1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh

63 753 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong 36 giờ đầu sau khi sinh, thành ruột non của lợn con có khả năng hấp thu nguyênvẹn những globulin phân tử lượng lớn, một sự hấp thu tích cực và không chọnlọc được thực hiện nhờ các

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

Đề tài:

“ Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh ”

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH YÊU CẦU 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 MỘT SỐ THÔNG TIN GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM PROPEP 3

2.1.1 Nguyên liệu sản xuất Propep 3

2.1.2 Quy trình sản xuất Propep 3

2.1.3 Hướng dẫn sử dụng Propep 3

2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON 5

2.2.1 Đặc điểm tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở lợn con 5

2.2.2 Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và sự tiêu hóa các chất dinh dưỡng 5

2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CAI SỮA ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI HỌC CỦA NIÊM MẠC RUỘT NON VÀ KHẢ NĂNG TIẾT AXIT CHLOHYDRIC (HCl) Ở LỢN CON SAU CAI SỮA 8

2.3.1 Sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa 8

2.3.2 Khả năng tiết acid chlohydric (HCl) 9

2.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa 9

2.4 CAI SỮA CHO LỢN CON VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG KHỦNG HOẢNG SINH LÝ SAU CAI SỮA Ở LỢN CON 11

2.4.1 Cai sữa cho lợn con 11

2.4.2 Một số biện pháp khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý sau cai sữa ở lợn con 11

2.5 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT DỤC CỦA LỢN CON 13

Trang 3

2.6 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON 15

2.6.1 Nhu cầu về năng lượng cho lợn con 15

2.6.2 Nhu cầu về lipit cho lợn con 16

2.6.3 Nhu cầu về protein và các axit amin cho lợn con 17

2.6.4 Nhu cầu về khoáng chất 18

2.6.4.1 Nhóm khoáng đa lượng 19

2.6.4.2 Nhóm khoáng vi lượng 20

2.6.5 Nhu cầu về vitamin 21

2.6.5.1 Vitamin A 21

2.6.5.2 Vitamin D 22

2.6.5.3 Vitamin E 22

2.6.5.4 Vitamin K 23

2.6.5.5 Vitamin nhóm B 23

2.6.5.6 Vitamin C 24

2.6.6 Nhu cầu về nước uống 24

2.7 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 25

2.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

2.7.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 26

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 ĐỐI TƯỢNG 28

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 28

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 28

3.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 29

3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 30

3.3.4 Địa điểm và thời gian thực tập 30

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

Trang 4

4.1 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PROPEP ĐẾN ĐỘ SINH TRƯỞNG

TÍCH LŨY CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI 33

4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PROPEP ĐẾN ĐỘ SINH TRƯỞNG TUYỆT ĐỐI CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI 35

4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PROPEP TRONG THỨC ĂN ĐẾN LƯỢNG THỨC ĂN THU NHẬN CỦA LỢN CON 21 – 56 NGÀY TUỔI 38

4.4 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PROPEP TRONG THỨC ĂN ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN VÀ CHI PHÍ THỨC CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI 41

4.5 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG PROPEP TRONG THỨC ĂN ĐẾN BỆNH TIÊU CHẢY CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI 45

4.6 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG PROPEP CHO LỢN CON GIAI ĐOẠN 21 – 56 NGÀY TUỔI 48

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 KẾT LUẬN 50

5.2 ĐỀ NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thành phần các chất dinh dưỡng có trong Propep 4

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 29

Bảng 3.2: Công thức thức ăn thí nghiệm cho lợn giai đoạn 21 – 56 ngày tuổi 30

Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho lợn con cai sữa 31

Bảng 4.1: Sinh trưởng tích lũy lợn con thí nghiệm (kg/con) 33

Bảng 4.2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (g/con/ngày) 36

Bảng 4.3: Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm (kg/con/ngày) 39

Bảng 4.4 : Hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phí thức ăn 44

Bảng 4.5: Số lượng lợn con mắc tiêu chảy ở các lô trong 2 lần thí nghiệm 46

Bảng 4.6: Theo dõi tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn con trong thời gian thí nghiệm 48

Bảng 4.7: Hiệu quả sử dụng Propep đối với lợn con sau cai sữa 21 – 56 ngày tuổi 49

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Khối lượng cở thể lợn con từ 21 đến 56 ngày tuổi 34

Biểu đồ 4.2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 37

Biểu đồ 4.3: Lượng thức ăn thu nhận của lợn thí nghiệm 39

Biểu đồ 4.4: Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con thí nghiệm (kg/kg) 45

Trang 7

5 HQSDTA: Hiệu quả sử dụng thức ăn

6 CPTA: Chi phí thức ăn

7 LTATN: Lượng thức ăn thu nhận

8 Cv: Độ lệch chuẩn

9 SE: Sai số tiêu chuẩn

10 TĂ: Thức ăn

Trang 8

độ tăng đàn lợn đạt trên 3,4%, tổng sản lượng thịt đạt 2,88 triệu tấn tăng 4,1% sovới năm 2008 Theo số liệu thống kê gần đây nhất tại thời điểm 01/4/2010, cả nước

có 27,3 triệu con, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm 2009 Đàn lợn Việt Nam luôntăng trưởng dương và có tốc độ phát triển nhanh, đều hơn các vật nuôi khác

Ở Việt Nam hiện nay, phong trào chăn nuôi lợn ngoại đang phát triểnnhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn thực phẩm có tỷ lệ nạc cao Ngoàiviệc chăn nuôi lợn tại các hộ gia đình, đã hình thành nhiều trang trại chăn nuôilợn với quy mô lớn, vừa và nhỏ Các dòng và giống lợn lai cao sản đã được ápdụng vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao năng suất và tỷ lệ thịt nạc Để pháthuy tiềm năng sản xuất của các giống lợn này, đòi hỏi phải có đủ nhu cầu vềdinh dưỡng trong đó có nhu cầu về protein và axit amin trong tất cả các giaiđoạn, đặc biệt giai đoạn lợn con sau cai sữa vì đây là giai đoạn quan trọng, cótầm ảnh hưởng lớn đến năng suất chăn nuôi giai đoạn sau này

Các loại nguyên liệu chứa nguồn Protein chất lượng tốt như khô đậutương, bột cá, bột máu, bột huyết tương (plasma) có thể dùng để bổ sung vàothức ăn cho lợn Bột huyết tương là loại protein hay được sử dụng để bổ sungvào khẩu phần thức ăn cho lợn, tuy nhiên giá thành của loại này lại tương đốicao Để có thể giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế thì công tydinh dưỡng quốc tế (International Nutrition) đã sản xuất ra sản phẩm propep từquá trình thủy phân ruột non lợn Xuất phát từ những vấn đề trên, để xác định

Trang 9

khả năng sử dụng propep thay thế một phần plasma cho lợn con sau cai sữa vàđánh giá hiệu quả sử dụng propep, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“ Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu

x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ Tiên Du – Bắc Ninh”

-1.2 MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá hiệu quả sử dụng Propep trong thức ăn cho lợn con sau cai sữa

- Xác định khả năng sử dụng propep thay thế một phần bột plasma trongthức ăn của lợn con sau cai sữa

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi chặt chẽ, số liệu thu được phải chính xác, đảm bảo tính khách quan

- Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học

Trang 10

PHẦN IITỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 MỘT SỐ THÔNG TIN GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM PROPEP

 Propep là một sản phẩm cung cấp protein chất lượng cao do công ty dinh dưỡng quốc tế sản xuất

 Propep chứa nguồn protein dễ tiêu hơn, được dùng trong khẩu phần lợncon

 Propep là một loại protein được sản xuất từ ruột non của lợn lấy từ các xínghiệp giết mổ

