1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc

48 632 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 276,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi giai đoạn này cơ thể lợn con còn yếu, chưa phát triển hoàn chỉnh, khẳ năng chống đỡ bệnh tật kém, dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con nếu k

Trang 1

và trên thế giới Do đóng vai trò quan trọng nên Đảng và Nhà nước đã chú trọng quan tâm hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn trên nhiều phương diện như

cơ chế chính sách, vốn, các nhà khoa học từng bước lai tạo, cải tiến giống lợn phù hợp với điều kiện chăn nuôi nước ta cũng như thị hiếu người tiêu dùng và kinh tế thị trường cạnh tranh Tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi cũng dần dần được người chăn nuôi áp dụng giúp tăng hiệu quả kinh tế cao.

Trong chăn nuôi "Giống là tiền đề, thức ăn là cơ sở" song công tác thú y cũng

đóng vai trò quan trọng đặc biệt và là nhân tố thứ ba góp phần quyết định đến

hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

Trong chăn nuôi lợn, giai đoạn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm tiền đề tạo con giống khoẻ mạnh không bệnh ngay từ ban đầu Bởi giai đoạn này cơ thể lợn con còn yếu, chưa phát triển hoàn chỉnh, khẳ năng chống đỡ bệnh tật kém, dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con nếu không được chữa trị kịp thời,

Trang 2

đúng phương pháp lợn con sẽ chết Đây là bệnh phổ biến trong chăn nuôi lợn con giai đoạn sơ sinh gây thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi Qua điều tra sơ bộ ban đầu, công tác chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Tam Dương còn nhỏ lẻ, không tập trung, phân tán trong nông hộ, phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, thủ công, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật còn gặp nhiều khó khăn, công tác phòng, chống dịch bệnh của người chăn nuôi còn chủ quan, lơ là Do đó tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng lợn con là rất cao Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự nhất trí của Khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn, Ban lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Vĩnh Phúc, Trạm Thú y huyện Tam Dương, tôi tiến hành

chuyên đề: " Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc"

1.2 SỰ CẦN THIẾT ĐỂ TIẾN HÀNH CHUYÊN ĐỀ

- Thực hiện phương châm " Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực

tiễn sản xuất"

- Tạo phong cách làm việc sáng tạo, khoa học.

- Nắm bắt được tình hình phát triển chăn nuôi, phương thức chăn nuôi, công

tác phòng, chống dịch bệnh của địa phương.

- Nghiên cứu tình hình, đặc điểm nhiễm bệnh phân trắng lợn con tại

một số xã thuộc huyện Tam Dương

- Xác định hiệu lực của một số loại thuốc trị bệnh phân trắng lợn con

- Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh phân trắng lợn con

* Ý nghĩa chuyên đề

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của chuyên đề cung cấp thêm thông tin

khoa học về bệnh phân trắng lợn con Từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng quytrình phòng - trị bệnh cho lợn

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của chuyên đề là cơ sở để áp dụng quy trình

phòng, trị bệnh phân trắng lợn con, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Trang 3

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ

1.3.1 Điều kiện bản thân

- Bản thân còn trẻ, có sức khoẻ tốt, sống lành mạnh, luôn có ý thức tự học, nghiên cứ tài liệu nâng cao chuyên môn, kinh nghiệm, không ngại khó, ngại

khổ và yêu nghề.

- Đã được thầy, cô, nhà trường trang bị một lượng kiến thức cơ bản để có thể

áp dụng vào thực tiễn sản xuất góp phần phát triển ngành chăn nuôi thú y cho

địa phương.

1.3.2 Điều kiện cơ sở của địa phương

1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Tam Dương là một huyện trung du miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc, vớidiện tích 10.718,55 ha, đất nông nghiệp 6.617 ha, đất phi nông nghiệp3.764,65 ha, dân số 96.736 người, mật độ 902 người/km2 Tam Dương hiện

có 13 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 01 thị trấn và 12 xã

Phía Bắc giáp huyện Lập Thạch, phía Nam giáp huyện Bình Xuyên,phía Đông giáp huyện Tam Tảo, phía Tây giáp thành phố Vĩnh Yên

* Khí hậu thuỷ văn

Khí hậu Tam Dương thuộc vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậunhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trungbình 28,1 °C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông vớinhiệt độ trung bình 18,6 °C Tam Dươmg có độ ẩm và lượng mưa khá lớn,trung bình 114 ngày mưa một năm Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vàotháng 4 và tháng 10, huyện có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông

1.3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 4

Những năm gần đây, kinh tế - xã hội của huyện Tam Dương có sự pháttriển mạnh mẽ và toàn diện Cơ cấu kinh tế đã có những bước chuyển biếntích cực, từ một huyện thuần nông đã chuyển sang cơ cấu kinh tế mới là Côngnghiệp - Dịch vụ - Du lịch - Nông nghiệp

Song song với phát triển kinh tế, sự nghiệp văn hóa xã hội cũng đã

có những bước chuyển biến tích cực; các hoạt động văn hóa, thông tin đãbám sát, kịp thời tuyên truyền phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị - kinh tế

- văn hóa xã hội của huyện; chất lượng giáo dục không ngừng được nângcao, quy mô các ngành học, bậc học tiếp tục ổn định và phát triển theohướng chuẩn hóa; các chính sách xã hội được đảm bảo, tình hình an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Đời sống nhân dân khôngngừng được cải thiện

