Đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh, đưa Gia Lai một vùng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp, trở thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá v
Trang 1ĐĂT VÂN ĐỀ
1- Sự cần thiết phải có đề án
Vùng tây nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng với diện diện tích tự nhiên hơn 1,5 triệu ha, dân số hơn 1,2 triệu người Vị trí Gia Lai không chỉ phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng mà còn có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường của một số vùng lân cận, bởi Gia Lai là đầu nguồn của mốt số con sông, suối đổ
về các tỉnh Duyên hải và miền Trung Những qua Nhà nước và Tỉnh đã đầu tư nhiều chương trình, những giải pháp phát triển sản xuất bền vững và ổn định kinh
tế xã hội, gắn với bảo vệ môi trường, đã mang lại những kết quả bước đầu Đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh, đưa Gia Lai một vùng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp, trở thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá với qui mô lớn, tạo ra vùng chuyên canh tập trung như: Cà phê, Cao su, Chè, Điều, Mía đường; Trong chăn nuôi qui mô tổng đàn chiếm cũng rất lớn, góp phần chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông lâm nghiệp của Tỉnh
Tuy nhiên sản xuất ngành chăn nuôi chưa phát huy được tiềm năng của mình, nhất là sự đa dạng vật nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái của Tỉnh; Trình
độ chăn nuôi của người dân, chất lượng giống các loại vật nuôi chất lượng cạnh tranh còn kém; Trình độ một số cán bộ kỹ thuật và cán bộ làm công tác thú y ở cơ
sở còn hạn chế nên phẩm cấp, năng suất, sản lượng sản phẩm thấp, thiếu tính cạnh tranh
Gia Lai có thảm thực vật phong phú, cơ cấu cây trồng đa dạng, cùng với việc phát triển đa dạng vật nuôi, khả năng phát triển ngành ong mật của tỉnh Gia Lai còn rất lớn, song những năm qua chưa được quan tâm đầu tư đúng mức và theo chiều sâu; Trong khi ong mật là tác nhân thụ phấn hữu hiệu cho cây trồng, góp phần làm tăng năng suất chất lượng của nhiều loại nông sản Phát triển nuôi ong không chỉ thu được các sản phẩm quý, có giá trị cao trong tiêu dùng và xuất khẩu, mà còn giải quyết được việc làm, tăng thu nhập cho nông dân ở các vùng nông thôn, miền núi, góp phần xóa đói giảm nghèo, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, thúc đẩy phong trào VAC và một số ngành nghề khác phát triển Từ những lợi ích thu được, cùng với điều kiện nuôi ong khá thuận lợi Đây
là một trong những điều kiện cơ bản và có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự phát triển của ngành ong mật trong thời gian tới Nhằm tạo thêm một sản phẩm chăn nuôi có giá trị, góp phần tăng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, và là mặt hàng có khả năng tham gia xuất khẩu của Tỉnh
2- Tình hình nghiên cứu của đề án
* Dự báo thị trường mật ong thế giới:
Trang 2Theo số liệu báo cáo của Hiệp hội nuôi ong quốc tế (APIMONDIA) năm
2007, tại Úc thì sản lượng mật ong của thế giới đạt 1,25 triệu tấn, tuy nhiên sản lượng mật ong giao dịch trên thị trường chỉ có khoảng 300-330 ngàn tấn Quan hệ giữa cung - cầu vẫn chưa thể cân đối, nhu cầu mật ong của thể giới vẫn cao hơn
so với khả năng cung ứng
Ở Mỹ, do bị cháy rừng ở California nên diện tích cây nguồn mật bị mất đi khá lớn, cùng với dịch bệnh thường xảy đã làm cho số lượng đàn ong của Mỹ từ 4.300.000 đàn giảm xuống chỉ còn 2.500.000 đàn, kéo theo sản lượng mật ong giảm sút trầm trọng
