1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH CHĂN NUÔI THÚ Y)

173 3,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo cách sống của ký sinh trùng Chia thành 3 loại: - Ký sinh trùng bắt buộc: Là những ký sinh trùng bắt buộc phải sống ký sinh vào cơ thể ký chủ, nếu không có cơ thể ký chủ thì nó sẽ ch

Trang 1

BÀI GIẢNG BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y

(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH CHĂN NUÔI - THÚ Y)

Trang 2

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA KÝ SINH TRÙNG THÚ Y

CHƯƠNG 1 Đại cương về môn học 1.1 Định nghĩa và nội dung môn học

1.1.1 Định nghĩa về hiện tượng ký sinh

Theo V.S Erchov: “Hiện tượng ký sinh là mối quan hệ lẫn nhau phức tạp giữa haisinh vật, trong đó một sinh vật (ký sinh trùng) tạm thời hay thường xuyên cư trú trong cơthể sinh vật kia (ký chủ) Ký sinh trùng lấy dịch thể, tổ chức của ký chủ làm thức ăn,đồng thời làm cho ký chủ bị tổn hại đến mức độ nào đó về mặt sinh vật học”

Định nghĩa này nêu rõ mối quan hệ qua lại giữa 2 sinh vật (ký sinh trùng và kýchủ), trong đó có mối quan hệ về không gian (cư trú tạm thời hay thường xuyên) quan hệ

về dinh dưỡng (ký sinh trùng lấy thể dịch, tổ chức của ký chủ và thức ăn đã tiêu hóa sẵncủa ký chủ), tác hại của ký sinh trùng (do quá trình phát triển sinh vật học của nó, donhững sản phẩm mà nó tiết ra) Định nghĩa này cũng đồng thời vạch ra mục đích, phươngpháp nghiên cứu và hoạt động của khoa ký sinh trùng học

1.1.2 Nội dung môn học

Khoa học nghiên cứu về ký sinh trùng và các bệnh do ký sinh trùng gây ra gọi là

ký sinh trùng học

Ký sinh trùng học chia thành 2 bộ phận cơ bản:

1.2.1.1 Ký sinh trùng học thực vật

Ký sinh trùng học thực vật nghiên cứu ký sinh trùng thuộc giới thực vật và bệnh

do chúng gây ra cho thực vật và động vật Ký sinh trùng thực vật gồm: vi khuẩn, virus, nấm

1.2.1.2 Ký sinh trùng học động vật

Ký sinh trùng học động vật nghiên cứu ký sinh trùng thuộc giới động vật và nhữngbệnh do chúng gây ra cho động vật và thực vật Ký sinh trùng động vật gồm: giun sán,nguyên trùng (nguyên sinh động vật đơn bào ký sinh), tiết túc (côn trùng), bệnh do chúnggây ra gọi là bệnh ký sinh trùng (bệnh xâm nhiễm)

Ký sinh trùng học động vật lại chia thành: ký sinh trùng y học, ký sinh trùng thú yhọc nông nghiệp Rất nhiều ký sinh trùng là chung cho người và vật nuôi Vì vậy mà kýsinh trùng y học và thú y học có nhiều phần quan hệ mật thiết

Nghiên cứu ký sinh trùng động vật là tìm hiểu hình thái, sinh lý, sinh thái, lịch sửphát dục, sự phân bố địa lý của chúng và vị trí của chúng trong hệ thống động vật học

Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở vật nuôi là nghiên cứu tác động của ký sinh trùngđối với cơ thể ký chủ, các phương pháp chẩn đoán và phòng trị bệnh Mục đích là bảo vệvật nuôi để phát triển chăn nuôi, đồng thời bảo vệ cho người tránh các bệnh do súc vậttruyền sang

Trang 3

Ví dụ: Sán lá gan (Fasciola gigantica và F.hepatica) ký sinh ở ống dẫn mật trâu,

bò Như vậy theo khái niệm trên thì sán lá gan là ký sinh trùng

1.2.1.2 Phân loại ký sinh trùng

Ký sinh trùng có nhiều vị trí ký sinh có những đặc điểm sống khác nhau do vậy

mà có thể phân loại ký sinh trùng theo một số căn cứ sau:

a Theo nguồn gốc của ký sinh trùng

Chia làm hai loại:

- Ký sinh trùng động vật: Là những ký sinh trùng có nguồn gốc từ động vật và nó

có thể ký sinh trên động vật và thực vật

Ví dụ: Một số loài giun tròn ký sinh trên cơ thể động vật và thực vật

- Ký sinh trùng thực vật: Là những ký sinh trùng có nguồn gốc từ thực vật và nó

có thể ký sinh trên động vật và thực vật

Ví dụ: Nấm ký sinh trên cơ thể thực vật và động vật

b Theo chỗ cư trú của ký sinh trùng

Chia làm 2 loại:

- Nội ký sinh trùng: Là những ký sinh trùng ký sinh ở bên trong cơ thể

Ví dụ: Các loài giun, sán ký sinh ở đường tiêu hóa, ký sinh trùng đường máu (tiênmao trùng, lê dạng trùng….)

- Ngoại ký sinh trùng: Là những ký sinh trùng ký sinh trên bề mặt của cơ thể

Ví dụ: Ve, ghẻ ký sinh trên bề mặt cơ thể trâu, bò

c Theo cách sống của ký sinh trùng

Chia thành 3 loại:

- Ký sinh trùng bắt buộc: Là những ký sinh trùng bắt buộc phải sống ký sinh vào

cơ thể ký chủ, nếu không có cơ thể ký chủ thì nó sẽ chết

Ví dụ: Giun, sán ký sinh trong đường tiêu hóa, ký sinh trùng đường máu…

- Ký sinh trùng tùy nghi: Là những ký sinh trùng có thể sống ký sinh và có lúc cóthể sống tự do ở ngoại cảnh

Ví dụ: Muỗi, ruồi trâu, mòng…

- Ký sinh trùng ngẫu nhiên: Là những ký sinh trùng có thể sống tự do lâu dài ởngoài ngoại cảnh nhưng nó cũng có thể sống ký sinh nếu ngẫu nhiên gặp cơ thể ký chủ

d Theo đời sống ký sinh

Chia làm hai loại:

Trang 4

- Ký sinh trùng vĩnh viễn: Là những ký sinh trùng cả đời sống ký sinh trên cơ thể

ký chủ

K.I Skrjabin và R.S.Schutz (1940) đã chia các ký sinh trùng này thành hai nhóm

cơ bản theo đặc điểm quan hệ với môi trường bên ngoài

+ Ký sinh trùng cố định: Tất cả các giai đoạn phát triển của ký sinh trùng đều hoànthành trong cơ thể ký chủ

Ví dụ: Giun xoắn Trichinella spiralis không bao giờ gặp nó ở ngoài cơ thể và chỉ

truyền trực tiếp khi có con vật khác ăn vật mang ký sinh trùng (cả giai đoạn trưởng thành

và ấu trùng đều sống trên cơ thể ký chủ)

+ Ký sinh trùng định kỳ: Một số giai đoạn phát triển nhất định phải hoàn thành ởmôi trường bên ngoài

Ví dụ: Giun đũa lợn Ascaris suum giai đoạn trưởng thành ký sinh ở ruột non của

lợn và sau khi giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài ngoại cảnh và tiếp tục pháttriển ở ngoại cảnh cho đến khi thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh

+ Ký sinh trùng tạm thời: Những ký sinh trùng này phát triển từ trứng đến giaiđoạn đoạn trưởng thành đều ở ngoài ngoại cảnh, chúng xâm nhập vào ký chủ cốt là để lấythức ăn, sau khi ăn nó lại rời ký chủ và tìm đến ký chủ khi đói

Ví dụ: Muỗi, ruồi, mòng…

e Theo bản chất của ký sinh trùng

Chia thành hai loại:

- Ký sinh trùng chuyên loại: Là những ký sinh trùng chỉ ký sinh ở một loài hoặcmột vài loài ký chủ gần giống nhau về phương diện động vật học

Ví dụ: Giun đũa bê, nghé chỉ ký sinh ở bê, nghé Vì vậy giun đũa bê, nghé là kýsinh trùng chuyên loại

- Ký sinh trùng phiếm loại: Là những ký sinh trùng có thể sống ký sinh trên nhiềuloài ký chủ khác nhau

Ví dụ: Muỗi, tiên mao trùng….có thể sống ký sinh ở nhiều ký chủ như trâu, bò,

dê, cừu, chó…

1.2.2 Ký chủ (vật chủ)

1.2.2.1 Định nghĩa

Ký chủ là những sinh vật đang sống bị ký sinh trùng sống nhờ tạm thời hay lâu dài

và bị chiếm đoạt chất dinh dưỡng

Ví dụ: Lợn là ký chủ của giun đũa lợn

1.2.1.2 Phân loại ký chủ

Căn cứ vào đặc tính phát dục và thích ứng của ký sinh trùng đối với đời sống kýsinh, có thể phân ký chủ thành những loại sau:

Trang 5

- Ký chủ cuối cùng: Là những sinh vật để ký sinh trùng sống nhờ và phát dục đếnlúc thành thục về giới tính.

Ví dụ: Trâu bò là ký chủ cuối cùng của sán lá gan

- Ký chủ trung gian: Là những sinh vật để cho ký sinh trùng sống nhờ và phát dụctrong giai đoạn là ấu trùng

Ví dụ: Lợn là ký chủ trung gian của sán dây Taenia solium Ốc Limnaea là ký chủ

trung gian của sán lá gan

- Ký chủ trung gian bổ sung: Có những loài ký sinh trùng trong quá trình pháttriển, ấu trùng đã qua giai đoạn ở ký chủ trung gian thứ nhất nhưng vẫn chưa đạt tới giaiđoạn là ấu trùng có sức gây bệnh cho ký chủ cuối cùng, vì vậy nó cần một ký chủ trunggian thứ hai để hoàn thành sự phát triển của ấu trùng Ký chủ trung gian thứ hai này gọi

là ký chủ trung gian bổ sung

Ví dụ: Sán lá cơ quan sinh sản gia cầm cần ký chủ trung gian thứ nhất là ốc nướcngọt và ký chủ trung gian thứ hai là ấu trùng chuồn chuồn Như vậy ấu trùng chuồnchuồn là ký chủ trung gian bổ sung

- Ký chủ chuyên tính: Là ký chủ được ký sinh trùng chọn lọc một cách chặt chẽ đểsống ký sinh

Ví dụ: Ngựa là ký chủ chuyên tính của giun đũa bê, nghé

- Ký chủ dự trữ: Là những sinh vật không thích hợp với ký sinh trùng nhưng nóvẫn cho ký sinh trùng sống nhờ một thời gian để chờ gặp ký chủ cuối cùng thích hợp

Ví dụ: Giun Symgamus trachchea ký sinh ở khí quản gà có ký chủ dự trữ là con gián

- Ký chủ đường cùng: Là những sinh vật hoàn toàn không thích hợp với ký sinhtrùng Vì vậy, ký sinh trùng vào sinh vật đó chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn, sau đó bịchết do không gặp được ký chủ cuối cùng thích hợp

Ví dụ: Giun xoăn Strongyloidae ký sinh ở ngựa: Ngựa nuốt phải ấu trùng giun

xoăn ở ngoại cảnh thì ấu trùng vào đường tiêu hóa của ngựa và phát triển thành giuntrưởng thành Ấu trùng này xâm nhập qua da của người thì nó nằm ngay dưới da gâyngứa ngáy, nhưng nó chỉ tồn tại được 1, 2 ngày rồi chết do không thích nghi Như vậyngười là ký chủ đường cùng của giun xoăn ngựa

1.3 Đặc điểm của ký sinh trùng

1.3.1 Những đặc điểm về hình thái và kích thước

Trang 6

+ Đối với nhóm sán dây: Thân dẹp và có hình dải băng, cơ thể phân đốt Màu sắccủa sán dây tương đối đồng nhất: màu trắng ngà, trắng, vàng nhạt.

+ Đối với nhóm giun tròn: Có hình sợi chỉ, hình thoi, tròn Màu sắc, trắng ngà,vàng nhạt

+ Đối với động vật chân đốt (động vật tiết túc): Có nhiều hình dạng khác nhau Cóchân, chân phân đốt, cánh, vòi hút

+ Đối với đơn bào: Cơ thể chỉ có một tế bào, có hình thái đơn giản, phải quan sátbằng kính hiển vi

- Các loài trong cùng một giống cũng có hình thái khác nhau

Ví dụ: Fasciola hepatica khác F.gigantica (có “vai” và không có “vai”)

- Cùng một loài, nhưng ở giai đoạn phát triển khác nhau thì hình thái cũng khácnhau Sự khác nhau này nhiều khi đến mức khó có thể nhận ra chúng là một loài

Ví dụ: Ruồi, muỗi trưởng thành có chân và cánh nhưng khi là ấu trùng (giòi, bọgậy) thì không có chân và cánh

1.3.1.2 Đặc điểm về kích thước

Ký sinh trùng có kích thước rất khác nhau, có loài có kích thước rất nhỏ, có nhữngloài có kích thước rất lớn

Ví dụ: Sán dây Moniezia dài 4 – 5m Đơn bào ký sinh có kích thước rất nhỏ,

không thể quan sát thấy bằng mắt thường

Ngay một ký sinh trùng trong quá trình sống cũng có sự thay đổi rất nhiều về kíchthước Ví dụ: Sán lá, sán dây, giun tròn trưởng thành có kích thước lớn nhưng khi là ấutrùng thì rất nhỏ, phải dùng kính hiển vi mới quan sát được

Ký sinh trùng có thể trong một thời gian ngắn của đời sống ký sinh cũng có thayđổi lớn về kích thước Ví dụ: Ve ký sinh sau khi hút máu có kích thước tăng lên 50 lần sovới trước khi hút máu

Đặc điểm kích thước của ký sinh trùng khác vi khuẩn ở chỗ: Về kích thước, vikhuẩn tương đối thuần nhất (đều phải dùng kính hiển vi mới quan sát được), còn ký sinhtrùng thì tùy loại, tùy từng giai đoạn có thể thấy được bằng mắt thường hoặc kính hiển vi

1.3.2 Những đặc điểm về cấu tạo cơ quan của ký sinh trùng

* Ký sinh trùng có sự thoái hóa, tiêu giảm những cơ quan không cần thiết cho đời sống

ký sinh

- Đối với sán lá: Tiêu giảm bớt cơ quan tiêu hóa nên hệ tiêu hóa của chúng rất đơngiản và không có hậu môn Không có hệ tuần hoàn và hô hấp Hệ thần kinh và bài tiếtcủa chúng cũng rất đơn giản