Huyện có mạng lưới giao thông phát triển khá hoàn chỉnh gồm cáctuyến đường bộ, đường sông và đường sắt rất thuận tiện cho việc phát triểnkinh tế xã hội Hệ thống lưới điện, nguồn điện, hệ thống cấp nước, nguồnnước, hiện tại cơ bản đáp ứng nhu cầu toàn vùng, mặc dù chưa được hoànthiện lắm

Trang 5

1.3.3 Tình hình sản xuất

1.3.3.1 Tình hình phát triển trồng trọt

Trồng trọt cung cấp lương thực cho dân cư trên địa bàn xã, huyện chongành chăn nuôi và là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông phẩm Đểtăng năng suất trồng trọt, huyện đã chú trọng cải tiến kĩ thuật đưa giống mớinăng xuất cao vào sản xuất thông qua các dự án, hội thảo, hoạt động thamquan, mô hình trình diễn…

1.3.3.2 Tình hình phát triển chăn nuôi

Chăn nuôi là ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, cóvai trò cung cấp thực phẩm, sức kéo, phân bón và thu nhập cho nhân dân

Bên cạnh việc chú trọng công tác thú y, chăm sóc nuôi dưỡng tốt,người chăn nuôi luôn quan tâm tới việc cải tạo giống cũ đưa giống mới cónăng suất cao vào sản xuất như gà siêu thịt, vịt siêu trứng, lợn siêu nạc…Nhiều hộ ngoài chăn nuôi trâu bò, lợn gà còn chăn nuôi những vật nuôi khácnhằm tăng thu nhập cá nhân như chim cút, cá…

Trang 6

Bảng 1.1: Tình hình chăn nuôi huyện Tam Dương – Vĩnh Phúc

* Tình hình dịch bệnh và công tác thú y

+ Tình hình dịch bệnh

Trong mấy năm qua tình hình dịch bệnh trên địa bàn huyện TamDương diễn ra rất phức tạp

Trâu bò: thường mắc bệnh truyền nhiễm chính là lở mồm long móng,

tụ huyết trùng… bệnh thường xảy ra lẻ tẻ quanh năm chủ yếu vào vụ đông vàxuân khi trời lạnh và ẩm ướt, khí hậu thay đổi nếu trâu bò nhốt trong tìnhtrạng vệ sinh kém, người dân chưa tiêm phòng đầy đủ

Trang 7

Lợn: thời gian vừa qua dịch bệnh làm rất nhiều trại lợn nhỏ và các hộchăn nuôi nhỏ lẻ bị thiệt hại rất lớn, lợn bệnh chết rất nhiều khiến cho đàn lợntrong huyện giảm mạnh,

Gia cầm: chăn nuôi gia cầm ở huyện Tam Dương khá phát triển, xongnhững năm gần đây dịch bệnh xảy ra nhiều Gia cầm chăn nuôi ở các xãkhông những mắc các bệnh như Newcaste, bạch lỵ, tả, gumboro… mà cònmắc cả cúm gia cầm, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế

Gia cầm: tiêm vacxin Cúm (H5N1) cho gà, vịt, ngan

Lợn: tiêm phòng vacxin tụ dấu – dịch tả, lở mồm long móng vào 2 lần/năm trong các tháng 4,5 và 9, 10

Chó: tiêm phòng vacxin dại (Rabisin) vào 2 lần trong năm là tháng 4, 5

và 9, 10

1.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG

1.4.1 Thuận lợiHuyện Tam Dương được xác định là vùng trọng điểm chăn nuôi củatỉnh, tỷ trọng trong chăn nuôi chiếm tỷ lệ cao Do đó được sự quan tâm củaĐảng bộ Tỉnh, huyện trong công tác định hướng phát triển chăn nuôi

Huyện có nguồn lao động có tay nghề và tri thức sẽ đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội của huyện

1.4.2 Khó khăn

Trang 8

Tuy nhiên Tam Dương cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn

về các vấn đề xã hội khác do tác động của đô thị hóa Nổi lên là tình trạng ônhiễm môi trường, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi đất

Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ chăn nuôi còn thiếu thốn nên hiệuquả kinh tế chưa cao Bên cạnh đó chăn nuôi còn nhỏ lẻ chưa tập trung vì vậy

mà là điều kiện cho dịch bệnh bùng phát

Lực lượng thú y cơ sở còn mỏng, trang thiết bị chưa đầy đủ, chưa kiểmsoát hết được việc buôn bán và lưu thông gia súc, gia cầm

1.5 MỤC TIÊU SAU KHI KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ

- Xác định tỷ lệ nhiễm phân trắng lợn con tại các xã Kim Long, Đạo

Tú, Thanh Vân và Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

- Xác định, xây dựng được quy trình phòng, trị bệnh phân trắng lợn con.1.6 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.6.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.6.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con bú sữa

* Lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh Lợn con hay gia súc nói chung, trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Khả năng phát triển của lợn con nhanh so với một số gia súc khác (Khối lượng cai sữa của lợn con khi 2 tháng tuổi gấp

10 – 15 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê nghé chỉ tăng 3- 4 lần ) Qua nghiên cứu thí nghiệm và qua thực tế sản xuất người ta thấy rằng: so với khối lượng sơ sinh, thì sau 10 ngày tuổi trọng lượng lợn con tăng gấp 2 lần, sau

30 ngày tuổi gấp 4 lần, sau 60 ngày tuổi gấp 10 lần trọng lượng lúc sơ sinh Nếu so với các gia súc khác trong giai đoạn này thì tốc độ sinh trưởng của lợn

con tăng nhanh hơn.