Tại Trung Quốc, tuy đã phục hồi được quy mô đàn so với năm 2000 và sản lượng mật đã đạt trên 180 ngàn tấn, nhưng do sản phẩm có dư lượng kháng sinh nên có nhiều nhà nhập khẩu của EU đã hạn chế nhập khẩu Còn ở thị trường Mỹ, mật ong của Trung Quốc đang bị áp dụng luật chống bán phá giá (mức thuế lên tới 187%) nên giá nhập khẩu vào Mỹ rất cao
Sản lượng mật ong của Achentina cũng bị sút giảm nhiều (chỉ đạt 87.000 tấn) so với dự báo ban đầu (110.000 tấn)
Một số nước xuất khẩu mật ong ở Đông Âu cũng gặp khó khăn, do thời tiết khí hậu thay đổi, dịch bệnh phát sinh phát triển mạnh (2006-2007) nên hàng triệu đàn ong đã bị thiệt hại, sản lượng mật giảm Do vậy hầu hết mật ong của Achentina sản xuất ra đã tập trung bán vào các nước EU vì giá bán khá cao (trên 2400USD/tấn) Theo đánh giá của tổ chức IHEO (tổ chức xuất khẩu mật ong thế giới) giá mật ong giao dịch ở các thị trường lớn (EU, Mỹ, Nhật Bản) sẽ tăng lên cao trong những năm tới
Các nước như Barazil, Ấn Độ, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã tham gia xuất khẩu, tuy nhiên sản lượng không ổn định, một số lô mật vẫn bị phát hiện có sự pha trộn, giá xuất khẩu cũng thường cao hơn của Việt Nam
Tình hình sản xuất của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng lớn bởi thời tiết khí hậu không thuận lợi, sản lượng không tăng lên so với các năm 2008, mặt khác thị trường EU, đang có dấu hiệu sẽ mở cửa trở lại cho nhiều doanh nghiệp của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này khi chính phủ hoàn tất các chương trình kiểm soát chất lượng
Nhìn chung về thị trường xuất khẩu trong những năm tới sẽ là khá thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, đồng thời tăng được khả năng cạnh tranh tại các thị trường truyền thống (Mỹ, Nhật Bản…), bất luận cả việc Uỷ ban Châu Âu tạm thời ngưng nhập khẩu mật ong của Việt Nam
* Dự báo thị trường mật ong trong nước:
Thị trường buôn bán mật ong trong nước trong những năm vừa qua cũng đã tăng khá nhanh, do người tiêu dùng đã sử dụng mật ong nhiều hơn Theo đánh giá của các chuyên gia và Hội nuôi ong Việt Nam, thì trong những năm tới, khi đời sống của người dân đã nâng cao, mức tiêu thụ mật ong sẽ tăng mạnh
Theo báo cáo của Hội nuôi ong Việt Nam, hiên nay sản lượng mật ong đạt
Trang 315-17 ngàn tấn/năm (trong đó xuất khẩu khoảng 10.000-14.000 tấn/năm), với dân
số hơn 85 triệu người thì mức tiêu thụ tính bình quân trên đầu người vẫn còn ở mức rất thấp Do vậy, thị trường trong nước vẫn còn rất lớn cho ngành ong mật phát triển Những số liệu điều tra gần đây của các Công ty kinh doanh mật ong đã cho thấy mức tiêu thụ trong nước từ năm 2007 - 2008 tăng khoảng 8% so với năm
2005, đây là một tín hiệu rất khả quan cho các cơ sở sản xuất
Dự báo cho những năm tới, mức tiêu thụ nội địa có nhiều khả năng tăng đột biến, và có thể sẽ đạt mức 10 - 15% tổng sản lượng mật ong của cả nước
* Giống ong:
Mặc dù hiện tại, toàn tỉnh đã có khoảng 50 ngàn đàn ong Ý, chủ yếu do các nông hộ quản lý nên công tác chọn lọc giống ong chưa được đầu tư và quản lý một cách khoa học, một số nơi đã xuất hiện tình trạng suy thoái do giao phối cận huyết Dẫn đến khả năng đề kháng với bệnh kém, năng suất mật chưa cao Nhu cầu về giống ong Ý đã chọn lọc và cho năng suất cao, đang bị mất cân đối đây là nhân tố thứ hai quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế nuôi ong của tỉnh