2.1.1 Nguyên liệu sản xuất Propep

- Ruột non lợn

- Vỏ đỗ tương

- Hương liệu thiên nhiên và nhân tạo

2.1.2 Quy trình sản xuất Propep

Để sản xuất ra sản phẩm propep, đầu tiên ruột non lợn được thủy phântheo điều kiện sản xuất dược phẩm để chiết xuất hợp chất heparin, vốn đượcdùng làm thuốc chữa bệnh trên người và vật nuôi Sau khi chiết xuất, dịch thủyphân còn lại được sử dụng làm nguyên liệu thô để sản xuất ra sản phẩm propep.Dịch này chứa hỗn hợp các phân tử protein có kích cỡ nhỏ Các phân tử nàygồm các chuỗi peptide ngắn và amino acid tựdo Sau đó, dịch thủy phân sẽ đượcphối trộn với sản phẩm bột đỗ tương đã được xử lý rồi sấy khô để tạo ra sảnphẩm propep

2.1.3 Hướng dẫn sử dụng Propep

Công ty dinh dưỡng quốc tế khuyến cáo liều sử dụng của Propep là 1,5%

- 3% trộn trong thức ăn hỗn hợp Tuy nhiên, qua nhiều thử nghiệm cho thấy hàmlượng sử dụng lên đến 6% sẽ đưa đến hiệu quả tốt hơn

Trang 11

Công ty International Nutrition sản xuất 2 loại Propep: Propep T với 32%protein thô và Propep F chứa 50% protein thô Khi phối hợp khẩu phần giữaPropep và các nguyên liệu khác như ngô, đỗ tương, bột cá và bột sữa whey thìchúng ta có thể điều chỉnh để đạt được giá trị sử dụng amino acid là tốt nhất.

Bảng 2.1: Thành phần các chất dinh dưỡng có trong Propep

Trang 12

2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON

2.2.1 Đặc điểm tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở lợn con

Sau khi sinh cần phải cho lợn con bú ngay sữa đầu vì sữa đầu có giá trịdinh dưỡng rất cao: hàm lượng vitamin A gấp 5 – 6 lần so với sữa thường,vitamin D gấp 3 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Hệthống tiêu hóa của lợn con trong những ngày đầu sơ sinh cả về cấu trúc hình tháihọc và hoạt động của các enzyme tiêu hóa chỉ thích hợp với việc tiếp nhận vàtiêu hóa sữa như là một nguồn dinh dưỡng duy nhất (Whitemore, 1993) Trong

36 giờ đầu sau khi sinh, thành ruột non của lợn con có khả năng hấp thu nguyênvẹn những globulin phân tử lượng lớn, một sự hấp thu tích cực và không chọnlọc được thực hiện nhờ các yếu tố ức chế trypsin và các enzyme tiêu hóa proteinkhác có mặt trong sữa đầu của lợn nái và có trong thành ruột non của lợn con(Zintzen và cộng sự, 1971) Chính nhờ có cơ chế đó mà hàm lượng protein tổng

số trong huyết thanh của lợn con tăng lên nhanh chóng vài giờ sau khi lợn conđược bú sữa đầu Khả năng hấp thu các kháng thể có phân tử lượng lớn chỉ cóhiệu quả trong vòng 36 giờ đầu sau khi sinh Sau thời điểm này, thành ruột nontrở thành một bức rào chắn vững chắc không chỉ đối với các globulin miễn dịch

mà còn đối với các vi khuẩn gây bệnh Cho đến nay cơ chế điều chỉnh khả nănghấp thu cũng như sự hình thành bức rào chắn như vậy vẫn chưa được giải thíchmột cách thỏa đáng Có giả thuyết cho rằng bản chất sơ khai của niêm mạc ruộtnon và hormone ACTH có liên quan đến khả năng này

2.2.2 Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa và sự tiêu hóa các chất dinh dưỡng

Hoạt động tiêu hóa thức ăn diễn ra trong đường dạ dày ruột của lợn controng 3 tuần đầu sau khi sinh chủ yếu là tiêu hóa enzyme Bởi vậy bất kỳ sự thayđổi về khẩu phần cũng như chế độ nuôi dưỡng đều dẫn tới sự thay đổi tương ứngcủa hệ thống các enzyme tiêu hóa

Trang 13

a Hoạt tính của các enzyme lipase và sự tiêu hóa mỡ

Lúc sơ sinh, hoạt tính của các enzyme tiêu hóa mỡ trong đường tiêu hóacủa lợn con rất cao và tăng không đáng kể theo tuổi Tuy nhiên theo Corring vàctv (1978), Randy và ctv (1982) cho rằng hoạt tính của các enzyme lipase tuyếntụy tăng dần theo tuổi, khối lượng tuyến tụy tăng dần trong giai đoạn bú sữa vàtương ứng, hoạt tính enzyme lipase tăng dần từ ngày thứ 2 đến 35 ngày tuổi.Tương ứng với sự tăng dần hoạt tính của các enzyme lipase, tỷ lệ tiêu hóa mỡcủa lợn con tăng dần theo tuổi và phụ thuộc vào nguồn mỡ (tỷ lệ tiêu hóa mỡcao nhất ở mỡ sữa, sau đến mỡ lợn, dầu oliu và thấp nhất là tinh dầu ngô)(Zintzen và cs, 1971) và độ dài của chuỗi axit béo trong mỡ Chuỗi axit béocàng dài, tỷ lệ tiêu hóa càng thấp (Lloy và cs, 1957)

b Hoạt tính của các enzyme protease và sự tiêu hóa protein

Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa protein như: pepsin, trysin,chymotrysin phụ thuộc vào pH của môi trường dạ dày ruột và tăng lên theo tuổicùng với sự tăng cường sản xuất axit chlohydric của niêm mạc dạ dày( Anderson và Bowland, 1967) Theo Zintzen và cs (1971), độ pH trong dịch vịcủa lợn con lúc sơ sinh là 3, sau đó tăng dần đạt mức pH bằng 5 ở 3 ngày tuổisau đó tiếp tục giảm do khả năng sản xuất axit chlohydric và đạt mức pH bằng 2

ở 21 ngày tuổi Do không có khả năng sản xuất dù axit chlohydric và menpepsin, nên trong giai đoạn dưới 21 ngày tuổi, khả năng tiêu hóa protein nguồngốc thực vật và động vật (trừ sữa) của lợn con rất kém, đồng thời môi trường pHcao trong dịch dạ dày làm tăng khả năng nhiễm mầm bệnh, đặc biệt là các chủng

E.coli trong ruột non, hơn nữa sự phân giải protein bởi men pepsin không được

hoàn hảo dẫn đến những mạch peptid dài chưa được phân giải được đưa xuốngruột non làm tăng nguy cơ bị tiêu chảy của lợn con (Ruth Miclat Sonaco, 1996).Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa protein ở lợn con phụ thuộc rất lớn vàonguồn và chất lượng của protein trong thức ăn (Corring, 1980) Theo Randy va

cs (1982), hoạt tính của các enzyme trysin và chymotrysin trong dịch tiêu hóa ở

Trang 14

ruột non của lợn con trong giai đoạn 28 – 35 ngày tuổi được ăn khẩu phần cóprotein từ sữa cao hơn đáng kể so với những lợn con được nuôi dưỡng bằngkhẩu phần có protein từ đậu tương Tỷ lệ tiêu hóa protein sữa, kể cả sữa lợn vàsữa bò ở lợn con đều rất cao (95 – 99%) Khả năng tiêu hóa protein nguồn gốcthực vật và động vật khác ở lợn con tăng theo tuổi Theo Leibhlz (1982), tỷ lệtiêu hóa biểu kiến casein ở lợn con giai đoạn 9 – 14 ngày tuổi là 94,6%; 21 – 24ngày tuổi là 96,9% Protein bột cá và khô dầu đậu tương tương ứng là: 86,6%;87,6% và 83,1%; 87,8% Theo Zinzten và cs (1971), sự khác biệt về tỷ lệ tiêuhóa đối với các loại protein trong đường tiêu hóa của lợn con là do sự khác biệt

