1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc

39 1,5K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 508 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc

Trang 1

DẪN LUẬN

Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn tài nguyên nhân lực cung cấp sức lao động cho quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số bởi nó đóng vai trò tạo ra mọi giátrị về của cải vật chất, văn hoá và dịch vụ cho xã hội NNL bao gồm những người nằm trong độtuổi lao động, có khả năng lao động, bất kể trạng thái có hay không làm việc

Nằm ở phương vị Tây-Bắc của thủ đô Hà Nội, trong phạm vi từ bờ phải sông Hồng đến lưuvực sông Đà, sông Mã, Tây Bắc là vùng đất rộng người thưa, tiềm năng đất đai, rừng, nguồn nước,

hệ sinh thái động thực vật được xếp vào tốp đứng đầu trong 8 vùng kinh tế của cả nước, có nhiềutiềm năng to lớn cho công cuộc CNH-HĐH, đặc biệt là thuỷ điện và khai khoáng

Tuy nhiên, Tây Bắc hiện đang phải đối mặt với những khó khăn, trở ngại trong quá trìnhCNH-HĐH Đó là một loạt các vấn đề như: trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác nông, lâmnghiệp nói chung còn lạc hậu, tình trạng du canh du cư, đốt phá rừng làm nương, độc canh vàquảng canh vẫn phổ biến ở các xã vùng cao Cán bộ thiếu về số lượng, bất cập về cơ cấu, thấp vềtrình độ, nhất là cán bộ khoa học - kỹ thuật cao, cán bộ quản lý kinh tế giỏi, giáo viên các trườngphổ thông các cấp từ tiểu học đến trung học và cao đẳng, đại học Đội ngũ cán bộ có trình độ đạihọc là con em các dân tộc thiểu số còn quá ít, trong khi đó đội ngũ cán bộ miền xuôi lên công tác ởTây Bắc chưa yên tâm gắn bó lâu dài Những chương trình đầu tư phát triển kinh tế-xã hội dànhcho Tây Bắc tuy đạt được những kết quả bước đầu, nhưng chưa bền vững, chưa ổn định và còncách xa so với mục tiêu đề ra Đầu tư của Nhà nước cho vùng Tây Bắc chưa tương xứng cả về vốnngân sách và đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, công nhân lành nghề

Trước thực tiễn đó, Báo cáo chuyên đề “Thực trạng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số

vùng Tây Bắc” sẽ tập trung đánh giá thực trạng chất lượng NNL và công tác phát triển NNL các

DTTS trong vùng Từ đó đề xuất những giải pháp phát triển NNL các DTTS đáp ứng yêu cầuCNH-HĐH của vùng Tây Bắc nói riêng và của cả nước nói chung

Báo cáo sử dụng số liệu từ các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê từ năm 1999 đến nay,

số liệu của các báo cáo khoa học và của các công trình chuyên khảo đã công bố

Trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi gặp nhiều khó khăn do thiếu các số liệu cơ bảnđối với từng dân tộc ở từng địa phương cụ thể Điều đó đã gây trở ngại lớn tới khả năng phân tích,tổng hợp Tuy nhiên, với những số liệu đã thu thập được, chúng tôi đã cố gắng đưa ra những luận

cứ chính xác hoặc tương đối chính xác, làm cơ sở cho các luận chứng để chứng minh các luận đềtrong khung phạm vi báo cáo

Trang 2

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO

NNL: Nguồn nhân lực

DTTS: Dân tộc thiểu số

LĐ: Lao động

LLLĐ: Lực lượng lao động

CNH-HĐH: Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

CMKT: Chuyên môn kỹ thuật

ĐBSH: Đồng bằng Sông Hồng

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

BTB: Bắc Trung Bộ

DHNTB: Duyên hải Nam Trung Bộ

UNDP: United National’s Development Progame (Chương trình phát triển của Liên hợp quốc)FAO: Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương thực-nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc)HDI: Human Development Index (Chỉ số phát triển con người)

GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản lượng quốc nội)

XHH: Xã hội học

Trang 3

2.4 Công tác phát triển NNL DTTS vùng Tây Bắc thời kỳ đổi mới 20

2.4.1 Những đổi mới trong lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng 202.4.2 Những đổi mới quản lý của các cấp Chính quyền 212.4.3 Nâng cao năng lực làm chủ của Nhân dân trong công tác phát triển NNL 22

3.2 Các chính sách và giải pháp về quản lý việc phân bố, di chuyển và sử dụng NNL 25 3.3 Các chính sách và giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng NNL 25

3.5 Các giải pháp nhằm hạn chế và kiểm soát thất nghiệp 26 3.6 Các giải pháp nhằm nâng cao tính năng động và hiệu quả hoạt động của nền kinh

tế tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển của NNL 27

3.9 Giải pháp về thay đổi chính sách

Trang 4

1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH

1.1 Đặc điểm tự nhiên

Tây Bắc gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Yên Bái Tổngdiện tích tự nhiên toàn vùng trên 50.815,000 km2 (chiếm 15,34% tổng diện tích toàn quốc) PhíaBắc giáp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dânLào, phía Đông giáp vùng Đông Bắc, phía Nam giáp các tỉnh Trung du Bắc Bộ

Địa hình Tây Bắc được hình thành trong nhiều giai đoạn kiến tạo mãnh liệt khác nhau nênrất phức tạp với nhiều vết đứt gãy, uốn nứt và sụt lún Vùng núi chiếm trên 80% tổng diện tích tựnhiên; xen kẽ là những bình nguyên và thung lũng hẹp Ðiểm cao nhất cao 3.143m so với mặtnước biển, điểm thấp nhất cao 243,18m, độ cao trung bình là 1.700m Trên 50% diện tích có độcao > 1.000m; gần 80% diện tích có độ dốc > 250 xen kẽ với nhiều thung lũng hẹp hình chữ V.Các dãy núi trong vùng chạy dài theo hướng Tây Bắc - Ðông Nam - Ðông Bắc Có nhiều đỉnh caonhư đỉnh Phan Xi Păng: 3.143m, Tả Giàng Phình: 3.090m, Phu Si Lung: 3.076m… Có những caonguyên tương đối bằng phẳng như Cao nguyên Mộc Châu, Cao nguyên Nà Sản… Có những thunglũng rộng làm hình thành những cánh đồng lớn như Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than,Mường Tấc

Những yếu tố địa hình, địa mạo, nham thạch và khí hậu, thuỷ văn đã góp phần hình thànhnên những sắc thái riêng biệt về thổ nhưỡng Xét trên tổng thể, đất đai Tây Bắc gồm có 23 loạigộp thành các nhóm là đất mùn Alít trên núi cao (N1H) trên bề mặt địa hình có độ dốc từ lớn đếncực lớn; đất Feralít mùn trên núi trung bình (N2FH) phân bố ở địa hình có độ dốc lớn; đất Feralítđồi núi thấp (N3F) phân bố trên địa hình có độ dốc trung bình hoặc tương đối lớn; đất núi đá vôi(Fv) phân bố ở các vùng đá vôi và địa hình casstơ cổ, nhóm đất dốc tụ và phù xa sông suối (P), đấtFeralít biến đổi do trồng lúa (F1), đất xung tính (T), đất lầy than bùn (Gl) phân bố ở các vùng thấpven sông suối và các thung lũng, các chân núi hoặc vùng bằng trước núi, gần khu dân cư