Để giải quyết một cách có hiệu quả về con giống, hướng nhập những đàn ong Ý có phẩm chất tốt, cùng với việc sử dụng số đàn ong hiện có tại địa phương
để tiến hành cải thiện chất lượng giống ong là một hướng đi hợp lý, đảm bảo tính khoa học và đạt được hiệu quả kinh tế cao
3-Phạm vi đề án
Đề án dự kiến sẽ thực hiện tại huyện Ia Grai về mô hình nuôi ong, và huyện Đức Cơ để xây dựng mô hình chế biến mật ong xuất khẩu, hai huyện có tiềm năng và triển vọng để phát triển nghề nuôi ong lấy mật Huyện Ia Grai có diện tích đất 1122,38 km2, dân số 73647 người, thảm thực vật phong phú đa dạng, trong đó có tới 652.891ha trồng hoa màu; 16.442 ha cao su; 12.352 ha cà phê Nhân dân trong vùng đã nuôi giống ong Ý, có nguyện vọng được tiếp thu các tiến
bộ kỹ thuật để phát triển sản xuất Các cấp các ngành ở địa phương luôn quan tâm
và khuyến khích phát triển chăn nuôi ong Đối với huyện Đức Cơ, nằm ở trung tâm nguồn mật, việc thành lập cơ sở chế biến ở đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các huyện khác ở trong tỉnh
4- Những điểm mới của đề án
Để thực hiện định hướng trên, việc liên kết giữa 4 nhà (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp) và sự kết hợp giữa đào tạo, nghiên cứu với sản xuất, đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng mô hình nuôi ong tiên tiến, là một biện pháp tích cực để tạo ra nhiều loại sản phẩm có chất lượng cao, đồng thời nhanh chóng đào tạo được nguồn nhân lực mới, thúc đẩy ngành ong của địa phương phát triển trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và xã hội
Với mục đích xây dựng mô hình nuôi ong tiên tiến, đạt hiệu quả kinh tế
cao và phát triển ổn định Các công nghệ khoa học dự kiến được áp dụng vào là
Trang 4các tiến bộ kỹ thuật mới đồng bộ, khép kín từ khâu: nuôi dưỡng - khai thác - vận chuyển - sơ chế - bảo quản - xuất khẩu Trong đó, bao gồm những tiến bộ kỹ thuật như: Quy trình tạo chúa nhân đàn Quy trình chăm sóc, nuôi - khai thác Phòng, trị bệnh và ngăn ngừa dư lượng các loại thuốc
Kỹ thuật tinh lọc, giảm thủy phần, đóng gói, bảo quản mật ong theo tiêu chuẩn xuất khẩu Sẽ được phổ biến và áp dụng rộng rãi cho những cơ sở nuôi ong
Với những kỹ thuật này, sau khi tập huấn, người nuôi ong có thể tự giải quyết được mọi vấn đề tồn tại hiện nay Đồng thời sẽ nhanh chóng tổ chức lại sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, phấn đấu 95 - 99% sản lượng mật làm ra được xuất khẩu
Ưu điểm của công nghệ là dễ áp dụng cho mô hình nuôi ong nông hộ, giá
thành hạ, phù hợp với Việt Nam Mặt khác việc đưa công nghệ và dây chuyền chế biến sản phẩm về tại địa phương sẽ giúp cho vấn đề tinh lọc chế biến ngay, đảm bảo được chất lượng ngay từ ban đầu, nâng cao giá trị tăng thêm của sản phẩm ong sau khai thác
Việc áp dụng các công nghệ này sẽ nhanh chóng khôi phục và phát triển ngành ong tạo việc làm, nâng cao hơn nữa ý thức của người chăn nuôi đối với chất lượng sản phẩm, khắc phục nhanh chóng những tồn tại của địa phương, tạo
ra thế phát triển bền vững cho ngành ong mật, đồng thời những mô hình tiên tiến hiệu quả cao sẽ được mọi người học tập tạo ra hiệu quả kép, để nhân rộng cho các vùng nuôi ong
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế sản xuất và định hướng phát triển ngành chăn nuôi của địa phương, trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn xây dựng đề án:
"Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, khai
thác, chế biến mật ong xuất khẩu tại tỉnh Gia Lai."