- Đối với sán dây: Không có hệ tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn Hệ thần kinh và bàitiết có cấu tạo rất đơn giản

Trang 7

- Đối với giun tròn, sán lá, sán dây: Không có cơ quan vận động, không có hệ tuầnhoàn, hô hấp và tiêu hóa

- Đối với động vật đơn bào: Nhiều loài không có cơ quan vận động, không có hệtuần hoàn, hô hấp và tiêu hóa

Kết luận:

- Để thích hợp với đời sống ký sinh, ký sinh trùng đã có sự thoái hóa, tiêu giảmcác cơ quan không cần thiết Sống trong cơ thể ký chủ, ký sinh trùng đã có đầy đủ chấtdinh dưỡng để có thể tiêu hóa, hấp thu dễ dàng Mặt khác, nhiều loài ký sinh trùng sốngyếm khí trong ký chủ Đó là các nguyên nhân dẫn đến sự thoái hoá, tiêu giảm nói trên

- Sự thoái hóa, tiêu giảm các cơ quan không cần thiết cho đời sống ký sinh xảy ra

ở hầu hết các nội ký sinh trùng (rất rõ rệt), còn đối với ngoại ký sinh trùng thì điều nàykhông rõ

* Ký sinh trùng tạo ra và hoàn thiện các cơ quan mới cần thiết cho đời sống ký sinh

- Ký sinh trùng có cơ quan phân tích (phân tích quan), nhờ đó mà nó có thể địnhhướng để tìm đến ký chủ và vị trí ký sinh thích hợp

Ví dụ: Giun đũa lợn: ở gioai đoạn ấu trùng có sự di hành đến các cơ quan: gan,phổi, ruột nhờ có phân tích quan Nhờ phân tích quan mà muỗi tìm được ký chủ khi đói

- Ký sinh trùng tạo ra và hoàn thiện những cơ quan bám hút: Giun sán có giác bám(2 - 4 giác bám), rãnh bám (2 rãnh bám), môi, móc bám, gai Ngoại ký sinh trùng: có vòihút, chân có móng bám

Nhờ có cơ quan bám hút này mà ký sinh trùng có thể bám chắc vào vị trí ký sinh

và chiếm đoạt chất dinh dưỡng dễ dàng

- Ký sinh trùng phát triển cơ quan vận động để tìm đến ký chủ : chân, cánh Điềunày thường gặp ở ngoại ký sinh trùng

- Có một số loài ký sinh trùng còn có khả năng tiết ra chất chống đông máu để lấymáu ký chủ được dễ dàng Ví dụ: Đỉa, vắt, muỗi, giun xoăn dạ múi khế, giun móc

- Có một số loài tiết ra chất làm mềm da để chích, hút Ví dụ: muỗi

- Ký sinh trùng hoàn thiện bộ phận đặc biệt ở cơ quan sinh dục để giúp cho việcsinh sản được dễ dàng hơn

Ví dụ: Muỗi phải giao phối trong khi bay nên cơ quan sinh dục của muỗi đựcngoài bộ phận dương vật còn có càng bám để giữ chắc muỗi cái Muỗi cái vì số lần gặpmuỗi đực rất ít nên nó có túi chứa và dưỡng tinh để thụ tinh cho những lứa trứng nối tiếp nhau

Trang 8

1.3.3 Đặc điểm về hình thức sinh sản của ký sinh trùng

* Ký sinh trùng có nhiều hình thức sinh sản phong phú

- Sinh sản vô tính: Là hình thức sinh sản đơn giản nhất Đây là hình thức sinh sảnkhông có sự tham gia của tế bào sinh dục đực và tế bào sinh dục cái Có các hình thứcsinh sản vô tính như sau:

+ Sinh sản theo hình thức trực phân: Là hình thức sinh sản từ một tế bào phân chiatạo ra hai tế bào con và hai tế bào con này giống hệt tế bào mẹ nhưng nhỏ hơn mẹ về kíchthước, sau đó tiếp tục lớn lên thành dạng trưởng thành Với hình thức sinh sản này thì sốlượng tế bào sẽ tăng lên theo cấp số nhân

Ví dụ: Tiên mao trùng Trypanosoma sinh sản theo hình thức trực phân và nó phân chia theo chiều dọc Lê dạng trùng Piroplasma ký sinh trong hồng cầu: Từ một tế bào mẹ

phân chia thành hai tế bào con

+ Sinh sản theo hình thức liệt phân: Từ một tế bào mẹ phân chia tạo thành nhiều tếbào con Với hình thức sinh sản này, số lượng ký sinh trùng sẽ tăng lên gấp bội

Ví dụ: Cầu trùng Eimeria sinh sản trong tế bào biểu mô ruột

+ Sinh sản theo hình thức đâm chồi, nảy mầm: thường thấy ở nấm ký sinh

+ Sinh sản theo hình thức sinh nha bào: thường thấy ở vi khuẩn

- Sinh sản hữu tính: Là hình thức sinh sản có sự tham gia của tế bào sinh dục đực

và tế bào sinh dục cái Có hai trường hợp sinh sản hữu tính:

+ Đối với những cơ thể đơn tính: Là hình thức sinh sản cần phải có con đực và concái giao phối với nhau Ví dụ: Giun tròn, muỗi, ve, bét…

+ Đối với những cơ thể lưỡng tính: Do có bộ dục sinh dục đực và cái nên ký sinhtrùng có thể tự do giao phối hoặc có thể giao phối chéo giữa hai cá thể

Ví dụ: Sán lá Trematoda, sán dây Cestoda tự giao phối hoặc giao phối chéo với nhau.

Kết quả của quá trình sinh sản hữu tính:

+ Đẻ ra trứng có phôi bào Ví dụ: Giun đũa, giun tóc, …

+ Đẻ ra trứng có ấu trùng Ví dụ: Giun phổi lợn, giun lươn, …

+ Ký sinh trùng đẻ ra ấu trùng Ví dụ: Giun xoắn (giun bao)

- Sinh sản theo hình thức phôi tự sinh: Là hình thức sinh sản của các ấu trùng haynói cách khác ấu trùng có khả năng sinh sản Bản chất của quá trình sinh sản này là hìnhthức sinh sản vô tính

Ví dụ: Ấu trùng của sán lá gan có thể sinh sản theo hình thức phôi tự sinh ở trong

ốc nước ngọt – KCTG

* Ký sinh trùng sinh sản nhanh nhiều và rất dễ dàng

Ví dụ: 1 giun đũa lợn có thể đẻ ra 200.000 trứng/ngày đêm

1 giun xoăn dạ dày tuyến của gà đẻ: 10.000 – 15.000 trứng/ngày đêm

1 giun xoăn dạ múi khế ở gia súc nhai lại đẻ 5.000 – 10.000 trứng/ngày đêm

Trang 9

1 sán lá gan trâu, bò đẻ hàng chục vạn trứng/năm

Từ các đặc điểm trên, chúng ta thấy ký sinh trùng sinh sản rất nhiều, sự ô nhiễmmầm bệnh ký sinh trùng trong tự nhiên là rất lớn Do đó, bệnh ký sinh trùng rất phổ biến

ở gia súc, gia cầm và có những bệnh sẽ gây nhiễm sang người ảnh hưởng tới sức khỏecon người

1.3.4 Đặc điểm sống của ký sinh trùng

1.3.4.1 Đặc điểm môi trường sống

Để sống và phát triển, ký sinh trùng cần có môi trường sống thích hợp về nhiệt độ,

độ ẩm, đất đai, độ cao cách mặt biển….Mức độ thích hợp có thể co giãn, có những biên

độ nhất định

a Các loại môi trường sống

Có thể phân biệt các loại môi trường sống của ký sinh trùng như sau:

- Môi trường sống tối thuận: Là môi trường mà ở đó ký sinh trùng có những điềukiện thuận lợi nhất, tốt nhất để sống và phát triển

- Môi trường sống tối thiểu: Là môi trường mà ở đó ký sinh trùng có những điều

kiện thấp nhất để duy trì sự sống, nếu điều kiện sống thấp hơn thì ký sinh trùng không thểsống nổi

Ví dụ: Ấu trùng Miracidium của sán lá gan sống ở môi trường tự nhiên có nhiệt độ

thích hợp nhất là 22 – 230C, nhiệt độ tối thiểu để nó tồn tại là 150C hoặc trên 300C thì ấutrùng này không thể sống nổi

b Ảnh hưởng của môi trường sống đến ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng

Môi trường tự nhiên bao gồm nhiều yếu tố: khí hậu, thời tiết (nhiệt độ, ẩm độ, ánhsáng), đất đai sông hồ, độ cao cách mặt biển Môi trường tự nhiên không thể không cónhững biến động, thời tiết luôn thay đổi, các chất luôn chuyển hóa Những thay đổi thiênnhiên còn có những thay đổi do con người tác động (Ví dụ: Con người phát quang cây

cỏ, khơi thông cống rãnh…) Những thay đổi này có tác động rõ rệt đến ký sinh trùng vàtạo nên sự biến động của ký sinh trùng theo môi trường Cũng vì vậy mà có sự phát triểncủa ký sinh trùng theo mùa Ví dụ: Ở Việt Nam ruồi, muỗi phát triển chủ yếu từ tháng 4đến tháng 9 là những tháng nóng ẩm; còn bọ chét lại phát triển chủ yếu từ tháng 10 đếntháng 4 là những tháng mát lạnh và khô ráo

Nếu môi trường không có những thay đổi đáng kể thì sự biến động của ký sinhtrùng không rõ rệt

Nói chung, yếu tố môi trường không những quyết định sự có mặt của 1 ký sinhtrùng nào đó mà còn quyết định mức độ, khả năng hoạt động và lan tràn của ký sinh trùng

Ví dụ: Sán lá trong nhiều giai đoạn sống (khi là ấu trùng) cần phải có môi trườngnước để sống Vì vậy những vùng hoàn toàn khô cạn thì không có sán lá và bệnh sán.Những vùng ít nước có ít bệnh, những vùng nước nhiều thì bệnh sán lá phát triển

Trang 10

c Tính thích nghi của ký sinh trùng với môi trường sống

Yếu tố môi trường tuy có tác động lớn đến toàn bộ sự sống, sự hoạt động của kýsinh trùng nhưng cần phải xét đến sự thích nghi của ký sinh trùng đối với môi trường

Qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau, ký sinh trùng dần dần hình thành sự thích nghi vớimôi trường sống không hoàn toàn thích hợp Sự thích hợp này dựa vào đặc tính biến dị và

di truyền của sinh vật có thể tạo thành những kiểu sống mới cho ký sinh trùng

Nhìn chung, ký sinh trùng có thể thích nghi với hoàn cảnh môi trường Nếu sựthích nghi đó được tiến hành qua nhiều thế hệ thì có thể trở thành bản chất sinh tháicủa môi trường

Những yếu tố phụ thuộc của ký sinh trùng đối với môi trường cần quan niệm lànhững yếu tố động của hiện tượng sống Yếu tố này luôn thay đổi chứ không phải là bất

di bất dịch Do đó việc cải tạo môi trường là hết sức cần thiết để khống chế ký sinh trùng.Nhưng mặt khác, vì quá trình khống chế là một quá trình kéo dài song song với quá trìnhcải tạo môi trường, nên cũng cần phải tính đến ký sinh trùng có thể thích nghi và từ đócần có những đối phó kịp thời với sự thích nghi mới của ký sinh trùng Nói cách khác, sựđối phó với ký sinh trùng bằng biện pháp cải tạo môi trường phải thường xuyên kịp thời

và lâu dài để phá vỡ những quy luật sẵn có của ký sinh trùng với môi trường sống

Yếu tố môi trường tuy là yếu tố quyết định nhưng không phải là duy nhất vì đặcđiểm sống của ký sinh trùng còn phụ thuộc vào chu kỳ của bản thân nó, phụ thuộc vào yếu

tố ký chủ

1.3.4.2 Yếu tố chu kỳ của ký sinh trùng (vòng đời)

a Chu kỳ phát triển của ký sinh trùng là gì?

Là toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đờisống ký sinh trùng kể từ khi là mầm sinh vật đầu tiên cho đến khi sản sinh ra mầm sinhvật mới, tạo ra một thế hệ mới gọi là chu kỳ

Ví dụ: Chu kỳ phát triển của muỗi:

Muỗi trưởng thành (cái) Trứng

Ấu trùng

(bọ gậy)

Quan niệm về chu kỳ phải là không gián đoạn như là một đường tròn không cóđiểm mở đầu và không có điểm kết thúc Do quan niệm này nên mới có danh từ “chu kỳ”(chu nghĩa là vòng tròn) hoặc “vòng đời” Khi nới đến chu kỳ của một ký sinh trùng nào

đó ta có thể mô tả từ giai đoạn nào cũng được Nhưng do thói quen trình tự mà người tathường mô tả chu kỳ bắt đầu từ mầm sinh vật đầu tiên

b Các kiểu phát triển của ký sinh trùng

Có 3 kiểu:

- Kiểu chu kỳ hoàn toàn thực hiện ở ngoài ngoại cảnh

Trang 11

Ví dụ: Chu kỳ phát triển của muỗi, mòng, ruồi,…

- Kiểu chu kỳ hoàn toàn thực hiện trên cơ thể ký chủ

Ví dụ: Chu kỳ phát triển của ghẻ, chấy, rận, giun xoắn,…

- Kiểu chu kỳ có giai đoạn thực hiện trên cơ thể ký chủ, có giai đoạn thực hiện ởngoại cảnh

Ví dụ: Chu kỳ phát triển của giun đũa Ascaris Suum, sán lá, sán dây có giai đoạn

thực hiện trên cơ thể ký chủ, có giai đoạn thực hiện ở ngoại cảnh

Như vậy, có những ký sinh trùng có kiểu chu kỳ đơn giản, có những ký sinh trùng

có kiểu chu kỳ phức tạp Tính đơn giản hoặc phức tạp của chu kỳ ảnh hưởng tới mức độphát triển của ký sinh trùng và liên quan đến mức độ phổ biến của bệnh ký sinh trùng đógây nên

+ Với 2 kiểu chu kỳ phát triển hoàn toàn ở ngoại cảnh và hoàn toàn trên cơ thể kýchủ thì ký sinh trùng dễ dàng hoàn thành vòng đời hơn vì chu kỳ đơn giản thì dễ thựchiện, phải chịu tác động của ít yếu tố hơn Vì vậy đối với các ký sinh trùng có kiểu chu

kỳ đơn giản thì khó khống chế, khó tác động vào các giai đoạn phát triển của chúng hơn

