ở nước tađang được chú trọng phát triển Tuy vậy, số bê, nghé chết cao, chủ yếu là do bệnhtruyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng Trong đó có bệnh giun xoăn dạ múi khế Giun
ký sinh trong đường tiêu hóa, hút máu của trâu, bò, gây tổn thương cơ học, tiết độc
tố làm cho con vật gầy yếu, mở đường cho vi khuẩn, virút xâm nhập và gây bệnhcho trâu, bò
Việc điều trị chỉ được tiến hành khi gia súc đã mắc bệnh nặng, khả năng càykéo kém nên gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi
Bệnh giun xoăn dạ múi khế gây ra bởi O ostertagi là bệnh có thể lây sang
người Người mắc bệnh này khi ăn rau sống được bón phân trâu, bò mắc bệnh.Trứng, Êu trùng có sức gây bệnh khi vào ống tiêu hóa của người sẽ phát triển thành
Êu trùng kỳ IV, kỳ V, sau đó phát triển thành giun trưởng thành ký sinh tại ruộtnon
2.1.2.2 Đặc điểm dịch tễ học của các bệnh giun xoăn dạ múi khế
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11], bệnh giun xoăn dạ múi khế cóliên quan tới điều kiện thời tiết, khí hậu, mùa vụ và tuổi con vật
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] cho biết, bệnh phân bố rất rộng, có ởtất cả các vùng miền núi, trung du và đồng bằng Tỷ lệ nhiễm ở gia sóc nhai lại từ30,7 - 100% Gia sóc nhai lại ở mọi lứa tuổi đều nhiễm giun xoăn, nhưng nói chunggia súc trưởng thành có sức đề kháng mạnh hơn gia sóc non, gia súc gầy sút, gia súcgià yếu sức đề kháng giảm
Soulsby E J L (1982) [34] cho rằng: nhìn chung, sự phát triển của các giun
xoăn họ Trichostrongylidae ở giai đoạn sống tự do (ngoài ngoại cảnh) phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu Ở nước Anh, Êu trùng có thể phát triển đến giai đoạn gâynhiễm trong 2 tuần, nhưng thường thì dài hơn và phụ thuộc vào khí hậu Súc vật
Trang 13nhai lại nhiễm giun ở tất cả các tháng trong năm, nhưng nhiễm nhiều và nặng hơn ởnhững tháng mùa hè Êm và Èm.
Nguyễn Hữu Vũ và cs (2000) [25] cho rằng, gia súc mắc bệnh nhiều vào vụ
Hè và tăng vào vụ Thu Đường truyền bệnh chủ yếu là do những con mắc bệnh thảitrứng theo phân ra đồng cỏ, bãi chăn, khi gia súc uống nước có lẫn Êu trùng dễ nuốtphải Êu trùng có sức gây nhiễm Bệnh nhiễm ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều hơn ở giasóc non dưới 1 năm tuổi (Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963 [27])
Theo Phan Địch Lân và cs (1989) [14], trứng và Êu trùng có có sức đềkháng mạnh, nhiệt độ thích hợp nhất cho trứng phát triển là 33,30C Nhưng nếu vớinhiệt độ đó mà Èm độ cao (96%) thì trứng không phát triển được Êu trùng gâynhiễm ở nơi Èm ướt, nhiệt độ 500C mới chết, nơi khô cạn phải 600C mới chết Êutrùng gây nhiễm sống được ở nơi khô cạn 1 năm Dung dịch CuSO4 có thể diệt trứnggiun trong 8 giờ rưỡi và diệt Êu trùng trong vòng 3 giê, DDT 1% không diệt đượctrứng
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Thế Hùng (1994) [6], Nguyễn Thị Kim Lan và cs(1998, 2000) tỷ lệ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở dê tăng lên vào vụ Hè - Thu, giảm
đi vào vụ Đông - Xuân; tỷ lệ nhiễm cao ở dê dưới 1 năm tuổi Bệnh phân bố rộng,các cơ sở nuôi dê ở vùng núi, trung du và đồng bằng đều có bệnh, tỷ lệ nhiễm từ71,79 - 74,63%
Từ những công trình nghiên cứu và nhận xét của nhiều tác giả, có thể thấy
một điều rất rõ là: "Sự tồn tại và phát triển của sinh vật (trong đó có các loài giun xoăn) tại một nơi nào đó thường phụ thuộc vào tổ hợp các điều kiện môi trường, trong đó khí hậu là một trong những điều kiện quan trọng ảnh hưởng sâu sắc nhất"
(Trần Đức Hạnh và cs, 1997) [4]
2.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun xoăn dạ múi khế
Sau khi xâm nhập vào dạ múi khế và ruột non, giun bám chắc và chọc thủngniêm mạc để hút máu ký chủ, gây viêm, loét niêm mạc và chảy máu mao mạch.Ngoài ra, nhiều giun còn cắm sâu đầu vào các ống dẫn tuyến trong dạ múi khế vàgây viêm các ống tuyến đó Khi hút máu, chúng tiết ra độc tố làm máu không đông,gây hiện tượng ngộ độc cho cơ thể ký chủ Vì vậy, khi giun không hút máu nữamáu vẫn chảy và theo phân ra ngoài Quá trình tiến triển nặng hơn nếu ghépcùng với các bệnh do các loài giun khác gây nên Theo Nguyễn Thị Kim Lan và
cs (1999) [8], gia sóc khi bị nhiễm giun xoăn dạ múi khế sẽ ảnh hưởng tới tìnhtrạng sức khỏe, làm giảm sức sản xuất của con vật
Trang 14Tác hại của giun xoăn dạ múi khế thể hiện qua 5 tác động sau:
- Tác động cơ giới: Êu trùng và giun trưởng thành hút máu ký chủ,
miệng bám chặt vào niêm mạc ruột và dạ múi khế tạo thành các nốt loét xuấthuyết
- Tác động tiết độc tố: Độc tố do chúng tiết ra làm máu ký chủ không đông,
độc tố làm ký chủ trúng độc; gầy còm, thiếu máu, rối loạn tiêu hóa, thủy thũng.Giun xoăn kích thích niêm mạc dạ dày, cản trở tiết men Pepsinnogen, ảnh hưởngđến tiêu hóa chất xơ
- Tác động chiến đoạt chất dinh dưỡng: Giun nuôi dưỡng bản thân bằng máu ký
chủ, và tiết độc tố làm máu không đông, gây xuất huyết, con vật bị thiếu máu nghiêm trọng
- Tác động truyền bệnh: Giun bám chặt vào niêm mạc gây tổn thương, phá
vỡ vòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn từ môi trường xâm nhập gâynên các bệnh ghép với các bệnh ký sinh trùng
2.1.2.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun xoăn dạ múi khế
*Bệnh do Haemonchus contortus
Giun H contortus gây tác hại lớn cho gia sóc nhai lại Haemonchosis gây ra rối
loạn nặng toàn cơ thể: tổn thương đường tiêu hoá, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn và các
tuyến nội tiết Con vật mắc Haemonchosis bị kiệt sức nhanh, thiếu máu nặng, thấy
có những biến đổi bệnh lý trong não và tuỷ sống Skrjabin K.I và Petrov A.M
(1963) [27] đã giải thích nh sau: sau khi xâm nhập vào dạ múi khế, H contortus
bám chắc và chọc thủng niêm mạc, gây ra chảy máu mao mạch Ngoài ra, nhiềugiun còn cắm sâu đầu vào các ống dẫn tuyến trong dạ múi khế và gây viêm các ống
đó Haemonchus hút máu ký chủ Khi ăn máu Haemonchus thải ra độc tố đặc biệt
làm ngộ độc cơ thể ký chủ
Khi súc vật nhiễm bệnh nặng, niêm mạc dạ múi khế bị phủ một lớp màngdày lên, có những chỗ chảy máu Các chất trong dạ múi khế thường loãng và cómàu nâu Ở con vật mắc bệnh thường thấy dạ múi khế viêm cataz mãn tính, vì vậylượng thức ăn ở đây không được thấm đầy đủ dịch vị Thức ăn chuyển từ dạ múikhế vào ruột ở dạng bán nhuyễn thể nên mức hấp thu vào máu cũng giảm đi Độc tốcủa giun làm cho con vật bệnh kiệt sức, thiếu máu và bị phù Con vật chết vì suymòn do thiếu máu
Trang 15Quá trình tiến triển của Haemonchosis lại càng nặng hơn khi con vật bị bệnh ghép cùng với những Trichostrongylus khác Điều này hầu như thường xuyên xảy
ra, vì theo nguyên nhân bệnh, người ta thường gọi những bệnh đó là
Trichostrongylidosis (nghĩa là vật bị Haemonchosis ghép với các bệnh giun xoăn
khác.Trâu, bò, dê, cừu bị Haemonchus thì mệt mỏi, chậm chạp, kiệt sức, niêm mạc
thiếu máu, có thể bị ỉa chảy xen lẫn táo bón Súc vật non thường không đứng đượcphải nằm dệt Vật dễ chết nếu mắc bệnh nặng
Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [21], bệnh giun xoăn ở dạ dày
và ruột dê giống Mông Cổ nhập nội, do các loài Haemonchus contortus, Trichostrongylus và Oesophagostomum Có trường hợp đã thấy 1200 - 1500 Haemonchus ở dạ múi khế 1 dê (cao nhất có thể đến 4 - 5 nghìn giun) Theo tác giả,
khi có đến 600 giun trong cơ thể dê đã thấy các triệu chứng: thiếu máu, gầy sút, rốiloạn tiêu hoá, lúc đi tả lúc đi táo, kém ăn, đi tụt lại sau đàn; con đực nhảy kém.Bệnh thấy ở tất cả các lứa tuổi, nhưng nặng nhất ở dê dưới 1 năm tuổi Bệnh phátmạnh vào mùa Hè - Thu
Những biến đổi bệnh lý và lâm sàng ở súc vật bệnh còn chịu ảnh hưởng củachế độ chăm sóc nuôi dưỡng Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11] cho biết, triệu
chứng và những biến đổi bệnh lý của Haemonchosis thể hiện ở những gia súc được
nuôi dưỡng kém rõ rệt hơn là những con vật được nuôi dưỡng bình thường
Mất máu nên cơ thể bị thiếu máu nghiêm trọng là triệu chứng thấy rất rõ ở gia
súc mắc bệnh do Haemonchus Andrews (1942) đã xác định lượng máu thải theo phân ở hai cừu con nhiễm liều chí tử Êu trùng Haemonchus Sau khi nhiễm 6 - 10
ngày, phân bắt đầu có máu Trong 10 ngày tác giả tính được ở một con mất 1,5 lítmáu, còn con kia mất 2,4 lít máu trong phân (Dẫn theo Skrjabin, 1963; Trịnh VănThịnh và cs, 1982; Phan Địch Lân và cs, 1989; Phạm Văn Khuê và cs, 1996)
Về biểu hiện lâm sàng của con vật bị Haemonchosis, Phan Địch Lân,
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2002) [15] cho biết, ngoài các triệu chứng thiếu máu,kém hoạt động, ăn uống giảm sút, kiết lỵ và táo bón xen kẽ, con vật còn bị thuỷthũng dưới cổ, trước họng và ngực Biểu hiện rõ rệt nhất là ở những chỉ số máu:giảm hồng cầu, giảm huyết sắc tố, bạch cầu tăng Khi quá yếu, con vật thường chết
Có thể gặp Haemonchosis ở ba dạng hay là ba giai đoạn Skrjabin K.I và
Petrov A.M (1963) [27] đã phân biệt ba giai đoạn đó nh sau:
Trang 16- Trong giai đoạn đầu, ở dạ múi khế có số lượng Haemonchus không nhiều
lắm (một con đến một vài trăm con) Trường hợp này triệu chứng lâm sàng khôngxuất hiện
- Trong giai đoạn hai, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích (biến đổi giải phẫubệnh lý) cũng chưa thể hiện rõ rệt Số lượng giun nhiều hơn ở giai đoạn một
Giai đoạn một và hai của Haemonchosis không thể coi là nguyên nhân làm
vật chết, nếu như không ghép cùng với các bệnh khác
- Giai đoạn ba là giai đoạn con vật thể hiện triệu chứng điển hình, số lượnggiun nhiều hơn hai giai đoạn trên
Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [9] đã theo dõi 41 dê bị bệnh giun xoăn dạ múikhế, thấy: 82,93% thiếu máu nặng, 100% gầy xơ xác, 63,41% ỉa lỏng liên miên,36,59% ỉa chảy xen táo bón từng đợt, 39,02% bị thuỷ thũng ở ngực, bụng và 4 chân
Mổ khám dê chết do giun xoăn dạ múi khế thấy, niêm mạc dạ múi khế phủ màng dầy,
có nhiều chỗ chảy máu Chất chứa trong dạ múi khế thường loãng, màu nâu Dạ múikhế và ruột non viêm cataz mãn tính, niêm mạc thuỷ thũng, có nhiều mụn loét Trongchất chứa dạ múi khế và trên niêm mạc có nhiều giun xoăn ký sinh
Theo Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2002), dê bị bệnh giunxoăn dạ múi khế thường thiếu máu, kém hoạt bát, ăn uống sút kém, ỉa chảy và táobón xen kẽ Thuỷ thũng dưới cổ, trước bụng, ngực và 4 chân Con vật gầy yếu dần,
đi lại khó khăn, hay bị bỏ rơi sau đàn Khi quá gầy yếu và thiếu máu, con vật chết
*Bệnh do các loài giun xoăn khác ở dạ múi khế
Một số loài giun thuộc giống Trichostrongylus, Cooperia, Mecistocirrus ký
sinh ở dạ múi khế có thể gây bệnh cho gia sóc nhai lại, hoặc hỗn hợp nhiều loài,hoặc riêng lẻ từng loài
Bệnh lý của Trichostrongylosis phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm Người
ta đã biết là gia súc bị chết khi nhiễm tới 60 - 120 nghìn Êu trùng cảm nhiễm
Trichostrongylus axei Những con vật non nhiễm mức độ nặng chậm lớn và kém
phát triển Bệnh chia làm hai thời kỳ Thời kỳ thứ nhất - cấp tính, kéo dài gần 6 tuần(ở thời kỳ này một số con non bị cảm nhiễm nặng, ngừng phát triển, sút cân và chết
Mổ khám thấy dạ múi khế bị viêm cấp tính có kèm theo những nốt loét) Thời kỳthứ hai - mãn tính, triệu chứng giảm dần, con vật lên cân, những nốt loét trong dạ
Trang 17múi khế dần dần lành thành sẹo Giun Trichostrongylus gây bệnh yếu hơn Haemonchus (Skrjabin K.I và Petrov A.M,1963) [27].
Theo Drozdz và Malczewski (1967) [26], vai trò gây bệnh của các loài giun
thuộc giống Trichostrongylus như sau: trong giai đoạn Êu trùng, giun xâm nhập
niêm mạc dạ múi khế và tá tràng, gây tác động đầu độc ở cục bộ và toàn thân, biểuthị bằng sự thiếu máu dần, ỉa chảy và suy nhược ở con vật bệnh Beker và Douglas
cho biết, bệnh do Trichostrongylus có triệu chứng thiếu máu là do tuổi thọ của hồng
cầu ngắn đi 5 lần và tuỷ xương không còn khả năng tái sinh hồng cầu để bù lại.Nhưng nếu súc vật được nuôi tốt thì không có những tổn thương về máu Vì lý do
này mà một số nhà nghiên cứu cho là, sự thiếu máu trong bệnh do Trichostrongylus
ở gia súc nuôi dưỡng kém có thể là do giun chiếm đoạt những nguyên tố vi lượng
có trong ruột ký chủ Khi cảm nhiễm nặng, thấy viêm cấp tính niêm mạc dạ múikhế, trên đó có những tổn thương hình miệng phễu đường kính 0,25 - 20 mm, bờtrắng, lồi Súc vật ốm giảm uống nước, tăng cân rất Ýt hoặc sút cân
Trong bệnh do Cooperia, người ta thấy quá trình viêm ở ruột non dẫn đến
tổn thương niêm mạc, trên niêm mạc hình thành những hạt màu trắng Tuyến lâm ba
bên cạnh bị teo Tác động toàn thân của giun Cooperia theo Andrews (1938)
-biểu hiện bằng sự trao đổi vật chất tăng nhanh ở súc vật bệnh, kèm theo giảm đồnghoá thức ăn làm cho con vật bị giảm thể trọng Những gia súc gây nhiễm thí nghiệm
dù nuôi tốt hơn những con đối chứng nhưng vẫn tăng trọng Ýt (Drozdz vàMalcrewski, 1967; Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996)
Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27], khi con vật bị bệnh nặng,
Cooperia có thể gây ra viêm niêm mạc ruột Một số giun Cooperia (Cooperia punctata) có thể xâm nhập vào thành ruột, gây viêm và tạo thành áp xe ruột Các hạch
lâm ba gần đó bị sưng, thoái hoá bã đậu Êu trùng giun khi cư trú trong niêm mạc ruột
tạo thành những hạt ký sinh, kích thước từ 3 - 5 mm Vật nhiễm Cooperia nặng bị rối
loạn chức năng tiêu hoá, ỉa chảy và kiệt sức, có thể chết vì bệnh quá nặng
Mamedov A K (1959) thấy rằng, ở trong tuyến hạ vị Cooperia punctata
bám chắc sâu vào nhu mô bằng phần trước của chúng, chứng tỏ là có sự cư trú ngẫunhiên của giun này trong tuyến hạ vị
Mecistocirrus digitatus cũng sống bằng máu ký chủ như nhiều loài giun xoăn
khác Vai trò gây bệnh của nó (theo Ivaszkin, 1949) là: giun lấy dinh dưỡng bằng
Trang 18máu và phá hoại niêm mạc nơi giun sống, gây viêm niêm mạc, do đó gây nên nhữngrối loạn tiêu hoá Bệnh làm con vật kiệt sức, giảm hiệu suất và thường dẫn đến chết.