về khả năng đông đặc của chúng trong đường tiêu hóa, mà chính khả năng nàylại quyết định thời gian lưu lại của chúng trong đường dạ dày ruột Quãng thờigian lưu lại này của protein đậu tương là 19 giờ, của casein là 42 giờ Đườnglactose trong sữa có tác dụng kích thích khả năng tiêu hóa casein Tỷ lệ tiêu hóaprotein của lợn con không chỉ phụ thuộc vào nguồn gốc và chất lượng protein

mà còn phụ thuộc tỷ lệ protein trong thức ăn, hiệu quả sử dụng protein sẽ bịgiảm khi mức protein trong khẩu phần tăng (Zinzten và cs, 1971)

c Hoạt tính của các enzyme tiêu hóa gluxit và sự tiêu hóa gluxit

Sự phát triển và hoạt tính của các enzyme tiêu hóa gluxit ở lợn con rấtkhông đồng đều, các enzyme lactose có hoạt tính rất cao ngay từ những ngàyđầu sau khi sinh và giảm rất nhanh ở 3 tuần tuổi, trong khi đó hoạt tính của cácenzyme tiêu hóa gluxit khác như amylase, maltose và saccharase tăng rất chậm(Walker, 1959; Hartman và cs, 1961) Theo Hartman và cs (1961), trong môtuyến tụy của lợn con lúc sơ sinh hoàn toàn không có enzyme amylase, hoạt tínhcủa enzyme này tăng nhanh khi lợn con được 35 – 40 ngày tuổi Leibholz (1982)

đã có thông báo rằng hoạt tính của enzyme amylase bắt đầu thể hiện ở ngày tuổithứ 7 sau khi sinh nhưng không đáng kể và tăng dần theo tuổi, hoạt tính củaenzyme maltose tăng 1,5 lần từ 7 – 28 ngày tuổi Tương ứng với hoạt tính của hệenzyme tiêu hóa gluxit, tỷ lệ tiêu hóa của tất cả các loại gluxit ở lợn con đều rất

Trang 15

thấp (trừ lactose) Khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con chỉ đạt 25% ở tuầntuổi đầu tiên, 50% ở tuần tuổi thứ 3 và tiếp tục tăng cùng với tiến trình hoànthiện của cơ quan tiêu hóa (Zinzten và cs, 1971) Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu hóa tinhbột của lợn con còn phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc của tinh bột, phương phápchế biến thức ăn hạt và mức độ cân đối axit amin trong khẩu phần (Leibholz,1982) Theo Giesting và cs (1985), Turlington và cs (1989) đường lactose khôngnhững được tiêu hóa và hấp thu có hiệu quả nhất trong giai đoạn bú mẹ mà còn

có tác dụng cải thiện tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng khác trong khẩu phần

2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CAI SỮA ĐẾN SỰ THAY ĐỔI HÌNH THÁI HỌC CỦA NIÊM MẠC RUỘT NON VÀ KHẢ NĂNG TIẾT AXIT CHLOHYDRIC (HCl) Ở LỢN CON SAU CAI SỮA

2.3.1 Sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa

Cấu trúc đặc trưng nhất của niêm mạc ruột non ở động vật có vú nóichung và lợn con nói riêng là sự tồn tại của các lông nhung, đơn vị hấp thu nhỏnhất của cơ quan tiêu hóa Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại các hốcnhỏ, nơi mà từ đó dịch ruột và các chất lỏng khác được tiết vào khoang ruột Ởnhững lợn con khỏe mạnh, chiều cao của lông nhung dài gấp 3 – 4 so với chiềurộng của các hốc giữa chúng (Ruth Miclat Sonaco, 1996)

Tương quan giữa chiều cao lông nhung và độ sâu của các hốc phản ánhtình trạng sức khỏe và khả năng hấp thu của niêm mạc ruột non Nhiều côngtrình nghiên cứu đã chứng tỏ, giữa chiều cao lông nhung và tốc độ sinh trưởngcủa lợn con giai đoạn sau cai sữa có tương quan rất chặt chẽ Theo Li và cs(1990), hệ số tương quan giữa tốc độ sinh trưởng và chiều cao lông nhung niêmmạc ruột non ở lợn con sau cai sữa là: r = 0,63 (P<0,05) Trong một công trìnhnghiên cứu khác của Pluske và cs (1996), cho thấy hệ số tương quan này là r =0,78 (P<0,05) Điều này rất dễ hiểu vì sự giảm chiều cao lông nhung dẫn đếngiảm diện tích hấp thu, giảm hàm lượng enzyme trong mỗi tế bào niêm mạcruột Đã có nhiều công trình khẳng định rằng, cai sữa làm giảm chiều cao lông

Trang 16

nhung và tăng độ sâu của các hốc niêm mạc ở lợn con trong những ngày đầu caisữa (Mc Cracken, 1993 và Pluske, 1996) Theo Mc Cracken và Kelly (1984),chiều cao của các lông nhung ruột non ở lợn giảm 25% trong 24 giờ đầu cai sữa

và tiếp tục giảm trong vòng 5 ngày sau cai sữa, sau đó ổn định Việc giảm chiềucao của các lông nhung và tăng độ sâu của các hốc nhỏ giữa chúng có trongniêm mạc ruột non giải thích cho hiện tượng giảm khả năng tiêu thụ thức ăn,giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy saucai sữa và dẫn đến giảm thậm chí làm ngừng tốc độ sinh trưởng của lợn con tronggiai đoạn sau cai sữa (hiện tượng ức chế sau cai sữa)

2.3.2 Khả năng tiết acid chlohydric (HCl)

Một thiếu sót của lợn con sau cai sữa là khả năng tiết acid dạ dày kém(Easter, 1988) Có một số ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến hạn chế này của lợn.Trước hết, acid chlohyric là acid hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin hoạtđộng để thực hiện quá trình tiêu hóa protein, pH thích hợp cho pepsin hoạt động

là 1,5 – 2,5 Vì vậy, với pH đường dạ dày cao đã làm giảm hiệu quả tiêu hóaprotein (Easter, 1988) Mặt khác pH dạ dày còn giữ một vai trò quan trọng trongviệc phòng ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn ngoài môi trường vào hệ thống tiêuhóa Khi pH cao sẽ làm tăng khả năng rối loạn tiêu hóa của lợn

Do khả năng tiết acid dạ dày bị hạn chế, nhiều nghiên cứu về việc bổ sungacid hữu cơ vào khẩu phần cho lợn con sau cai sữa đã được tiến hành Phần lớncác acid được sử dụng trong lĩnh vực này là lactic, propionic, formic, butyric vớimức bổ sung 0,05 – 3,0%

2.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa

a Tuổi cai sữa

Cai sữa càng sớm, càng đột ngột, tốc độ giảm chiều cao lông nhung vàtăng chiều sâu của các hốc niêm mạc ruột càng cao như vậy và những rối loạntiêu hóa, hấp thu diễn ra càng trầm trọng