+ Với kiểu chu kỳ phát triển có giai đoạn thực hiện trên cơ thể ký chủ, có giaiđoạn thực hiện ở ngoài ngoại cảnh thì là kiểu chu kỳ phức tạp hơn vì cần nhiều yếu tốhơn (Ngoại cảnh và ký chủ) Do đó việc hoàn thành vòng đời khó khăn hơn nhưng conngười lại dễ tác động hơn

Vì có nhiều kiểu chu kỳ nên biện pháp phá vỡ chu kỳ của ký sinh trùng cũng cónhiều hình thức khác nhau: hoặc cắt đứt đường chu kỳ của ký sinh trùng từ ký chủ rangoại cảnh, hoặc từ ngoại cảnh vào ký chủ, hoặc diệt ký sinh trùng ở ký chủ bằng cáchđiều trị

Chu kỳ có những quy luật nhất định, các giai đoạn phải tuần tự kế tiếp nhau nhưng

vì còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường nên thời gian chu kỳ không thể cố định được Ởđiều kiện tối thuận, tốc độ hoàn thành chu kỳ sẽ nhanh hơn so với tốc độ ở môi trườngkhông thuận lợi

Ví dụ: Ve Boophilus cần 1 – 1,5 tháng vào mùa nóng ẩm để hoàn thành chu kỳ,

còn vào mùa khô lạnh phải trên 3 tháng

Trang 12

+ Ký sinh trùng sống ở ký chủ cuối cùng, thải mầm bệnh ra ngoại cảnh nhưng sau

đó phải qua thêm một giai đoạn ở một hoặc nhiều ký chủ trung gian rồi mới trở lại ký chủcuối cùng Ví dụ: Sán lá gan, giun phổi lợn

+ Ký sinh trùng ở ký chủ và từ ký chủ được đưa vào vật môi giới truyền bệnh, sau

đó vật môi giới này lại truyền ký sinh trùng vào một ký chủ khác Ví dụ: Ký sinh trùngđường máu, giun chỉ

- Như vậy, ký sinh trùng gây bệnh không thể thiếu được yếu tố ký chủ (gồm có kýchủ cuối cùng, ký chủ trung gian) Từ sự quan hệ khăng khít của ký sinh trùng với kýchủ, chúng ta có thể rút ra những nhận xét sau:

+ Nếu thiếu ký chủ thì ký sinh trùng sẽ không hoàn thành được chu kỳ phát triển + Nếu không có ký chủ thích hợp thì ký sinh trùng sẽ chết hoặc có trường hợp cóthể sống được một thời gian ngắn và gây một số tác hại

- Khả năng ký sinh trùng sống ở ký chủ không thích hợp gây nên những trường

hợp bệnh đặc biệt thường gọi là những bệnh do ký sinh trùng lạc chủ

Ký sinh trùng sau khi vào ký chủ phải tìm vị trí thích hợp để ký sinh Mỗi ký sinhtrùng có vị trí ký sinh nhất định trong cơ thể Vị trí này có thể có những thay đổi Nhữngtrường hợp này được gọi là ký sinh trùng lạc chỗ (hoặc ký sinh trùng di cư) Hiện tượng

di cư này xảy ra chủ yếu là do ký sinh trùng thay đổi sinh thái hoặc do cơ thể ký chủ cónhững thay đổi lý hóa tại chỗ ký sinh trùng ký sinh Sự di cư của ký sinh trùng trong cơthể ký chủ gây nên những biến chứng trầm trọng của bệnh ký sinh trùng và có thể xảy ranhững triệu chứng rất bất thường Ví dụ: Giun chui ống mật

Trước khi ký sinh trùng cố định tại một vị trí, một số ký sinh trùng có hiện tượng

đi qua một số nơi trong cơ thể

Sự chủ động đi qua các cơ quan, các mô để đến được nơi cư trú lâu dài được gọi là

sự di chuyển (K.I Skrijiabin và A.M Petrov, 1963)

+ Đường di chuyển mà trong đó giun sán đi qua hệ thống nội tạng vào gan qua tĩnhmạch chủ và tìm vào vòng tiểu tuần hoàn, phổi rồi về ruột gọi là vòng di chuyển gan –phổi – ruột

+ Đường di chuyển mà trong đó giun sán đi từ ruột qua hệ bạch huyết, tuyến bạchhuyết rồi qua tĩnh mạch chủ, qua tim vào vòng tiểu tuần hoàn phổi và lại vào đường tiêuhóa gọi là vòng di chuyển limphô – phổi – ruột

+ Một trong số những kiểu di chuyển thường gặp đó là giun sán ngừng lại ở phổi,sống trong cơ quan nhu mô hay trong đường hô hấp được gọi là vòng di chuyển limphô –phổi

+ Sự di chuyển theo đường limphô – phổi nhưng dừng lại ở tim hay động mạchchủ gọi là vòng di chuyển limphô – tim

Trang 13

+ Đôi khi sự di chyển của giun sán thực hiện không những chỉ ở vòng tiểu tuầnhoàn mà còn ở vòng đại tuần hoàn nữa Sự di chuyển qua các tiểu và đại tuần hoàn đượcgọi là di chuyển đại tuần hoàn và phụ thuộc vào giai đoạn đầu qua đường limphô hay quagan ta có thể gọi là vòng di chuyển gan – đại tuần hoàn hay limphô – đại tuần hoàn

+ Sự di chuyển tự do trong cơ thể ký chủ được gọi là dạng di chuyển nội tạng –toàn thân

- Đường xâm nhập của ký sinh trùng vào cơ thể ký chủ thay đổi tùy loài ký sinhtrùng Đa số giun sán xâm nhập qua đường tiêu hóa, một số xâm nhập qua da (giun chỉ,sán máng) Một số ký sinh trùng có thể có nhiều đường xâm nhập Ký sinh trùng có mộthoặc nhiều ký chủ thích hợp

Những ký sinh trùng có thể lấy dinh dưỡng ở nhiều loài vật khác nhau là những kýsinh trùng tạp thực Tính tạp thực của một số ký sinh trùng làm cho một bệnh ký sinhtrùng có thể truyền từ súc vật sang người hoặc ngược lại từ người sang súc vật

1.4 Ảnh hưởng qua lại giữa ký sinh trùng và ký chủ

Do viêm dẫn tới sản sinh ra vỏ bằng tổ chức liên kết bọc lấy ký sinh trùng, lớp vỏ và kýsinh trùng bọc bên trong sẽ chết đi biến thành vữa rồi thành vôi và tạo thành cái hạt

- Tác động chiếm đoạt: Ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng cách ăn tổ chức của kýchủ, cướp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hóa, hút máu ký chủ Tác động này tiếpdiễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng gây nên tổn hại rất lớn cho ký chủ (thiếu máu,gầy yếu)

- Tác động đầu độc: Ký sinh trùng đầu độc vật chủ bằng độc tố gồm:

+ Tất cả những sản phẩm của quá trình trao đổi chất của ký sinh trùng gây trúngđộc mãn tính cho súc vật Ở giai đoạn ấu trùng tác dụng đầu độc mạnh hơn ở giai đoạn kýsinh trùng trưởng thành

+ Ký sinh trùng còn đầu độc bằng nội độc tố, ngoại độc tố do chính ký sinh trùngtiết ra

+ Độc tố còn bao gồm cả những tuyến có khả năng làm tan máu, hủy hoại mỡ, tếbào vật chủ

Tác động đầu độc được coi là gây hại nhất cho vật chủ Ký chủ hấp thu phải chấtđộc sinh ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy nhất là biến loạn thần kinh (co

Trang 14

giật, bại liệt…) và tuần hoàn (gây dung huyết, bần huyết) Độc tố còn làm tê liệt các tếbào thực bào của vật chủ Thành phần của độc tố gồm những men để hủy hoại mô vànhững chất kháng men có tác dụng trung hòa men của vật chủ để tiêu hóa ký sinh trùng.Thành phần này làm cho vật chủ chậm lớn, gầy yếu

- Tác động truyền bệnh: Một số loài tiết túc đốt súc vật làm cho con vật khó chịu,viêm da nhưng không nguy hiểm mà cái nguy hiểm là chúng truyền những bệnh có thểthành dịch lưu hành giết hại nhiều súc vật

Ví dụ: Muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da ở người, ve truyền bệnh lê dạng

trùng, bọ chét truyền bệnh dịch hạch, ruồi Glossina truyền bệnh trùng roi, côn trùng hút

máu truyền bệnh nhiệt thán

Trong quá trình di hành, ký sinh trùng non sẽ mang vi trùng hoặc virus từ vị trínày đến vị trí khác, từ cơ quan này tới các cơ quan khác và gây nên viêm lan từ cơ quannày đến cơ quan khác Ký sinh trùng từ ngoại cảnh vào cơ thể ký chủ sẽ mang theo vitrùng từ ngoài vào hoặc mang ký sinh trùng đơn bào vào cơ thể ký chủ

Hậu quả: Gây ra bệnh khác (bệnh ký sinh trùng khác, bệnh truyền nhiễm….) ghépvới bệnh do chính bản thân ký sinh trùng gây ra

1.4.2 Phản ứng của ký chủ đối với ký sinh trùng

Ký chủ có thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của ký sinh trùng Ví dụ:

Sán dây Bothriocephalus latus có thể dài hàng mấy mét ở người, trong khi chỉ dài 20 –

40 cm ở ruột mèo, tuy hình thái không thay đổi

Cơ thể ký chủ phản ứng lại ký sinh trùng bằng 2 loại phản ứng: phản ứng tế bào vàphản ứng thể dịch

* Phản ứng tế bào

- Các tế bào di động của ký chủ tấn công ký sinh trùng và có thể tiêu diệt chúngbằng cơ năng thực bào Nếu hiệu quả thực bào không đầy đủ thì sinh ra những phản ứng

tế bào Phản ứng thường thấy nhất là viêm và tăng sinh bạch cầu Eosin

- Phản ứng tăng sinh bạch cầu Eosin (bạch cầu ái toan): Đây là phản ứng thườngthấy trong các bệnh ký sinh trùng và nó biểu thị là số lượng bạch cầu ái toan tăng cao vàtăng cao gấp nhiều lần so với bình thường (đây chính là hiện tượng phòng vệ của cơ thể)

- Ngoài ra, còn có các phản ứng khác: tổ chức biến đổi, các mô bào nhiễm ký sinhtrùng thì tăng lên về kích thước hoặc phát triển quá mức gây thành những ung bao bọc vàgiới hạn ký sinh trùng, không cho ký sinh trùng phát tán và gây tác hại

* Phản ứng dịch thể

Là phản ứng của cơ thể sản sinh ra kháng thể để chống lại ký sinh trùng Phản ứngdịch thể xảy ra hai trường hợp:

- Làm cho cơ thể có tính miễn dịch đối với bệnh ký sinh trùng do kháng thể được

cơ thể tạo ra

Trang 15

- Làm cho cơ thể rơi vào trạng thái quá mẫn: Khi ký sinh trùng xâm nhập vào cơthể lần thứ nhất nó sẽ kích thích cơ thể sản sinh ra kháng thể, đồng thời ký sinh trùng sinh

ra độc tố quá mẫn (Anaphylatoxin) Khi ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể lần thứ hai thì

kháng thể sản sinh ra và độc tố quá mẫn tăng cường lên và lúc này cơ thể sẽ bị phản ứngsốc: huyết áp giảm, tim đập yếu, mạch chậm, khó thở…

1.4.3 Tính cảm thụ của súc vật đối với bệnh ký sinh trùng

Các cá thể khác nhau thì mức độ cảm nhiễm với bệnh ký sinh trùng khác nhau.Tính cảm thụ của ký chủ với ký sinh trùng phụ thuộc vào yếu tố sau:

- Giống, loài: Có những giống cảm thụ ít hay nhiều với những ký sinh trùng nhấtđịnh Trong một vùng mà ký sinh trùng thường có, nó gây tác hại ít hơn là ở những vùng

mà trước đó chưa có Hoặc những giống súc vật nhập nội cảm thụ với bệnh đã có ở địaphương hơn so với các giống súc vật địa phương Ví dụ: Bệnh lê dạng trùng

- Tuổi và tính biệt:

+ Tuổi: Súc vật non bị bệnh ký sinh trùng đường ruột nhiều hơn súc vật trưởngthành Ví dụ: Bệnh giun đũa nói chung có tỷ lệ nhiễm giảm dần theo lứa tuổi Nói chungsức đề kháng của súc vật non kém hơn súc vật trưởng thành

+ Tính biệt: Hầu như không có ảnh hưởng đến sự cảm nhiễm ký sinh trùng Tuynhiên, một số loài gia súc tính biệt dường như có ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng

Ví dụ: Dê cái nhiễm nhiều giun sán hơn dê đực

- Chế độ dinh dưỡng: Dinh dưỡng thiếu thốn nhất là thiếu vitamin (A và C),protein, chuồng chật chội, kém vệ sinh…là điều kiện thuận tiện cho sự phát sinh bệnh kýsinh trùng Thói quen ăn uống (ăn phân, ăn sống) giúp cho sự xâm nhập một số ký sinhtrùng Mùa chăn ngoài đồng cỏ dài hay ngắn cũng ảnh hưởng đến cường độ nhiễm kýsinh trùng

Trái lại, dinh dưỡng đầy đủ có thể làm cho bệnh ký sinh trùng giảm, thậm chí bảnthân ký chủ có thể tống ký sinh trùng ra ngoài

- Tình trạng sức khỏe: Súc vật khi đã hoặc đang mắc bệnh, khí hậu thời tiết lạithay đổi thất thường, làm việc quá sức, bệnh ký sinh trùng dễ phát sinh Khi có sức miễndịch tốt, sinh trưởng phát dục của ký sinh trùng bi hạn chế, đời sống của ký sinh trùng bịrút ngắn

1.5 Tính miễn dịch đối với ký sinh trùng

1.5.1 Những đặc điểm chung về tính miễn dịch đối với bệnh ký sinh trùng

Bệnh ký sinh trùng có miễn dịch, tuy nhiên miễn dịch đó chỉ có tính chất tươngđối không rõ rệt Miễn dịch ký sinh trùng bao gồm:

- Miễn dịch tự nhiên: Là miễn dịch bẩm sinh đã có, nó được di truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác và do yếu tố giống loài quy định

Ví dụ: Gia cầm không bị nhiễm các bệnh ký sinh trùng ở trâu, bò và ngược lại

Trang 16

- Miễn dịch tiếp thu (miễn dịch thu được): Là miễn dịch do động vật thu đượctrong quá trình sống

Đối với các bệnh ký sinh trùng thì miễn dịch tiếp thu không bao giờ tiến tới tiêudiệt hoàn toàn ký sinh trùng Trong trạng thái miễn dịch ấy, những hoạt động phòng ngựcủa cơ thể ký chủ không cho ký sinh trùng phát triển, hình thành một thế thăng bằng giữa

ký sinh trùng và ký chủ Miễn dịch tiếp thu gồm có hai loại:

+ Miễn dịch tiếp thu chủ động: Là miễn dịch thu được sau khi tiêm vacxin hoặcsau khi bị bệnh khỏi Đây là miễn dịch chủ động vì cơ thể ký chủ tự sinh ra kháng thể màkhông cần có kháng thể từ bên ngoài vào

Ví dụ: Tiêm vacxin tiên mao trùng cho cơ thể trâu, bò thì cơ thể trâu, bò sản sinh

ra kháng thể kháng tiên mao trùng Đó là miễn dịch tiếp thu chủ động

+ Miễn dịch tiếp thu bị động: Là miễn dịch có được do cơ thể ký chủ thu nhậnkháng thể một cách bị động

Ví dụ: Tiêm huyết thanh kháng tiên mao trùng vào cơ thể trâu, bò Đó là miễn dịchtiếp thu bị động

Tuy nhiên, miễn dịch tiếp thu bị động do tiêm huyết thanh của con vật đã đượcmiễn dịch không có tác dụng thực tế trong các bệnh ký sinh trùng

Sau khi dùng một số thuốc điều trị ký sinh trùng, sức miễn dịch còn duy trì mộtthời gian nhất định là do thuốc còn tồn tại lâu trong cơ thể con vật Ví dụ: Đối với sán lá

gan Fasciola, sức miễn dịch được 1,5 – 2 tháng, sán dây Moniezia được 1 – 1,5 tháng.