Phần I
CƠ SỞ KHOA HỌC
1 Những cơ sở để lập đề án
* Căn cứ pháp lý
- Nghị quyết 22/TW của Bộ chính trị về phát triển KT-XH nông thôn và miền núi
- Quyết định số 168/2001/QĐ-TT ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về những giải pháp phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên 2001- 2005
- Quyết định số 122/2004/QĐ-TT ngày 05/07/2004 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi giai
Trang 5đoạn từ nay đến năm 2010.
- Báo cáo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2015 ngày 10/07/2001 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh Gia Lai lần thứ XIII nhiệm kỳ 2004-2009
- Công Văn số 2449/BKHCN-KHKT, ngày 22/9/2004 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc: Hướng dẫn đề xuất dự án thuộc Chương trình Nông thôn và Miền núi thực hiện trong năm 2005
- Công văn số 272/UBND-VX, ngày 22/02/2006 Đề nghị mở Dự án nông thôn - Miền núi cấp Nhà nước tại tỉnh Gia Lai
- Công văn số 1170/UBND-NL, ngày 29/4/2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia
Lai: “V/v thực hiện Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề, khuyến nông - lâm - ngư thuộc Chương trình mục tiêu giảm nghèo".
2- Căn cứ khoa học:
- Căn cứ vào những đặc điểm thời tiết khí hậu, đất đai, thảm thực vật, cơ sở thức ăn nuôi ong và trữ lượng nguồn mật
- Căn cứ vào những đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống ong Ý
(Apí mellifera ligútica) cho năng suất cao, chống chịu tốt với dịch, bệnh và rất thích
nghi với điều kiện của Việt Nam và tỉnh Gia Lai
-Nghề nuôi ong cổ truyền đã có từ lâu đời, tuy nhiên trước những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa nên hầu hết những cơ sở nuôi ong trong tỉnh đều mong muốn được tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật để phát triển sản xuất
-Điều kiện tự nhiên
* Khí hậu thời tiết:
Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, phân chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa
-Mùa khô Bắt đầu từ tháng 11-12 đến tháng 4-5 năm sau, vào mùa này không có mưa hoặc rất ít mưa Hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc
-Nhiệt độ trung bình từ 21-230C, nhiệt độ tối cao 40,80C (tại Cheo reo năm 1993), nhiệt độ tối thấp 5,60C (tại Pleiku năm 1993) Biên độ nhiệt độ giữa hai mùa từ
5-60C, giữa ngày và đêm từ 13-150C
-Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 2100-2200mm Nơi có lượng mưa lớn nhất tỉnh là Pleiku (2.917mm đo được năm 1996) Nơi có lượng mưa thấp nhất tỉnh là Ayun Pa (bình quân < 1.327mm) Tháng có lượng mưa tập trung nhất là các tháng 7, 8, 9
Trang 6-Đất đai: Với diện tích đất tự nhiên 1.549.571 ha, trong đó chủ yếu là đất nông lâm nghiệp, thảm thực vật phong phú, cơ cấu cây trồng đa dạng, khả năng phát triển ngành ong mật của tỉnh Gia Lai còn rất lớn Đây là một trong những điều kiện cơ bản và có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự phát triển của ngành ong mật
Biểu số 2: Diện tích một số loại cây trồng (năm 2008)
A- Cây hàng năm 179.296
1- Cây lương thực 123.664
Tổng cộng 355.670
- Thảm thực vật với thảm thực vật phong phú đa dạng, cùng với khí hậu thuận lợi
đã tạo nên trữ lượng cây nguồn mật lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành ong theo hướng sản xuất hành hoá để xuất khẩu
-Điều kiện kinh tế - xã hội
* Tình hình kinh tế:
Nền kinh tế tỉnh Gia Lai có sự tăng trưởng khá với tốc độ tăng giai đoạn 2001-2005 là 11,55%/năm, năm 2008 đạt 12,49% (trong đó: tốc độ tăng trưởng nông lâm nghiệp 6,84%; Công nghiệp - Xây dựng 19,65%; Dịch vụ 14,68%)
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tuy nhiên tốc độ chuyển dịch chậm; Cơ cấu kinh tế: Nông-lâm nghiệp 47,33%; Công nghiệp- xây dựng 25,20% và Dịch vụ 27,47%
Gia Lai có hơn 100 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Nông lâm ngư nghiệp và trên 3000 trang trại, hàng năm đóng góp tỷ trọng ngành Nông -lâm - ngư trong tổng GDP toàn tỉnh luôn chiếm tỷ trọng lớn với tỷ lệ năm 2008 là 47,33% (trong đó: trồng trọt 92,23%; chăn nuôi 5,47%; lâm nghiệp 2,3%) Cơ cấu nội ngành nông nghiệp cũng đã và đang từng bước có sự chuyển dịch, tỷ trọng giữa chăn nuôi với trồng trọt và lâm nghiệp tăng đáng kể trong những năm qua, tuy nhiên tốc độ tăng còn chậm
Trang 7Dân số và lao động: Dân số tỉnh Gia Lai năm 2008 có 1.200.824 người, trong đó
có 632.020 số người trong độ tuổi lao động (15 tuổi trở lên) chiếm 53,2% dân số
Số lao động qua đào tạo chiếm 26% so với tổng số lao động, trong đó đào tạo nghề đạt 16,2%
Lao động nông thôn 415.832 người, chiếm 34,62% dân số Phần lớn lao động trong nông nghiệp chưa qua đào tạo (nhất là những vùng sâu, vùng xa, nơi còn nhiều đất đai và tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp)
PHẦN II NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
I- BỐI CẢNH CHUNG
1-Hiện trạng chăn nuôi ong
* Quy mô số lượng đàn ong:
Hiện tại toàn tỉnh đã có khoảng 1000 hộ nuôi ong Ý, quy mô từ 50-800 đàn mỗi trại Sản lượng mật hàng năm khoảng 1200-1800 tấn Giống ong hiện đang nuôi
là giống ong nội địa, nuôi tự phát, công tác giống ít được chú trọng, việc giao phối tự do đã dẫn tới hiện tượng đồng huyết, năng suất và sức đề kháng giảm Nhìn chung tình hình sản xuất chưa ổn định, giá thu mua cho nông dân thường có biến động lớn Nhiều năm qua, sản phẩm làm ra, nhưng vẫn chưa tổ chức xuất
khẩu được, chủ yếu chỉ bán cho tư nhân hoặc một số công ty trong nước Người
nuôi ong không được tập huấn kỹ thuật nuôi ong, công tác phòng trị bệnh, khai thác sản phẩm không theo quy trình kỹ thuật, dẫn đến chất lượng rất kém
Do vậy, việc tổ chức các cơ sở nuôi ong thành một hệ thống, đồng thời cải thiện lại con giống, áp dụng các quy trình phòng trị bệnh hợp lý, xây dựng cơ sở chế biến tại địa phương, đưa các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, nâng cao trình độ
kỹ thuật và trình độ quản lý cho người nuôi ong đang là vấn đề cấp thiết, nhằm tạo ra sự phát triển ổn định và bền vững
* Thú y:
Mạng lưới thú y đã được tổ chức chặt chẽ, các hoạt động kiểm dịch, đối với việc
di chuyển ong và các sản phẩm của ong đã được thực hiện tốt Công tác kiểm tra định kỳ và triển khai phòng, trị bệnh cho ong được các cơ sở nuôi ong thực hiện nghiêm túc Nhờ vậy, tính đến nay chưa xảy ra các đợt dịch bệnh lớn trong các trại ong, giảm được nhiều thiệt hại cho người nuôi ong
Tuy nhiên, công tác phòng, trị bệnh cho ong hiện nay, đặc biệt là phổ cập các kiến thức vệ sinh phòng bệnh, cũng như hạn chế tình trạng sử dụng thuốc thú y bừa bãi thiếu khoa học, vẫn còn nhiều bất cập, việc kiểm tra dư luợng thuốc
Trang 8kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, vẫn chưa được thực hiện tốt Đây chính là nguyên nhân gây ra việc tồn đọng sản phẩm trong hai năm gần đây