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết, giun Mecistocirrus digitatus là loài giun ăn máu Bệnh làm gia sóc non kém phát triển và thường thấy
chết vào mùa xuân Mổ khám thấy hiện tượng viêm cataz dạ múi khế, niêm mạc bịxuất huyết điểm hoặc xuất huyết vùng
Nhiều tác giả khác (Trịnh Văn Thịnh, 1978; Trịnh Văn Thịnh, 1982; PhạmVăn Khuê và Phan Lục, 1996; Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) cũng thống nhất với các
tác giả trên về bệnh lý và lâm sàng của Mecistocirrosis.
2.1.2.6 Chẩn đoán bệnh giun xoăn dạ múi khế
Nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán bệnh do các loài giun thuộc họ
Trichostrongylidae gây nên, nhiều tác giả khẳng định: không thể chẩn đoán chính
xác bệnh nếu không tiến hành các phương pháp tìm trứng giun trong phân
Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27]; Trịnh Văn Thịnh (1963) [20],kết hợp quan sát triệu chứng trên con vật còn sống với xác định trứng bằng cách soiphân Triệu chứng có thể thấy là viêm dạ dày ruột mãn tính, ỉa chảy xen táo bón Soiphân bằng phương pháp phù nổi dễ thấy trứng Mổ khám con vật chết cũng cần phảilàm để tìm giun ở dạ múi khế và tá tràng; thấy được ngay những loài lớn (2 - 3 cm),còn những loài nhỏ (4 - 5 mm) thì phải dùng kính lúp hoặc kính hiển vi (phóng đại 20
- 30 lần) Trịnh Văn Thịnh cho biết: ký sinh trùng thường dễ thấy, vì có hàng trăm,hàng nghìn giun thuộc nhiều loài cùng ở lẫn với nhau Cũng cần chú ý đến sự lưuhành của bệnh: bệnh rất nặng, thường làm 1/2 số súc vật mắc bệnh chết, 1/2 số cònlại bần huyết đến nỗi giá trị giảm tới 50%, khi mổ thịt thường phải giữ lại vì gầy rạc.Bệnh đáng sợ hơn ở súc vật nuôi đàn (dê, cừu), vì chỉ cần đưa 1 con ốm vào là đủ làmlây bệnh sang cả đàn Con non dị cảm với bệnh hơn con trưởng thành Các giốngnhập nội vào nước ta dễ mắc bệnh nặng và dễ chết Đặc điểm dịch tễ học của bệnh lànhững căn cứ góp phần xác định chính xác hơn
Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [22]; Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [7]
cho biết, để chẩn đoán bệnh do Haemonchus và Mecistocirrus không thể chỉ căn cứ
vào triệu chứng lâm sàng, vì đối với con vật còn sống, triệu chứng lâm sàng khôngđiển hình Mặt khác, trứng khó phân biệt với các loài khác nên khó xác định Theocác tác giả thì có thể xét nghiệm phân theo phương pháp sau: nuôi trứng cho nở
Trang 19thành Êu trùng (lấy phân con vật nghiền nát, trộn lẫn với đất vô trùng, cho vào đĩalồng, giữ cho độ Èm 60 - 70%, nhiệt độ 25 - 300C, pH: 6,8 - 7,4; nuôi trong 4 - 5ngày Sau đó phân lập Êu trùng theo phương pháp Baerman, xem kính hiển vi tìm
Êu trùng) Whitlock H V (1956) đề nghị kỹ thuật cấy phân dê, cừu nh sau: choxuống đáy 1 lọ nhỏ một lớp bông dầy 1 cm, đổ đầy phân đã nghiền nát vào lọ Lấyống hút bơm nước chảy theo bê trong của lọ cho đến khi ướt bông ở đáy Cho lọnhỏ này vào 1 cái lọ to và đổ nước vào lọ to cho đến khi mặt nước xâm xấp ngangmiệng cái lọ nhỏ thì thôi Đậy lọ to lại và cho vào tủ Êm 270C trong 8 ngày Những
Êu trùngnở ra sẽ bò lên miệng lọ nhỏ bên trong và tràn vào nước ngoài lọ to Lấynước Êy cho vào ống nghiệm, để lắng cặn trong 3 giờ Gạn nước trên đi, tìm Êutrùng trong cặn
Sau khi lấy được Êu trùng sống và rất di động, phải giết Êu trùng bằng cáchthêm vào nước chứa Êu trùng vài giọt dung dịch Iod + Ioduar kali có 2% Iod (Iod2g + Ioduar kali 4g + Nước 100 ml; bắt đầu hoà tan Ioduar kali trong 20 ml nước,thêm Iod bột và khi Iod đã tan hết thì thêm cho đủ nước); hoặc làm nóng vừa phải
để giết Êu trùng Theo Premvati (1958), nhóng Êu trùng vào một dung dịch (Bleucresyl + gôm arabic + formol nhẹ) trong 20 - 25 phút, có thể làm cho dễ quan sátnhững đặc điểm về cấu tạo Kiểm tra dưới kính hiển vi với độ phóng đại 75 - 100lần và chú ý những đặc điểm sau để chẩn đoán
- Có hay không có vỏ bọc Êu trùng và số lượng các vỏ bọc Êy
- Chiều dài của Êu trùng (kể cả vỏ)
- Chiều dài của đuôi (đo từ hậu môn đến điểm chót của thân thể)
- Hình dạng đuôi, vỏ của Êu trùng
- Số lượng và hình thái các tế bào ruột
Ngoài các phương pháp trên, đối với gia sóc nhai lại còn sống, có thể chẩnđoán bằng phương pháp miễn dịch học
Kháng nguyên chẩn đoán chế từ giun trưởng thành, Êu trùng hoặc dịch trong
cơ thể Êu trùng Có thể pha loãng thành các nồng độ khác nhau từ 1: 5000 đến 1:10.000 Dùng kháng nguyên tiêm trong da, tiêm dưới da, nhỏ mắt, làm phản ứnglắng cặn, phản ứng kết hợp bổ thể , nhưng thường dùng phương pháp tiêm trong
da (tiêm nội bì) Liều tiêm kháng nguyên thường dùng là 0,1 - 0,5 ml Sau khi tiêm
3 - 15 phót, theo dõi sự biến đổi ở nơi tiêm Nếu nơi tiêm sưng to, xung quanh đỏ,
Trang 20đường kính khoảng 2 - 4 cm thì phản ứng dương tính, ngược lại là âm tính (TrịnhVăn Thịnh và cs, 1982) [22]; (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [7] Hiện nay,
có thể chẩn đoán bệnh giun sán bằng một số phương pháp nh phương phápmiễn dịch huỳnh quang, miễn dịch men ELISA Tuy nhiên, các phương phápnày còn Ýt được sử dụng trong thó y mà chủ yếu được dùng trong y học(Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [17]
2.1.2.7 Phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế
*Điều trị bệnh
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, chúng ta đã thấy vai trò gây bệnh của
những giun tròn thuộc họ Trichostrongylidae là rất nghiêm trọng Vì vậy, cần có
các biện pháp điều trị hiệu quả
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [20] có thể áp dụng kết hợp 3 biện pháp trong
chữa Trichostrongylidosis Đó là:
- Cách ly súc vật ốm và tẩy giun kịp thời bằng các thuốc: CuSO4 (dung dịch1/100 trong nước mưa), liều 15 - 150 ml/con (tuỳ theo lứa tuổi và trạng thái sứckhoẻ con vật); hoặc dùng thuốc Phenothiazin (0,2 g/kgTT trâu, bò; 0,5 g/kgTT dê,
cừu) trong 2 ngày Thuốc có tác động nhiều nhất đến giống Haemonchus.