1.5.2 Kháng nguyên và kháng thể

Kháng nguyên của ký sinh trùng gồm bản thân nó và những sản phẩm mà nó bàitiết ra Ký chủ phản ứng lại tác động kích thích của ký sinh trùng (kháng nguyên) bằngcách sản sinh kháng thể, đó là thành phần globulin trong huyết thanh của ký chủ

Do sự phát triển và tác động của ký sinh trùng thường là thứ cấp tính hay mãn tínhnên tính miễn dịch đối với bệnh ký sinh trùng thường chỉ là tương đối Kháng nguyên vàkháng thể có tính đặc hiệu: ký sinh trùng loại nào kích thích cơ thể sinh kháng thể loại ấy,

ký chủ sinh kháng thể chỉ nhằm một loại ký sinh trùng nhất định Nhưng trong bệnh kýsinh trùng lại có phản ứng miễn dịch nhóm, tức là kháng thể chống được kháng nguyêncủa những loại ký sinh trùng gần nhau

Ví dụ: Tính phòng nhiễm của bò chống lê dạng trùng Piroplasma Bovis cũng cho con vật tính phòng nhiễm chống biên trùng Anaplasma Marginale.

Sự sản sinh kháng thể là do hoạt động của toàn thân kháng thể dưới sự chi phối vàchỉ đạo của hệ thống thần kinh, nhưng cũng tập trung vào các khí quan chính của hệthống võng mạc nội bì (hệ lâm ba, lá lách, một phần phổi, gan) Lá lách là khí quan sinhkháng thể rất mạnh, do đó cắt bỏ lá lách hay làm ngăn trở chức năng của lá lách có thể

Trang 17

làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh ký sinh trùng, làm cho ký sinh trùng sinhsản rất mạnh, bệnh đang ở thể tiềm ẩn có thể phát thành thể lâm sàng

Huyết thanh miễn dịch có những đặc tính: ngưng kết, dung giải, trầm điện (kếttủa), điều lý, cố định bổ thể, quá mẫn, dị cảm hóa Ví dụ: Ấu trùng giun đũa sau khi xâmnhiễm vào cơ thể 20 ngày thì trong máu ký chủ có tăng bạch cầu Eosin và sản sinh khángthể Nếu lúc đó ký chủ tái nhiễm ấu trùng giun đũa thì do sức đề kháng của ký chủ, ở lỗmiệng và hậu môn của ấu trùng giun sinh ra một chất gọi là precipitin (trầm điện tố) ảnhhưởng đến khả năng chui vào tổ chức ký chủ và khả năng lấy thức ăn của ấu trùng giun.Lấy huyết thanh của con vật đã mắc bệnh giun đũa cho tiếp xúc với ấu trùng giun đũa thìphát hiện được trong thực quản và hậu môn của ấu trùng có những chất kết tủa (chứngminh là trong huyết thanh có precipitin)

Do huyết thanh sản sinh những kháng thể đặc hiệu hay những kháng thể tính chấtnhóm, tương ứng với kháng nguyên nhất định mà có thể dùng phương pháp chẩn đoánhuyết thanh học đối với một số bệnh ký sinh trùng Phương pháp này rất có ý nghĩa vớinhững bệnh mà ký sinh trùng ở một phủ tạng khó quan sát hay không quan sát được

(Cysticercosis, Echinococosis, Trichinellosis)

1.5.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sức miễn dịch

- Giống, loài: Ví dụ: Sức chống đỡ của người, chồn, chuột lang đối với sán dây

Diphyllobothrium khác nhau.

- Tuổi: Nói chung súc vật trưởng thành có sức miễn dịch cao hơn súc vật non.Người ta giải thích sức miễn dịch của súc vật trưởng thành cao hơn là do sinh lý của nókhông thích hợp cho đời sống ký sinh của giun, sán bằng súc vật non, có thể do sự phátdục của súc vật non chưa đầy đủ, các chức năng sinh lý của súc vật non chưa hoàn chỉnh,sức chống đỡ với bệnh kém

Ví dụ: Bê, nghé bị bệnh giun đũa trong khi trâu, bò không bị bệnh Lợn con 2 – 4tháng tuổi nhiễm giun đũa nhiều hơn lợn trưởng thành

Nhưng cá biệt đối với một số bệnh thì súc vật non lại có sức miễn dịch cao hơnsúc vật trưởng thành Ví dụ: Bê mắc bệnh lê dạng trùng nhẹ hơn bò vì huyết cầu của bêtái sinh sản nhanh chóng thay thế được những huyết cầu bị lê dạng trùng phá hoại

- Giới tính: Sức miễn dịch của súc vật đực và cái (trừ một số trường hợp đặc biệt)

là tương tự nhau

- Thời kỳ sinh dục: Bò cái có chửa và bò cái đang cho con bú thường có sức chống

đỡ yếu hơn bò cái không chửa đẻ

- Chế độ dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng của ký chủ ảnh hưởng đến tính cảmnhiễm giun, sán Ví dụ: Hai lô gà được nuôi với chế độ dinh dưỡng như nhau, chỉ khácmột yếu tố là: một lô được bổ sung vitamin A, còn một lô thì không bổ sung vitamin A.Kết quả: gà được nuôi ở lô không sử dụng vitamin A có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao hơn

Trang 18

- Những khí quan ảnh hưởng đến tính miễn dịch: Nếu cắt bỏ lá lách thì sức chống

đỡ với bệnh ký sinh trùng giảm đi rõ rệt Nếu túi Fabricius ở gia cầm bị biến đổi thì miễndịch giảm và gà dễ bị mắc các bệnh Gà mắc bệnh giun đũa nếu cứ 2 ngày một lần lấy bớt

ít máu ngoại vi thì giun đũa ký sinh trong ruột gà sẽ trở nên rất lớn

có biểu hiện lâm sàng về bệnh ký sinh trùng rõ hơn con vật kia

Như vậy tính miễn dịch tự nhiên cũng như tính miễnn dịch thu được đối với cácbệnh ký sinh trùng thay đổi theo hoàn cảnh bên ngoài Vì vậy, trong chăn nuôi phải đặcbiệt chú ý đến khâu phòng bệnh, cải thiện chế độ dinh dưỡng để tăng cường sức miễndịch của gia súc đối với bệnh ký sinh trùng

1.5.4 Áp dụng tính miễn dịch trong việc chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng

Chẩn đoán bệnh ký sinh trùng bằng phương pháp chẩn đoán miễn dịch học là dựatrên sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể

Miễn dich học ứng dụng trong chẩn đoán đối với các bệnh ký sinh trùng do kýsinh trùng ký sinh ở các mô của cơ thể hoặc trong xoang cơ thể

Ví dụ: Làm phản ứng biến thái nội bì trong chẩn đoán bệnh ấu sán cổ nhỏ (Cys.

tenuicollis) và bệnh gạo lợn (Cys cellulosae) bằng cách dùng kháng nguyên tiêm vào nội

bì, sau đó quan sát vị trí tiêm Nếu thấy:

+ Ở vùng tiêm có hện tượng sưng, đỏ rõ rệt: kết luận là phản ứng dương tính + Ở vùng tiêm có hiện tượng sưng không rõ rệt: nghi ngờ

+ Ở vùng tiêm không có hiện tượng sưng, đỏ: kết luận là phản ứng âm tính

Nhược điểm: Phản ứng này có độ chính xác không cao do xảy ra phản ứng chéogiữa kháng nguyên chế từ ký sinh trùng này với kháng thể do loài ký sinh trùng khác kíchthích cơ thể ký chủ sản sinh ra

Ứng dụng:

- Có thể ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng, sán lá gan, sán dây, giunđũa Tuy nhiên, phương pháp chẩn đoán ở bệnh là khác nhau Để chẩn đoán bệnh giunsán người ta thường làm phản ứng biến thái nội bì hoặc các phản ứng huyết thanh họcnhư phản ứng miễn dịch men ELISA, phản ứng CARD…để chẩn đoán bệnh sán lá gan,tiên mao trùng…

- Chế vacxin để phòng bệnh ký sinh trùng Tuy nhiên, việc chế vacxin để phòngbệnh ký sinh trùng rất khó khăn vì: Việc nuôi cấy ký sinh trùng trong môi trường nhântạo rất khó khăn do ký sinh trùng thường không sống trong môi trường nhân tạo Nếu có

Trang 19

thu được ký sinh trùng thì chất lượng của kháng nguyên cũng không đảm bảo do khángnguyên của ký sinh trùng dễ bị biến đổi Giá thành của việc chế vacxin phòng bệnh rấtcao Vì vậy hiện nay việc áp dụng vacxin phòng bệnh ký sinh trùng rất hạn chế

có các triệu chứng thần kinh, rối loạn tiêu hoá…Vì vậy phương pháp chẩn đoán này chỉmang tính chất dự đoán và không thể là căn cứ duy nhất để chẩn đoán bệnh Muốn chẩnđoán chính xác bệnh ký trùng nhằm tìm ra nguyên nhân gây bệnh thì phải sử dụng cácbiện pháp nhằm tìm thấy căn bệnh nghĩa là tìm ra trứng, ký sinh trùng hay phôi thai của nó…

- Chẩn đoán bằng soi kính hiển vi:

Đây là phương pháp đoán quan trọng trong chẩn đoán bệnh Mục đích của phươngpháp chẩn đoán này là tìm ra ký sinh trùng, trứng hoặc ấu trùng…dựa trên việc quan sátcác loại bệnh phẩm: phân, nước tiểu, máu, vẩy ghẻ…

Ví dụ: Khi quan sát bên ngoài chúng ta nghi bê, nghé bị mắc bệnh giun đũa (cóbiểu hiện lâm sàng: da khô, lông xù, ỉa chảy, phân có màu trắng sữa…) Để có kết luậnchính xác về bệnh thì phải lấy mẫu phân bê, nghé để kiểm tra trên kính hiển vi xem cótrứng giun đũa hay không? Nếu thấy có rất nhiều trứng giun đũa thì kết luận bê, nghé đã

bị bệnh giun đũa

Có 3 loại bệnh phẩm chủ yếu được dùng chẩn đoán bằng soi kính hiển vi:

+ Soi phân: Dùng cho các bệnh đường tiêu hoá (giun, sán, cầu trùng)

+ Soi chất ngoài da (vảy ghẻ): Dùng cho các bệnh ký sinh trùng ngoài da

+ Soi máu: Dùng cho các bệnh ký sinh trùng đường máu Có thể soi trực tiếp mộtgiọt máu tươi, nếu ký sinh trùng còn sống và di động thì thấy nó ngay, nhất là nó làm chocác huyết cầu chuyển động (Ví dụ: roi trùng) Hoặc soi máu sau khi nhuộm

- Chẩn đoán thí nghiệm:

Chỉ tiến hành làm phương pháp này khi hai phương pháp trên không tìm thấy cănbệnh Phương pháp này được tiến hành trong trường hợp ký sinh trùng ở sâu trong nộitạng, bệnh mới ở thời kỳ đầu

Chẩn đoán thí nghiệm bao gồm các phương pháp nuôi cấy trong môi trường nhântạo, tiêm truyền động vật thí nghiệm, chẩn đoán miễn dịch học, huyết thanh học, chẩnđoán tế bào học bằng cách tìm tỷ lệ bạch cầu Eosin, chẩn đoán ký chủ (nuôi cấy ký sinhtrùng gây bệnh trên ký chủ trung gian đã biết), phản ứng nội bì, giải phẫu trên con vậtsống…

Trang 20

Ví dụ: Tiêm truyền máu của con vật nghi mắc bệnh tiên mao trùng cho chuột bạch

để chẩn đoán thí nghiệm

1.6.2 Tiên lượng bệnh ký sinh trùng

Bệnh ký sinh trùng nghiêm trọng nhiều hay ít theo ba nhân tố:

- Theo tỷ lệ súc vật chết ít hay nhiều

- Theo khả năng lây lan và truyền các bệnh khác: Nhìn chung bệnh ký sinh trùnglây lan chậm, không nhanh như các bệnh truyền nhiễm

Khi kiểm tra thấy súc vật nghi mắc bệnh ký sinh trùng bị chết nhiều thì thường cóthể do bệnh ký sinh trùng ghép với một bệnh khác hoặc do bệnh ký sinh trùng nguy hiểmgây ra và bệnh thường ở thể cấp tính

- Theo số lượng ký sinh trùng: Số lượng ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể ký chủcàng nhiều thì mức độ nguy hiểm càng cao, nó sẽ gây ra những biến loạn bệnh lý nặng,thậm chí có thể làm cho gia súc chết Để biết được số lượng ký sinh trùng ký sinh thì cầnphải căn cứ vào số lượng trứng/1 gam phân, số gạo/40 cm2 mặt cắt thịt hoặc mổ khám đểđếm số lượng ký sinh trùng/con gia súc, gia cầm

1.6.3 Chữa bệnh và phòng bệnh ký sinh trùng

1.6.3.1 Chữa bệnh

Chữa bệnh phải nhằm đạt ba yêu cầu:

- Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho con vật (diệttrứng hay tẩy trùng còn sống ra ngoài) Phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độcđối với nó và không độc đối với ký chủ Hệ số giữa liều lượng độc với con vật và liềulượng chữa bệnh cho nó phải trên 3 Nên chọn những thuốc có hiệu lực nhất đối với kýsinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm đối với ký chủ, rẻ tiền và dễ dùng nhất (cho uống dễdàng cho toàn đàn) Hướng mới trong việc chữa các bệnh ký sinh trùng là tìm nhữngthuốc có hiệu lực chống nhiều loại ký sinh trùng Ví dụ: Mebendazole có tác dụng tẩynhiều loại giun tròn

- Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm Đưa con vật ra khỏi nơi cóbệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho súc vật vào lại

- Bằng mọi cách phục hồi sức khỏe con vật: chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, thuốctrợ sức, trợ lực, giữ vệ sinh tốt và chữa các triệu chứng

1.6.3.2 Phòng bệnh

Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục đích khôngcho mầm bệnh ký sinh trùng (trứng, ấu trùng), thực hiện hết các chu trình tiến hóa của nó

để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được

Các phương pháp tấn công ký sinh trùng ở từng giai đoạn:

- Chống giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuốicùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp:

Trang 21

Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng, việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dựphòng, tức là thực hiện trước khi súc vật biểu hiện triệu chứng bệnh và trước khi súc vậtgieo rắc mầm bệnh ra ngoại cảnh

Tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương phápnày triệt để nhưng tốn kém, thiệt hại về kinh tế)

- Chống giai đoạn thứ hai: Trứng Có thể dùng hai phương pháp:

Tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của súc vật ốm trong chuồng

và đem chôn Biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gianphát triển thành phôi thai hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học

Đối với súc vật chăn thả phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát triển bằngcách làm cho đồng cỏ khô ráo, cải tạo đồng cỏ, chăn dắt luân phiên đồng cỏ, khơi thôngcống rãnh

- Chống giai đoạn thứ ba và thư tư: Phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên nhiên

1.7 Học thuyết về tiêu diệt bệnh giun sán

Là học thuyết được ra đời vào năm 1944, do viện sỹ K.I Skrjabin đề ra

1.7.1 Cơ sở lý luận và nội dung của học thuyết

Năm 1944, viện sỹ K.I Skrjabin đề ra học thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán.Học thuyết này cũng có thể áp dụng cho tất cả các bệnh ký sinh trùng khác

Nội dung chủ yếu của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động: dùng tất cảcác biện pháp cơ giới, vật lý (ánh sáng, độ nóng), hóa học (thuốc), sinh vật học (sinh vật

nọ diệt sinh vật kia) nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ (dùng thuốc), tiêudiệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng,

ấu trùng, ký sinh trùng trưởng thành), tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và gia súc

Nói riêng về mặt điều trị gia súc bệnh, nội dung của nó cũng là dự phòng: Chữacho một súc vật khỏi bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể nó, là trừ được một convật mang ký sinh trùng, trừ được một nguồn gieo rắc bệnh Như vậy đối với con vật mắcbệnh, là điều trị nhưng đối với những con khác là tích cực để phòng Vì vậy việc dùngthuốc tẩy giun phải đạt được hai yêu cầu: chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo chongoại cảnh không bị nhiễm bệnh giun sán, tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vậtkhác Nếu không thì việc cho thuốc tẩy giun sán và trứng ra ngoài chẳng khác gì giúp cho

Trang 22

giun sán phân tán rộng rãi ra ngoài Phải cho thuốc tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởngthành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun, thân giun thải ra

Trong một trại chăn nuôi cần áp dụng các biện pháp cụ thể sau:

- Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun sán

- Định kỳ cho thuốc tẩy giun sán

- Điều trị trên quy mô lớn, dù chỉ có 10 – 20% phát bệnh thì cũng phải tiêu diệtbệnh cho cả đàn Nếu không những con tuy bề ngoài không phát bệnh nhưng có thể mang

ký sinh trùng reo rắc bệnh

- Tiêu diệt bệnh đúng kế hoạch Căn cứ vào lịch sử phát dục của ký sinh trùng tínhnghiêm trọng của bệnh ký sinh trùng mà có kế hoạch một năm tiến hành mấy lần

- Xử lý phân để diệt các mầm bệnh giun sán

- Thực hiện đầy đủ các phương pháp trên

Muốn thực hiện tốt kế hoạch tiêu diệt nguyên nhân bệnh phải nghiên cứu toàndiện các vấn đề: Hình thái, sinh thái, phân bố địa lý, điều tra khu hệ, tìm hiểu lịch sử phátdục của ký sinh trùng, dịch tễ học của bệnh ký sinh trùng, các phương pháp điều trị vàphòng bệnh

1.7.2 Nguyên tắc chung về phòng trị nguyên nhân bệnh giun, sán

Phương pháp thực tế trong phòng trị nguyên nhân bệnh giun sán là ứng dụng họcthuyết K.I.Skrijabin về cơ bản gồm:

- Diệt trùng ở động vật, mục đích làm cho chúng khỏe mạnh và ngăn ngừa ngoạicảnh không bị ô nhiễm

- Diệt trùng ở ngoại cảnh, mục đích là đề phòng cho động vật không bị nhiễmbệnh, gồm diệt trùng ở phân, diệt trùng tự động sinh vật học ở nơi chăn nuôi, vệ sinh nơiuống nước

1.7.2.1 Diệt trùng ở động vật

- Chẩn đoán chính xác bệnh để dùng thuốc diều trị bệnh, nếu không có thể nguy hiểm

- Quy mô diệt trùng: Xác định nơi nào cần diệt trùng, nơi nào chưa cần Phải căn

cứ vào tình hình thực tế Nguyên tắc chung là ở nơi nào phải thi hành các phương phápphòng ngừa chung thì dù số gia súc cảm nhiễm dù ít cũng phải diệt trùng trên quy mô rộng

- Kỳ hạn diệt trùng: Phải căn cứ vào chu kỳ phát dục của ký sinh trùng và điềukiện, mùa vụ chăn thả hay nuôi nhốt Nên diệt trùng trước khi chúng trưởng thành, vừatránh tác hại lớn cho ký chủ, vừa tránh cho ngoại cảnh nhiễm trứng

Chọn thời điểm để tẩy giun, sán cho thích hợp Ví dụ: Trong thời kỳ trâu, bò laotác với cường độ cao thì không tẩy giun, sán (đặc biệt vào mùa vụ cày bừa)

Sau khi cho gia súc dùng thuốc tẩy giun, sán phải nhốt gia súc ở trong chuồng vàingày để nghỉ ngơi và thải phân tại chuồng tiện cho việc thu gom phân ủ Ví dụ: Khi tẩygiun đũa gà, thường giun ra trong 8 giờ đầu sau khi cho thuốc, do đó cho thuốc vào buổi

Trang 23

chiều là thích hợp, vì sáng sớm hôm sau có thể thu nhặt phân và giun mà tiêu diệt, tránh cho

gà ăn lại giun

- Tôn trọng quy tắc phòng bệnh chung Phải theo dõi những con vật đang đượcdiệt diệt trùng và 3 – 5 ngày sau khi diệt trùng phải tiêu độc chu đáo Những con vật đãđược diệt trùng phải được nuôi trong chuồng không nhiễm trùng Phải tiêu độc phân thải

ra bằng phương pháp ủ nóng sinh vật học

- Xác định hiệu lực tẩy trừ: Xác định số gia súc đã hoàn toàn được tẩy trừ sạch kýsinh trùng hoặc số giun sán được thải trừ ra so với số lượng có trước khi điều trị (ướclượng) để có kế hoạch diệt trùng từng bước

1.7.2.2 Diệt trùng ở phân bằng ủ nóng sinh vật học

Hàng năm số lượng phân chuồng sản xuất rất lớn và là loại phân bón tốt cho câytrồng Phần lớn các mầm bệnh giun sán đều theo phân ra ngoài (trứng, ấu trùng, đốt sándây) Khi xử lý phân phải làm thế nào tiêu diệt mầm bệnh, phòng bệnh cho người và giasúc, đồng thời không làm giảm thấp chất lượng phân đối với sản xuất nông nghiệp

Muốn giải quyết yêu cầu đó, người ta dùng các chất hóa học, các nhân tố vật lý,các tác nhân sinh vật học

Mầm bệnh giun sán có sức chống đỡ rất mạnh với các chất hóa học Ví dụ: Trứnggiun đũa ngựa có thể phát dục bình thường trong dung dịch mercucrom, sunfat đồng, cồniot, các axit loãng Vì vậy khó diệt trứng và ấu trùng giun sán bằng thuốc hóa học

Tuy ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp có thể diệt được trứng giun sán nhưng ánhsáng khó tác động vì trứng thường được bọc một lớp phân bên ngoài hoặc được che phủbởi thảm thực vật Làm khô chỉ khiến cho trứng ngừng phát dục chứ không bị diệt (nhất

là trứng có phôi thai hoặc ấu trùng đã đến thời kỳ cảm nhiễm) Nhiệt độ thấp cũng không

có tác dụng Nhân tố vật lý có tác dụng mạnh nhất đối với mầm bệnh giun sán là nhiệt độcao (trên 450C) ảnh hưởng lớn đến trứng và ấu trùng Ở nhiệt độ 650C chỉ cần 1 phút làdiệt được trứng và ấu trùng

Vì vậy người ta lợi dụng hoạt động của vi sinh vật để tiêu độc phân tự nhiên bằngphương pháp ủ nóng sinh vật học Cơ sở khoa học của phương pháp này là: Dựa vào hoạtđộng của hệ vi sinh vật yếm khí và hiếu khí phân giải và lên men các chất hữu cơ, làmtăng nhiệt độ của đống phân ủ lên rất nhiều Ở nhiệt độ đó thì toàn bộ mầm bệnh giun sán

đã bị diệt Đây là biện pháp đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả cao, tốn ít công và tiền,không gây ảnh hưởng tới súc vật, đảm bảo vệ sinh môi trường cho người, gia súc, giacầm…Vì vậy biện pháp này có khả năng thực thi nhất trong các biện pháp phòng chốngbệnh ký sinh trùng

Có thể ủ phân theo các công thức sau:

- Công thức 1:

Trang 24

1.7.2.3 Diệt trùng tự động sinh vật học ở bãi chăn

Diệt giun, sán tự động trên bãi chăn bằng cách chăn dắt luân phiên Đây là phươngpháp diệt ký sinh trùng ở ngoại cảnh, làm cho ký sinh trùng không vào được ký chủ

Cách tiến hành: Căn cứ vào vòng đời của giun sán để biết được thời gian trứnghoặc ấu trùng ở ngoài ngoại cảnh phát triển thành trứng, ấu trùng có sức gây bệnh, từ đórời gia súc chăn thả ở nơi khác cho đến khi trứng và ấu trùng có sức gây bệnh chết dokhông gặp được ký chủ cuối cùng thì lại đưa gia súc quay trở lại chăn dắt

Ví dụ: Dictyocaulus filaria ở dê cừu Sau khi ấu trùng bài ra ngoại cảnh phải phát

dục 6 ngày mới đến thời kỳ cảm nhiễm Vì vậy phải chia khoảng chăn dắt luân phiên 6ngày một lần Đồng thời ấu trùng sống ngoài bãi chăn dài nhất là một năm, cho nên sau 1năm có thể cho chăn trở lại khoảnh thứ nhất Những lúc không chăn dê cừu có thể chănlợn, ngựa vì chúng không cảm nhiễm ký sinh trùng

Một ví dụ nữa là Fasciola hepatica Ấu trùng phát dục trong cơ thể ký chủ trung

gian (ốc) 30 – 80 ngày tùy điều kiện nhiệt độ Nếu giả thiết là ngay ngày thứ nhất chănthả phân trâu bò đã có trứng sán lá gan, ở ngoài thiên nhiên 15 ngày sau trứng nở thành

ấu trùng, ấu trùng phải phát dục trong cơ thể ốc ngắn nhất là 30 ngày mới cảm nhiễm vàotrâu bò được Như vậy là từ trứng đến khi thành ấu trùng cảm nhiễm phải mất 45 ngày

Do đó có thể chăn dắt luân phiên đồng cỏ dưới 45 ngày một lần

Biện pháp này có tác dụng đối với phòng chống bệnh giun, sán nhưng trong điềukiện nước ta thì khó áp dụng do diện tích bãi chăn thả hẹp

1.7.2.4 Tổ chức vệ sinh nơi uống nước

Không cho động vật uống nước ao hồ tù hãm Những cống rãnh gần nơi uốngnước phải được bao vây, giữ khô ráo và sạch sẽ Có thể cho súc vật uống nước sông,suối, hồ lưu thông, dưới đáy có cát sỏi; nước mưa sạch Không để có phân, bùn, xác chết

Trang 25

trên bờ sông Không làm hố phân, chôn xác chết ở bờ sông Đường vào nơi uống nướckhông được lầy lội, phải rào kín đáo Nếu dùng giếng thì địa điểm đào giếng phải xa mảsúc vật, nhà chứa phân, hố rãnh, chuồng súc vật Gần giếng nên có sân cho súc vật đếnuống nước dễ dàng, sân không được lầy lội Máng nước phải giữ sạch, sau mỗi lần súcvật uống phải rửa sạch và để khô Những chỗ nước ứ đọng gần nơi uống nước nên lấpbằng Cần tiêu nước ở những bãi chăn ẩm.