Do sinh trưởng và phát dục nhanh nên khả năng đồng hoá và trao đổi chất của lợn con rất mạnh Ví dụ: Lợn con sau 20 ngày tuổi mỗi ngày cần tích luỹ 9

Trang 9

– 14 gram protein/1kg TT, trong đó lúc trưởng thành chỉ tích luỹ 0,3 – 0,4

gram protein/kg P.

* Sự phát triển các thành phần cơ thể biến đổi theo tuổi

Trong cơ thể, hàm lượng nước giảm theo tuổi, đặc biệt lợn càng non giảm càng nhiều Hàm lượng Prôtêin tăng theo tuổi, hàm lượng Lipit tăng nhanh từ mới đẻ đến 3 tuần tuổi Hàm lượng khoáng có những biến đổi riêng liên quan đến quá trình tạo xương Từ lúc mới đẻ đến 3 tuần tuổi, hàm lượng khoáng giảm đáng kể và giảm không đáng kể ở giai đoạn 21 – 56 ngày tuổi.

* Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh

Cơ quan tiêu hoá của lợn cũng phát triển theo tuổi một cách rõ rệt nhưng chưa hoàn thiện Cơ quan tiêu hoá của lợn khi còn trong bào thai đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn rất bé Trong thời kỳ bú sữa, cơ quan tiêu hoá phát triển và phát dục nhanh Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần,

20 ngày tuổi gấp 8 lần và 60 ngày tuổi gấp 60 lần lúc sơ sinh Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi tăng 3 lần, 20 ngày tuổi tăng 6 lần, 60 ngày tuổi bằng 50 lần lúc sơ sinh, dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần lúc sơ sinh Sự tăng chiều dài và thể tích ruột non quan hệ đến khả năng tiêu hoá xenlluloz khá cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy cho lợn con tập ăn sớm là một biện

pháp tốt trong chăn nuôi.

Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là

hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động nên chúng, do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng

rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hoá.

Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên, nhờ vậy

nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải prôtêin mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh quản chứa Albumin và

Globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.

Trang 10

Ở lợn con từ 14 – 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn là trạng thái sinh lý bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện, vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành

là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).

Theo Từ Quang Hiển và cs (1995) [3], lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị không có HCl, vì lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này gọi là Hypoclohyđric và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát

triển gây ra các bệnh về đường tiêu hoá của lợn con.

Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh như: vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn sinh thối rữa Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh, nhất là các

bệnh đường tiêu hoá.

* Cơ năng điều tiết thân nhiệt

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh Vì vỏ đại não của lợn con phát triển chưa hoàn thiện cho nên việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phản ứng yếu, dễ bị ảnh hưởng xấu của khí hậu nóng ẩm và lạnh từ môi trường bên ngoài Lợn con trong thời kỳ này nếu như trong chuồng có nhiệt

độ thấp, ẩm độ tương đối cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh Lợn con sơ sinh gặp môi trường sống hoàn toàn mới, khi còn là bào thai điều kiện sống tương đối ổn định, các chất dinh dưỡng do mẹ cung cấp qua nhau thai Sau khi sinh, cơ thể lợn con tiếp xúc trực tiếp với điều kiện ngoại cảnh.

Do đó, chăm sóc không tốt, lợn con dễ mắc bệnh, còi cọc, chết Mùa đông ở

Trang 11

miền Bắc nước ta thời tiết lạnh, đặc biệt lại mưa phùn, lợn con rất dễ ỉa phân

trắng, cảm lạnh, tỷ lệ chết cao (40 – 80 %).

Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao, trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa (theo Từ Quang Hiển và cs, (1995)

[3]), Ngoài ra do lợn con có lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ vào glycogen dự trữ trong cơ thể còn thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt để chống rét

còn thấp.

1.6.1.2 Đặc điểm của bệnh phân trắng lợn con

* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

Do bộ máy tiêu hoá của lợn chưa hoàn thiện nên ở giai đoạn sau thờ kỳ bú sữa đầu, lợn con có thể mắc nhiều bệnh, đặc biệt là bệnh phân trắng, một bệnh

khá phổ biến thường gặp ở lợn con theo mẹ.

Theo tác giả Đào Trọng Đạt, (1995) [2], thì bệnh phân trắng lợn con do trực

khuẩn E.coli gây ra, là bệnh truyền nhiễm cấp tính, đặc trưng là tháo chảy,

nhiễm trùng huyết, nhiễm độc đường ruột, viêm ruột ở động vật non, nhất là vào 3 – 5 ngày tuổi sau khi sinh, thậm chí ở một ngày tuổi cũng mắc Có đến

48% các trường hợp tiêu chảy ở lợn con là do vi khuẩn E.coli gây ra Vì vậy, bệnh do vi khuẩn E.coli gây ra có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt trong

Trang 12

khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết E.coli sống bình thường trong

đường tiêu hoá của động vật và người Khi các điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ bệnh tật của con vật yếu thì

E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh.

Những nguyên nhân có thể làm cho lợn con tăng mức độ nhiễm E.coli là:

- Lượng sữa mẹ ít, lợn con đói phải gặm mút lung tung, trong đó có nước,

rơm, chất độn chuồng, chất thải bị nhiễm E.coli.