- Tránh không cho nhiễm bệnh trở lại bằng cách không chăn lại vào đồng cỏ
đã nhiễm mầm bệnh trong 1 năm
- Bồi dưỡng con vật ốm
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] xác định, vấn đề chữa bệnh giunxoăn dạ múi khế gia sóc nhai lại phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của ký sinhvật Khi thấy bệnh ở giai đoạn ba thì cần tiến hành chữa cho cả đàn, không phụthuộc vào mùa vụ nào Khi thấy giai đoạn hai xuất hiện, cần phải chọn những con
ốm và những con nghi mắc bệnh ra để chữa, không phụ thuộc vào thời gian nào.Khi thấy bệnh ở giai đoạn một thì tiến hành tẩy giun theo kế hoạch mùa thu và mùaxuân, vào thời gian nuôi nhốt Để chữa bệnh, dùng Phenothiazin, cho uống dướidạng viên lớn hoặc nước nhũ tương Các chất để làm nhũ tương có thể là dung dịchGelatin 1%, bét bentonit
Drozdz và Malcrewski (1967) [26] cho rằng, Phenothiazin là một trongnhững thuốc căn bản nhất và thường được sử dụng để chống những bệnh do ký sinh
Trang 21vật ở dạ dày, ruột gia sóc nhai lại Thuốc này sử dụng dưới hình thức dung dịchkhông bền vững trong nước, hoặc hình thức viên, nang, bánh nhưng thường dùngtrộn vào thức ăn, không cần nhịn ăn và dùng thuốc tẩy Tác giả cho là Phenothiazin
tác dụng tốt hơn với giun Haemonchus, Trichostrongylus, nhưng với Cooperia và Ostertagia thì thuốc có tác dụng yếu Thuốc cũng có tác dụng khác nhau với các
giai đoạn phát triển khác nhau của giun Nói chung, thuốc này tác dụng yếu với giunchưa trưởng thành, điều đó dẫn đến sự cần thiết điều trị nhắc lại Phenothiazintương đối Ýt độc, nhưng những loài gia sóc nhai lại khác nhau phản ứng với thuốckhác nhau Dê nhạy cảm nhất với thuốc, bò Ýt nhạy cảm hơn, còn cừu lại chịu đượcmột liều tới 400g Thuốc thải trừ theo đường mật, nước tiểu và sữa trong 48 giờ đầu
và kéo dài 3 - 5 ngày Ngoài ra, các thuốc Ronnel, Trolen (liều 100 mg/kgTT) rất
hiệu nghiệm với Haemonchus.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [22]; Phan Địch Lân và cs (1989) [14];Phạm Văn Khuê và cs (1996) [7], có thể dùng các thuốc sau điều trị bệnh giun xoăn
dạ dày và ruột loài nhai lại:
- Phenothiazin: hiệu quả tốt, liều 0,2 g/kgTT (bò, trâu), 0,5 - 1 g/kgTT (dê,cừu) Có thể trộn lẫn thuốc với nước cháo đun nóng, nồng độ 2,5 - 3%, cứ 100 mlnước cháo trộn với 10 g thuốc
- Dung dịch sulfat đồng 1% cũng có tác dụng với giun Liều dùng:
Gia súc nhỏ: 15 - 20 ml/con
Gia súc trưởng thành: 80 - 150 ml/con
Đối với dê, dùng liều thấp hơn (dê lớn không quá 60 ml)
Đối với bê, dùng liều 2 - 3 ml/kgTT
Trong thời gian chăn dắt người ta dùng liều thuốc nhỏ: sulfat đồng với muối
ăn, theo tỷ lệ 1: 100; sulfat đồng với Phenothiazin và muối, tỷ lệ 1: 5: 100 cho
ăn trong cả thời gian chăn dắt, nếu thời tiết nóng thì ngừng độ 2 - 4 tuần
Khi pha sulfat đồng cần chú ý pha với nước cất hoặc nước mưa sạch, khôngdùng dụng cụ kim loại, pha xong dùng ngay Cho uống thuốc qua ống cao su mộtđầu có phễu, không để thuốc lọt vào khí quản Nếu con vật trúng độc, cho ăn trứng
gà hoặc uống 5 - 10 g Magie oxyt (MgO)
Trang 22Jorgen Hansen và Brian Perry (1994) [30] cho biết, những loại thuốc có tácdụng điều trị giun và cả Êu trùng giun trong cơ thể cừu là: Albendazole, Febantel,Fenbendazole, Oxfendazole, Levamisole và Ivermectin.
Johannes Kaufmann (1996) [29] còng cho biết, những hoá dược có tác dụngdiệt giun xoăn dạ dày - ruột ở trâu, bò và cừu: Albendazole, Febantel,Fenbendazole, Ivermectin, Levamisol, Netobimin, Morantel tartrate, Oxfendazole Kieran P J (1994) [33] nghiên cứu và cho thấy, thuốc Moxidectin với liều chỉđịnh là 0,2 mg/kgTT có thể tránh được một số chủng giun tròn ở loài nhai lại mànhững chủng này đã thể hiện sự kháng lại thuốc Ivermectin Thuốc Moxidectin tá ra
có khả năng phòng chống tốt hơn với cả 3 giống giun phổ biến là Haemonchus, Ostertagia và Trichostrongylus Tác giả khuyến cáo, trong những chương trình điều
trị chiến lược, nên dùng Moxidectin để giảm những rủi ro về sự tăng khả năngkháng lại thuốc của giun
Theo Nguyễn Phước Tương (1994) [23], thuốc có tác dụng điều trị
Trichostrongylidosis (tác dụng với cả giun trưởng thành và còn non, đồng thời làm
giảm sức sống của trứng giun trước khi bài xuất ra ngoài), gồm:
- Albendazole : liều 5 - 10 mg/kgTT Cho uống dạng nhũ tương dầu
- Asuntol : liều 8 mg/kgTT Cho uống
- Fenbendazole : liều 5 mg/kgTT Cho uống
- Levamisole : liều 7,5 mg/kgTT Cho uống
- Mebendasole : liều 15 - 20 mg/kgTT Cho uống
- Mebenvet : liều 150 - 200 mg/kgTT Cho uống
- Oxfendazole : liều 5 mg/kgTT Cho uống
- Oxibendazole : liều 10 - 15 mg/kgTT Cho uống
Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp (1997) [5] cho biết: Phenothiazin,Thiabendazole, Tetramisole là những thuốc có hiệu quả tẩy giun xoăn ký sinh ở dạ dàyruột loài nhai lại rất tốt Phenothiazin có tác dụng tốt với giun trưởng thành nhưng tácdụng yếu với Êu trùng và giun non Do đó, sau 4 tuần cần điều trị lại Dùng liều khôngquá 20 - 25 gam/lần Nếu dùng quá liều và kéo dài làm cho con vật bị thiếu máu, bỏ ăn,thiếu sắc tố trên da và dẫn tới viêm hoá sừng (Keratitis) Thiabendazole là thuốc tương
đối mới, có tác dụng rất tốt với giun Haemonchus, Ostertagia, Trichostrongylus, Cooperia Có thể dùng liều chung là 50 - 100 mg/kgTT Thuốc Tetramisole có hiệu lực
Trang 23tẩy với cả giun trưởng thành và Êu trùng, cho uống liều 15 mg/kgTT hoặc tiêm dưới dadung dịch 3 - 10%.