Trang 17

Theo Windmusller (1982), Souba (1993), Wu và Knabe (1993), trong sữalợn nái tồn tại một loại acid amin là L-glutamin có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc bảo vệ, kích thích sự phát triển và duy trì các chức năng sinh lý bình thườngcủa các tế bào biểu mô ruột non Sự ngừng cung cấp sữa làm mất đi vai trò củaL-glutamin và đó cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm chiềucao lông nhung và tăng độ sâu của các crypt (mào ruột) trong niêm mạc ruộtnon Theo Lindemann và cs (1986), chiều cao của lông nhung giảm 30 – 65% ởlợn con cai sữa 21 ngày và 27% ở lợn con cai sữa 35 ngày.

b Sự thay đổi về thức ăn

Chuyển trạng thái vật lý của thức ăn từ lỏng sang đặc, dẫn đến làm giảmchiều cao của các lông nhung trong những ngày đầu sau khi cai sữa Theo Kelly

và Mc Carcken (1984), Robertson và ctv (1985), Bark và cs (1986), có một giaiđoạn đói tạm thời trong những ngày đầu sau cai sữa trong đó sức tiêu thụ thức

ăn của lợn con giảm đi rõ rệt và vì vậy lợn con không hấp thu đủ các chất dinhdưỡng để đáp ứng nhu cầu duy trì đồng thời sự giảm mức tiêu thụ thức ăn dẫnđến thiếu sự cung cấp dưỡng chất liên tục trong đường dạ dày ruột cũng là mộttrong những nguyên nhân làm tăng chiều sâu của các hốc niêm mạc và chiều caolông nhung

c Nguồn protein trong khẩu phần

Protein sữa ít ảnh hưởng tới sự thay đổi hình thái của niêm mạc ruột, tráilại những protein có nguồn gốc thực vật và động vật có ảnh hưởng rõ rệt đến sựthay đổi hình thái các lông nhung cũng như các hốc niêm mạc Các nghiên cứucho thấy chiều cao của lông nhung niêm mạc ruột non của lợn được ăn khẩuphần có protein sữa cao hơn so với ở lợn con được tập ăn khẩu phần có proteinđậu tương Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự khác biệt về cấu trúckháng nguyên của các loại protein trong thức ăn (Miller và cs, 1984; Dunsford

và cs, 1989)

Trang 18

2.4 CAI SỮA CHO LỢN CON VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG KHỦNG HOẢNG SINH LÝ SAU CAI SỮA Ở LỢN CON 2.4.1 Cai sữa cho lợn con

Hiện nay, cai sữa lợn con sớm vào lúc 21 – 28 ngày tuổi Việc cai sữa lợncon sớm hơn cũng làm cho nái khó động dục sớm và cũng không rút ngắn chu

kỳ sinh của nái bao nhiêu, nhưng lợn con khó nuôi hơn, tốn kém hơn nếu cai sữaquá sớm ( Võ Văn Ninh, 2001)

Theo Hovorka (1983) nếu cai sữa lợn con vào 21 ngày tuổi thì giảm chíphí cho thời gian sản xuất 1kg lợn con xuống 20% so với cai sữa ở 56 ngày tuổi.Nhiều nhà chăn nuôi đề nghị nên cai sữa lợn con trong khoảng 21 – 28 ngày tuổi

là cho hiệu quả kinh tế cao nhất Cai sữa lợn con trên 28 ngày tuổi cũng nhưdưới 10 ngày tuổi đã làm giảm số con cai sữa/nái/năm và đây cũng là chỉ tiêuquan trọng nhằm nâng cao năng suất lợn nái

Mặc dù vậy cai sữa ở lứa tuổi nào cũng phải đảm bảo lợn con nuôi tiếpsinh trưởng và phát triển tốt, nuôi đến 2 tháng tuổi đạt 18 – 20kg ở lợn lai và lợnngoại và nuôi đến 3 tháng tuổi đạt đến 20 – 22 kg, có trường hợp đạt 25kg

Việc cho ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt đối vớiviệc phòng tránh bệnh ỉa chảy (Palm và Hulland, 1986; Smith và Hall, 1968) Sốlần cho ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn, khi cho ăn 3 lần/ ngày thì

sẽ tiêu hóa được 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hóa được 19,7%

2.4.2 Một số biện pháp khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý sau cai sữa ở lợn con

Cai sữa là một stress lớn nhất thể hiện ở việc bị thay đổi dạng, nguồn thứcăn; thay đổi về không gian, môi trường sống; ngoài ra còn chịu tác động củaviệc ghép đàn… mà lợn con gặp phải trong những ngày chập chững bước vàomột cuộc sống độc lập Chính những khủng hoảng về sinh lý này là một trở ngạirất lớn trong việc nuôi dưỡng và cai sữa sớm cho lợn con Có nhiều biện pháp

kỹ thuật đã được áp dụng nhằm khắc phục những khủng hoảng sinh lý

Trang 19

* Tập cho lợn con ăn sớm

Đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng cho lợn con ăn thêmtrong giai đoạn bú sữa làm tăng khả năng tiêu thụ thức ăn, tăng tỷ lệ tiêu hóa cácchất dinh dưỡng trong giai đoạn sau cai sữa (English, 1981), đặc biệt khi năngsuất của lợn mẹ thấp (Flower, 1985) Hoạt tính của enzyme surcarase, maltase,trypsin (Aumaitre, 1971), amylase tuyến tụy tăng lên đáng kể ở những lợn conđược ăn thêm thức ăn trong giai đoạn bú sữa Việc ăn sớm và ăn được nhiềuthức ăn trong thời gian bú sữa không những làm giảm sự teo đi của các lông

nhung mà còn làm giảm khả năng nhiễm E.coli và tỷ lệ tiêu chảy của lợn con ở

giai đoạn sau cai sữa (Ruth Miclat Sonaco, 1996)

Ngày nay các trang trại lớn, chăn nuôi theo quy mô công nghiệp thìthường cho lợn tập ăn vào ngày thứ 7 sau khi sinh Lượng thức ăn tiêu thụkhông nhiều nhưng giúp cho lợn làm quen với thức ăn dạng khô và kích thíchquá trình tiết men tiêu hóa để đáp ứng với nhu cầu tiêu hóa ngay sau cai sữa

Thức ăn cung cấp cho lợn con có hàm lượng dinh dưỡng cao, cân bằngtheo nhu cầu của giai đoạn sinh trưởng Thức ăn tập ăn được xử lý giúp lợn dễtiêu hóa, hấp thu và tránh gây rối loạn tiêu hóa cho lợn con

* Tạo nguyên liệu thức ăn có chất lượng cao

Đối với lợn con cai sữa sớm, khi hệ thống miễn dịch và bộ máy tiêu hóa chưaphát triển hoàn thiện, cần lựa chọn thức ăn chất lượng cao Protein động vật chấtlượng cao như bột cá, giàu protein; bột huyết tương (plasma) giàu kháng thể vàaxit amin quan trọng, bột whey giàu đường lactose rất tốt cho lợn con tập ăn đểcai sữa sớm (Deny Cheng Lin, 2002)

* Chế biến thức ăn theo các phương pháp thích hợp

Phương pháp chế biến thức ăn thích hợp cũng là một biện pháp quantrọng làm giảm thiểu stress đối với lợn con Sử dụng các phương pháp chế biến

để làm tăng tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong thức ăn cũng như tăngmùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn của lợn con AKey (2002) cho biết,

Trang 20

sử dụng plasma không những giúp tăng thêm sức đề kháng mà còn kích thíchtính thèm ăn của lợn con Sử dụng thức ăn ép viên không những làm tăng tỷ lệtiêu hóa mà còn hạn chế lượng thức ăn rơi vãi.