- Chuồng bẩn, lợn con luôn bú lợn mẹ có bầu vú bị nhiễm E.coli.

- Lợn mẹ bị viêm vú, đặc biệt là do E.coli gây ra Khi bú sữa của lợn mẹ bị

viêm vú, lợn con sẽ bị tiêu chảy ngay sau đó.

- Lợn con không được bú sữa đầu, trong khi đó khả năng miễn dịch của lợn con phụ thuộc chủ yếu vào lượng kháng thể hấp thụ được từ sữa của lợn mẹ.

Do đó, sức đề kháng của cơ thể lợn con yếu, dễ mắc bệnh.

- Chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái chửa không đảm bảo kỹ thuật, thức ăn của lợn mẹ không đảm bảo vệ sinh, thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn không cung cấp đủ nhu cầu của lợn nái chửa Do đó, lợn con sinh ra đã bị

nhiễm E.coli từ lợn mẹ hoặc sinh ra còi cọc, sức sống yếu, khả năng chống đỡ

các yếu tố bất lợi của môi trường bị giảm nên lợn dễ bị mắc bệnh.

- Do trữ lượng sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không được sữa

mẹ cung cấp đủ nhu cầu, thiếu cả coban, B12, nên dẫn đến sinh bần huyết, cơ thể suy yếu không hấp thụ được đầy đủ các chất dinh dưỡng sinh ra không

tiêu, ỉa chảy.

- Thời tiết lạnh, mưa phùn, ẩm độ cao, gió màu đông Bắc, chuồng nuôi ẩm

thấp làm cho lợn con dễ mắc bệnh phân trắng.

- Lợn con từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi, pH dịch vị trung tính, không có axit HCl

tự do nên dạ dày không có khả năng sát trùng và tiêu hoá Protit Nhược điểm này cũng là nguyên nhân phát sinh bệnh phân trắng lợn con Lợn con 1 tháng tuổi trở lên hàm lượng HCl và men Pepsin dịch vị tăng, nên tỷ lệ cảm nhiễm

bệnh giảm rõ rệt.

Trang 13

* Những hiểu biết về vi khuẩn Escherichia coli.

+ Đặc điểm hình thái

Trực khuẩn E.coli thường có dạng hình gậy, ngắn, kích thước 0,6 x 2 –3 nm,

hai đầu tròn, khi trong cơ thể động vật có hình cầu Trực khuẩn thường đứng riêng lẻ, đội khi xếp thành chuỗi ngắn, có long xung quanh thân nên có thể di động được, khi nhuôm bắt màu Gram âm (-), không hình thành nha bào Trong tổ chức và dịch thể ngấm ra từ bệnh tích, thỉnh thoảng thấy bắt màu sẫm ở hai đầu Tuy nhiên cũng có khi có thể gặp những biến chủng không có

lông, không di chuyển được.

+ Đặc điểm nuôi cấy

Theo Nguyễn Quang Tuyên, (1993) [14], trực khuẩn E.coli hiếu khí và yếm

khí tuỳ tiện, mọc trên môi trường dinh dưỡng bình thường Chúng có khả năng sinh sản thậm chí cả ở trong nước sinh lý, mọc ở nhiệt độ 15 0 C – 24 0 C, nhưng thích hợp nhất ở 37 0 C, độ pH thích hợp nhất 7,2 – 7,4 Chúng có thể

mọc ở môi trường toan tính hoặc môi trường kiềm tính

- Trong môi trường dinh dưỡng đặc như thạch thịt Pepton, 18 -24 h hồi phục trong tủ ấm 37 0 C, chúng mọc thành những khuẩn lạc ẩm ướt, ánh màu xám trắng, có kích thước trung bình, dạng tròn, mặt khuẩn lạc hơi lồi lên, có nếp nhăn và bề mặt láng Từ xanh xám, giữa đục xám để vài ba ngày sau khuẩn

lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra

- Trong môi trường nước thịt, khuẩn lạc phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy, màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt Canh trùng có mùi hôi thối Khi lắc mạnh, cặn tan đều trong môi trường Ngoài ra

có một số biến chủng chúng tạo nên bề mặt môi trường bề mặt mỏng

- Trên môi trường Gelatin, vi khuẩn mọc theo vết cấy trên mặt ống thành một

Trang 14

- E.coli lên men và sinh hơi đường: Glucozo, Galactoz, Malto, Lactoz, Levulo,

Manitol, Mannit, Fructo.

- Có thể lên men hay không lên men các đường: Saccazo, Glyxerin, Salixin,

Druxit.

- Không lên men: Dextrin, Amidin, Glycogen, Xenlobio.

Trực khuẩn E.coli làm đông sữa sau 24 – 37 giờ ở nhiệt độ 370 C Không làm tan chảy Gelatin, thường sinh Indol, không sản sinh H 2 S, không làm tan chảy huyết thanh đông, long trắng trứng đông Phản ứng R.M dương tính, V.P âm

tính, hoàn nguyên nitrat thành nitrit.

Sức sống của E.coli bị giảm xuống đáng kể khi hạ độ ẩm trong chuồng xuống

30% Nếu nhiệt độ trong chuồmg tăng kèm theo độ ẩm tăng thì sức sống của

E.coli cũng tăng theo Độc tố của E.coli đun sôi sau 15 phút mới bị phá huỷ.