Trang 26

CHƯƠNG 2 Đại cương về giun sán ký sinh ở động vật 2.1 Định nghĩa và nội dung

Giun sán học là môn nghiên cứu về giun sán ký sinh và những bệnh do chúng gây ra Nghiên cứu về giun sán ở các mặt: hình thái học, phân loại học, sinh thái học Nghiên cứu về bệnh giun sán ở các mặt: cơ chế sinh bệnh, triệu chứng lâm sàng,bệnh tích, dịch tễ học, phương pháp chẩn đoán và điều trị Trên cơ sở đó đề ra biện phápphòng trừ tổng hợp

Giun sán là sinh vật đa bào có nhiều loài Hiện nay đã biết hơn 8000 loài sống kýsinh ở động vật Một số loài có hại cho gia súc, một số loài không gây hại, sinh sống tự

do Giun sán chia thành 5 ngành sau:

2.1.1 Ngành sán dẹp (Platheminthes)

Thân dẹp hình lá hoặc hình dải băng Hai bên cơ thể đối xứng nhau Cơ thể phânđốt hoặc không phân đốt Có 2 hoặc 4 giác bám hoặc 2 rãnh bám Không có hệ hô hấp và

hệ tuần hoàn Có hoặc không có đường tiêu hóa, không có hậu môn Cơ thể lưỡng tính:

cơ quan sinh dục đực và cái trong cùng một cơ thể

Trong ngành này có hai lớp liên quan đến thú y:

- Lớp sán lá (Trematoda): Thân có hình bầu dục giống như chiếc lá, cơ thể không

phân đốt, có đường tiêu hóa Có 1- 2 hoặc 3 giác bám

- Lớp sán dây (Cestoda): Thân có hình dải băng, cơ thể phân đốt hoặc không,

không có hệ tiêu hóa Trên đầu có 4 giác bám hoặc hai rãnh bám

2.1.2 Ngành giun tròn (Nemathebminthes)

Ngành giun tròn có đường tiêu hóa, có hậu môn, có giun đực và giun cái riêng, cơthể không phân đốt

Ngành này có lớp giun tròn (Nematoda) có liên quan tới người và vật nuôi

2.1.3 Ngành giun đầu gai (Acanthocephales)

Trên đầu giun có một gai rất lớn Không có hệ hô hấp, hệ tiêu hóa và tuần hoàn

Chỉ có lớp giun đầu gai (Acanthocephala) có ít loài ký sinh ở gia súc

2.2 Phân loại bệnh giun sán (Tự học)

2.2.1 Căn cứ vào vòng đời giun sán

K.I.Skjabin dựa vào quá trình phát triển của giun sán cần hay không cần ký chủtrung gian và bệnh do chúng gây ra, chia thành hai loại:

Trang 27

- Bệnh giun sán truyền qua đất (trực tiếp):

Những bệnh giun sán trong quá trình phát triển không cần ký chủ trung gian thìgọi là bệnh giun sán truyền qua đất Trứng, ấu trùng của chúng phát triển bên ngoài,không cần ký chủ trung gian thành trứng hoặc ấu trùng gây bệnh, lẫn vào thức ăn nướcuống vào đường tiêu hóa ký chủ mà thành giun sán trưởng thành Ví dụ: Giun đũa, giuntóc, giun xoăn dạ múi khế…

- Bệnh giun sán truyền qua sinh vật (gián tiếp):

Những bệnh giun sán trong quá trình phát triển cần phải có ký chủ trung gian thìgọi là bệnh giun sán truyền qua sinh vật Ví dụ: Bệnh sán lá gan, bệnh sán lá dạ cỏ cần kýchủ trung gian là ốc nước ngọt

Trong thực tế phòng trừ bệnh giun sán truyền qua đất khó khăn hơn phòng trừbệnh giun sán truyền qua sinh vật

2.2.2 Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng

V.S Erchov căn cứ vào triệu chứng lâm sàng chia thành hai loại bệnh giun sán:

- Khi con vật có giun sán ký sinh (xét nghiệm phân thấy nhiều trứng giun sán) và

có triệu chứng lâm sàng của bệnh giun sán này hay bệnh giun sán khác thì gọi là con vật

bị bệnh giun sán

- Khi con vật có giun, sán ký sinh nhưng không có triệu chứng lâm sàng của bệnhgiun sán thì không gọi là bị bệnh giun sán mà chỉ gọi là con vật mang giun sán

Ví dụ: Bê, nghé có triệu chứng: gầy yếu, ỉa chảy, phân trắng, lỏng và xét nghiệm

phân thấy có nhiều trứng giun đũa thì kết luận bê, nghé bị bệnh giun đũa (Neoascaris

vitulorum) Ngược lại không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt thì gọi là con vật mang giun đũa

Ý nghĩa: Phân loại bệnh giun, sán theo triệu chứng lâm sàng giúp cho người làmcông tác thú y xác định được lúc nào là bệnh, lúc nào không phải là bệnh để từ đó có biệnpháp phòng bệnh thích hợp

2.3 Phương pháp chẩn đoán bệnh giun sán

Vì triệu chứng lâm sàng của bệnh giun sán không điển hình nên chẩn đoán bệnhgiun sán khác các bệnh khác, phải tìm thấy căn bệnh (trứng, ấu trùng hoặc giun sántrưởng thành) Thường dựa vào hai phương pháp:

2.3.1 Chẩn đoán khi sống

2.3.1.1 Kiểm tra giun sán trưởng thành

Có nhiều loại giun sán ký sinh ở đường tiêu hóa, giun sán trưởng thành hoặc đốtsán theo phân ra ngoài Kiểm tra như sau: Lấy phân cho vào chậu, thêm 5 – 10 lần nướckhuấy đều cho tan, để yên cho cặn lắng xuống, gạn nước ở trên đi Lại cho nước vào, rửa

đi rửa lại nhiều lần đến khi nước ở trên trong là được Cuối cùng gạn nước đi, cho cặnvào đĩa thủy tinh to, một nửa sơn đen, một nửa sơn trắng để tìm giun, sán Với những

Trang 28

giun, sán có kích thước nhỏ thì quan sát bằng kính lúp Với những giun, sán có kíchthước lớn thì dùng bút lông hoặc lông gà khời ra

2.3.1.2 Kiểm tra trứng giun sán

a Phương pháp trực tiếp

Nhỏ lên phiến kính 1 giọt 50% Glyxerin (nếu không có Glyxerin thì dùng nước lãcũng được, Glyxerin giữ cho tiêu bản không bị khô, trong suốt dễ tìm) Dùng que diêmhoặc đũa thủy tinh lấy 1 ít phân bằng hạt đậu, hòa tan đều với dung dịch Glyxerin, gạtcặn bã đi, đậy lá kính lên, soi kính hiển vi tìm trứng và ấu trùng

Phương pháp này đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác kém, khi con vật nhiễmnhẹ mỗi lần kiểm tra phải làm 5 – 7 phiến kính mới tìm thấy được trứng và ấu trùng

b Phương pháp phù nổi

Nguyên lý: Người ta lợi dụng tỷ trọng của một số dung dịch lớn hơn tỷ trọng củatrứng giun sán, làm cho trứng giun sán nổi lên trên, khi kiểm tra dễ tìm thấy trứng Ví dụ:dung dịch nước muối bão hòa NaCl, dung dịch Sodium hyposulfit

Thường dùng các phương pháp sau:

- Phương pháp Fulleborn (Fiilleborn):

Hiệu quả tốt, dễ áp dụng rộng rãi trong sản xuất, kiểm tra được trứng của nhiềuloài giun tròn và sán dây Khó phát hiện trứng sán lá, giun đầu gai…

Cách pha nước muối bão hòa: Lấy 1 lít nước sôi, cho 380g muối NaCl vào (hoặcđun sôi nước cho từ từ muối vào), khuấy đều cho tới khi muối không tan được nữa, khi

để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Cách tiến hành: Lấy 5 – 10g phân cho vào cốc nhỏ, dùng đũa thủy tinh nghiền nát,vừa nghiền vừa đổ nước muối bão hòa vào, khoảng 40 – 50ml Sau đó lọc qua lưới thép,lấy nước đó cho vào cốc con, để yên 30 phút – 1 giờ, trứng giun sán sẽ nổi lên trên Dùngvòng thép có đường kính 5mm vớt lấy màng mỏng nổi lên trên Cho lên phiến kính, đậy lákính lại, soi kính hiển vi Cũng có thể cho nước muối đã lọc vào ống nghiệm cho đầy lên đếnmiệng, đậy phiến kính lên mặt ống nghiệm cho tiếp xúc với mặt nước, để 30 phút rồi lấyphiến kính ra soi kính hiển vi

Muốn nâng cao hiệu quả của phương pháp này, có thể thay dung dịch nước muối bãohòa bằng các dung dịch bão hòa khác có tỷ trọng cao hơn (dung dịch Sodium hyposulfit bãohòa: 1 lít nước + 1750g, hoặc dung dịch Sodium nitrat: 1 lít nước + 1000g, hoặc dungdịch Magie sunfat: 1 lít nước + 920g)

- Phương pháp Darling:

Lấy 5 – 10g phân hòa tan với nước lã, lọc qua lưới thép, rồi quay ly tâm nước lọc

Tỷ trọng của trứng nặng hơn tỷ trọng của nước lã nên sẽ lắng xuống đáy, đổ từ từ nước ởtrên rồi cho dung dịch muối bão hòa vào, dùng đũa thủy tinh khuấy đều, ly tâm lần nữa,trứng sẽ nổi lên trên Lấy vòng thép vớt màng nổi lên trên phiến kính, đậy lá kính, soi

Trang 29

kính hiển vi Phương này tốt hơn phương pháp trên vì có thể tìm thấy nhiều loại trứnggiun tròn

c Phương pháp gạn rửa sa lắng (rội rửa nhiều lần)

d Phương pháp đếm trứng Stoll

- Mục đích: Để đánh giá mức độ cảm nhiễm và đánh giá hiệu quả của một loại thuốctẩy giun sán Phương pháp này chỉ giúp ta đánh giá một cách khái quát mức độ cảm nhiễm,không thể chính xác tuyệt đối được

Lấy một bình đong có vạch 100ml, cho vào đó 56ml NaOH 0,1N, sau đó cho phânvào từ từ đến khi dung dịch tới vạch 60ml (tức là đã cho vào 4g phân) Sau đó, cho vào bình

10 viên bi thủy tinh, lắc đều rồi lấy pipet hút 0,15ml chia đều trên phiến kính làm 2 phần, đậy

lá kính Kiểm tra dưới kính hiển vi và đếm số trứng giun sán:

Tổng số trứng có trong 1ml phân = Số trứng đếm được (a) x 100

e Phương pháp đếm trứng Mc Master

Lấy 2g phân cho vào 58ml dung dịch NaCl bão hòa (hoặc dung dịch đường bãohòa) Khuấy đều, dùng pipet bơm vào buồng đếm Mc Master Buồng đếm gồm 2 lamkính cách nhau 1,5mm Có 2 buồng đếm 6 ô, kích thước mỗi buồng 1cm x 1cm ở mặttrên Sau khoảng 2 phút, trứng được đẩy lên buồng đếm Đếm tất cả trứng giun sán trongbuồng đếm (0,15ml/buồng)

Trang 30

Số lượng trứng có trong 1g phân = Tổng số trứng đếm được Số lượng buồng x 200

2.3.1.3 Phương pháp kiểm tra ấu trùng giun sán

- Phương pháp Baerman: Lấy 15 – 20 g phân cho lên phễu có lưới thép, đầu phễu

nối với một đầu ống cao su dài 15 – 20cm, đầu kia nối với ống nghiệm, để phễu lên trêngiá, cho nước nóng 400C vào trong phễu cho đến khi nước nóng phủ kín phân Để yên 1 –

2 giờ, ấu trùng sẽ bò ra khỏi phân lắng xuống đáy ống nghiệm, lấy nước ở ống nghiệmđem ly tâm, lấy cặn soi kính hiển vi tìm ấu trùng rồi căn cứ vào hình thái, kích thước ấutrùng mà chẩn đoán bệnh

- Phương pháp Vaida: Dùng chẩn đoán bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa và đường

hô hấp của dê, cừu, hươu vì phân của chúng tròn và khô

Lấy 3 – 4 viên phân cho vào đĩa lồng có nước nóng 400C, sau 5 – 10 phút ấu trùng

bò ra, gạt bỏ viên phân đi, soi kính nước ở trên đĩa lồng tìm ấu trùng

- Phương pháp nuôi ấu trùng: Có nhiều loại trứng giun tròn nhất là trứng giun

xoăn thuộc bộ phụ Stronggylata về hình thái rất giống nhau nên kiểm tra trứng không thể

phân biệt được, vì vậy phải nuôi trứng nở thành ấu trùng cảm nhiễm rồi căn cứ vào hìnhthái ấu trùng mà chẩn đoán

Lấy phân cho vào đĩa lồng, nếu phân khô thì cho thêm ít nước, trộn đều vun thànhhình chóp, đỉnh của đống phân vừa chạm nắp trên hộp lồng, cho vào tủ ấm 25 – 300C,nếu là mùa hè để nhiệt độ phòng cũng được Giữ cho phân luôn có độ ẩm nhất định (cách

1 – 2 ngày cho thêm ít nước), nuôi độ 7 ngày thì trứng giun xoăn nở thành ấu trùng cảmnhiễm Ấu trùng này thường tập trung ở những giọt nước bốc hơi trên nắp đĩa lồng Lấyống hút, hút nước cho lên phiến kính, xem kính hiển vi tìm ấu trùng Có thể lấy phân nàykiểm tra ấu trùng bằng phương pháp Baerman

2.3.1.4 Phương pháp chẩn đoán miễn dịch

Có nhiều loài giun sán sau khi vào cơ thể sinh kháng thể Kháng thể này sẽ cùngvới kháng nguyên tương ứng sinh ra các phản ứng đặc hiệu Căn cứ vào phản ứng này cóthể dùng phương pháp miễn dịch để chẩn đoán bệnh giun sán Thường chẩn đoán bệnhkén nước, bệnh ấu trùng nhiều đầu, bệnh sán gan, bệnh giun thận lợn, bệnh giun đũa…

Kháng nguyên chẩn đoán có thể chế từ giun sán trưởng thành, ấu trùng hoặc dịchtrong cơ thể ấu trùng Có thể pha loãng thành các nồng độ từ 1:5000 – 1:10.000 Từngloại giun sán có tính đặc hiệu riêng, nhưng vẫn còn hiện tượng phản ứng giả hoặc phảnứng chéo Có thể dùng kháng nguyên tiêm trong da, tiêm dưới da, nhỏ mắt, làm phản ứnglắng cặn, phản ứng bổ thể kết hợp…nhưng thường dùng phươg pháp tiêm trong da Liềukháng nguyên tiêm thường dùng là 0,1 – 0,5ml, sau khi tiêm 3 – 15 phút, theo dõi sự biếnđổi ở chỗ tiêm Nếu chỗ tiêm sưng to, xung quanh đỏ, đường kính 0,2 – 4cm thì là dươngtính, ngược lại là dương tính

2.3.2 Chẩn đoán sau khi chết

Trang 31

Phương pháp chẩn đoán sau khi con vật chết là chính xác nhất Phương pháp này

có thể phát hiện được tất cả các loại giun sán ở tất cả mọi khí quan, tổ chức của động vật(kể cả giun sán rất nhỏ), có thể đánh giá được tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm giun sán,định loại giun sán Do đó có ý nghĩa lớn trong công tác nghiên cứu, đồng thời làm cơ sởkhoa học cho các biện pháp phòng trừ thích hợp

2.3.2.1 Mổ khám giun sán sau khi con vật chết

* Phương pháp mổ khám toàn diện theo K.I.Skrjabin

Mục đích là tìm tất cả mọi loài giun sán ở tất cả mọi khí quan

Trước tiên lột da, xem kỹ tổ chức dưới da, lấy các cơ quan ra Chú ý không làm rốiloạn các khí quan Tách các cơ quan tiêu hóa, bài tiết, hô hấp, sinh dục, tim và các độngtĩnh mạch lớn Kiểm tra kỹ xoang ngực, xoang bụng lấy nước trong các xoang này chovào bình để kiểm tra Lấy tủy sống, kiểm tra dịch trong mắt, kiểm tra dịch ở khớp xương,