* Tạo môi trường sống phù hợp

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ, độ ẩm và vệ sinh môi trường cóảnh hưởng rất lớn đến năng suất lợn con sau cai sữa Kết quả của các nghiên cứutrước đã đưa ra vùng nhiệt độ tối ưu cho lợn con Ở tuần đầu sau khi sinh, nhiệt độchuống nuôi thích hợp cho lợn là 33 - 350C, tuần thứ hai là 31 - 320C, từ 21 ngàyđến 35 ngày tuổi là 28 - 30oC và giảm dần đến 45 – 60 ngày tuổi là 24 - 26oC (Tàiliệu tập huấn - kỹ thuật chăn nuôi lợn ngoại, TTNC Lợn Thụy Phương, 2004)

Trong thực tế, những biến động thời tiết thường tạo ra môi trường nhiệt độ rấtkhác biệt với vùng nhiệt độ tối thích của lợn con và đó chính là một trong số nhữngnguyên nhân dẫn tới những khủng hoảng sinh lý sau cai sữa (Hitoshi Mikami, 1994)

2.5 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT DỤC CỦA LỢN CON

Sinh trưởng là quá trình tăng lên, lớn lên về kích thước, chiều cao, chiềurộng, chiều sâu, tăng lên của khối lượng, thể tích của cơ thể tính theo tuổi Sinhtrưởng là không thay đổi bản chất của tế bào giữa tế bào được sinh ra và tế bàogốc ban đầu ở từng cơ quan, bộ phận khác nhau như hệ cơ, hệ xương, hệ thầnkinh, hệ tiết niệu vv

Phát dục là quá trình hình thành các tổ chức, các bộ phận mới của cơ thểngay từ giai đoạn đầu tiên của bào thai và trong cả quá trình phát triển của cơthể sinh vật, là tính đặc hiệu của ARN và AND trong sự phát triển của phôi, làvai trò của gen mang tính di truyền của tổ tiên

Lợn con có tốc độ sinh trưởng và phát dục nhanh Theo tốc độ tăng khốilượng của lợn con thấy rằng: khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc

sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 – 6 lần, lúc 40 ngày tuổigâp 7 – 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 12 – 14 lần

Trang 21

Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh nhưng không đồngđều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh nhất là 21 ngày sau khi sinh,sau 21 ngày tốc độ sinh trưởng giảm xuống Sự giảm tốc độ sinh trưởng này donhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm vàhàm lượng hemoglobin trong máu lợn con bị giảm.

Do lợn con có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh nên khả năng tích lũycác chất dinh dưỡng của chúng diễn ra rất mạnh, cụ thể: lợn con ở 20 ngày tuổimỗi ngày có thể tích lũy được 9 – 14g protein/kg khối lượng cơ thể Trong khi

đó ở lợn lớn (lợn trưởng thành) chỉ tích lũy được 0,3 – 0,4g protein/kg khốilượng cơ thể Ngược lại, để tăng được 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ítnăng lượng hơn, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít thức ăn hơn lợn lớn, vì tăng khốilượng của lợn con chủ yếu là tăng khối lượng nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạcthì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg thịt mỡ (để tăng 1kg thịt nạc thì cầnkhoảng 15MjDE, trong khi đó để tăng được 1kg thịt mỡ phải cần tới 50MjDE)

Sinh trưởng và phát dục là sự phát triển chung của cơ thể sống Hai quátrình này không có ranh giới, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sự pháttriển của cơ thể là kết quả của sự sinh trưởng và phát dục dưới dạng động thái, mà cơ

sở vật chất của nó là sự tăng lên về khối lượng và thể tích bằng các chiều đo cùngvới sự thay đổi sâu sắc về chức năng sinh lý của các cơ quan, bộ phận của cơ thể

Quá trình sinh trưởng và phát dục của gia súc nói chung, cũng như củalợn nói riêng đều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật: quy luật sinh trưởng,phát dục không đồng đều; quy luật sinh trưởng, phát dục theo giai đoạn và quyluật theo chu kỳ

Khi nghiên cứu về sinh trưởng và phát dục của lợn theo độ sinh trưởngngười ta quan tâm đến: độ sinh trưởng tích lũy, độ sinh trưởng tuyệt đối và độsinh trưởng tương đối

Độ sinh trưởng tích lũy là khả năng tích lũy các chất hữu cơ được thựchiện nhờ quá trình đồng hóa và dị hóa, biểu thị tốc độ sinh trưởng về khối lượng,

Trang 22

kích thước các chiều đo của cơ thể sau một thời gian sinh trưởng Sinh trưởngtích lũy cao thì cho năng suất thịt cao, cho nên việc theo dõi sinh trưởng tích lũy

A: độ sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày hoặc kg/tháng)

W1: khối lượng, kích thước tại thời điểm t1

W0: khối lượng, kích thước tại thời điểm t0

Độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước,thể tích của cơ thể ở lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước

Độ sinh trưởng tương đối được tính theo công thức:

R : độ sinh trưởng tương đối (%)

W1: khối lượng, kích thước ở lần khảo sát sau (g, kg, cm, m)

W0: khối lượng, kích thước ở lần khảo sát trước (g, kg, cm, m)

2.6 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON

2.6.1 Nhu cầu về năng lượng cho lợn con

Năng lượng là một trong ba thành phần chiếm chi phí cao nhất khi xâydựng khẩu phần ăn cho lợn Nói chung, lợn cần năng lượng cho duy trì, sản xuất

và sinh sản Giá trị năng lượng thức ăn cũng như nhu cầu năng lượng cho lợnthường được biểu thị theo năng lượng tiêu hoá (DE) hay năng lượng trao đổi (ME)

Trang 23

Con vật ăn trước hết là để thoả mãn nhu cầu năng lượng Khi nồng độnăng lượng khẩu phần thấp, lượng thức ăn thu nhận tăng lên và ngược lại, nồng

độ năng lượng khẩu phần cao, lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm Nhu cầu nănglượng cho gia súc đang sinh trưởng phụ thuộc vào thành phần và tốc độ tích luỹcác chất trong cơ thể, đặc biệt là tốc độ tích luỹ protein và tốc độ tích luỹ mỡ

Với lợn con, nhu cầu về năng lượng chủ yếu là cho duy trì và tăng trưởng.Ngày đầu tiên sau khi sinh, 1 lợn con nặng 1kg cần khoảng 900 đến 1.000KJ(Ledividich J L., 2005) Năng lượng này được đáp ứng từ năng lượng dự trữtrong cơ thể và sữa đầu Tuy nhiên, năng lượng dự trữ trong cơ thể lợn con thấp,chỉ khoảng 420KJ/kg trọng lượng sơ sinh Vì vậy, lợn con phải hấp thu đượckhoảng 160g sữa đầu trên 1kg trọng lượng sơ sinh để sống

Nhu cầu năng lượng ở lợn con tăng lên theo tuần tuổi Từ tuần tuổi thứ 3,lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần, trong khi đó, tốc độ tăng trưởng của lợn con lạităng nhanh, vì vậy, cần bổ sung năng lượng ngoài nguồn sữa mẹ cho lợn con.Khi được 3 tuần tuổi, lượng thức ăn bổ sung chỉ cần khoảng 5%, nhưng ở 5 tuầntuổi, lượng thức ăn bổ sung chiếm tới 1/3 nhu cầu dinh dưỡng của lợn con(Frank Aheme và cs, 2006)

2.6.2 Nhu cầu về lipit cho lợn con

Lipit thô cũng là một trong những chất cần thiết trong khẩu phần ăn củalợn con Nếu thiếu lipit trong khẩu phần con vật sẽ xuất hiện những triệu trứngkhông bình thường ở da, tốc độ sinh trưởng giảm, con vật dễ thiếu các vitaminhòa tan trong dầu mỡ như: Vitamin A, D, K Vì vậy cần bổ sung bằng dầu thựcvật sẽ ngăn ngừa được các hiện tượng trên