Dùng thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế cho dê, Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [9]
đã báo cáo kết quả như sau: Thuốc Niclosamid - tetramisole B (liều 66 mg/kgTT),Oxfendazole (liều 5 mg/kgTT), Levamisole (liều 7 mg/kgTT), Mebenvet (liều
130 mg/kgTT) và Vermitan (liều 35 mg/kgTT) có hiệu lực tẩy sạch giun xoăn
dạ múi khế tương ứng là: 97,14%; 100%; 97,5%; 96,77% và 96,67%
*Vấn đề phòng bệnh
Theo quan điểm của Skrjabin K.I (1944) muốn diệt trừ bệnh giun sán, phải
dự phòng có tính chất chủ động: dùng tất cả các phương pháp cơ giới, vật lý (ánhsáng, độ nóng), hoá học (thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) đểtiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt giun sán ở ngoại cảnh, tiêu diệt giunsán ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, Êu trùng, giun sán trưởng thành)
Trên cơ sở đó, việc phòng bệnh giun xoăn dạ múi khế phải đạt được các yêucầu sau:
- Điều trị cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bịnhiễm mầm bệnh, tránh mầm bệnh nhiễm vào các con vật khác Sau khi tẩy phảidiệt trừ tất cả giun và trứng được thải ra ngoài để ngăn ngừa mầm bệnh phát tán
- Định kỳ dùng thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế, chống tái nhiễm, bội nhiễm
- Tập trung phân để xử lý diệt mầm bệnh
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] đã vận dụng học thuyết Skrjabin.K.I để đưa
ra biện pháp phòng chống các bệnh giun sán Tác giả cho rằng, biện pháp hữu hiệu
để phòng chống các bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng chống tổng hợp,nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định đồng thời sử dụng nhiều biện pháp cóhiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của giun sán ở môi trường cũng nhưtrong cơ thể ký chủ
Nh vậy, khâu quan trọng trong biện pháp phòng chống tổng hợp là tẩy giunxoăn dạ múi khế cho gia sóc nhai lại Có thể tẩy giun còn non và giun trưởng thành.Nhưng thực tế trong điều kiện khí hậu nóng Èm của Việt Nam, mầm bệnh giunxoăn dạ múi khế hầu nh tồn tại và phát triển quanh năm Vì thế, trong cùng một cơthể động vật, đồng thời tồn tại nhiều cá thể giun ở các giai đoạn phát triển khácnhau Tuy vậy, tốt nhất là chọn loại thuốc tẩy được cả giun non, nghĩa là khi chúng
Trang 24chưa đạt đến giai đoạn trưởng thành, để tránh mầm bệnh phát tán ra môi trườngngoài
Nguyễn Thị Lê (1996) [17] khuyến cáo rằng, để tẩy giun đạt hiệu quả cầnbiết một số yêu cầu sau: chẩn đoán bệnh chính xác; trước tiên phải tẩy cho nhữngcon vật bị nhiễm nặng hoặc có biểu hiện lâm sàng; với mục đích phòng bệnh thì nêntẩy cho cả đàn gia súc vì có thể có những gia súc đang mang mầm bệnh nhưng chưaphát hiện được; tốt nhất nên tẩy giun vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng
8 - 9); khi tẩy phải nhốt gia sóc trong chuồng 3 - 5 ngày để tập trung phân ủ diệtmầm bệnh; sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc
Để phòng chống bệnh giun xoăn dạ múi khế có hiệu quả, đồng thời với việctẩy giun phải sử dụng các biện pháp sau:
- Chuồng nuôi gia súc phải giữ sạch sẽ, khô ráo, vì đây là nơi tiếp xúcthường xuyên với mầm bệnh
- Bãi chăn thả có ý nghĩa lớn trong việc phòng chống bệnh giun sán vì độngvật bị nhiễm bệnh giun sán chủ yếu ở bãi chăn Bãi chăn Èm thấp, có nước là điềukiện thuận lợi đối với sự phát triển của giun sán Vì vậy nên chăn thả gia súc ở cácbãi cỏ khô ráo Nếu có điều kiện, nên sử dụng luân canh, luân phiên đồng cỏ trongchăn nuôi để giảm bớt các bệnh giun sán
- Xử lý phân gia súc để diệt trứng và Êu trùng giun xoăn dạ múi khế, làmmôi trường sạch hơn Hàng ngày dọn phân và rác ở chuồng nuôi tập trung vào mộtnơi, vun thành đống (cao và rộng 1,5 - 2m), đắp đất kín dày 20 - 30 cm, để sau 3 - 4tuần, nhiệt độ đống ủ tăng lên 60 - 700C sẽ làm chết trứng và Êu trùng Có thể chothêm tro bếp, vôi và lá xanh vào để tăng thêm nhiệt độ đống ủ
- Đảm bảo nguồn thức ăn đủ về số lượng và chất lượng Tốt nhất nên dùngcác loại cỏ trồng trên cạn, xa nơi chăn thả và chuồng nuôi làm thức ăn cho gia súc
Bổ sung thêm các loại thức ăn giàu vitamin, nguyên tố vi lượng
- Cho gia súc uống nguồn nước sạch
Các tác giả Skrjabin K.I (1963) [27];Trịnh Văn Thịnh (1963) [20]; Soulsby(1982) [34]; Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [22]; Phan Địch Lân và cs (1989) [14];Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [7]; Urquhart và cs (1996) [36]; Nguyễn Thị KimLan (2000) [9] đều thống nhất áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như:
- Định kỳ dùng thuốc tẩy giun
Trang 25- Tập trung phân để ủ diệt trứng và Êu trùng giun.
- Không chăn thả súc vật nhai lại ở những bãi chăn Èm thấp
- Không cho súc vật nhai lại uống nước vũng tù có nhiều Êu trùng gây nhiễm
- Thực hiện chăn thả luân phiên đồng cỏ để phòng bệnh
Trong các biện pháp trên, biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành
có tác dụng phòng bệnh rất tốt Phenothiazin - mét trong những thuốc có tác dụng
ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và tẩy cả giun non - được khuyên là nên dùng đểtẩy mang tính chất phòng bệnh cho gia sóc nhai lại Trong thời gian chăn thả, mỗingày cho uống thuốc một lần để phòng bệnh Có thể dùng thuốc theo tỷ lệ:Phenothiazin 10 phần, bột gạo 20 phần, bột xương 10 phần, muối ăn 60 phần Ngoài
ra, có thể thêm một số nguyên tố vi lượng nh đồng, coban, iot Trộn lẫn những thứtrên, cho thêm một Ýt nước cháo, làm thành viên, phơi khô, cho vào máng ăn, đểsúc vật tự gặm (chú ý là nếu viên thuốc bị Èm ướt, súc vật ăn quá nhiều có thể bịtrúng độc)
Ngoài ra, người ta còn tiêm vắcxin chế từ Êu trùng giun xoăn thuộc họ
Trichostrongylidae đã được làm giảm độc bằng chiếu tia X để phòng bệnh cũng cho
hiệu quả tốt (Jarret, 1959)
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế ở nước ngoài
Bệnh giun xoăn dạ múi khế phổ biến khắp các nước trên thế giới, gây tổn hạilớn cho ngành chăn nuôi Chính vì vậy có rất nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu vềtác hại của bệnh này, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng và trị cho gia sóc nhai lại
Theo Soulsby E.J.L (1982) [34], nhìn chung sự phát triển của các loài giun
xoăn họ Trichostrongylidae ở giai đoạn sống tự do (ở ngoài ngoại cảnh) phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu Ở nước Anh, Êu trùng có thể phát triển đến giai đoạn gâynhiễm trong 2 tuần, nhưng thường thì dài hơn và phụ thuộc vào khí hậu trong thờigian đồng cỏ ô nhiễm Trâu, bò nhiễm giun vào tất cả các tháng trong năm, nhưngnhiễm nhiều và nặng hơn ở những tháng mùa Hè Êm và Èm
Wharton D.A (1982) [38] báo cáo rằng, Êu trùng Trichostrongylus colubriformis
phát triển qua 4 - 6 ngày ở nhiệt độ 270C thành Êu trùng gây nhiễm Nhiệt độ tối thiểu để
Êu trùng có thể tồn tại là 10 – 150C Chúng phát triển nhanh nhất trong mùa Hè, Êu trùngkhông thể sống được ở nhiệt độ cao và thấp quá
Trang 26Hoste H và Chartier C (1993) [28] đã làm thí nghiệm về ảnh hưởng của giunxoăn dạ múi khế đến khả năng sản xuất sữa của dê 48 con dê ở tháng thứ 2 của thời
kỳ sản xuất sữa được chia thành 2 nhóm Nhóm 1 được gây nhiễm 5.000 Êu trùng
Haemonchus và 2.000 Êu trùng Trichostrongylus Nhóm 2 không gây nhiễm giun.