Khí hậu Tây Bắc mang tính nhiệt đới gió mùa, mùa khô thường bắt đầu từ tháng 10 đếntháng 3 năm sau, mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng mưa trung bình/năm khoảng1.500 – 2.200 mm Các hiện tượng gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy ra Nhiệt độ trung bình hàngnăm là 24,70C; cao nhất 41,20C; thấp nhất 190C Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình

từ 27-290C; tháng lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình 15,5-16,50C Tần suất sương muối xảyra: 0,9 ngày/năm

Tây Bắc có nhiều sông suối lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Mã, sông Nậm U cùng nhiềusông suối lớn nhỏ khác Bình quân cứ 1 km2 có 2,5 m dòng chảy nhưng khó có điều kiện phát triểngiao thông đường thuỷ bởi sông suối Tây Bắc đều có độ dốc lớn và nhiều ghềnh thác Chế độ thuỷvăn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô nước rất cạn - nhiều đoạn cạn khô; nhưng vào mùa mưa nước dângcao, chảy xiết, sông suối trở lên hung dữ, không thể đi lại bằng đường thuỷ

Trang 5

2.2 Tình hình phát triển KT-XH

Những năm gần đây, bức tranh toàn cảnh kinh tế vùng Tây Bắc đã có nhiều khởi sắc Tốc độtăng trưởng kinh tế chung của vùng trong 7 năm 2001 - 2007 tăng > 10% (cả nước > 8%) Thunhập bình quân đầu người/tháng cũng tăng dần từ 197 nghìn đồng năm 2002 lên 266 nghìn đồngnăm 2004 và 372 nghìn đồng năm 2006 Các ngành kinh tế chủ yếu của vùng Tây Bắc những nămqua có bước phát triển mới cao hơn các năm trước Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

có tốc độ phát triển cao Mô hình hoạt động “bốn nhà” đã gắn được lợi ích của người LĐ đối vớicông ty, lãi cổ phần được chia và người nông dân được hưởng lợi kinh tế từ liên kết này

Tây Bắc là vùng sản xuất thủy điện lớn nhất cả nước với nhà máy Thủy điện Hòa Bình, Sơn

La và nhiều nhà máy thủy điện nhỏ như Nậm Chiến I, Nậm chiến II, Huổi Quảng sử dụng côngnghệ đập siêu mỏng Khai khoáng cũng là thế mạnh công nghiệp của vùng Ở khu vực ngoài quốcdoanh, sản xuất thực phẩm, đồ uống chiếm tỷ trọng lớn

Nông nghiệp có bước phát triển nhanh Sản lượng lương thực có hạt năm 2007 tăng 76% sovới năm 2000 Cơ cấu sản lượng khá cân đối giữa lúa và ngô Những năm gần đây, vùng Tây Bắccòn phát triển mạnh cây ăn quả, cây công nghiệp Chăn nuôi phát triển mạnh Tốc độ tăng trưởnggiá trị sản xuất chăn nuôi của vùng giai đoạn 2001 - 2007 đạt hơn 10%/năm, cao hơn trồng trọt.Thị trường nội địa ổn định, giá cả không có biến động lớn, sức mua của dân cư tăng Tổngmức lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ trong vùng đạt trên 23%/năm Giao lưu hàng hóa, dịch vụ giữaTây Bắc và các tỉnh đồng bằng sông Hồng cũng như các vùng khác diễn ra khá sôi động; hoạtđộng du lịch tăng trưởng nhanh, nhất là Điện Biên, Lào Cai và Hòa Bình

Tuy nhiên, Tây Bắc đến nay vẫn là vùng nghèo của cả nước Thu ngân sách không đủ chi.GDP bình quân đầu người năm 2007 bằng 40,7% mức trung bình của cả nước, thấp nhất trong cácvùng kinh tế Kết cấu hạ tầng thấp kém Năm 2000, chỉ có 562/ 863 xã, phường, thị trấn có điện,(64,3%); 756 xã có đường ô tô đến trung tâm xã (88,7%) Quy mô công nghiệp nhỏ, sản phẩmnghèo nàn, không có sản phẩm chủ lực Sản xuất phân tán, kỹ thuật lạc hậu, chất lượng và giáthành sản phẩm kém sức cạnh tranh Khai khoáng còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá trị sản xuấtcông nghiệp; công nghiệp chế biến không bền vững Nguyên liệu cho công nghiệp phong phúnhưng chất lượng thấp, chi phí cao do kỹ thuật và công nghệ lạc hậu Khu vực FDI quá nhỏ (ởHòa Bình chiếm 4%, các tỉnh còn lại không đáng kể) Tình trạng độc canh, du canh vẫn tồn tại.Lúa nương còn nhiều, năng suất thấp Các cây trồng khác phân tán, chủ yếu phục vụ tự cấp tự túc.Năng suất và chất lượng cây công nghiệp, cây ăn quả thấp Phương thức chăn thả còn phổ biến

Cơ cấu sản xuất lâm nghiệp không hợp lý Thủy sản vùng lòng hồ các thủy điện có tiềm năng rấtlớn, nhưng chưa được khai thác

Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội đã tác độngrất lớn đến chất lượng NNL các DTTS trong vùng

Trang 6

2 THỰC TRẠNG DÂN SỐ VÀ NNL CÁC DTTS VÙNG TÂY BẮC THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.1 Dân số và LĐ

2.1.1 Về quy mô và đặc điểm dân số

Theo những số liệu thống kê chính thức, tính đến ngày 31/12/2008, toàn vùng Tây Bắc cótổng dân số 4.017.600 người, chiếm 4,66% dân số cả nước Trong đó có 23 DTTS [TL-16,tr.8] vàmột số thành phần dân tộc khác chiếm khoảng 71,52% dân số toàn vùng (≈ 2.873.387 người), vàchiếm 23,7% dân số các DTTS trong toàn quốc

Các DTTS vùng Tây Bắc có dân số ít và không đồng đều Trong số 23 DTTS vùng Tây Bắc,

có 02 dân tộc trên 500 nghìn người (dân tộc Thái, Mường); 03 dân tộc có dân số từ 100 nghìn đến