Trong khẩu phần của lợn thường có tỷ lệ khô dầu cao nên đáp ứng đầy đủcác axit béo, nhưng cần lưu ý nếu không nên bổ sung axit béo vào trong khẩuphần vì có thể dẫn tới hiện tượng thiếu vitamin E, gây ra những rối loạn ở cơ.Khẩu phần thiếu lipit sẽ ảnh hưởng tới trao đổi cacbonhydrat và làm tăng nhucầu vitamin nhóm B

Trang 24

Khả năng tiêu hóa lipit của lợn con tăng theo tuổi của chúng Trong 2 tuần đầusau cai sữa, thì lượng mỡ bổ sung nên hạn chế ở mức 2 – 3 % khẩu phần là đủ.Tính dễ tiêu hóa của lipit có thể tăng từ 69% (trong tuần lễ đầu tiên) lên tới 88%

ở 4 tuần sau cai sữa Sau 3 – 4 tuần sau cai sữa tỷ lệ lipit trong khẩu phần ăn cóthể tăng lên 4 – 5 % Khi bổ sung 5% mỡ lợn và hạt dầu cải vào thức ăn tập ăncho lợn con bú sữa và cho lợn cai sữa 6 – 8 tuần đã thu được hiệu quả rõ rệt.Cần chú ý nếu gluxit và lipit không cân bằng xảy ra các thể xeton trong quátrình oxy hóa

2.6.3 Nhu cầu về protein và các axit amin cho lợn con

Protein liên quan đến quá trình phát triển của hệ cơ và tạo nạc Trongchăn nuôi hiện nay, tỷ lệ nạc là một chỉ tiêu quan trọng để xác định hiệu quảkinh tế Chính vì vậy, khẩu phần của lợn cần đảm bảo đủ protein, đặc biệt là sựcân đối của các axit amin thiết yếu nhằm giúp cho quá trình tạo nạc tối đa

Theo Võ Trọng Hốt (2006), khoảng 15% trọng lượng cơ thể là protein,trong đó 6 - 13% protein được chu chuyển hàng ngày để duy trì Trong quá trìnhchu chuyển, có 6% protein bị mất đi Hàm lượng protein chu chuyển hàng ngày

tỷ lệ nghịch với sự phát triển và trọng lượng cơ thể lợn, nghĩa là lợn càng lớn,trọng lượng cơ thể càng cao thì hàm lượng protein chu chuyển càng giảm Cóthể căn cứ vào hàm lượng protein chu chuyển để xác định nhu cầu protein choduy trì thông qua hệ số nhu cầu duy trì

Thông thường, khẩu phần thức ăn cho lợn con phải đảm bảo được 120 130g protein tiêu hoá/đơn vị thức ăn, tương đương protein thô của khẩu phần là

-17 - 19% (Nguyễn Quế Côi, 2006)

Protein được tổng hợp từ các axit amin Thứ tự nối tiếp nhau của các axitamin tạo nên cấu trúc sơ cấp của protein Do đó, dinh dưỡng protein có nghĩa làdinh dưỡngaxit amin

Trong quá trình tiêu hoá, protein từ thức ăn sẽ được phân giải thành cácaxit amin và được hấp thu vào máu Các axit amin này sẽ được cơ thể tổng hợp

Trang 25

nên protein đặc hiệu của mô và tế bào Một phần các axit amin được sử dụng đểtạo năng lượng Phần axit amin dư thừa sẽ bị bài xuất ra khỏi cơ thể

Ở lợn sinh trưởng, có 10 axit amin quan trọng mà cơ thể không tự tổnghợp được, đó là: lysine, methionine, tryptophan, threonine, isoleucine, valine,leucine, histidine, arginine và phenylalnine Các axit amin này được cung cấp từnguồn thức ăn bên ngoài hoặc từ các axit amin công nghiệp

Những axit amin có mặt trong khẩu phần ăn với số lượng ít nhất nhưng cóvai trò quan trọng đối với cơ thể được gọi là axit amin giới hạn thứ nhất Thức

ăn hạt ngũ cốc có axit amin giới hạn thứ nhất là lysine; thức ăn hạt đậu tương làmethionine Do đó, khi xây dựng khẩu phần cho lợn sinh trưởng, cần phải bổ sungthêm các axit amin công nghiệp Theo Tanksley T.D và cộng sự (2006), bất cứkhẩu phần nào cung cấp đầy đủ số lượng 3 loại axit amin là lysine, tryptophan,threonine thì sẽ cung cấp đầy đủ các loại axit amin cần thiết khác để có tăng trọng tốiưu

Sự cân bằng của các axit amin trong khẩu phần là rất cần thiết vì nếu thiếumột trong các axit amin nói trên đều dẫn đến sự thiếu hụt protein của cơ thểđồng thời gây lãng phí các axit amin khác Protein trong khẩu phần lợn con phảiđảm bảo được tính dễ tiêu, dễ hấp thu hay nói cách khác là phải có giá trị sinhhọc cao

Nguồn cung cấp protein trong thức ăn của lợn con chủ yếu là bột cá chấtlượng cao, các loại bột sữa, khô đậu tương… Các protein có nguồn gốc động vậtthường được ưu tiên sử dụng vì protein có nguồn gốc thực vật thường gây phảnứng trong ruột lợn con, ảnh hưởng tới quá trình tiêu hoá thức ăn

2.6.4 Nhu cầu về khoáng chất

Dựa vào nhu cầu và sự có mặt trong cơ thể, người ta phân chia ra các chấtkhoáng đa lượng và các chất khoáng vi lượng

- Nhóm khoáng đa lượng: Canxi, phốt pho, magie, natri, kali, clo

- Nhóm khoáng vi lượng: Sắt, đồng, kẽm, mangan, iốt

Trang 26

2.6.4.1 Nhóm khoáng đa lượng

* Canxi, phốt pho, magie

Trong cơ thể, Ca chiếm 1,3 – 1,8% và P chiếm 0,8 – 1% khối lượng Khoảng99% Ca, 70 – 80% P, 65% Mg của cơ thể tập trung trong xương và răng

Ngoài chức năng cấu tạo nên bộ khung của cơ thể, canxi còn tham gia vàoquá trình đông máu và co cơ; phốt pho có vai trò quan trọng trong quá trình traođổi và chuyển hoá năng lượng

Do giữ những vai trò quan trọng như trên nên khi thiếu Ca và P trongkhẩu phần, động vật đang sinh trưởng sẽ chậm lớn, còi cọc, gầy yếu, chậm độngdục, tỷ lệ thụ thai thấp Tuy nhiên, thừa canxi trên 1% so với nhu cầu sẽ làmgiảm sự hấp thu kẽm, dẫn đến các bệnh về da, lông

Lợn con có tốc độ sinh trưởng mạnh, đây là giai đoạn tập trung cho pháttriển hệ cơ xương nên đòi hỏi nhu cầu về canxi và phốt pho cao

Vậy trong khẩu phần tỷ lệ tối ưu Ca/P = 1,1/1 đến 1,25/1 Thiếu Ca và P trongthức ăn, lợn sẽ sinh trưởng chậm, bị còi xương, giảm khả năng sinh sản, tiết sữa củalợn nái, tỷ lệ nuôi sống lợn con thấp, mắc bệnh chảy máu và máu không đông

* Natri, kali, clo

Na+, K+, Cl- là chất điện giải, khi cơ thể mất nước sẽ mất chất điện giải,cân bằng áp suất thẩm thấu giữa trong và ngoài tế bào bị rối loạn, con vật có thểchết Cl- cần thiết cho việc hình thành HCl trong dạ dày, có tác dụng hoạt hóapepsinogen thành pepsin để tiêu hóa protein Na+ và K+ cũng là thành phần của

hệ đệm của cơ thể, giúp giữ cân bằng axit-bazo dịch cơ thể Thiếu natri và clogây hiện tượng chán ăn làm giảm sinh trưởng, giảm năng suất của vật nuôi