Trong tương lai, khi đề án được thực thi, quy trình phòng, trị bệnh, cũng như các biện pháp ngăn ngừa dư lượng thuốc có trong mật sẽ được chú trọng Các biện pháp, phòng trị bệnh bằng phương pháp sinh học, hoặc sử dụng một số thảo mộc,
sẽ được phổ biến và áp dụng vào sản xuất, nhằm thay thế các loại thuốc thú y và các hóa chất độc hại đã dùng trước đó
*Tình hình chế biến
Công nghệ khai thác tinh lọc thô sơ, không đảm bảo an toàn vệ sinh chất lượng
sản phẩm; Riêng trong năm 2008, toàn tỉnh đã có những lúc tồn đọng tới 900 tấn
mật ong không tiêu thụ được, nay ván đề nay vẫn còn là việc cần được giaỉ quyết; Nguyên nhân chủ yếu là do bị nhiễm kháng sinh và bị pha đường mía Tình hình trên đã gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng, ảnh hưởng lớn đến tinh hình sản xuất
2- Đinh hương phát triển
Nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ lần thư 13 xác định chuyển dịch cơ cấu nông lâm nghiệp, đưa ngành chăn nuôi là nghề chính; Trên cơ sở phân tích các yếu tố thuận
lợi cũng như những khó khăn trước mắt của địa phương, định hướng phát triển
ngành chăn nuôi đến năm 2010 bình quân tăng trưởng 5%/năm, ngoài việc phát triển thế mạnh chăn nuôi đại đànt gia súc,gia cầm, cần đa dạng hóa vật nuôi
Để góp phần tăng thêm giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi Trong đó cần quan tâm phát triển nghề nuôi ong ở những nơi có điều kiện phát triển, đặc biệt tâp trung
chủ yếu cải tạo và phát triển giống ong Ý (Apis mellifera ligustica) đưa quy mô
số lượng đàn ong Ý lên 100.000 đàn, khai thác 4.000 tấn sản phẩm quy mật để phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN
1 Mục tiêu chung.
Khai thác hiệu quả các tiềm năng về trữ lượng cây nguồn mật, lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống và an ninh xã hội ở địa phương phấn đấu đưa nghề nuôi ong trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, mang lại những lợi ích về mặt kinh tế và xã hội
Xây dựng thương hiệu cho các loại sản phẩm ong mật của tỉnh Gia Lai, hướng tới xuất khẩu để tăng thêm nguồn thu ngoại tệ và ngân sách của tỉnh
2 Mục tiêu cụ thể.
Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến để xây dựng 6 mô hình nuôi ong có tính chuyên nghiệp cao và quy mô từ 800 đàn ong Ý
Xây dựng cơ sở thu gom, tinh chế sản phẩm ong mật để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu
Đào tạo 10 kỹ thuật viên cho cơ sở, tập huấn cho 80 lượt người ở các cơ sở
Trang 9nuôi ong và cán bộ quản lý cơ sở.
Xây dựng và triển khai 4 chuyên đề về kiến thức khoa học chăn nuôi ong qua các phương tiện thông tin đại chúng
Tạo tiền đề cho việc thành lập một Công ty Cổ phần chuyên về sản xuất kinh doanh các sản phẩm ong mật
III NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ ÁN
1-Những hoạt động của đề án
1.1- Xây dựng mô hình nuôi ong Ý
Xây dựng 6 mô hình trại nuôi ong Ý với quy mô từ 800 - 1000 đàn/trại
* Tiêu chí lựa chọn nông hộ để xây dựng mô hình:
Đối với các hộ nuôi ong cần có ít nhất 3 năm kinh nghiệm và đang có kế hoạch phát triển quy mô nuôi ong, có nhu cầu được tiếp nhận các kỹ thuật được chuyển giao
- Được chính quyền địa phương đồng ý cho tham gia
* Trách nhiệm của các hộ tham gia:
Trực tiếp quản lý sản xuất (nuôi dưỡng, phòng trị, bệnh, khai thác, bảo quản sản phẩm) theo hướng dẫn của cán bộ chuyển giao
Quản lý tốt những đàn ong giống gốc, tham gia tuyển chọn những đàn ong tốt Thực hành quản lý theo phương pháp truy xuất nguồn gốc hàng hóa Hoàn trả các phần vốn đầu tư của các doanh nghiệp tham gia đầu tư thêm, ngoài phần vốn của ngân sách nhà nước