Các số liệu về ký sinh trùng, về huyết học, về sữa được thu thập 2 tuần 1 lần trongvòng 5 tháng Tình trạng cơ thể dê được cho điểm qua mỗi thời điểm tương ứng Kếtquả là nhóm dê 1 đã biểu hiện triệu chứng lâm sàng Giun xoăn gây bệnh và làmgiảm lượng sữa của dê nhóm 1 từ 2,5 - 10% so với nhóm đối chứng Tác giả cũngphát hiện ra ảnh hưởng khác nhau của giun đến lượng sữa của những dê cho sữa cao
và những dê cho sữa thấp: với 6 con dê cho sữa cao ở thời điểm đầu thí nghiệm,lượng sữa giảm từ 13 đến 25,1% và dê gầy đi Còn 6 dê có lượng sữa thấp ở thờiđiểm đầu thí nghiệm thì lượng sữa giảm Ýt hơn (mặc dù gây nhiễm Êu trùng giun với
số lượng như nhau) Theo những số liệu về ký sinh trùng học và bệnh lý học, tác giảkết luận: những dê cho lượng sữa cao khả năng chống lại ký sinh trùng kém hơn vàchịu tác động gây bệnh nghiêm trọng hơn những dê cho lượng sữa thấp
Nghiên cứu về dịch tễ học các bệnh giun sán ở gia sóc nhai lại nhỏ, Teklye Bekele (1993) [35] cho biết, giun tròn đường tiêu hoá, giun phổi và sán lá gan lànhững giun sán ký sinh chủ yếu ở gia sóc nhai lại nhỏ tại những vùng sinh thái khácnhau ở vùng Saharan - Châu Phi Tỷ lệ lây nhiễm và tần số xuất hiện cao đối với
-các loài H contortus, Oes columbianum, Trichostrongylus sp., Cooperia sp., trong
mùa mưa Bệnh giun xoăn do vậy trở nên nghiêm trọng ở những vùng Èm, nửa Èm
và vùng trung du - miền núi của châu Phi
Để biết sự phân bố giun xoăn theo mùa, Wahab - A - Rahman đã đếm sốlượng trứng giun ở phân dê tại các trang trại ở Penang (Malaysia) Tác giả thấy giunxuất hiện cao điểm ở những tháng có lượng mưa cao (những nhân tố khác như nhiệt
độ, độ Èm thay đổi rất Ýt trong suốt thời gian nghiên cứu) Môi trường nhiệt đới
Èm ở vùng này rất thuận lợi cho sự phát triển của giun Trichostrongylus, Haemonchus và một số giun ký sinh ở ruột (Oesophagostomum, Bunostomum) Trong đó, giống Haemonchus là phổ biến nhất ở cả 2 trang trại (Wahab - A -
Rahman, 1995 [37])
Trang 27Những nơi tập trung vật nuôi và các đồng cỏ là những nơi có tỷ lệ nhiễm cao.
Vì vậy, việc nghiên cứu dịch tễ học, chiến lược kiểm soát các loài giun đường ruộtcủa súc vật nhai lại cần được tiến hành để bảo vệ và tăng số lượng đàn trong cáctháng mùa hè Èm ướt; đồng thời điều trị bệnh giun sán ở những vật nuôi trưởngthành và dưới 1 năm tuổi vào cuối mùa hè và đầu mùa đông để vật nuôi có thểkhông bị nhiễm giun, hoặc tỷ lệ nhiễm tối thiểu trong các tháng mùa đông và mùa
hè (Joshi B R., 1996 [31])
Tiếp theo những công trình nghiên cứu trên, Joshi B R và Jacobs D E.(1997) [32] tiếp tục nghiên cứu về dịch tễ học của sự lây nhiễm giun tròn đườngruột ở cừu và dê Hai tác giả cho biết: ở Nepal có khoảng 65% số cừu và 35% số dêđược chăn thả cùng đàn Chúng luôn được di chuyển nơi chăn thả theo mùa Vềmùa đông và những tháng hè khô ráo, đàn dê cừu gặm cỏ ở các vùng rừng hoang,dưới thung lòng Trong những tháng mùa hè có mưa, chúng lại được chăn thả trênnhững đồng cỏ cao của dãy núi Himalaya Sau 1 năm nghiên cứu thấy tỷ lệ lâynhiễm trong năm thấp, trừ các tháng mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10) Khu vựcchăn thả xung quanh Kharka và những đồng cỏ trên núi là những ổ bệnh chính
Loài Trichostrongylus spp và Osrertagia spp có khả năng sống cao hơn các loài khác Loài Haemonchus contortus dễ bị nhiễm vào các tháng đầu mùa hè.
Khả năng nhiễm bệnh đối với từng loài tuỳ thuộc vào mùa và vị trí đồng cỏ Ởnhững đồng cỏ cao hơn mặt nước biển 2.300 m thì dê, cừu dễ bị lây nhiễm cả 3loài giun trên Ở độ cao 2.300 - 3.500 m thì dê, cừu dễ nhiễm bệnh giun
Trichostrongylus và Ostertagia Ở độ cao hơn nữa chỉ thấy mắc bệnh do giun Ostertagia
2.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế trong nước
Nước ta có điều kiện thời tiết và khí hậu thuận lợi cho trứng và Êu trùng giunxoăn dạ múi khế phát triển Giun xoăn dạ múi khế thường nhiễm và gây nhiều thiệthại cho trâu, bò ở nước ta Chính vì vậy, có nhiều tác giả đã và đang nghiên cứubệnh giun xoăn dạ múi khế
Phan Địch Lân và cs (1996) [16] cho biết, bệnh giun xoăn dạ múi khế phân
bố rất rộng, các cơ sở chăn nuôi ở miền núi, trung du, đồng bằng có tỷ lệ nhiễm từ30,7 - 100%
Trang 28Trần Minh Châu (1996) [2] đã dùng một trong các thuốc sau để tẩy giunxoăn dạ múi khế:
- Phenothiazin: Liều 0,1 - 0,2 g/kg TT trâu, bò Thuốc không tan trong nước,
có thể hòa lẫn cháo cho ăn Không cần bắt con vật nhịn ăn trước mà chỉ cần nhịn ăn
3 giê sau khi uống thuốc
- Dung dịch CuSo41%: Liều 2 - 5 ml/kg TT
Ngoài ra có thể dùng các thuốc sau đây để tẩy tất cả các loài giun trong dạdày trâu, bò:
+ Menbenvet : Liều 100 mg/kg TT + Ivermectin : Liều 0,2 mg/ kg TT + Hanmectin : Liều 0,8 - 1,2ml/kg TT + Vimectin : Liều 1 ml/14- 16kg TTKết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Lan và Phan Địch Lân (2000) [10]trên 748 dê từ 1- 4 năm tuổi ở 4 tỉnh miền núi cho thấy: Qua mổ khám, dê nhiễm
giun xoăn họ Trichostrongylidae rất cao tỷ lệ 71,79% và cường độ từ 3 - 798
giun/dê XÐt nghiệm phân của 2050 dê từ 1 tháng đến 24 tháng tuổi thấy tỷ lệnhiễm giun xoăn 74,63%
Nguyễn Thị Lan Anh và cs (2000) [1] đã nghiên cứu và thấy trứng 4 loài
giun xoăn là: Cooperia, Haemonchus, Trichostrongylus và Oesophagostomum trong
phân bò của xã Hải Bối - Đông Anh - Hà Nội Trong đó, nhiễm chủ yếu là
Cooperia, sau đó là Haemonchus Vô Thu - Đông có tỷ lệ và cường độ nhiễm giun
xoăn cao nhất là 74,2 - 77,5%
Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan và Nguyễn Văn Quang (2002) [15] cho biết,
tỷ lệ nhiễm giun xoăn ở dê trong vụ Hè - Thu cao hơn vụ Đông - Xuân
Theo Nguyễn Đức Tân và cs (2004) [19], tùy từng vùng sinh thái mà một số
ký sinh trùng thường gặp phổ biến ở nơi này nhưng lại hiếm gặp ở nơi khác vàngược lại Qua điều tra 708 bê tại 5 địa điểm thuộc 3 tỉnh: Khánh Hòa, Phú Yên vàĐắc Lắc, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng tương đối cao: cầu trùng 56,78% giun lươn13,42%, sán lá gan 14,41%, sán lá dạ cỏ 30,79%, giun xoăn dạ múi khế 27,54%
Trang 29Nguyễn Văn Diên và cs (2006) [3] đã kiểm tra 179 mẫu phân bò thu thập từ
3 địa điểm của Đắc Lắc và thu thập mẫu giun sán qua mổ khám 29 bò, đã xác địnhđược 16 loài giun sán ký sinh đường tiêu hóa của bò trong đó có 11 loài ký sinh ở
dạ cỏ, 1 loài ở dạ múi khế (Haemonchus contortus), 2 loài ký sinh ở ruột non, 1 loài
ở ruột già (Oesphagostomum radiatum) và 1 loài ở gan Tỷ lệ và cường độ nhiễm
giun xoăn của bò qua mổ khám là 48,21%, với 31 - 1105 giun/bò
Phần 3
Đối tượng, vật liệu, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò các lứa tuổi nuôi tại một số xã thuộchuyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu phân tươi của trâu, bò, bê, nghé
- Trứng và Êu trùng giun xoăn dạ múi khế.