Natri và clo được cung cấp một phần từ thức ăn tự nhiên, còn phần chính

là từ muối ăn Nhu cầu muối trung bình cho các loại lợn là 0,5% Trong khẩuphần lợn, tỷ lệ muối cao hơn có thể được chấp nhận nếu cung cấp đầy đủ nướcuống cho lợn Tuy nhiên, lượng muối trong khẩu phần không nên vượt quá1,5% Nếu thiếu nước, tỷ lệ muối 2% gây nên hiện tượng trúng độc thần kinh,lợn yếu, đi lảo đảo, và có thể chết

Trang 27

2.6.4.2 Nhóm khoáng vi lượng

* Sắt (Fe) và Đồng (Cu)

Sắt và đồng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu, là thànhphần của nhiều enzyme trong cơ thể Thiếu sắt và đồng sẽ gây thiếu máu, lợn còicọc, giảm tăng trọng

Cơ thể lợn con mới sinh có khoảng 50 - 70mg Fe, nhu cầu mỗi ngày là15mg Fe, trong khi đó, sữa lợn mẹ chỉ cung cấp được 1mg Fe/ngày Vì vậy, lợncon sơ sinh rất dễ bị thiếu sắt nếu không được cung cấp kịp thời Để khắc phụchiện tượng thiếu máu do thiếu sắt ở lợn sơ sinh, người ta tiến hành tiêm bổ sungsắt vào ngày tuổi thứ 3 Sắt được bổ sung cho lợn con dưới dạng dextran sắthoặc gleptoferron, liều 100 - 200mg/lần tiêm

* Kẽm (Zn)

Zn phân bố khắp nơi trong cơ thể và đảm nhận nhiều chức năng trong traođổi chất của axit nhân, tổng hợp protein, phân chia tế bào Nếu thiếu Zn thì quátrình sử dụng axit amin trong tổng hợp protein không được hoàn thành Thiếukẽm sẽ gây các bệnh về da, làm giảm tính ngon miệng, tăng tiêu tốn thức ăn,sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản

Bổ sung kẽm trong thức ăn giúp cải thiện tăng trọng và khả năng thu nhậnthức ăn của lợn con Theo Lei Nin Li và Xiong Dai Jun (2005), với 3.000mg/kgoxit kẽm có thể nâng cao 15 - 22% tăng trọng ngày, 9,5 - 14% lượng thức ăn thunhận

* Mangan (Mn)

Mn hấp thu ở ruột non, tích lũy ở gan Lợn thiếu Mn ảnh hưởng tới quátrình tạo xương, xương biến dạng, bị bệnh cứng chân Thừa Mn (1000pm trongthức ăn) gây độc làm rối loạn chức năng thần kinh, giảm hemoglobin máu, giảmthu nhận thức ăn, sinh trưởng chậm Nhu cầu Mn (mg/kg thức ăn khô khôngkhí) ở lợn là 20

Trang 28

* Iod (I)

Phần lớn Iod ở tuyến giáp trạng, là một thành phần của hoocmonthyroxine có tác dụng điều hoà trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản của lợn.Thiếu Iod lợn có biểu hiện tạo bướu cổ "goiter", lợn nái đẻ con yếu, chết cao,không có lông Nhu cầu Iod cho các loại lợn nuôi thịt cần 0,14mg - 0,43mg, lợnnái chửa 0,3mg, lợn nái nuôi con cần 0,7mg/con/ngày Iod có nhiều trong bột cá,muối vô cơ Kl (loduakali) Trong thực vật rất ít Iod, nhất là vùng cao

Tóm lại, các nguyên tố khoáng có vai trò nhất định trong cơ thể Giữachúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, có thể làm tăng hoặc giảm khả nănghấp thu của một hay nhiều nguyên tố khác Đồng thời, việc thiếu hay thừakhoáng đều có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ thể vật nuôi, làm giảm khả năngsinh trưởng, từ đó dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả chăn nuôi Vì vậy, khi cânđối khẩu phần, cần tính toán bổ sung hợp lý các nguyên tố khoáng nhằm tạo hiệuquả hấp thu tối ưu nhất

2.6.5 Nhu cầu về vitamin

Có khoảng hơn 15 loại vitamin được coi là thành phần không thể thiếutrong khẩu phẩn ăn cho gia súc, gia cầm Chúng được chia làm hai nhóm:

- Nhóm vitamin hoà tan trong dầu mỡ: Vitamin A, D, E, K

- Nhóm vitamin hoà tan trong nước: Vitamin C, vitamin nhóm B

Trang 29

vitamin A nói riêng và các vitamin cần thiết khác được cung cấp cho lợn con sơsinh từ sữa mẹ Sữa lợn mẹ hầu như đã đáp ứng được đầy đủ nhu cầu vitamincho lợn con (Nguyễn Quế Côi, 2006) Trong sữa đầu, hàm lượng vitamin A caogấp 6 lần so với sữa thường, do đó, cần cho lợn con bú sữa đầu.

2.6.5.2 Vitamin D

Các vitamin nhóm D bao gồm D1, D2 và D3, trong đó D2 (dạng có trongsản phẩm thực vật) và D3 (dạng có trong sản phẩm động vật) có vai trò quantrong đối với lợn trong quá trình trao đổi và chuyển hoá canxi - phốt pho.Vitamin D giúp tăng cường sự hấp thu canxi ở ruột non, tăng tái hấp thu canxi

từ xương và tăng bài xuất phốt pho từ thận Thiếu vitamin D sẽ gây ra thiếukhoáng, dẫn đến còi xương ở lợn con và chứng nhuyễn xương, xương dễ gãy ởlợn trưởng thành

Cơ thể lợn có thể tự tổng hợp vitamin D khi có tác động của ánh sáng mặttrời Tuy nhiên, trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp hiện nay, lợn được nuôinhốt nên trong khẩu phần cần bổ sung thêm vitamin D Có thể bổ sung vitamin

D cho lợn bằng cách sử dụng dầu gan cá hoặc vitamin D công nghiệp Khi cânđối khẩu phần, cần tính toán đủ nhu cầu vì nếu thừa vitamin D sẽ gây độc cholợn Nếu cho lợn sau cai sữa uống vitamin D3 với liều 250.000UI trong vòng 4tuần liên tục sẽ làm giảm lượng thu nhận thức ăn, giảm sinh trưởng, gan sưng to,hoại tử ở tim, phổi và thận

Nhu cầu vitamin D ở lợn con là 220UI/1kg khẩu phần (NRC, 1998)

2.6.5.3 Vitamin E

Vitamin E có chức năng sinh học chính là chống oxy hoá màng tế bào.Vitamin E ngăn cản quá trình hình thành peroxit của những axit béo chưa no,bảo vệ màng phospholipid Ngoài ra, vitamin E còn tham gia chuyển hoá cácaxit amin có chứa lưu huỳnh, liên quan đến quá trình sinh sản và sự phát triểncủa hệ cơ

Trang 30

Ở lợn, thiếu vitamin E nghiêm trọng gây loét dạ dày, gan bị hoại tử, mỡ bịnâu vàng, viêm thận, khó thở và viêm da; đồng thời cũng xảy ra hiện tượng hệ

cơ yếu và gây chết đột ngột dơ cơ tim quá yếu không đẩy được máu đi nuôi cơthể (Vũ Duy Giảng và cộng sự, 2000)