+ Cấu trúc kháng nguyên

Cấu trúc kháng nguyên của E.coli có đủ 3 loại kháng nguyên: O, H, K

Kháng nguyên O (kháng nguyên thân) chịu nhiệt, đun sôi ở 100 0 C, trong vòng

90 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, giữ được khả năng ngưng kết và kết

hợp.

Kháng nguyên H (kháng nguyên lông): đây là loại kháng nguyên có trên lông

vi khuẩn, có tính chịu nhiệt cao Tuy nhiên, khi đun sôi ở 100 0 C trong vòng

150 phút thì tính kháng nguyên, khả năng ngưng kết, kết hợp của kháng

nguyên H đều bị phá huỷ.

Kháng nguyên K là kháng nguyên bề mặt (hoặc kháng nguyên vỏ, hoặc kháng

nguyên bao) chúng gồm 3 loại, được ký hiệu là L, B, A.

Trang 15

+ Kháng nguyên L: không chịu được nhiệt, bị phá huỷ khi đun sôi ở 100 0 C trong vòng 1 giờ Trong điều kiện đó kháng nguyên mất khả năng ngưng kết,

kết tủa và không giữ được tính kháng nguyên.

+ Kháng nguyên B: Là kháng nguyên không chịu được nhiệt độ Dưới tác dụng 100 0 C trong vòng 1 giờ cũng sẽ bị phá huỷ Khi đó kháng nguyên B chỉ mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng ngưng kết và kết tủa + Kháng nguyên A: Là kháng nguyên vỏ, chịu nhiệt, không bị phá huỷ khi bị đun sôi ở 100 0 C trong vòng 2giờ 30 phút, tính kháng nguyên, khả năng ngưng

kết, kết hợp đều giữ nguyên.

+ Độc tố Theo Lý Thị Liên, ( 2001) [4], Ngoại độc tố: là độc tố nhiễm khuẩn tiết ra khuếch tán vào môi trường Ngoại

độc tố của vi khuẩn E.coli là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá huỷ ở

56 0 C trong vòng 10 – 30 phút Dưới tác dụng của formol và nhiệt, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố chưa thành công, mà chỉ có thể phát hiện canh trùng của những chủng mới phân lập được Khả năng tạo độc tố sẽ mất đi khi các chủng được giữ lâu dài hoặc cấy chuyển nhiều lần trên môi

trường dinh dưỡng.

Nội độc tố (là độc tố có trong tế bào vi khuẩn, chỉ được giải phóng ra ngoài môi trường khi tế bào vi khuẩn bị chết, bị dung giải hoặc bị phá vỡ): là yếu tố

gây hại chủ yếu của trực khẩn đường ruột E.coli chúng có trong tế bào vi

khuẩn và gắn vào tế bào vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có thể chiết suất bằng nhiều phương pháp như phá vỡ vỏ tế bào, bằng cơ học, chiết suất bằng axit

triloaxetic, phenol, dưới tác dụng của enzyme.

Về cấu trúc, nội độc tố là phức chất polysacharrido protein – lipit, vì vậy nó thuộc kháng nguyên hoàn toàn và có tính đặc hiệu cao đối với các chủng của

mỗi serotype.

+ Các chủng E.coli gây bệnh phân trắng ở lợn con

Trang 16

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở nước

ngoài về việc định ra các chủng E.coli gây bệnh.

Theo giáo trình “ Bệnh truyền nhiễm gia súc” của tác giả Nguyễn Vĩnh Phước, (1978) [8], tác giả W.Uitic đã nghiên cứu và cho biết bệnh ỉa chảy của lợn con

gây ra chủ yếu do 4 tuýp vi khuẩn:

O 8 : K87 (B), K88 (L)

` O 138 : K81(B), K88(L)

O 147 : K89(B), K88(L)

O 1,117 : K11, K88(L) 1.6.1.3 Những hiểu biết về bệnh phân trắng lợn con:

+ Tình hình dịch tễ của bệnh Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (1997) [5], tác giả Hùng Cao (1962), bệnh phân trắng ở lợn con thiệt hại nghiêm trọng cho các cơ sở chăn nuôi ở khu vực tự trị Việt Bắc Trong các nông trường chăn nuôi lợn sinh sản, tỷ lệ bệnh từ 25 – 100

%, tỷ lệ số lợn con chết đến 60%, bệnh có thể xảy ra quanh năm ở những nơi chăn nuôi tập trung, thường phát bệnh mạnh nhất là Đông xuân, Xuân hè (từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau) Đặc biệt là khi thời tiết thay đổi đột ngột( từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô ẩm sang rét ẩm), bệnh phát hàng

loạt.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (1997) [5], đã nhận xét về những điều kiện phát

sinh bệnh phân trắng lợn con như sau:

Thời gian nào độ ẩm cao, bệnh phát triển nhiều.

Tỷ lệ mắc bệnh ở nông trường thuộc trung du và miền núi ít hơn, thời gian

mắc bệnh cũng ngắn hơn so với đồng bằng.

Nền chuồng bằng đất và sân chơi rộng rãi hạn chế rất nhiều sự phát triển của

bệnh.

Đất đồi núi mà lợn con gặm ăn là một điều kiện ngăn ngừa bệnh, vì đất đồi có

nhiều nguyên tố vi lượng bổ sung sự thiếu hụt của thức ăn.

+ Đường nhiễm bệnh

Trang 17

Đường nhiễm bệnh chủ yếu là do ăn uống Khi bị nhiễm, E.coli phát triển

nhanh trong đường ruột, chúng tự huỷ hoại và giải phóng ra các độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng limpho, do đó máu bị nhiễm độc và con vật chết.