500 nghìn người (dân tộc Tày, Mông, Dao); 05 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 50 nghìnngười (dân tộc Nùng, Giáy, Kháng, Xinh Mun, Hà Nhì); 06 dân tộc có dân số từ 5 nghìn ngườiđến 10 nghìn người (dân tộc Sán Chay, Lào, La Ha, Phù Lá, La Hủ, Khơ Mú); 07 dân tộc có dân

số dưới 5 nghìn người (dân tộc Hoa, Lự, La Chí, Mảng, Cống, Si La, Bố Y)

Trong số 23 DTTS cư trú trên địa bàn Tây Bắc hiện nay, có 09 dân tộc có dân số chiếm trên90% tổng số người cùng dân tộc của cả nước Đó là: dân tộc Xinh Mun (99,82%); La Ha(99,78%); Kháng (99,67%); Cống (99,64%); Hà Nhì (99,38%); La Hủ (99,30%); Mảng (98,98%);Lào (96,15%); Lự (90,57%) Xét cùng tiêu chí này, còn có 06 dân tộc có dân số trên 50% tổng sốngười đồng tộc trên toàn quốc Đó là: dân tộc Phù Lá (89,16%); Giáy (72,51%); Si La (65,59%);

Bố Y (63,19%); Mông (60,12%); Khơ Mú (51,01%)

Đa dân tộc, đa văn hoá; đa ngôn ngữ và cư trú đan xen trên 03 vùng sinh thái (rẻo thấp, rẻogiữa và rẻo cao) là những đặc điểm nổi bật của dân cư các dân tộc vùng Tây Bắc 23 DTTS cũng

là 23 sắc thái văn hoá đặc thù với hàng trăm nét riêng biệt của hàng trăm nhóm địa phương thuộc

về 2 ngữ hệ Nam Á và Hán Tạng; 5 nhóm ngôn ngữ: Tày – Thái, Mông – Dao, Môn – Khơ me,Hán và Tạng Miến

Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở của Tổng cục Thống kê những năm qua cho thấy cácDTTS vùng Tây Bắc có dân số trẻ với tỷ lệ thanh thiếu niên từ 10 – 34 tuổi chiếm 39,9% dân sốcác DTTS của vùng; trong đó nam chiếm 49,76%; nữ chiếm 50,24% Đây là một lực lượng trẻhùng hậu cần được chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo để có tri thức, đảm bảo đủ nguồn lực về conngười cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Một số DTTS vùng Tây Bắc có NNL trẻ (10 – 14 tuổi)chiếm tỷ lệ trên 40% dân số là dân tộc Sán Chay: 41,6%; dân tộc Lự: 41,4%; dân tộc Cống:41,4%; dân tộc Lào: 41,3%; dân dân tộc Thái: 41,2%; dân tộc Giáy: 41,0%; dân tộc La Hủ:41,0%; dân tộc Si La: 40,8%; dân tộc Tày: 40,72%, dân tộc Mường: 40,6%, dân tộc Hoa: 40,5%;dân tộc Kháng: 40,1%; dân tộc La Ha: 40,1%; dân tộc Lô Lô: 40,1%

Với một lực lượng trẻ chiếm tỷ lệ cao trong dân số như vậy, NNL trẻ các DTTS vùng TâyBắc hoàn toàn có khả năng làm chuyển biến tích cực sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng nếunhư được chăm sóc và bồi dưỡng tốt bởi nhóm người ở độ tuổi này có ưu thế về thể lực và trí lực,

Trang 7

có khả năng tiếp thu nhanh nhạy các kiến thức khoa học - kỹ thuật, có tính năng động cao Tuynhiên, do ít được đào tạo về trình độ học vấn và trình độ CMKT nên khả năng tạo việc làm cho họ

bị hạn chế, sức trẻ chưa được phát huy

Tuy dân số các DTTS vùng Tây Bắc nói riêng, dân số cả nước nói chung hiện nay có cơ cấutrẻ nhưng đang có xu hướng già hoá Trong nhiều năm trở lại đây, chỉ số già hoá liên tục tăng (từ12,0% năm 1989 lên 17,4% năm 1999 và 26,8% năm 2006) Tỷ lệ phụ thuộc của người già tuy chỉtăng nhẹ (từ 13,3% năm 1989 lên 14,3% năm 2006) nhưng do tỷ lệ phụ thuộc ở trẻ em giảm rấtnhanh (73,0% năm 1989 lên 56,3% năm 1999 và 40,3% năm 2006) khiến cho tỷ lệ phụ thuộcchung cũng giảm rất nhanh [TL-27] Vì vậy, trong chiến lược phát triển NNL các DTTS vùng TâyBắc, chúng ta cần phải có các giải pháp về dân số đối với vấn đề phát triển NNL các DTTS vùngTây Bắc

2.1.2 Về lực lượng LĐ

LĐ xã hội (15-60 tuổi) của các DTTS vùng Tây Bắc tính đến 31/06/2008 là 2.249.287 người,chiếm 78,27% dân số các dân tộc thiểu số toàn vùng Trong đó, thành thị là 314.900 người (14%);nông thôn là 1.934.386 người (86%) [TL-29]

Tốc độ tăng dân số và lực lượng LĐ của các DTTS vùng Tây Bắc cao và liên tục nên nguồn

bổ sung vào lực lượng LĐ rất lớn Tốc độ tăng dân số bình quân thực tế qua các năm ít thay đổi(từ 2,4%-3,5%/năm), LLLĐ tăng bình quân trên 4%/năm và trong những năm tới LLLĐ vẫn tăng

ở mức ≈ 4%/năm

Tốc độ gia tăng dân số cao khiến cho bình quân số người/hộ lớn Năm 2004, bình quân đầungười/hộ là 5,15; cao hơn số bình quân của cả nước (4,36 người/hộ) [TL-27] Quy mô hộ cao dẫnđến hệ quả là số người ăn theo lớn, sức ép về LĐ, việc làm cao, thu nhập bình quân đầu ngườithấp, mức sống và chất lượng cuộc sống thấp gây ảnh hưởng to lớn đến chất lượng NNL

Số LĐ DTTS có hoạt động kinh tế thường xuyên tính đến 31/06/2008 là 1.828.670 người,chiếm 81,3% NNL (trong đó nam chiếm 80,3%; nữ chiếm 79,5%; thành thị chiếm 68,2%; nôngthôn chiếm 71,4%) Nhóm tuổi có hoạt động kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi từ 25-49tuổi với 65,4%; thấp nhất là nhóm tuổi 55-59 tuổi với 4,7%

Trong số NNL các DTTS có việc làm thì có tới 14,2% LĐ chưa đi học (≈ 295.671 người), số

đã tốt nghiệp phổ thông chiếm 82,4% (≈ 1.506.824 người); số có trình độ Cao đẳng chiếm 1,1% (≈20.115 người); số có trình độ đại học trở lên chiếm 2,3% (≈ 42.059 người)

Số lượng người đang thiếu việc làm bao gồm những LĐ tại thời điểm điều tra không có việclàm nhưng có nhu cầu làm việc Ở Tây Bắc, trong tổng số 37.536 LĐ người DTTS không làm việctại thời điểm 31/06/2008 thì có tới 29.578 người không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc; sốngười không có nhu cầu làm việc là 8.116 người Họ là những học sinh đang theo học phổ thông,quân nhân tại ngũ, sinh viên đang theo học ở các trường đào tạo CMKT các cấp, những cử nhân,

kỹ sư đã tốt nghiệp nhưng chưa muốn tham gia vào thị trường LĐ mà còn muốn học thêm những

Trang 8

chuyên ngành mới hoặc theo học ở cấp cao hơn nhằm tìm kiếm cho mình những việc làm phù hợpvới nguyện vọng, nhu cầu.