- Nguyên liệu ủ nhiệt sinh học (phân trâu, bò, lá xanh, tro bếp, vôi bột)
- Dung dịch nước nuối NaCl bão hòa, kính hiển vi quang học gắn máy ảnh và màn
hình, buồng đếm Mc Master, máy ly tâm, hóa chất và các dụng cụ thí nghiệm khác.
- Thuốc phòng, trị giun xoăn dạ múi khế: Vimectin, Bivermectin 0,25%, Magnidazole Force.
- Thuốc sát trùng chuồng trại: OXIDAN TCA, MD OXIDE A.D.C.
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Trang 30- Địa phương triển khai đề tài: xã Điềm Thôy, Nhã Lộng, Bảo Lý, Nga My
thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa chăn nuôi thú y - TrườngĐại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Địa điểm thử nghiệm biện pháp phòng trị: xã Điềm Thôy, Nhã Lộng, Bảo
Lý, Nga My thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Từ 25/ 08/ 2008 đến 08/ 02/ 2009
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế
3.3.1.1 Xác định phần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
3.3.1.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở một số xã thuộc huyện Phú Bình
3.3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo tuổi trâu, bò
3.3.1.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế theo loại gia súc (trâu hoặc bò)
3.3.2 Nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò
3.3.2.1 Hiệu quả của biện pháp ủ phân nhiệt sinh học diệt trứng và Êu trùng giun xoăn dạ múi khế
3.3.2.2 Hiệu quả của biện pháp dùng thuốc sát trùng diệt trứng và Êu trùng giun xoăn dạ múi khế
3.3.2.3 Hiệu lực của thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò
3.3.3 Thử nghiệm biện pháp phòng trị trên thực địa và đề xuất quy trình phòng trị
3.3.3.1 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của bò ở lô thử nghiệm và lô đối chứng trước khi thử nghiệm
3.3.3.2 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của lô thử nghiệm và lô đối chứng sau 2 tháng thử nghiệm
Trang 313.3.3.3 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của lô thử nghiệm và lô đối chứng sau 4 tháng thử nghiệm
3.3.3.4 Bước đầu đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế
3.4.1.1 Phương pháp xác định loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò
- Nuôi cấy trứng giun xoăn dạ múi khế nở thành Êu trùng và phát triển thành
Êu trùng cảm nhiễm
- Phân ly Êu trùng cảm nhiễm theo phương pháp Baerman
- Căn cứ vào đặc điểm hình thái, cấu tạo của Êu trùng cảm nhiễm để định loạitheo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963), Nguyễn Thị Lê (1996)
3.4.1.2 Phương pháp xác định tuổi trâu, bò
Kết hợp xem răng và hỏi chủ gia súc để xác định tuổi trâu, bò Trâu, bò có 32răng, trong đó có 8 răng cửa và 24 răng hàm, hàm trên không có răng cửa Căn cứvào 3 thời kỳ: mọc răng, thay răng và mòn răng để xác định tuổi trâu, bò nh sau.+ Đối với trâu: Nghé mới đẻ sau 1 tuần có 2 đôi răng cửa sữa giữa, 2-3 tháng sau
có đủ 8 răng cửa sữa Khi đạt tới tuổi nhất định thì răng sữa được thay thế bằng răng vĩnhcửu Trình tự thay các răng cửa hàm dưới của trâu như sau:
- Trâu 3 tuổi thay 2 răng cửa sữa giữa
- Trâu 4 tuổi thay 2 răng cửa sữa cạnh
- Trâu 5 tuổi thay 2 răng cửa sữa áp góc
- Trâu 6 tuổi thay 2 răng cửa sữa góc và có đủ 8 răng cửa vĩnh viễn
- Trâu 7 tuổi tất cả các răng cửa đều mòn, 2 răng cửa giữa có vết mòn dài
- Trâu 8 tuổi có 2 răng cửa giữa mòn hình chữ nhật, 2 răng cửa cạnh mòn hìnhvệt dài
- Trâu 9 tuổi có 2 răng cửa giữa mòn hình gần vuông
- Trâu 10 tuổi có 2 răng cửa mòn hình tròn
Trang 32+ Đối với bò: Bê mới đẻ có 2-3 đôi răng cửa sữa giữa, sau 20 ngày có đủ
8 răng cửa sữa Trình tự thay các răng cửa hàm dưới của bò nhanh hơn so vớitrâu:
- Bò 2 tuổi thay 2 răng cửa sữa giữa
- Bò 3 tuổi thay 2 răng cửa sữa cạnh
- Bò 4 tuổi thay 2 răng cửa sữa áp góc
- Bò 5 tuổi thay 2 răng cửa sữa góc và có đủ 8 răng cửa vĩnh viễn
- Bò 10 tuổi có 2 răng cửa mòn hình chữ nhật
Trâu, bò nghiên cứu ở huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên được phân ra theo
5 lứa tuổi:
- Sơ sinh - 1 năm tuổi
- Trên 1 năm - 2 năm tuổi
- Trên 2 năm - 5 năm tuổi
- Trên 5 năm - 8 năm tuổi
- Trên 8 năm tuổi
3.4.1.3 Phương pháp thu thập mẫu và xét nghiệm mẫu phân trâu, bò
* Phương pháp thu thập mẫu phân trâu, bò
- Thu thập ngẫu nhiên phân của trâu, bò nuôi tại trại và nông hộ Lấy phântrực tiếp từ trực tràng con vật vào buổi sáng sớm, để riêng mỗi mẫu phân vào mộttúi nilon nhỏ, mỗi túi đều có nhãn ghi rõ: loại gia súc (trâu, bò), địa điểm, tuổi, trạngthái phân, thời gian lấy mẫu và các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò (nếu có) Nhữngthông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài Ngoài ra, căn cứ vào yếu tố cần xácđịnh có liên quan đến đặc điểm dịch tễ để lấy mẫu cho tương đối đồng đều về cácyếu tố khác
- MÉu được xét nghiệm ngay trong ngày, những mẫu chưa xét nghiệm được bảo quản ở nhiệt độ 2- 40C, không quá 3 ngày
* Phương pháp xét nghiệm mẫu:
- Xét nghiệm trứng bằng phương pháp phù nổi Fulleborn
- Xét nghiệm Êu trùng bằng phương pháp lắng cặn
3.4.1.4 Phương pháp xác định trâu, bò nhiễm và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở một số xã, trại thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
Trang 33* Phương pháp xác định trâu, bò nhiễm: Xét nghiệm tất cả mẫu phân thu thậpbằng phương pháp Fulleborn Những mẫu phân phát hiện thấy có trứng giun xoăn dạ
múi khế được đánh giá là nhiễm giun tròn này Những mẫu phân không phát hiện thấy
trứng được đánh giá là không nhiễm
* Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế: cường độnhiễm giun xoăn dạ múi khế được xác định bằng số lượng trứng giun/gam phân
(đếm trên buồng đếm Mc.Master), căn cứ vào kết quả xét nghiệm và biểu hiện lâm
sàng của trâu, bò để quy định cường độ nhiễm như sau:
≤500 trứng/gam phân: cường độ nhiễm nhẹ ()
>500 - 800 trứng/gam phân: cường độ nhiễm trung bình ()
>800 - 1000 trứng/gam phân: cường độ nhiễm nặng ()
>1000 trứng/gam phân: cường độ nhiễm rất nặng ()
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu hiệu quả của một số biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò
3.4.2.1 Xác định hiệu quả của biện pháp ủ phân nhiệt sinh học
* Bố trí thí nghiệm:
Bố trí 1 đống ủ nổi và 1 hố ủ chìm, hố ủ có kích thước 1 x 1 x 1m, đống ủ cókích thước đáy là 1,2 m, cao 1m, bên ngoài đống ủ và phía trên mặt hố ủ được trátbùn dầy 5 - 7 cm
* Nguyên liệu và công thức ủ: Được thực hiện theo tài liệu của Phạm Văn
Khuê và cs (1996) [7], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]
* Theo dõi tác dụng diệt trứng và Êu trùng giun xoăn dạ múi khế bằng phương pháp ủ phân.