* Quyền lợi:
Mỗi mô hình được cấp 50 đàn ong giống
Được hỗ trợ thức ăn nuôi ong cho 50 đàn giống gốc
Được hỗ trợ một phần tiền mua dụng cụ vật tư chuyên dùng
Được ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, theo phương thức các doanh nghiệp
có vốn tham gia, sẽ ứng trước một phần vốn đầu tư cho sản xuất, hoặc hợp tác góp sản phẩm làm ra để cùng xuất khẩu với các doanh nghiệp, ngoài phần vốn đóng góp (theo giá bán của thị trường) còn được hưởng thêm phần lợi nhuận thu được từ việc xuất khẩu (theo tỷ lệ vốn đóng góp)
1.2- Xây dựng mô hình xưởng tinh lọc mật ong
Xây dựng một cơ sở tinh chế mật ong xuất khẩu công suất 1000 tấn/năm Địa điểm tại huyện Đức Cơ
* Lựa chọn các hộ hoặc doanh nghiệp tham gia công đoạn thu gom chế biến sản phẩm:
Những người tham gia tiếp nhận công nghệ tinh lọc mật ong phải do cơ quan chuyển giao trực tiếp đào tạo, có hiểu biết về các loại sản phẩm ong mật,
Trang 10nắm bắt được công nghệ, có nhà xưởng, bồn, tex, bơm mật để chứa hàng và có mặt bằng để lắp đặt máy móc thiết bị Đồng thời phải đóng góp tham gia đầu tư ít nhất 50% giá trị đầu tư (có thể bằng tiền hoặc máy móc thiết bị, nhà xưởng) cho
cơ sở chế biến đảm bảo cho quy mô sản xuất ít nhất là 1000 tấn mật/năm
* Trách nhiệm:
Quản lý cơ sở vật chất được chuyển giao, tiếp nhận sản phẩm từ các trại ong Lấy mẫu, lưu mẫu, cân xác định khối lượng, phân loại mật (theo từng hộ, địa chỉ, thời gian), sau khi kiểm tra xong thì thông báo kết quả cho người giao hàng, cùng chủ hàng và cán bộ chuyển giao kỹ thuật tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục nếu lô hàng không đạt tiêu chuẩn chất lượng theo qui trình đề ra
và đã được chủ hàng chấp thuận để thực hiện
Trực tiếp quản lý và vận hành máy móc thiết bị trong các công đoạn sản xuất theo hướng dẫn của các chuyên gia chuyển giao kỹ thuật
Các sản phẩm làm ra được quản lý theo nguồn gốc hàng hóa Ghi rõ những thông tin cần thiết trong quá trình sản xuất, nhận xét khách quan và trung thực về chất lượng sản phẩm của các trại ong trước khi xuất hàng
* Quyền lợị:
Được trả tiền gia công tinh lọc chế biến mật ong theo quy định của đề án, (trong đơn giá không được tính chi phí khấu hao máy móc thuộc phần vốn của ngân sách nhà nước) Phần vốn tham gia được khấu hao hàng năm và được tính vào giá thành gia công chế biến mật, kết thúc sẽ nhận lại toàn bộ tài sản thuộc nguồn vốn đóng góp của mình Riêng phần máy móc, thuộc nguồn vốn của ngân sách nhà nước, sau khi kết thúc dự án sẽ được ưu tiên mua lại (sau khi đã trừ đi phần khấu hao)
1.3-Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ thuật
Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ ở xã, thôn, buôn về kỹ thuật và quản lý nghề nuôi ong, từ đó làm cơ sở để triển khai nhân rộng mô hình nuôi ong trong tỉnh
Tập huấn kỹ thuật, kỹ năng quản lý cho những người tham gia đề án, ngoài
ra còn tổ chức hội nghị tại cơ sở chăn nuôi cho những người quan tâm tham gia
Tổ chức tham quan học hỏi các mô hình chăn nuôi ong tiên tiến và đạt hiệu quả kinh tế cao
* Quy mô:
Đào tạo 10 kỹ thuật viên, về kỹ thuật nuôi ong, khai thác, bảo quản sản phẩm ong mật
Đào tạo 5 cán bộ chuyên về chế biến, biết quản lý, vận hành, bảo dưỡng máy móc thiết bị và kỹ thuật tinh chế mật ong xuất khẩu
Tập huấn 7 chuyên đề cho 80 lượt người
Tổ chức hội nghị tại trại ong cho 80 lượt người
Tổ chức tham quan cho 20 người