Số lượng LĐ DTTS đang thất nghiệp ở Tây Bắc tính đến 30/6/2008 là 75.889 người, chiếm2,2 tổng số LLLĐ và 4,15% LLLĐ các DTTS trong vùng; trong đó thành thị là 2.276 người; nôngthôn là 73.612 người Trong số LĐ đang thất nghiệp có 5.995 người chưa đi học (7,9%); 67.010người đã tốt nghiệp phổ thông (88,3%); 2.883 người đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học (3,8%).Nhìn chung, dân số và NNL các DTTS Tây Bắc chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng dân số

và NNL cả nước nhưng lại phát triển nhanh về số lượng Cơ cấu dân số không đều, chưa hợp lý cả

về giới tính, nhóm tuổi, giữa nông thôn và thành thị Mức sinh tuy đã giảm mạnh nhưng còn rấtkhác nhau ở các dân tộc và giữa nông thôn với thành thị Tỷ lệ dân đô thị thấp Dân số tuy trẻ,nhưng đang bước vào thời kỳ quá độ chuyển sang dân số già Điểm nổi bật cần chú ý là sự mất cânđối giới tính có xu hướng tăng lên đối với trẻ em và trẻ sơ sinh

Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư trong cả nước giai đoạn 1997 – 1998 của Tổng cụcThống kê về tình trạng dinh dưỡng của người LĐ cho thấy số người bình thường 48,2%; ngườiquá gầy 3,5%; người gầy 18,5%; người hơi gầy 24,1%; người béo và quá béo 24,1% Tỷ lệ nàynếu xét riêng ở các DTTS vùng Tây Bắc thì sẽ xấu hơn Bởi lẽ mức cung cấp calo trung bình chomỗi người dân thuộc thành phần các DTTS ở Tây Bắc mới chỉ đạt trung bình 1.932 calo/ngày, sovới mức tối thiểu 2.100 calo/ngày thì còn thiếu 8%; so với mức bình quân chung của cả nước là2.266 kalo/ngày thì thua kém tới 14,7%; và nếu so với mức thoả đáng mà tổ chức nông – lươngthế giới (FAO) đưa ra là 2.300 calo/ngày thì còn thiếu tới 16%

Cơ cấu bữa ăn bất hợp lý Nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu là Gluxid; gạo và ngô lênđến trên 80%, nhiều hơn ≥ 10% so với bình quân chung của cả nước; trong khi tính chung trêntoàn thế giới thì ngũ cốc chỉ cung cấp khoảng 65% nguồn dinh dưỡng Chính vì ăn uống thiếu thốnnên tình trạng thiếu máu của bà mẹ có thai còn trầm trọng, tỷ lệ trẻ em mới sinh nặng dưới 2.500g

Trang 9

cũng như trẻ em suy dinh dưỡng còn cao Cùng với đó là tình trạng vệ sinh thực phẩm hiện nay rấtđáng lo ngại Việc sử dụng các loại hoá chất không đúng quy định, sử dụng nhiều loại phẩm màu

đã bị cấm để chế biến thực phẩm làm cho một loạt các chỉ tiêu khác liên quan đến y tế, chăm sócsức khoẻ vệ sinh môi trường còn ở mức thấp

+ Trí lực (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn - kỹ thuật được đào tạo, kỹ năng nghềnghiệp)

Về trình độ học vấn, những số liệu thống kê cho thấy công tác giáo dục và đạo tạo của chúng

ta đối với đồng bào các DTTS vùng Tây Bắc trong những năm qua đã có những tiến bộ đáng kể

Tỷ lệ LĐ biết chữ đạt 84,1%, so với năm 1989 đã tăng 13,6% Đến năm 2006, số người đi học đạt83,4%; tăng 12,9% so với năm 1999 Tuy nhiên, trình độ văn hoá của NNL các DTTS vùng TâyBắc vẫn còn thấp kém

Tỷ lệ người dân chưa đi học của các DTTS vùng Tây Bắc còn rất cao: 16,6%; cao gấp 2,5lần so với bình quân chung cả nước Trong đó, có một số dân tộc có tỷ lệ người dân chưa đi họcrất cao: người La Hủ là 86,1% dân số trong độ tuổi (từ 5 tuổi trở lên) chưa bao giờ đi học Tỷ lệnày ở vùng người Mảng là 62,59%; người Mông là 55,65%; người Hà Nhì là 52,56% [Xem biểu1]

Tuy hiện nay tất cả các địa phương trong vùng Tây Bắc đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểuhọc nhưng tỷ lệ số người không biết chữ (gồm cả mù chữ và tái mù chữ) vẫn rất cao (15,9%); caonhất trong các vùng kinh tế trong cả nước và có chiều hướng gia tăng Số người biết đọc, biết viếtcũng có sự chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn, nơi có đông đồng bào DTTS sinh sống(thành thị: 97,5%; nông thôn: 81,8%) và chênh lệch giữa Tây Bắc với các vùng kinh tế khác trong

cả nước Trong 8 vùng kinh tế thì Tây Bắc chỉ có 84,1% dân số từ 10 tuổi trở lên biết đọc, biếtviết; kém 10% so với tỷ lệ chung của toàn quốc và kém 13,1% so với vùng có tỷ lệ cao nhất làĐồng bằng Sông Hồng (97,2%) [Xem biểu 2]

Số năm học bình quân của dân số 20 – 24 tuổi của các DTTS vùng Tây Bắc chỉ là 8,10%(thành thị: 11,85%; nông thôn: 7,5%); thấp hơn 2,1% so với bình quân chung của cả nước Tỷ lệtốt nghiệp phổ thông trung học của NNL Tây Bắc giảm khá mạnh từ 14,78% năm 2002 xuống còn10,43% vào năm 2003 [TL-36, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44]

Chất lượng NNL không chỉ thể hiện ở trình độ văn hoá mà quan trọng hơn là trình độ CMKTthể hiện ở số lượng và chất lượng LĐ đã qua đào tạo (kỹ năng nghề nghiệp)