Từ khi mới sinh, hệ sinh vật ở đường tiêu hoá rất đa dạng, tỷ lệ, số lượng vi

trùng rất khác nhau ở các đoạn ruột khác nhau.

Mầm bệnh có thể truyền trực tiếp từ lợn mẹ bị nhiễm E.coli sang lợn con khi còn là bào thai Thực tế đã chứng minh, bệnh do E.coli không những xuất

hiện vào những ngày đầu tiên mới đẻ mà thậm chí vào những giờ đầu tiên sau khi sinh Điều đó cho thấy đã có sự nhiễm bệnh của bào thai ngay từ khi trong bụng mẹ, do đó con vật đẻ ra đã là con vật bệnh Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trong việc kịp thời đề xuất những biện pháp nhằm phòng trừ có hiệu quả ngay từ khi con vật trong bụng mẹ (theo Đào Trọng Đạt, Phan Đình

Phượng, Lê Ngọc Mỹ, ( 1995) [2]), + Quá trình sinh bệnh

Đối với lợn con khoẻ mạnh, vi trùng E.coli và các vi trùng khác chỉ cư trú ở

một đoạn ruột già và ở phần cuối ruột non, phần đầu, phần giữa hầu như

không có vi trùng, chỉ có ít liên cầu khuẩn, Lactobacillus.

Quá trình sinh bệnh liên quan đến nhiều đặc điểm sinh lý của cơ thể lợncon Hệ thống thần kinh của lợn con hoạt động với chức năng chưa thànhthục Việc điều khiển thần kinh hầu hết bằng những phản xạ không điều kiện.Ngoài ra, có những đặc điểm đáng chú ý như: độ tan của dịch dạ dày thấp, độthẩm thấu của biểu bì thành ruột cao, chức năng điều tiết của gan kém Sựthu nhận quá dễ dàng qua hang rào bảo vệ đã tạo điều kiện cho sự xâm nhậpcủa các độc tố do chúng sinh ra vào các nhu mô chính, đó là những điều kiệngây nên bệnh

Vi trùng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá hoặc thai, chúng xâm nhập vào niêm mạc ruột, sinh sản, phát triển trong các tế bào biểu mô ruột gây viêm

Trang 18

thuỷ thũng các hạch gây viêm thuỷ thũng hạch, sau đó vào máu Trong máu chúng tiết ra độc tố làm cơ thể nhiễm độc dẫn tới trạng thái hôn mê rồi chết.

+ Triệu chứng lâm sàng Bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ dưới 2 tháng, thời gian ủ bệnh từ vài giờ

đến 1 ngày.

Lợn con bị nhiễm E.coli yếu, chậm chạp, ít bú, thân nhiệt ít khi bị tăng cao, cá

biệt có con 40,5 – 41 o C, nhưng chỉ sau một ngày là hạ xuống ngay Lợn ỉa nhiều lần trong một ngày, phân lỏng, màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc màu hơi vàng, mùi tanh Bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính xung quanh hậu môn, 2 chân sau dúm lại Bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào vụ Đông xuân – Xuân hè, khi độ ẩm môi trường cao Bệnh thường gặp ở lợn con 3 – 21 ngày tuổi, mắc một vài con hoặc cả đàn, có khi

điều trị khỏi lại tái nhiễm.

Thể gây chết nhanh: những lợn 4- 15 ngày tuổi thường mắc ở thể này Sau một đến hai ngày đi ra phân trắng, lợn gầy sút rất nhanh Lợn kém bú rồi bỏ

bú hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo.

Niêm mạc trắng nhợt nhạt, 4 chân lạnh Có con hay đứng riêng một chỗ và thở nhanh Phân từ ỉa nát rồi đến loãng Số lần ỉa tăng từ 1 -2 lần trong ngày lên đến 2- 4 lần, trước lúc chết có hiện tượng quá suy nhược, co giật hoặc run.

Tỷ lệ chết 50 – 80%.

Thể bệnh kéo dài: Hơn 20 ngày tuổi hay mắc thể này Bệnh kéo dài từ 7 – 10 ngày Lợn vẫn bú nhưng dần dần bú kém đi Phân màu trắng đục, trắng, hơi vàng Có con mắt có dử, có quầng thâm quanh mắt, niêm mạc nhợt nhạt Nếu

không lành, lợn suy nhược rồi chết sau hàng tuần bị bệnh.

Những lợn đã 45- 50 ngày tuổi thì có ỉa phân trắng nhưng vẫn hoạt động bình thường, ăn, bú, đi lại nhanh nhẹn Phân thường đặc hoặc nát với màu trắng xám Từ đó lợn có thể tự lành, thường ít chết Nhưng nếu kéo dài, lợn gầy sút

và sau này có thể còi cọc, chậm lớn.

+ Bệnh tích

Trang 19

Bệnh tích thể hiện chủ yếu ở quanh bụng Ruột non bị viêm cata kèm theo xuất huyết, mạch máu vàng héo, ruột sưng, mềm, đỏ tấy do xung huyết Niêm mạc ruột non và dạ dày sưng, phủ một lớp nhầy, có nhiều dạng xuất huyết khác nhau Gan bị thoái hoá màu đất sét, túi mật căng và dài ra do chứa đầy mật Cơ tim nhão, dạ dày, manh tràng chứa đầy sữa đặc Chất chứa trong ruột lỏng, có màu vàng Máu loãng, màu thẫm Xác chết của lợn gầy, bụng

khuẩn cao đặc biệt so với vi khuẩn Gram(-) như: E.coli, Enterobacter

aerogenes, Slamonella, Shigella, Pasteurella, Pseudommas aeruginosa Nó

không có tác dụng với các vi khuẩn và các vi khuẩn Gram(+).