- Trộn đÒu khoảng 500- 1000 gam phân trâu, bò có trứng giun xoăn dạ múi khế (đạt tới trên 1000 trứng/gam phân) với nguyên liệu ủ (theo công thức) Cho vào
mỗi túi vải nhỏ có dây nilon buộc miệng túi khoảng 5- 10 gam hỗn hợp vừa trộn.Đặt những mẫu này vào các vị trí khác nhau trong đống (hố) ủ (xung quanh và trungtâm), đầu dây nilon thò ra ngoài lớp bùn trát để có thể lấy ra dễ dàng và không ảnhhưởng đến nhiệt độ trong đống (hố) ủ
Trang 34- Hàng ngày dùng nhiệt kế 100oC theo dõi nhiệt độ đống (hố) ủ và lấy 1 tói raxét nghiệm tìm trứng giun xoăn dạ múi khế Đếm số trứng giun/3 vi trường, đếm số
trứng giun chết/3 vi trường Từ đó tính được tỷ lệ và thời gian trứng giun chết trong
phân ủ
- Đối với Êu trùng cảm nhiễm giun xoăn dạ múi khế tiến hành theo phươngpháp tương tự (sau khi đã nuôi cho trứng nở thành Êu trùng và Êu trùng phát triểnthành Êu trùng cảm nhiễm trong các mẫu phân có cường độ nhiễm trên 1000 trứng/gam phân)
3.4.2.2 Phương pháp xác định tác dụng diệt trứng và Êu trùng cảm nhiễm giun xoăn dạ múi khế của một số thuốc sát trùng
* Bố trí thí nghiệm
- Những mẫu phân nhiễm giun xoăn dạ múi khế được dàn đều trong 5
khay men (4 khay thử nghiệm và 1 khay đối chứng) thành lớp dày 0,3- 0,5 cm.Phun thuốc sát trùng vào lớp phân trong khay men thử nghiệm theo liều lượnghướng dẫn 1 lần duy nhất Mỗi ngày lấy khoảng 1-2 gam phân trong khay menthử nghiệm và đối chứng xét nghiệm để xác định tác dụng diệt trứng giun xoăn
dạ múi khế của thuốc sát trùng
- Cũng bố trí nh trên để xác định tác dụng diệt Êu trùng cảm nhiễm trong cácmẫu phân của thuốc sát trùng
3.4.2.3 Hiệu quả của thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò
Chọn mét số những trâu, bò nhiễm giun xoăn dạ múi khế với cường độ
trung bình và nặng, không nhiễm các loại giun sán khác Dùng thuốc tẩy giun
xoăn dạ múi khế theo liều lượng hướng dẫn của nhà sản xuất Theo dõi số trứng/
gam phân trước khi dùng thuốc và sau dùng thuốc 15 ngày Từ đó đánh giá hiệuquả tẩy giun xoăn dạ múi khế ở bê, nghé
3.4.3 Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng trị trên thực địa
- Nội dung này được thực hiện ở một số địa phương - huyện Phú Bình.
3.4.3.1 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của bò trước khi thử nghiệm
- Bò trước khi thử nghiệm được kiểm tra tỷ lệ và cường độ nhiễm theo cácphương pháp đã nêu ở mục 3.4.1
3.4.3.2 Phương pháp bố trí thử nghiệm
Trang 35- Bò được bố trí thành 2 lô gồm: Lô thử nghiệm và lô đối chứng tương đốiđồng đều về các yếu tố: tuổi, khối lượng, tính biệt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng,
tình trạng vệ sinh thó y, tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế.
Lô thử nghiệm được áp dụng một số biện pháp phòng trị bệnh giun xoăn dạ
múi khế sau khi đã xác định là có hiệu quả (nh mục 3.4.2).
+ Định kỳ dùng thuốc có hiệu lực cao tẩy phòng giun xoăn dạ múi khế cho bò.
+ Ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học để diệt trứng và Êu trùng
+ Định kỳ sử dụng thuốc sát trùng tiêu độc chuồng trại và xung quanh chuồng
+ Vệ sinh bãi chăn thả, thức ăn và nước uống cho bò
3.4.3.3 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của bò sau 2 tháng thử nghiệm
- Sau 2 tháng thử nghiệm, xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm ở lô thử nghiệm và
lô đối chứng theo phương pháp đã trình bày ở mục 3.4.1
- Bước đầu đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trị bệnh đã áp dụng
3.4.3.4 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun xoăn dạ múi khế của bò sau 4 tháng thử nghiệm
- Sau 4 tháng thử nghiệm, xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm ở lô thử nghiệm
và lô đối chứng theo phương pháp đã trình bày ở mục 3.4.1
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trị bệnh đã áp dụng
3.4.3.5 Bước đầu đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh giun xoăn dạ múi khế cho trâu, bò
- Từ kết quả nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và hiệu quả của biện pháp phòng
trị bệnh giun xoăn dạ múi khế, đề xuất quy trình phòng, trị bệnh cho trâu, bò
Số trâu, bò kiểm tra
Số trâu, bò nhiễm ở mỗi địa điểm
Trang 36- Tỷ lệ nhiễm theo địa điểm (%) = x 100
Số trâu, bò kiểm tra ở địa điểm đó
Số trâu, bò nhiễm ở từng lứa tuổi
- Tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi(%) = x 100
Số trâu, bò kiểm tra ở từng lứa tuổi
Số trâu, bò nhiễm ở mỗi cường độ
Tổng số trâu, bò nhiễm
Số trâu, bò sạch trứng sau khi dùng thuốc
Số trâu, bò dùng thuốc
3.5.2 Các tham số thống kê
Số liệu thu được về các tính trạng định lượng được xử lý theo phương pháp thống
kê sinh học của Nguyễn Văn Thiện (2000) [19] và trên phần mềm Excel 2000
X
x
Trang 37
n n
(n > 30)
- Trong đó:
X : Sè trung bình cộng
X : Giá trị của biến số
n : Dung lượng mẫu
mx : Sai số của số trung bình
Sx : Độ lệch tiêu chuẩn trung bình
Trang 38Phần 4Kết quả và thảo luận
4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế ở huyện Phú Bình
4.1.1 Xác định loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
Chúng tôi đã trực tiếp thu thập và kiểm tra các mẫu phân trâu, bò nhiễm giunxoăn dạ múi khế ở huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã nuôi cấy vàphân lập được Êu trùng, quan sát hình thái cấu tạo, kích thước, số lượng vỏ, sốlượng tế bào ruột của Êu trùng có sức gây bệnh và căn cứ vào khóa định loài củaSkrjabin K.I và cs (1963) [27]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] để xác định thànhphần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò tại huyện Phú Bình - tỉnh TháiNguyên Kết quả được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần loài giun xoăn dạ múi khế ký sinh ở trâu, bò
Êu trùng
Số tế bào ruột
Chiều dài mót đuôi (mm)
Kết luận loài giun Dài (mm) Rộng (mm)
L 1 16 0,844 0,0006 0,020
0,0004 2 30 - 32
0,025 0,0005 Trichostrongylus sp.
L 2 14 0,747 0,004 0,031
0,0004 2 28 - 30 0,081 0,0006
Haemonchus contortus
L 3 15 1,127 0,0055 0,028
0,0005 2 42 - 44
0,294 0,0005 Nematodirrus sp.
L4 12 0,881 0,0009 0,028
0,0005 2 32 - 34
0,094 0,0007 Cooperia sp.
Trang 39L5 14 0,588 0,0003 0,023
0,0005 1 16 - 18
0,068 0,0004
Mecistocirrus digitatus
Kết quả ở bảng 4.1 cho thấy:
Có 5 loại Êu trùng giun xoăn dạ múi khế trong các mẫu phân trâu, bòthu thập từ các hộ gia đình và trại chăn nuôi thuộc huyện Phú Bình Quan sáthình thái, cấu tạo của Êu trùng có sức gây bệnh và dựa vào khóa định loàicủa của Skrjabin K.I và cs (1963) [27]; Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] chúng tôi
có nhận xét như sau: Êu trùng L1 mà chúng tôi quan sát được có hình thái, kích
thước, số vỏ, số tế bào ruột tương ứng với ấu trùng của giun Trichostrongylus sp.
mà trong khóa định loài đã mô tả Cũng căn cứ vào khóa định loài này, ấu trùng L2
là Êu trùng của loài Haemonchus contortus; Êu trùng L3 là Êu trùng giun Cooperia sp.; L4 là Êu trùng giun Nematodirus sp.; L5 là Êu trùng loài Mecistocirrus digitatus.
Nh vậy, trâu, bò ở huyện Phú Bình nhiễm 5 loài giun xoăn dạ múi khế Đâycũng là 5 loài thường gặp và gây bệnh cho trâu, bò của nhiều nước trên thế giới,trong đó có Việt Nam
Trang 40Ảnh 4.1 Phân ly Êu trùng bằng phương pháp Baerman
Ảnh 4.2 Kích thước chiều dài của Êu trùng Trichostrongylus sp (x200)
Ảnh 4.3 Kích thước chiều dài và chiều rộng của Êu trùng giun
Haemonchus contortus (x200)