Các số liệu điều tra năm 2008 cho thấy tỷ lệ LĐ đã qua đào tạo CMKT ở Tây Bắc chiếm12,53% Trong đó, đội ngũ công nhân kỹ thuật chiếm 1,86%; trung học chuyên nghiệp chiếm2,51%; cao đẳng - đại học chiếm 2,84%; trên đại học chỉ chiếm 0,03% So với năm 2004, chúng tathấy đã có những tiến bộ đáng kể (năm 2004, số LĐ DTTS đã qua đào tạo CMKT chỉ chiếm6,38% tổng số LĐ cùng đối tượng) Tuy nhiên, đây vẫn là chỉ số thấp so với tỷ lệ chung của toàn

Trang 10

quốc Và xét riêng nhóm LĐ là các cán bộ, viên chức nhà nước ở một số địa phương và địa bàn cơ

sở thì số lượng LĐ DTTS đã qua đào tạo CMKT còn thiếu đến mức trầm trọng Ở Lào Cai, ngườiMông chiếm 29,2% dân số, nhưng số cán bộ người dân tộc Mông chỉ chiếm 13,4% tổng số cán bộnói chung Ở cấp huyện, sự chênh lệch này càng lớn Người Mông ở huyện Tủa Chùa (Điện Biên)chiếm tới 80% dân số, nhưng cán bộ người Mông chỉ chiếm tới 16% tổng số cán bộ các loại củahuyện, các con số tương ứng ở Trạm Tấu (Yên Bái) là 78% và 25%, Mù Cang Chải (Yên Bái) là94,2% và 58,3% Người Dao ở Văn Yên (Yên Bái) là 21,6% và 7% [TL-18]

Số lượng NNL có CMKT không được phân bố hợp lý giữa Tây Bắc với các vùng kinh tếkhác, giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm thu nhập và giữa các cấp bậc đào tạo Trong khi

số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học đang ngày một tăng nhanh để có thể đáp ứng và bắt kịp với

sự tiến bộ về tri thức của nhân loại, nhưng tỷ lệ công nhân kỹ thuật ở Tây Bắc ngày càng giảm vớitốc độ ngày càng nhanh Năm 1989, số công nhân kỹ thuật chiếm 70%, đến năm 1999 chỉ còn30% và đến năm 2004 chỉ còn 15,3% trong tổng số LĐ được đào tạo Theo kinh nghiệm của cácnước phát triển (như Mỹ, Nhật Bản, Singapo…), sản xuất sẽ phát triển khi có một đội ngũ nhânlực được đào tạo hợp lý và có trình độ CMKT với cơ cấu là 1 cử nhân, kỹ sư tốt nghiệp đại học,cao đẳng cần có 4 cán bộ tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật Tuynhiên, hiện nay cơ cấu này ở NNL các dân tộc Tây Bắc là 1; 3,49; 9,08 So sánh với những năm

1989 (1; 2,2; 7,1) và 1999 (1; 1,16; 0,95), chúng ta thấy đã có những tiến bộ nhưng vẫn còn kém

xa với những yêu cầu của công cuộc CNH-HĐH [TL-37]

Về chất lượng NNL các DTTS vùng Tây Bắc, trong Báo cáo Đề tài nghiên cứu “Việc thực

hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ” do Vụ Dân tộc thực

hiện gần đây, nhóm tác giả đã đưa ra những tiêu chí phân loại và đánh giá như sau:

Loại hình thứ nhất: Đội ngũ cán bộ dân tộc ở vùng cao, kinh tế phát triển chậm Thuộc loạinày có hai cấp độ:

Cấp độ thấp: bao gồm các dân tộc cư trú ở vùng cao, phân tán, cuộc sống chưa ổn định, còn

du canh du cư Các dân tộc này chủ yếu chỉ có cán bộ cấp bản, xã Thuộc cấp độ này ở Tây Bắc có

08 dân tộc là Si La, Kháng, Xinh Mun, Mảng, La Ha, Khơ Mú, La Chí, Lự

Cấp độ khá: Bao gồm một số dân tộc đã có cán bộ, viên chức ở cấp huyện, tỉnh, nhưng chỉ là

cá biệt, năng lực còn rất thấp Thuộc cấp độ này ở Tây Bắc có tới 08 dân tộc là: Cống, Bố Y, La

Hủ, Phù Lá, Lào, Sán Chay, Giáy, Hà Nhì

Loại hình thứ hai: Đội ngũ cán bộ dân tộc đã hình thành, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu

cả về số lượng lẫn chất lượng Ở loại này, đã có đại diện ở các cấp trong hệ thống chính trị từTrung ương đến cơ sở, nhưng số lượng không nhiều và còn yếu về nhiều mặt Trong loại này cũng

có hai cấp độ:

Trang 11

Cấp độ thấp: Điển hình ở Tây Bắc là đội ngũ cán bộ của các dân tộc Mông và Dao.

Cấp độ khá: Đó là tình hình đội ngũ cán bộ dân tộc có số dân trội trong một hoặc vài ba tỉnh.Đội ngũ này đã có số lượng đáng kể, đảm đương được công việc trên một số lĩnh vực, nhưng vẫnchưa ngang tầm với nhiệm vụ, vẫn cần có lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia tăngcường hướng dẫn, giúp đỡ Cấp độ này ở Tây Bắc tiêu biểu là đội ngũ cán bộ người Thái

Loại hình thứ ba: Các dân tộc có đội ngũ cán bộ khá đủ về số lượng, đạt được tiêu chuẩnchất lượng chung, tham gia công tác ở các ngành, các cấp từ Trung ương đến cơ sở Trong loạinày cũng có hai cấp độ:

Cấp độ thấp: ở Tây Bắc đội ngũ cán bộ dân tộc Nùng, Mường là tiêu biểu Trong đội ngũnày đã hình thành lực lượng trí thức, tuy chưa nhiều, hầu hết đã có đủ năng lực đảm nhiệm vị tríthen chốt trong lãnh đạo, quản lý và một số ngành, một số có thể thoát ly khỏi địa phương tăngcường cho các dân tộc, địa phương khác

Cấp độ cao: Điển hình nhất ở Tây Bắc là đội ngũ cán bộ dân tộc Tày, Hoa [TL-18]

+ Tâm lực (niềm tin, thái độ, ý chí)

Hiệu quả sử dụng NNL phụ thuộc vào 02 vấn đề là mức độ lành nghề và thái độ của người

LĐ đối với công việc Để nâng cao trình độ CMKT của người LĐ đòi hỏi phải có thời gian nhưngcái có thể làm ngay là khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy tính tích cực của người LĐ, hướng nó vàothực hiện các mục tiêu CNH-HĐH đất nước

Trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, bằng việc khơi dậy truyền thống yêu nước, lòng tự hàodân tộc, chúng ta đã phát huy được tính tích cực của cộng đồng các DTTS vùng Tây Bắc, nhờ đó

đã làm nên được những kỳ tích trong lịch sử và chứng minh được sức mạnh của yếu tố con ngườiViệt Nam mà điển hình là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu

Kết quả điều tra XHH gần đây về niềm tin và ý chí của LĐ trẻ các DTTS Khi trả lời câu hỏi:

“Theo bạn, để đẩy mạnh CNH-HĐH, LĐ trẻ chúng ta cần có những tiêu chuẩn gì?” Những yếu tố

cơ bản được đa số ý kiến lựa chọn là: có nghề nghiệp: 70,5% (nhóm 11-17 tuổi) và 87,0% (nhóm18-30 tuổi); biết ngoại ngữ, tin học: 69,2% (nhóm 11-17 tuổi) và 57,0% (nhóm 18-30 tuổi); nhiệttình, tận tâm với công việc: 62,5% (Nhóm 11-17 tuổi) và 56,8% (nhóm 18-30 tuổi); có sức khoẻ:56,0% (nhóm 11-17 tuổi) và 68,0% (nhóm 18-30 tuổi) Những yếu tố ít được lựa chọn là: biếtganh đua cạnh tranh: 22,7% (nhóm 11-17 tuổi) và 27,2% (nhóm 18-30 tuổi); độc lập tự chủ: 25,9(nhóm 11-17 tuổi) và 26,4% (nhóm 18-30 tuổi) [TL-17, tr.211]

Thái độ của LĐ trẻ được đánh giá qua những tâm tư, nguyện vọng và những mong muốn của

họ trước công cuộc CNH-HĐH đang được tiến hành mạnh mẽ trên toàn quốc nói chung, ở địaphương nói riêng Khi trả lời câu hỏi: “LĐ trẻ có mong muốn gì trong bối cảnh CNH-HĐH của đấtnước hiện nay?” Các yếu tố được lựa chọn nhiều nhất vẫn là có việc làm ổn định: 75,9% (Nhóm

Trang 12

tuổi 11-17 là 69,3%; nhóm tuổi 18-30 là 76,1%); Có sức khoẻ tốt: 59,5% (Nhóm tuổi 11-17 là50,4%; nhóm tuổi 18-30 là 56,6%) Các yếu tố ít được lựa chọn là: kiếm được nhiều tiền: 13,0%(Nhóm tuổi 11-17 là 8,1%; nhóm tuổi 18-30 là 9,6%); được vào đoàn: 7,4% (Nhóm tuổi 11-17 là13,3%; nhóm tuổi 18-30 là 6,7%) [TL-17, tr.213].

Như vậy, NNL, đặc biệt là NNL trẻ các DTTS vùng Tây Bắc chưa có ý chí bứt phá vươn lênlàm giàu cho bản thân, cho gia đình và cho toàn xã hội mà vẫn tin theo những chuẩn mực mangtính khuôn mẫu như trọng lễ nghi, chữ tín, danh dự, sức khoẻ, sống chan hoà chứ chưa có thóiquen làm việc theo kế hoạch, chưa có ý thức độc lập tự chủ Họ quan tâm đến những lĩnh vựctrong một khuôn khổ nhất định, hạn chế nhưng cơ bản và thiết thực như học tập và sức khoẻ, việclàm ổn định chứ chưa quan tâm đến những lĩnh vực mở rộng hơn như khoa học công nghệ, giải trí

Đó là hệ quả do cuộc sống tại vùng Tây Bắc từ khi đổi mới đến nay vẫn ít có những biến đổi, cạnhtranh, khoa học kỹ thuật chưa phát triển như những vùng kinh tế khác Thêm vào đó, việc làm ổnđịnh đang là vấn đề nóng bỏng đối với đa số lực lượng LĐ xã hội của các DTTS vùng Tây Bắchiện nay thì nói gì đến niềm tin và ý chí vào những hoạt động xã hội, vui chơi giải trí, kiếm nhiềutiền và các hoạt động mở rộng khác

Điều đó cho thấy, tâm lực của NNL trẻ các DTTS là một lực cản lớn đối với công cuộcCNH-HĐH hiện nay, bởi lẽ phong cách và quan hệ LĐ kiểu cần mẫn, “chịu thương, chịu khó”không còn thích hợp Thói quen LĐ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm tích luỹ chính là lực cản đối vớiviệc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ Vì vậy, quá trình CNH-HĐH đòi hỏi phải có nhữngbiện pháp nhằm thay đổi chính tư duy và tác phong sản xuất người LĐ các DTTS vùng Tây Bắc,chuyển họ dần trở thành những con người có tác phong công nghiệp

2.2.2 Về phẩm chất

- Phẩm chất đạo đức của các DTTS ở Tây Bắc kết tinh trong những thuần phong mĩ tục từngàn đời nay và còn in dấu đậm nét trong đời sống xã hội hôm nay, bao hàm trong đó là cả mặttích cực và mặt tiêu cực Về mặt tích cực, đó là tính nhân ái trong gia đình, cộng đồng, tinh thầnđoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, nếp sống kính già, yêu trẻ, tôn trọng già làng, trưởng bản,trưởng dòng họ, tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc, tôn thờ tổ tiên nòi giống…

Mặt tiêu cực của phẩm chất đạo đức thể hiện qua những hủ tục như săn bắt chim thú quýhiếm, tục cướp vợ dẫn đến nhiều trường hợp cưỡng ép bằng vũ lực mà không xuất phát từ tìnhyêu, hôn nhân mua bán dẫn đến hiện tượng thách cưới cao xa, cưới hỏi tốn phí quá mức cần thiết,

tệ chặt phá rừng bừa bãi, trồng cây có chất gây nghiện như thuốc phiện, cần sa, xử dụng các chất

ma tuý, tảo hôn, coi thường phụ nữ Thêm vào đó là bệnh lười suy nghĩ, ưa nhàn hạ là thói xấu củatính tiểu nông Tư tưởng an phận, được mùa thì xa hoa lãng phí; mất mùa thì đổ vạ tại trời và chịuđói nằm co, người tốt là người chịu làm theo tập quán nên tính sáng tạo của con người bị hạn chế

Trang 13

+ Phẩm chất chính trị của các DTTS vùng Tây Bắc thể hiện trong tinh thần đoàn kết, thốngnhất để chống áp bức, chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền đất nước Có thể dẫn chứng đặc điểmnày ở đồng bào dân tộc Mông.