ở xoang mặt Kiểm tra lưỡi, môi rồi kiểm tra lần lượt các cơ quan:

- Cơ quan tiêu hóa:

+ Thực quản: Dùng kéo cắt dọc thực quản Kiểm tra kỹ niêm mạc Nếu thấy sưnghoặc có mủ thì kiểm tra nơi đó Dùng phiến kính nạo niêm mạc thực quản, rồi ép chất nạogiữa 2 phiến kính trong suốt, soi kính hiển vi hoặc kính lúp Nếu có giun sán thì dùng bútlông hoặc kim lấy ra

+ Dạ dày: Cắt dọc theo chiều cong dạ dày, lấy chất chứa cho vào thùng, dùngnước rửa dạ dày, nước rửa và chất cặn cho vào với nhau, dùng đũa khuấy đợi lắng cặn đổnước ở trên đi, lại cho nước vào, khuấy để yên, đợi lắng cặn….làm nhiều lần cho tới khinước trong suốt, đổ nước trên lấy cặn soi kính lúp

+ Ruột non, ruột già, manh tràng: Dùng kéo cắt dọc theo chiều cong của ruột,dùng phương pháp gạn rửa sa lắng tìm giun sán trong chất chứa ở mỗi bộ phận Đồngthời dùng phiến kính nạo niêm mạc ép kính kiểm tra

+ Gan: Tách mật cho vào hộp lồng để kiểm tra riêng bằng phương pháp gạn rửa salắng dịch mật Dùng tay bóp nát gan rồi gạn rửa sa lắng để kiểm tra

+ Tuyến tụy: Làm tương tự với gan

- Cơ quan hô hấp: Dùng kéo cắn hầu, khí quản, nhánh khí quản, nạo niêm dịch soikính lúp Phổi bóp nát cho vào nước dùng phương pháp gạn rửa sa lắng để kiểm tra

- Cơ quan bài tiết:

+ Cắt thận làm đôi, dùng mắt thường kiểm tra, nạo vét bể thận kiểm tra, lấy tổchức thận ép lên phiến kính soi kính lúp

+ Cắt dọc ống dẫn nước tiểu và bàng quang rồi kiểm tra nước tiểu bằng phươngpháp gạn rửa sa lắng Nạo vét niêm mạc đường tiết niệu để ép kính soi kính lúp

Trang 32

* Phương pháp mổ khám toàn diện ở một cơ quan

Phương pháp này có nhiều ý nghĩa thực tiễn Mục đích: Tìm mọi loại giun sán kýsinh ở một cơ quan, còn các cơ quan khác không cần kiểm tra

* Phương pháp mổ khám không toàn diện

Mục đích: Biết tỷ lệ và cường độ nhiễm một loài giun sán nào đó Ví dụ: Tỷ lệ vàcường độ nhiễm sán lá gan ở trâu Việt Nam

2.3.2.2 Phương pháp thu lượm phân và ngâm giữ giun sán

- Dùng kim giải phẫu hoặc bút lông để lấy giun sán, không dùng vật cứng

- Đối với sán lá và sán dây thì để chúng chết tự nhiên ở nước lã, xong đem rửasạch và ép mỏng giữa 2 phiến kính rồi đặt trong đĩa lồng hoặc bình thủy tinh có nút mài,trong có cồn 700 Khi ép mỏng sán dây thì chỉ cần ép mỏng các đốt thân, còn đầu thìkhông ép Thời gian ép dài ngắn tùy sán dầy hay mỏng, có thể ép một ngày hay một giờ.Sau khi ép thì chuyển sang các ống nghiệm có cồn 700 và ghi nhãn

- Đối với giun tròn, rửa sạch trong nước lã, bảo quản trong dung dịch Barbagallo(Formon 30ml, NaCl tinh khiết 7,5g, nước cất 1000ml)

Đối với giun đầu gai: bảo quản trong cồn 700

- Ghi nhãn kèm theo giun sán chưa định loại: Tên động vật, tính biệt, sổ mổ khám,nơi có giun sán, sơ bộ định loài, số lượng giun sán Mặt sau ghi: địa điểm, ngày tháng,tên người mổ khám

PHẦN II

Trang 33

GIUN SÁN VÀ CÁC BỆNH DO GIUN SÁN GÂY NÊN

CHƯƠNG 3 Sán lá và một số bệnh sán lá 3.1 Đặc điểm hình thái, vòng đời của sán lá

3.1.1 Đặc điểm hình thái của sán lá

Sán lá thuộc lớp Trematoda, ngành Nemathelminthes.

- Đa số thân có hình lá, cơ thể dẹp theo hướng lưng – bụng cá biệt có loài hìnhchóp nón, hình trụ, hình lòng máng Có màu hồng, xám hay trắng ngà Bên ngoài thânnhẵn hoặc phủ gai, vẩy và có những giác bám Thường có hai giác bám: Giác miệng vàgiác bụng Giác miệng dùng để bám và hút các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể Đáy giácmiệng là lỗ miệng thông với hệ tiêu hóa Giác bụng thường ở khoảng giữa bụng hay ở

phía tận cùng của sán (Paramphistomata) và chỉ dùng để bám Một số loài sán lá không

có giác bụng (Monostomidae) hoặc có giác bám thứ 3 - giác sinh dục (Strigeidae) Sán lá

có lỗ sinh dục ở cạnh giác bụng và lỗ bài tiết ở cuối thân sán

- Kích thước của sán lá thay đổi tùy theo loài Chiều dài từ 0,1 mm – 150 mm, có

sán dài tới 1m (Nematobothirium filarina ký sinh ở cá mập)

- Cấu trúc bên ngoài thân sán là lớp màng che phủ rồi đến những bó cơ vòng, cơdọc, tiếp theo là màng đáy Màng che phủ cùng với hệ cơ tạo thành túi bì cơ và chứa khíquan bên trong Cấu tạo các hệ cơ quan:

+ Hệ tiêu hóa: Đơn giản, lỗ miệng ở đáy giác miệng, thông với hầu Sau hầu làthực quản nối với ruột Ruột phân thành 2 nhánh và bịt kín ở cuối gọi là manh tràng.Manh tràng thường là ống thẳng hoặc uốn cong gấp khúc, có khi phân nhánh và nằm dọchai bên thân Dinh dưỡng của sán lá là niêm dịch, dưỡng chấp Một số loài hút máu kýchủ Không có hậu môn, chất cặn bã được đẩy ra ngoài theo đường miệng bằng cách nhờnhu động manh tràng

+ Hệ bài tiết: Là mạng lưới phức tạp những ống nhỏ, phân bố đối xứng ở hai bênthân nối với ống dẫn chung rồi đổ vào hai ống dẫn chính ở hai bên thân, hai ống này hợpthành túi bài tiết ở cuối thân và thông ra ngoài qua lỗ bài tiết

+ Hệ thần kinh và cơ quan cảm giác: Kém phát triển Hệ thần kinh gồm hai hạchnão nằm hai bên hầu, nối với nhau bằng vòng dây thần kinh, từ đó có 3 đôi dây thần kinh(đôi bụng, đôi lưng, đôi bên) đi về phía trước và sau thân Những dây thần kinh này nốivới nhau bằng nhiều dây nhỏ

+ Hệ tuần hoàn và hô hấp: Không có

+ Hệ sinh dục: Phát triển mạnh, có bộ phận sinh dục đực và bộ phận sinh dục cáitrên một cơ thể

Cơ quan sinh dục đực: gồm có 2 tinh hoàn to, hình khối tròn hay bầu dục, có khiphân thùy hoặc phân nhánh, xếp trên dưới nhau hoặc đối xứng hai bên thân Mỗi tinh

Trang 34

hoàn thông với ống dẫn tinh riêng rồi đổ vào ống dẫn tinh chung, sau đó tiếp tục đổ vàotúi sinh dục đực Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa và gọi là cirrus Cirrus thông

ra ngoài lỗ sinh dục đực ở bụng sán và dùng để giao phối xung quanh cirrus có tuyếntiền liệt bao bọc

Cơ quan sinh dục cái: gồm ổ trứng thông với tử cung, tuyến Mehlis, tuyến noãnhoàng, buồng trứng và túi chứa tinh Ổ trứng thường nhỏ hơn tinh hoàn, hình trứng, lànơi trứng hình thành và thụ tinh Buồng trứng hình khối tròn hoặc phân thùy, có khi phânnhánh Tử cung là ống dẫn uốn khúc, chứa đầy trứng đã thụ tinh, một đầu tử cung thôngvới ổ trứng và một đầu thông ra bên ngoài qua lỗ sinh sản cái ở mặt bụng Túi chứa tinh

có nhiệm vụ dự trữ tinh Tuyến noãn hoàng phân bố dọc hai bên thân sán

Tuyến Mehlis tiết ra chất bao bên ngoài vỏ trứng và làm dính những hạch noãnhoàng trong khi hình thành vỏ trứng Tuyến noãn hoàng phân bố dọc hai bên thân sán vàtạo ra chất dinh dưỡng nuôi trứng Ổ trứng còn thông với ống Laurer, ống này thông ramặt lưng của sán, giữ vai trò như âm đạo khi giao phối và thải noãn hoàng thừa từ ổtrứng ra ngoài để trứng hình thành thuận lợi

Lỗ sinh dục đực và cái ở gần nhau thường ở trước giác bụng Sán lá thụ tinh bằnghai cách: tự thụ tinh hoặc thụ tinh chéo

Trứng sán có hình bầu dục, một đầu có nắp, bên trong có nhiều phôi bào Vỏ trứnggồm bốn lớp vỏ, ba lớp ngoài có tác dụng bảo vệ trứng về mặt cơ học, lớp thứ tư có tácdụng bảo vệ về mặt hóa học

vô tính Ở ký chủ cuối cùng, sán lá sinh sản hữu tính và thải trứng đã thụ tinh ra môi trường Mỗi loài sán lá có vòng đời riêng, nhưng nhìn chung vòng đời của sán lá ký sinh ởgia súc, gia cầm như sau:

Sán trưởng thành ký sinh ở ký chủ cuối cùng, thụ tinh và đẻ trứng, trứng theo phân

ra ngoài Ở môi trường bên ngoài, gặp điều kiện tự nhiên thích hợp (nhiệt độ, ẩm độ, pH

và môi trường nước…), trứng phát triển thành mao ấu (Miracidium) Mao ấu có hình tam

giác, có mắt, có nhiều lông nhỏ bao phủ ngoài cơ thể, mao ấu chỉ tồn tại một vài ngày.Mao ấu thoát ra ngoài bơi trong nước và tìm gặp ký chủ trung gian để sống và phát triển

Vào trong cơ thể ký chủ trung gian, mao ấu rụng lông và biến thành bào ấu (Sporocyst).

Bào ấu có hình một cái bao, trong chứa nhiều tế bào Sau đó bào ấu sinh sản vô tính và

tạo thành nhiều lôi ấu Redia Redia có lỗ miệng, hầu, tế bào mầm của ruột và tế bào phôi.

Trang 35

Lôi ấu tiếp tục sinh sản vô tính cho ra nhiều vĩ ấu (Cercaria) Khi đã hoàn thiện các cơ

quan: giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản, manh tràng, đuôi….vĩ ấu thoát ra khỏi kýchủ trung gian

Đối với những sán lá cần một ký chủ trung gian: Vĩ ấu thoát ra khỏi ký chủ trung

gian rụng đuôi, tiết dịch thể bao bọc quanh thân và biến thành nang ấu (Adolescaria).

Nang ấu thường lơ lửng trong nước hoặc bám vào cây cỏ thủy sinh Nếu gia súc, gia cầmnuốt phải nang ấu vào trong cơ thể nó tiếp tục phát triển thành sán lá trưởng thành

Đối với sán lá cần 2 ký chủ trung gian: Vĩ ấu tiếp tục xâm nhập vào ký chủ trung

gian thứ hai (ký chủ trung gian bổ sung) và biến thành Metaceraria Nếu gia súc, gia cầm nuốt phải ký chủ trung gian bổ sung này vào trong cơ thể thì Metacercaria sẽ phát triển

thành sán trưởng thành

Sán lá trưởng thành ký sinh ở nhiều nơi trong cơ thể súc vật như: ống mật, gan, dạdày, ruột, tuyến tụy, mạch máu, ống dẫn trứng, lỗ huyệt, túi kết mạc mắt, phổi và một sốkhí quan khác trong cơ thể

ngọt thuộc họ Lymnaea: Lymnaea auricularia, L swinhoei, L viridis, Radix ovata….