Nhu cầu vitamin E cho lợn con theo NRC (1998) là 16UI/1kg khẩu phần

2.6.5.4 Vitamin K

Vitamin K có liên quan đến quá trình đông máu, đó là thành phần khôngthể thiếu để tổng hợp nên prothrombin ở gan Prothrombin là tiền chất củaenzyme thrombin, enzyme xúc tác chuyển hoá fibrinogen trong huyết tươngthành fibrin làm cho máu đông Do đó, thiếu vitamin K sẽ làm chậm quá trìnhđông máu hoặc gây ra hiện tượng xuất huyết

Vitamin K có thể được tổng hợp trong cơ thể lợn nhờ hệ vi khuẩn đườngruột nhưng trên thực tế, vẫn xảy ra trường hợp thiếu vitamin K, đặc biệt khi thức

ăn bị mốc

2.6.5.5 Vitamin nhóm B

Vitamin nhóm B bao gồm B1, B2, B6, B12, nicotinamid, axit pantothenic,biotin, folacin và choline Mỗi vitamin giữ một chức năng nhất định trong cơ thểnhưng nói chung, chức năng cơ bản của vitamin nhóm B là tham gia vào các quátrình trao đổi chất Nói chung, thiếu vitamin nhóm B thường dẫn đến rối loạn traođổi chất, lợn có biểu hiện giảm ăn và chán ăn Tình trạng này sẽ được khắc phụnhanh chóng ngay sau khi bổ sung đủ hàm lượng vitamin nhóm B vào khẩu phần

Vitamin B1 tham gia vào quá trình trao đổi chất, chống viêm dây thầnkinh, khử carboxyl của axit pyruvic Thiếu vitamin B1, lợn chán ăn, bị tê phù và

có biểu hiện thần kinh Theo NRC (1998), nhu cầu vitamin B1 cho lợn từ 5 10kg là 1mg/1kg khẩu phần

-Vitamin B2 tham gia vào hoạt động hô hấp của tế bào, vận chuyển hydrotrong cơ thể Ngoài ra, vitamin B2 còn tham gia vào quá trình sản sinhhemoglobin tạo hồng cầu Thiếu vitamin B2 làm giảm tốc độ sinh trưởng, lợn bị

Trang 31

rụng lông, ỉa chảy và nôn mửa Nhu cầu vitamin B2 ở lợn 5 - 10kg là 3,5mg/1kgkhẩu phần (NRC, 1998).

Hầu hết các vitamin nhóm B không được dự trữ trong các mô của cơ thể nênchúng phải được cung cấp hàng ngày thông qua thức ăn hoặc nước uống Thức ăn cónguồn gốc thực vật thường rất giàu vitamin nhóm B, ví dụ như cám gạo, cám mỳ…

2.6.5.6 Vitamin C

Vitamin C và các dẫn xuất của nó có vai trò quan trọng đối với các phảnứng oxy hoá khử xảy ra trong tế bào Vitamin C cũng tham gia vào cơ chế vậnchuyển ion sắt từ transferin trong nguyên sinh chất của các tế bào đến feritin lànơi dự trữ sắt trong tuỷ xương, gan và tuỵ Thiếu vitamin C trong khẩu phần sẽảnh hưởng đến cấu trúc của xương, răng, mô liên kết và hệ cơ

Nhu cầu vitamin C trong khẩu phần lợn chưa được xác định rõ Tuynhiên, khi lợn bị stress thì nhu cầu viatamin C tăng cao, do đó, vitamin C thườngđược bổ sung thêm trong thức ăn hoặc nước uống khi lợn bị stress hoặc có nguy

cơ bị stress nhằm nâng cao sức đề kháng cho con vật

Tóm lại, vai trò của các vitamin đã được khẳng định từ lâu và đáp ứng đủnhu cầu vitamin cho vật nuôi là một việc làm quan trọng khi phối hợp khẩuphần Bổ sung vitamin giúp tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Hiện nay,vitamin được bán dưới dạng đơn chất hoặc đã được trộn sẵn thành premixvitamin Premix vitamin có đầy đủ các loại vitamin cần thiết cho vật nuôi vàđược tính toán với tỷ lệ phù hợp với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của từngloại vật nuôi theo các giai đoạn khác nhau

2.6.6 Nhu cầu về nước uống

Nhu cầu nước của vật nuôi phụ thuộc vào số lượng thức ăn ăn vào, nhiệt

độ môi trường và sản phẩm sản xuất ra Mỗi lứa tuổi khác nhau có nhu cầulượng nước tối thiểu khác nhau Sau khi lợn con bắt đầu tập ăn, nhu cầu về nướcuống tăng dần và phụ thuộc chủ yếu vào lượng thức ăn tiêu thụ

Ngày đăng: 21/04/2015, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cù Xuân Dần, Nguyễn Quang Mai. Sinh lý học vật nuôi. Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học vật nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2004
3. Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (1998), Nhu cầu dinh dưỡng của lợn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu dinh dưỡng của lợn
Tác giả: Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
4. Nguyễn Quế Côi (2006), Chuyên đề “Chăn nuôi lợn thịt”, Bài giảng dùng cho chương trình cao học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn thịt”, "Bài giảng dùng cho chương trình cao học
Tác giả: Nguyễn Quế Côi
Năm: 2006
5. Trần Cừ. Cơ sở sinh lý của nuôi dưỡng lợn con. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà Nội – 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý của nuôi dưỡng lợn con
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Hà Nội – 1972
7. Tôn Thất Sơn. Giáo trình Dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi. Nhà xuất bản Hà nội – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà nội – 2006
8. Trương Lăng. Cai sữa sớm lợn con. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội – 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cai sữa sớm lợn con
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội – 2004
9. Võ Trọng Hốt (2006), Chuyên đề “Chăn nuôi lợn’, Bài giảng dùng cho chương trình cao học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn’", Bài giảng dùng cho chương trình cao học
Tác giả: Võ Trọng Hốt
Năm: 2006
10. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông. Giáo trình Chăn nuôi lợn. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi lợn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội – 2000
11. Võ Văn Ninh. Kỹ thuật nuôi heo. Nhà xuất bản trẻ TP.HCM – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi heo
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ TP.HCM – 2001
1. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nghị định (15-CP) của Chính phủ về việc quản lý thức ăn chăn nuôi. Những nghị định, thông tư hướng dẫn về khuyến nông, giống vật nuôi, thức ăn gia súc. Hà nội 1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.4 : Hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phí thức ăn..Error: Reference source  not found - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn và chi phí thức ăn..Error: Reference source not found (Trang 3)
Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho lợn con cai sữa - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn cho lợn con cai sữa (Trang 36)
Bảng 4.1: Sinh trưởng tích lũy lợn con thí nghiệm (kg/con) - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 4.1 Sinh trưởng tích lũy lợn con thí nghiệm (kg/con) (Trang 38)
Bảng 4.2: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (g/con/ngày) - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (g/con/ngày) (Trang 41)
Bảng 4.3: Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm (kg/con/ngày) - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm (kg/con/ngày) (Trang 44)
Bảng 4.5: Số lượng lợn con mắc tiêu chảy ở các lô trong 2 lần thí nghiệm - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 4.5 Số lượng lợn con mắc tiêu chảy ở các lô trong 2 lần thí nghiệm (Trang 51)
Bảng 4.6: Theo dõi tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn con trong thời - Nghiên cứu sử dụng ProPep trong thức ăn cho lợn con giống ngoại (PiDu x LY) từ 21 – 56 ngày tuổi tại Công ty TNHH MTV Lợn giống Lạc Vệ - Tiên Du – Bắc Ninh
Bảng 4.6 Theo dõi tình hình mắc bệnh tiêu chảy của lợn con trong thời (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w