Trong xã hội truyền thống, người Mông không có khái niệm cụ thể về Tổ quốc Đồng bàocho rằng Tổ quốc chỉ là những nơi người Mông đang sống, còn những nơi khác là Tổ quốc của cácdân tộc khác Trong ngôn ngữ của người Mông chỉ có từ “Tráng Tế” là quê hương, là những mảnhđất, mảnh nương người Mông đang trồng trọt để đảm bảo sự sống Nhưng trong quá trình đoàn kếtdân tộc, cùng chung lưng chống giặc ngoại xâm, xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN, ngườiMông đã có quan niệm Tổ quốc của người Mông là Tổ quốc Việt Nam Và tinh thần yêu nước trởthành một giá trị mới trong bảng giá trị của người Mông [TL-23, tr.199]

Tuy nhiên, trong phẩm chất chính trị của đồng bào các DTTS vùng Tây Bắc cũng có nhượcđiểm là do tính thực dụng và cả tin nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng Vẫn lấy dân tộc Mông làm ví dụ Dođời sống gặp khó khăn, bế tắc, tôn giáo tín ngưỡng truyền thống do có những mặt lỗi thời (giếtnhiều gia súc, cúng bái tốn kém) nên người Mông dễ tin vào kẻ xấu đi theo đạo để thờ Chúa,không thờ nhiều ma, chỉ đọc kinh, không cần giết gia súc cầu cúng Vì vậy, chỉ với luận điệu:

“Chúa là con ma to nhất, vì thế theo Chúa thì không phải thờ cúng ma nào khác mà vẫn được lênThiên Đường về với tổ tiên” [TL-23, tr.180], những kẻ lợi dụng tôn giáo đã dễ dàng lôi kéo một

bộ phận không nhỏ người Mông ở Tây Bắc theo đạo làm cho số người theo đạo tăng nhanh về sốlượng ở nhiều địa bàn có người Mông cư trú

+ Phẩm chất thẩm mỹ của các DTTS vùng Tây Bắc thể hiện ở đặc điểm thích ca hát, nhảymúa, yêu thiên nhiên Tây Bắc là quê hương của những áng văn học và làn điệu ca vũ dân gian rực

rỡ Các vũ điệu ở Tây Bắc thường có các động tác phóng khoáng, say sưa mà đượm chất trữ tìnhvới tiết tấu tưng bừng như tượng trưng của khát vọng yêu đương, của sinh sôi nảy nở, của ước mơtrường thọ, của thiên nhiên và tâm hồn trẻ mãi không già

Phẩm chất thẩm mĩ của các DTTS vùng Tây Bắc còn thể hiện ở đặc điểm thích phô trương,

ưa những sắc màu sặc sỡ Đặc điểm này có thể thấy ở nữ phục nhiều DTTS vùng Tây Bắc như:Mông, Hà Nhì, Cống, La Hủ, Si La… Nữ phục của các dân tộc này thường nổi bật trước thiênnhiên bởi sắc màu sặc sỡ Trên nền chàm sẫm, những đường nét hoa văn cùng những mảng màugồm các gam màu sáng chói như trắng tuyết, đỏ lửa, xanh nõn chuối, tím hoa cà, vàng chanh…làm sáng bừng những khuôn mặt thiếu nữ, làm mềm mại những cổ tay tròn lẳn, làm uyển chuyểnnhững bước chân nhịp nhàng

Phẩm chất thẩm mỹ của các DTTS vùng Tây Bắc còn thể hiện ở đặc điểm yêu cái đẹp, cáitốt - tức cái thiết thực (người lý tưởng trong mắt mọi người không những đẹp mà còn phải hiềnlành, chăm chỉ, khéo léo) Trong các tiêu chí kén chọn “dâu hiền”, “rể thảo” của các DTTS vùngTây Bắc thì tiêu chí quan trọng là: nàng dâu phải biết dệt vải, chàng rể phải biết đan chài, làmnương Điều này hiểu rộng ra là nàng dâu phải là người cần cù, đảm đang bởi có cần cù, đảm đang

Trang 14

thì mới có thể học được nghề dệt vải - một nghề thủ công tốn nhiều thời gian, công sức và phải có

óc thẩm mỹ mới có thể dệt được những tấm vải đẹp phục vụ cho nhu cầu của gia đình Chàng rểphải là người khoẻ mạnh, siêng năng bởi có biết đan chài, làm nương thì chàng rể mới có thể hàngngày xuống suối bắt cá, lên rừng làm nương lo cái ăn cho gia đình

2.2.3 Về chất lượng tổng hợp

- Mức sống và chất lượng sống

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, GiaRai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh emruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…”

Đã hơn 30 năm kể từ ngày đất nước thống nhất và hơn 20 năm kể từ công cuộc đổi mới đượcthực hiện nhưng mức sống và chất lượng cuộc sống vẫn có một khoảng cách giữa các dân tộc,giữa thành thị và nông thôn cũng như giữa các vùng miền trong cả nước Các số liệu thống kêtrong những năm trở lại đây cho thấy Tây Bắc là một trong những vùng có mức sống và chấtlượng cuộc sống thấp nhất trong toàn quốc và khoảng cách cứ tăng dần theo thời gian: năm 2004bằng 54,7% mức trung bình cả nước; năm 2002 bằng 55,3%; và cho đến năm 2004 khoảng cách

đó đã là 56% Tỷ lệ hộ nghèo ở Tây Bắc năm 2007 còn 37,5%, cao nhất cả nước, trong đó LaiChâu là 55,3%; Điện Biên là 40,8%; Sơn La là 37,1% và Hòa Bình là 30,9% (so với 14,7% cảnước, 21,1% vùng Đông Bắc, 10,1% vùng đồng bằng sông Hồng) [TL-9; 21]

Theo một báo cáo mới đây của UNDP về tốc độ giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn

1993 – 1998 cho thấy ở 7 vùng sinh thái thì vùng miền núi phía Bắc giảm 20% (từ 79% xuống còn59%), là mức giảm cao thứ 4 sau Đồng bằng sông Hồng (giảm 34%), Duyên hải Bắc trung bộ(giảm 27%), Đông Nam Bộ (giảm 25%); và cao hơn Tây Nguyên (giảm 18%), Duyên hải Namtrung bộ (giảm 15%) và Đồng bằng Sông Cửu Long (gảm 10%) Khoảng cách về tỷ lệ giảm nghèocũng có sự khác biệt giữa các dân tộc Trong khi nhóm dân tộc đa số (dân tộc Kinh) giảm được23% số hộ nghèo (từ 54% xuống 31%) trong giai đoạn 1993 – 1998 thì các DTTS chỉ giảm 11%(từ 86% xuống 75%) [TL-24]

Tốc độ gia tăng dân số cao đã tạo sức ép lớn đến mức sống và chất lượng cuộc sống Mặc dù

là vùng có dân số và mật độ dân số thấp nhất trong toàn quốc nhưng nhân khẩu bình quân theo hộlại cao nhất nước Năm 2002, trong khi nhân khẩu bình quân/hộ của cả nước chỉ là 4,44 người thì

ở Tây Bắc là 5,15 người/hộ; nhóm những gia đình đặc biệt khó khăn (chủ yếu là đồng bào cácDTTS) có tỷ lệ nhân khẩu/hộ rất cao với 5,85 nhân khẩu/hộ

Tính đến năm 2008, thu nhập bình quân đầu người ở Tây Bắc mới chỉ đạt khoảng 150USD/người/năm, là mức thấp nhất trong các vùng kinh tế Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị

và nông thôn là 1,38 lần; giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất là 5,96lần Nhiều địa phương của Tây Bắc như: Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Mường La (SơnLa), Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), Tủa Chùa (Điện Biên)… thu nhập bình quân đầu

Trang 15

người mới chỉ đạt trên dưới 100 USD/người/năm [TL-34] Nếu so GDP bình quân đầu người củaTây Bắc với GDP bình quân đầu người của cả nước thì mới chỉ bằng trên 1/3; so với một số nướctrong khu vực như: Thái Lan chưa bằng 1/10, và GDP của Malaixia gần gấp 20 lần GDP bìnhquân đầu người của Tây Bắc [TL-9].