- Vị trí ký sinh: Thường ký sinh ở ống dẫn mật, một số trường hợp thấy sán lá gan

ký sinh ở tim, phổi, hạch lâm ba, tuyến tụy

3.2.1.2 Đặc điểm hình thái căn bệnh

- Fasciola gigantica: dài 25 – 75mm, rộng 3 – 12mm, thân dẹp, hình lá, hai mép

bên gần như song song nhau Màu đỏ nâu hoặc nâu nhạt

Không có “vai”, phần cuối thân hơi tù Có hai giác bám ở rất gần nhau và ở phầnđầu của sán, giác bụng lớn hơn giác miệng

Hệ tiêu hóa: Lỗ miệng ở đáy giác miệng thông với hầu, thực quản Ruột gồm haimanh tràng phân thành nhiều nhánh nhỏ

Hệ sinh dục: Lưỡng tính, hai tinh hoàn phân nhánh mạnh, xếp trên dưới nhau ở phầnsau cơ thể Lỗ sinh sản ở phía trước giác bụng Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinhhoàn Tử cung uốn khúc thành hình hoa ở giữa ống dẫn noãn hoàng và giác bụng Tuyếnnoãn hoàng xếp dọc hai bên thân và phân nhánh Sán trưởng thành có thể tự thụ tinh hoặcthụ tinh chéo

Trang 36

Trứng có màu vàng nâu, hình bầu dục, phình rộng ở giữa, thon dần về hai đầu, đầunhỏ hơn có nắp trứng Trứng có kích thước dài 0,125 – 0,17 mm, rộng 0,06 – 0,1 mm.Trong có phôi bào to đều, xếp kín vỏ

- Fasciola hepatica: dài 18 – 51 mm, rộng 4 – 13 mm, thân dẹp hình lá, màu nâu

nhạt Phần đầu hình nón dài 3 – 4 mm chứa cả hai giác bám Giác bụng lớn hơn giácmiệng Phía trước thân phình to và thon nhỏ dần về cuối thân sán, nên tạo thành “vai”.Bao bọc bên ngoài sán lá lớp bì cơ Cấu trúc lớp này dưới kính hiển vi điện tử gồm haiphần: phần ngoài là thể hợp bào không có nhân, màng ngoài của phần này là nguyên sinhchất đông đặc lại Dưới màng này là tế bào chất chứa không bào, những hạt nhỏ và ty lạpthể Những gai cuticun cũng phân bố rải rác ở phần này là được phủ bằng lớp tế bàochất mỏng

Phần bên trong là những tế bào hình lê, có nhánh tế bào chất liên hệ với phần ngoàiqua màng đáy Dưới màng đáy là lớp gian bào, có những lớp cơ vòng, cơ dọc nằm tronglớp này

Cấu tạo cơ quan bên trong của F.hepatica tương tự F gigantica Kích thước trứng

dài 0,13 – 0,15mm, rộng 0,07 – 0,09mm

3.2.1.3 Vòng đời

Cần 1 ký chủ trung gian: ốc nước ngọt

Sán lá gan trưởng thành ký sinh ở ống dẫn mật của gia súc nhai lại và một số súc vậtkhác Sau khi thụ tinh mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng, trứng theo dịch mật xuống ruột vàtheo phân ra ngoài

Gặp điều kiện tự nhiên thuận lợi (môi trường nước, nhiệt độ 15 – 300C, ánh sáng,

pH = 5 – 7,7) sau 10 – 25 ngày trứng phát triển thành mao ấu Dưới tác động của ánhsáng, mao ấu đẩy bật nắp trứng chui ra ngoài và bơi tự do trong nước (nếu thiếu ánh sáng,mao ấu không có khả năng chui ra khỏi vỏ trứng nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏtrứng) Mao ấu dài 0,19mm, rộng 0,026mm, chúng tồn tại trong nước khoảng 40 giờ Nếugặp ký chủ trung gian là ốc nước ngọt, mao ấu vào cơ thể ốc, di chuyển vào gan, mấtlông và phát triển thành bào ấu dài 0,15mm Sau 15 - 30 ngày bào ấu phát triển thành 5 –

15 lôi ấu, sau đó lôi ấu lại tiếp tục phát triển thành 15 – 20 vĩ ấu (Cercaria) trong khoảng

32 – 40 ngày Từ khi mao ấu phát triển thành vĩ ấu cần khoảng 30 – 80 ngày Lúc này

Cercaria qua miệng ốc ra khỏi môi trường ngoài Mỗi ốc có thể mang 600 – 800

Cercaria Sau vài giờ bơi lội trong nước, vĩ ấu rụng đuôi, tiết ra chất nhờn, dính và dần

đông đặc lại tạo thành một lớp vỏ bọc bên ngoài Khi đó vĩ ấu biến thành nang ấu

(Adolescaria) lơ lửng trong nước hoặc bám vào cây cỏ thủy sinh Nếu gia súc nhai lại

nuốt phải nang ấu, vào trong đường tiêu hóa thì lớp vỏ bọc bên ngoài của nang ấu sẽ bịphân hủy, giải phóng ra ấu trùng và di chuyển đến ống dẫn mật bằng 3 cách:

Trang 37

- Một số ấu trùng xuyên qua niêm mạc ruột vào máu, theo tĩnh mạch cửa gan vàogan, tiếp tục xuyên qua nhu mô gan đến thành ống dẫn mật, vào lòng ống dẫn mật và pháttriển thành sán lá gan trưởng thành.

- Một số ấu trùng khác thì xuyên qua thành ruột vào xoang bụng, đến bề mặt ganxuyên qua nhu mô gan, thành ống dẫn mật vào lòng ống dẫn mật và phát triển thành sán

lá gan trưởng thành

- Một số ấu trùng sán lá gan di chuyển ngược dòng dịch mật từ ruột lên ống dẫn mật

và phát triển thành sán lá gan trưởng thành

Thời gian hoàn thành vòng đời từ 3 – 4 tháng Fasciola trưởng thành có thể ký sinh

trong ống dẫn mật của súc vật từ 3 – 5 năm, có khi tới 11 năm

3.2.1.4 Dịch tễ học

Súc vật mắc bệnh Fasciola do ăn uống phải nang ấu có ở những đồng cỏ bãi chăn

lầy lội, ẩm thấp hoặc ăn phải những cỏ cắt từ những nơi trên nhưng rửa chưa sạch, phơi

chưa kỹ và bảo quản chưa chu đáo Ngoài ra súc vật có thể nhiễm bệnh Fasciola qua bào thai

Tỷ lệ nhiễm sán lá gan có biến động theo vùng Những vùng lầy lội, ẩm thấp thì sán

lá gan sẽ phát triển nhiều hơn so với những vùng cao Vì vậy ở những vùng đồng bằnggia súc nhai lại bị nhiễm sán lá gan nhiều hơn vùng trung du và vùng núi

Súc vật nhiễm bệnh thường tăng lên vào mùa ký chủ trung gian phát triển và ở cácvùng nước có nhiều nang ấu, vĩ ấu Cho nên những năm mưa nhiều số súc vật bị nhiễmsán cũng tăng lên hơn những năm nắng ráo, khô hạn

Loài súc vật nước ta nhiễm sán nhiều là trâu (79,6%), bò ít hơn (36%), dê ít hơn cả(20%) Tuổi gia súc càng nhiều, tỷ lệ và cường độ nhiễm sán càng tăng Tính biệt khôngảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm sán lá gan

Trứng sán dễ chết trong điều kiện khô hạn và ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp.Trong điều kiện ẩm ướt (phân, hơi ẩm) trứng có khả năng duy trì sức sống khá lâu có thểtồn tại 8 tháng Ở nhiệt độ thấp -50Cđến 150C phôi bị chết sau 2 ngày, từ 10 – 200C trứngngừng phát triển và ở 40 – 500C phôi bị chết sau vài phút

Dung dịch NaOH 2% làm phôi chết sau 2 phút Creolin tác động yếu lên quá trìnhphát triển của phôi

3.2.1.5 Cơ chế sinh bệnh

- Tác động cơ giới: Khi súc vật mới nhiễm bệnh, sán non trong cơ thể di hành làmtổn thương ruột, thành mạch máu, nhu mô gan, lách, phổi, cơ hoành, tuyến tụy….gâyxuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán non phá hủy tổ chức gan, trên đường di hành để lại tronggan những đường đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá hủy, thường những đường nàykéo dài đến lớp thanh mạc Kết quả là gan bị viêm Khi bị xâm nhiễm nhiều (có khi tớihàng nghìn sán), gia súc bị viêm gan nặng, thiếu máu do xuất huyết, có khi súc vật chết

Trang 38

Sau khi xuyên qua nhu mô gan, sán chuyển vào ký sinh ở ống dẫn mật tiếp tục tăngkích thước, phát triển thành dạng trưởng thành Những sán trưởng thành kích thích niêmmạc ống dẫn mật bằng gai cuticun trên cơ thể, làm viêm ống dẫn mật Nếu nhiều sán kýsinh gây tắc ống mật, mật bị ứ lại thấm vào máu sinh ra hoàng đản

- Tác động do độc tố: Trong khi ký sinh, sán thường xuyên tiết độc tố làm biến đổithành ống mật và mô gan Độc tố vào máu gây trúng độc toàn thân Độc tố của sán cònphá hoại máu, protein trong máu bị biến chất, albumin giảm, globulin tăng Những sảnphẩm trong quá trình hoạt động sống và mô, tế bào bị phân hủy của sán có những mentiêu hủy mạnh protein, lipit, glucoza, cũng gây tác hại cho cơ thể Những chất này làmtăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu, con vật thiếu máu, gầy còm đôi khi còn có triệuchứng thần kinh

Độc tố còn tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm thành mạch, dẫn đếnrối loạn dinh dưỡng của cơ thể, gây ra thủy thũng

- Tác động chiếm đoạt dinh dưỡng: Trong khi ký sinh ở ống mật, sán lá gan còn hútkhối lượng máu khá lớn của ký chủ làm cho gia súc thiếu máu, mỗi ngày 1 sán dây lấycủa ký chủ 0,2 ml máu

- Tác động mang trùng: Ấu trùng di hành còn mang theo nhiều loại vi trùng tới một

số cơ quan làm phát sinh bệnh truyền nhiễm hoặc gây viêm ở cục bộ

- Thể mãn tính: phổ biến ở trâu, bò, dê, cừu trưởng thành được nuôi dưỡng tốt vàsán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống mật với số lượng ít Triệu chứng thểmãn tính xuất hiện sau thể cấp tính nửa tháng đến hai tháng

Con vật suy nhược, ăn ít, chóng mặt, niêm mạc nhợt nhạt, lông mốc xù xì dễ nhổnhất là vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức Thủy thũng ở mi mắt, yếm, ngực Convật nhai lại yếu, khát nước, ỉa chảy xen kẽ, táo bón, gầy dần Khi khám thấy gan to vàđau Con vật ho Bò cái dễ sảy thai vì lượng canxi trong máu quá thấp Lượng sữa có thểgiảm 20 - 50% Đôi khi có triệu chứng thần kinh như quay cuồng Nếu bệnh không đượcchữa con vật thường chết do kiệt sức

3.2.1.7 Bệnh tích

Trang 39

Gan sưng, xung huyết, màu sắc của gan không đồng nhất, bề mặt gan có thể thấynhững vệt màu đỏ thẫm hoặc trắng xám dài 2 – 4mm do sán non di hành, trong có sánnon nhỏ, số lượng nhiều

Sau 2 – 3 tháng cảm nhiễm, xuất hiện viêm gan mãn tính Những nơi mô gan bị hủy,

có những sẹo màu vàng xám Gan xơ cứng, kiểm tra bằng kính hiển vi thấy: nhu mô ganmất màu, mép đôi khi tròn Niêm mạc ống dẫn mật dầy lên do nhu mô liên kết tăng sinh.Thành ống dẫn mật có hiện tượng canxi hóa Toàn hệ thống ống dẫn như những dây xơcứng và ngoằn ngoèo trên mặt gan Dùng kéo cắt dọc theo ống dẫn mật thấy trong lòngống dẫn mật chứa đầy dịch nhờn màu nâu và có nhiều sán Thành ống dẫn mật dày, xù xì.Khi nhiễm sán nhẹ, bệnh tích ở ống dẫn mật và bề mặt gan không thấy rõ Khinhiễm sán nặng: trâu, bò, dê, cừu…gầy rạc, máu loãng Thịt màu xám Xoang bụng,xoang ngực, xoang bao tim tích dịch phù trong suốt

Ngoài gan và mật, còn thấy sán lá gan ở phổi của gia súc lớn (trâu, bò…)

Fasciola còn ký sinh ở bào thai súc vật có chửa do ấu trùng di hành theo đường tuần hoàn 3.2.1.8 Chẩn đoán

* Chẩn đoán trên con vật đang sống:

- Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng: suy nhược, da khô, lông xù, vàng da và niêmmạc, ỉa chảy…

- Căn cứ vào đặc điểm dịch tễ của bệnh

- Xét nghiệm phân tìm trứng sán lá gan bằng phương pháp gạn rửa sa lắng qua lướilọc hoặc bình lọc Phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát hiện được tất cả mọi giasúc nhiễm Fasciola, nhất là những súc vật nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non Muốnnâng cao độ phát hiện trứng Fasciola bằng phương pháp này cần phải làm nhiều lần Cần

phân biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum.

Bảng 3.1 Phân biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum

không đều, không xếp kín vỏ

- Chẩn đoán bằng phương pháp biến thái nội bì: Dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứvào phản ứng nơi tiêm để phát hiện bệnh Tuy nhiên việc chẩn đoán bằng kháng nguyên

Fasciola trong sản xuất chưa được áp dụng rộng rãi và hiệu quả chưa cao

* Chẩn đoán trên con vật đã chết:

Tiến hành mổ khám để tìm sán lá gan ở giai đoạn ấu trùng, trưởng thành và kiểm trabệnh tích

3.2.1.9 Điều trị

Trang 40

* Trước đây thường dùng một số loại thuốc sau:

- Tetraclorua cacbon (CCl4): Trâu bò dùng liều 0,4ml/kg TT ( liều tối đa không quá20ml) Có thể tiêm bắp thịt hai bên cổ hoặc tiêm thẳng vào dạ cỏ, cũng có thể cho uống,tiêm dưới da nhưng súc vật dễ trúng độc và hiệu lực thấp

Dê, cừu, lợn dùng 2 – 3 ml/con Dê, cừu 6 – 12 tháng tuổi 1 ml/con

Thuốc có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, làm yếu tim mạch, gây thoái hóa

tế bào gan Để tránh trúng độc trước khi dùng thuốc 1 – 2 tuần nên tiêm Gluconatcanxi5%: 5ml, cho thức ăn có canxi và vitamin

- Hexacloretan (C2Cl6): còn gọi là Fasciolin, thường dùng cho bò vì ít xảy ra trúngđộc hơn CCl4 Thường dùng cho bò vì ít xảy ra trúng độc hơn CCl4 Thuốc dùng đườnguống với liều 0,2 – 0,4g/kgTT

Hiện tượng trúng độc thường xảy ra ở súc vật cho sữa vì rối loạn trao đổi canxi.Triệu chứng ngộ độc: kém ăn, tiêu chảy, chướng bụng…Để tránh ngộ độc, trước 1 ngàytẩy sán và 3 ngày sau khi dùng thuốc không cho súc vật ăn thức ăn có đường, giàu protit

và dễ lên men

- Haxaclorofen (2,2 metilen - bis): Cho uống với liều 17 mg/kgTT Không dùng cho

bò chửa từ tháng thứ 7 trở đi Thuốc có tác dụng với cả sán non

- Zanil (Fasciozanida): liều dùng 15mg/kgTT, cho uống

* Hiện nay trên thị trường có một số loại thuốc phổ biến:

- Dertil: Thuốc dùng dưới dạng viên to, màu xanh

Ngày đăng: 21/04/2015, 19:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân tích một số triệu chứng và bệnh tích của lê dạng trùng xoắn, xoắn trùng và nhiệt thán - BÀI GIẢNG BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH CHĂN NUÔI  THÚ Y)
Bảng ph ân tích một số triệu chứng và bệnh tích của lê dạng trùng xoắn, xoắn trùng và nhiệt thán (Trang 158)
10.2.2.2. Hình thái và đặc tính sinh học - BÀI GIẢNG BỆNH KÝ SINH TRÙNG THÚ Y (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH CHĂN NUÔI  THÚ Y)
10.2.2.2. Hình thái và đặc tính sinh học (Trang 164)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w