Colistin không bị hấp thụ qua đường tiêu hoá, vì vậy sau khi uống, thuốc giữ nồng độ cao ở ruột và các tác dụng diệt khuẩn tại chỗ Colistin không gây sự kháng độc, kháng chéo của vi khuẩn, đặc biệt Colistin 1200 có khả năng khử

được hoạt tính của các độc tố của E.coli tiết ra.

Liều sử dụng: 2g/10kg TT/lần x 2 lần/ 1 ngày.

+ Thuốc Enrovet 5% (Enrofloxacin 5%) Thành phần:1ml chứa 5mg Enrofloxacin Enrofloxacin là một kháng sinh tổng hợp, nhóm Fluroquynolone thế hệ có 3 phổ tác dụng với hầu hết các chủng Mycoplasma và các chủng vi khuẩn Gram (+), Gram (-) chính gây bệnh ở gia cầm, gia súc, như chủng vi khuẩn họ

Enterobactericea(E.coli , Klebsiella, Salmonella, Shigella, Proeus spp,

Enterocolitica, Vibrio spp…) những vi khuẩn này là nguyên nhân chíng gây

Trang 20

viêm ruột ỉa chảy, nhiễm khuẩn bại huyết và gây tử vong, thiệt hại trong chăn

nuôi nhất là ở gia súc sơ sinh.

Enrofloxacin tác dụng mạnh đối với Mycoplasmagallisepticum, M.synovica, M.meleragides, M.lowa,….các chủng vi khuẩn E.coli, Pasteurella spp, Samonella spp, Clostridia, Enterococcus faccalis, kể cả các chủng đã nhờn với Gentamicin, Ampicillin, Chloramphenicol, Tetracylin, và một số kháng sinh

nhóm aminoglysides.

Cũng như tất cả các Fluroquinone, cơ chế tác dụng của Enrofloxacin ức chế quá trình tổng hợp AND của vi khuẩn, bằng cách ngăn cản men DNA làm

cho vi khuẩn không có khả năng sinh sản.

Người ta chưa quan sát thấy có sự nhờn thuốc của vi khuẩn E.coli, Samonella

với Enrofloxacin.

Thuốc dễ dung nạp và hấp thu tốt, trung bình sau 2 giờ đạt nồng độ đỉnh

trong huyết thanh và khuếch tán đến các mô, dịch thể.

Liều sử dụng: 1ml/5kg TT 1 lần, tiêm 2 lần/ ngày, dùng liên tục từ 2 -3 ngày.

1.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới

1.6.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Theo Phạm Sỹ Lăng (1997), [5], đã nêu: Bệnh phân trắng lợn con

(Colibacillosis) là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày, ruột, ỉa chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ

yếu ở lợn con là E.coli, nhiều loại Samonella (chlolerasuis, typhisuis) và đóng

vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau

khi sinh và trong suốt thời kỳ bú mẹ.

Ở nước ta lợn con mắc bệnh phân trắng khá phổ biến Trong các cơ sở chăn nuôi, tỷ lệ lợn con mắc bệnh từ 25 % - 70%, tỷ lệ chết trên 70% Bệnh có thể phát triển quanh năm, nhưng nhiều nhất là cuối đông và sang xuân, cuối xuân

sang hè.

Theo Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Quang Tuyên, (1993), cho biết bộ máy tiêu hoá ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của

Trang 21

đường ruột và dạ dày rất yếu Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hoá

cho lợn.

Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ [6], cho rằng bổ sung Fe – Dextran cho lợn con có tác dụng làm tăng lượng huyết sắc tố (Heamglobin), tăng số lượng hồng cầu Giúp cho gia súc non, đặc biệt là gia súc sơ sinh khoẻ mạnh hồng hào, phát triển tốt lơn nhanh và phòng các bệnh truyền nhiễm nhất là bệnh phân

trắng.

Theo Từ Quang Hiển và cs, (1995) [3], lợn con dưới 1 tháng tuổi trong dịch vị

dạ dày không có HCl tự do Vì vậy lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Hiện tượng này gọi là Hypoclohydrit và là một đặc điểm tiếu hoá quan trọng dạ dày ở lợn con, vì thiếu HCl tự do trong dịch

vị nên vi sinh vật có điều kiện phát triển, gây bệnh trong đường tiêu hoá và dạ

dày lợn con.

Theo Phan Đình Thắm, (1995) [10], nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu để giúp lợn con có sức đề kháng chống lại bệnh tật Vì trong sữa đầu

có Albumin và Globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp lợn con

có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu, phải đảm bảo được toàn bộ số con trong đàn được bú hết lượng sữa đầu của lợn

khí hậu chuồng nuôi thích hợp.

Theo Lê Văn Năm và cs, (1998) [7], cho rằng: Bệnh phân trắng lợn con chủ

yếu do vi khuẩn E.coli gây ra Ngoài ra còn một số nguyên nhân kkhác như

Trang 22

chuồng nuôi bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa chưa đúng kỹ

thuật và bất lợi về thời tiết.

Theo Lê Thị Tài, và cs, (2000), nghiên cứu về: “Chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy của lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc” cho thấy: Để điều

trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimazon, Chloramphenicol, Berberin) có hiệu quả điều trị 75 –

80 % Phối hợp với chế phẩm sinh học sẽ tăng hiệu quả điều trị lên 95 – 98%

và bổ sung điện giải (ozesol) vừa tăng hiệu quả điều trị và tăng tỷ lệ khỏi bệnh 90%, con vật mau hồi phục, đảm bảo chất lượng và số lượng con giống.

1.6.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước.

Theo Lutter, (1976), thông báo: Ogramin liều 15g/con cho uống có tác dụng tốt trên 95% trong hiệu quả điều trị E.coli Tác giả còn lưu ý rằng khi sử dụng kháng sinh trong điều trị phân trắng lợn con phải thường xuyên, có kế hoạch

chặt chẽ, phải có kháng sinh dự trữ liên tục.

Theo P.X Matsiser, (1976), dung Colibactecin tức E.coli sống chủng M17 có

tính đối kháng với nhiều loại vi khuẩn, cho lợn ăn 2 lần/ ngày với liều 250ml Sau 14 ngày có hiệu quả đặc biệt đối với lợn con trong thời kỳ cai sữa Theo Axovach và Lobiro, (1993), đã chữa bệnh Colibacteria ở lợn có hiệu quả bằng cách cho uống Histamin liều 5mg/con, 3 lần/ngày, trong 3 ngày liên tục Theo nhiều tác giả thì nhóm kháng sinh Neomycin có tác dụng điều trị tố, cho uống với liều từ 10 – 20 UI/kgP, trong 3 ngày Các kháng sinh khác nên dung Oxytetracyclin Dibiomycin liều 5000 – 10000 UI/kg P trong liệu trình phối

hợp với Sulfamid cũng cho hiệu quả tốt.

Trang 23

PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn con lai (Landrace, Yorkshire lai cái địa phương) giai đoạn từ sơsinh đến 60 ngày tuổi

- Hai loại thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con là Colistin 1200 vàEnrovet 5%

2.1.2 Địa điểm nghiên cứuCác xã, thị trấn: Kim Long, Đạo Tú, Thanh Vân, Hợp Thịnh của huyệnTam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 01/12/2010 đến ngày 15/03/2011.

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Công tác phục vụ sản xuất

Trang 24

- Cùng với cán bộ trạm thú y, thú y cơ sở điều tra tình hình dịch bệnhtrên địa bàn huyện Tam Dương, từ đó đề ra biện pháp phòng, chống dịch bệnh

có hiệu quả

- Tham gia công tác tuyên truyền đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

- Kết hợp với cán bộ Trạm Thú y tiêm phòng, chẩn đoán, điều trị bệnhcho gia súc, gia cầm

2.2.2 Nội dung nghiên cứu

Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôitrong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc

Ngày đăng: 21/04/2015, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2002), Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh lợn nái, lợn con, lợn thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), Bệnh tiêu hoá ở lợn, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu hoá ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
3. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, gia cầm, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc, gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Năm: 1995
4. Lý Thị Liên Khai (2001), Phân lập xác định độc tố dường ruột của chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn, Tạp chí khoa học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập xác định độc tố dường ruột của chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy ở lợn
Tác giả: Lý Thị Liên Khai
Năm: 2001
5. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp điều trị, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp điều trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
6. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000), Thuốc Thú y và cách sử dụng, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc Thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
7. Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương (1998), Hướng dẫn phòng trị bệnh lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
8. Nguyễn Vĩnh Phước (1978), Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
9. Lê Văn Phước (1995), Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ không khí đến tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng, Kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ không khí đến tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng
Tác giả: Lê Văn Phước
Năm: 1995
10. Phan Đình Thắm (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn, dùng cho cao học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Phan Đình Thắm
Năm: 1995
11. Nguyễn Văn Thiện (1997), Phương pháp xử lý số liệu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xử lý số liệu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
12. Nguyễn Thiện, Trần Đình Miên, Võ Trọng Hốt (2005), Con lợn ở Việt Nam, Nxb Nông ngiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Trần Đình Miên, Võ Trọng Hốt
Nhà XB: Nxb Nông ngiệp
Năm: 2005
14. Axovach, libio, (1984), Histamin colibacteria Khác
15. Lutter (1976), Sử dụng Ogramin cho lợn con phân trắng Khác
16. P.X Matsiter (1976), Sử dụng E.coli sống Chủng M17 với bệnh đường tiêu hoá Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. kết quả công tác phục vụ sản xuất - Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 3.1. kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 32)
Bảng 3.2. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng của 4 xã theo đàn - Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 3.2. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng của 4 xã theo đàn (Trang 32)
Bảng 3.4: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng qua các tháng - Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 3.4 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng qua các tháng (Trang 34)
Bảng 3.6: Hiệu lực điều trị của Enrovet 5% và Colistin 1200. - Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 3.6 Hiệu lực điều trị của Enrovet 5% và Colistin 1200 (Trang 36)
Bảng 3.7: Hạch toán chi phí thuốc thú y - Áp dụng một số biện pháp phòng, trị bệnh phân trắng lợn con nuôi trong nông hộ ở một số xã thuộc huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc
Bảng 3.7 Hạch toán chi phí thuốc thú y (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w