Số người có mức lương thực quy ra thóc ≤ 15kg/người chiếm 28,05%, cao gấp 2,82 lần sovới cả nước và gấp tới 8,68 lần so với Đông Nam Bộ Tỷ lệ được tiếp xúc với nước sạch là49,14%; sử dụng nguồn nước giếng đất và các nguồn nước tự nhiên là 50,86%; tỷ lệ này của cảnước là 69,39% và 30,61% Tỷ lệ có nhà ở đơn sơ và tạm bợ là 32,16%; cao gấp 1,3 lần tỷ lệchung của toàn quốc; so với vùng có tỷ lệ thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng thì gấp 4,68% Tỷ lệ

số hộ có đồ dùng lâu bền thấp nhất cả nước với 85,75% (của cả nước là 96,86%) Giá đồ dùng lâubền mua mới bình quân của mỗi hộ cũng có sự chênh lệch đáng kể Trong khi trị giá bình quân xétchung trên toàn quốc là 4,694 triệu đồng/hộ thì ở Tây Bắc chỉ là 3,856 triệu đồng/hộ

Thu nhập thấp nên sức mua của người dân cũng thấp Trong tổng số thu nhập, đồng bào cácdân tộc Tây Bắc phải chi tới 61,19% cho ăn uống để tồn tại; số còn lại mới chi cho các mục đíchkhác; trong đó các hoạt động giáo dục, y tế và vui chơi giải trí chiếm tỷ lệ thấp, y tế: 4,28%; giáodục: 3,74% và văn hoá - giải trí: 0,32% [TL-26]

Mức sống thấp nên đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống thể hiện qua việc tiếp cậnvới các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường

Về y tế, mặt dù việc đầu tư mạnh cho miền núi trong những năm qua đã khiến cho việc chămsóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho cư dân miền núi đã được cải thiện Theo các số liệu thống kêchính thức do Tổng Cục thống kê và Bộ Y tế tiến hành qua các năm từ 1994 đến 1999 cho thấy số

cơ sở y tế cũng như đội ngũ y bác sĩ công tác tại các tỉnh Tây Bắc cũng đã tăng lên Số cơ sở khámchữa bệnh tăng từ 862 cơ sở năm 1995 lên 1.054 cơ sở năm 1998 Số giường bệnh tăng từ 8.588giường năm 1995 lên 9.632 giường năm 1998 Số xã có trạm xá xã tăng từ 743 xã (84,06%) năm

1994 lên 867 xã (93,19%) năm 1999 [Xem biểu 5]

Số cán bộ y tế cũng không ngừng tăng lên ở các tỉnh Tây Bắc Nếu như năm 1994, toàn vùngTây Bắc chỉ có 9.691 cán bộ y tế, trong đó có 1.059 bác sĩ, 169 dược sĩ đại học thì đến năm 1999tổng số cán bộ ngành y ở Tây Bắc đã tăng lên 10.330 người, trong đó có 1.261 bác sĩ; nhưng sốdược sĩ đại học lại giảm xuống còn 105 người [TL-25] [Xem biểu 6]

Tuy nhiên, các số liệu thống kê y tế cho thấy có sự khác biệt đáng kể về các chỉ số sức khoẻcủa người dân ở Tây Bắc so với các vùng sinh thái khác trong cả nước Mặc dù tỷ lệ chết của trẻ

em dưới 1 tuổi ở cả nước nhìn chung giảm mạnh trong 4 thập kỷ qua từ khoảng 160/1.000 trẻ emsống vào năm 1960 xuống còn 90/1.000 trong giai đoạn 1975 – 1980, 75/1.000 vào năm 1983,45/1.000 vào năm 1989 và 44/1.000 trong giai đoạn 1989 – 1993 nhưng lại chưa giảm nhiều ởnhững vùng DTTS Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, trong giai đoạn 1995 – 2005 tỷ lệ tử

Trang 16

vong ở trẻ em dưới 1 tuổi ở vùng núi phía Bắc là 62,2% cao gấp 1,3 lần so với cả nước (45,1%).

Tỷ lệ tử vong của trẻ từ 1 – 5 tuổi; tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi cũng còn ở mức cao [TL-29].Những điều kiện về cơ sở khám chữa bệnh, đội ngũ cán bộ y bác sĩ mặc dù những năm gầnđây đã có nhiều cải thiện nhưng nhìn chung vẫn còn thấp kém hơn các vùng khác Tình trạng suydinh dưỡng tuy có giảm trong nhiều năm gần đây Tuy nhiên tại các tỉnh Tây Bắc, tỷ lệ suy dinhdưỡng vẫn còn ở mức cao, đặc biệt có nơi trên 50% Mức sinh ở các tỉnh Tây Bắc, vùng sâu vùng

xa cao hơn gấp 1,7 - 1,9 lần so với cả nước và so với thành thị Tỷ lệ chết thô, sơ sinh, chết trẻ em,chết mẹ cao hơn mức chung của cả nước, nông thôn cao gấp 1,4 lần thành thị Tỷ lệ chết sơ sinh ởTây Bắc là 58,3 ‰ so với 36,7 ‰ Tỷ lệ chết chu sinh ở dân tộc Mông là 49 ‰, Mường là 52,6

‰, trong khi đó người Kinh là 19,6 ‰, toàn quốc là 22,2 ‰ Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi ở TâyBắc cao hơn so với cả nước (62,2‰ so với 45,1 ‰), tỷ lệ này ở DTTS cao hơn nhiều so với ngườiKinh Chẳng hạn tỷ lệ này ở người Mông là 106 ‰, trong khi ở người Kinh là 38,5 ‰ Tỷ lệ chết

ở trẻ em dưới 5 tuổi cao hơn so với cả nước (82,1 ‰ so với 61,6 ‰) [TL-17, tr.98] Các loại bệnhsốt rét, bướu cổ, da liễu, bệnh đường ruột và bệnh gan vẫn là những căn bệnh thường gặp ở đồngbào các DTTS vùng Tây Bắc hiện nay Tình trạng trên ngoài những nguyên nhân khách quan nhưđiều kiện tự nhiên khắc nghiệt, vệ sinh môi trường kém, ăn uống không đủ chất… thì nhữngnguyên nhân chủ quan như thiếu các điều kiện về cơ sở y tế, thuốc men… vẫn là một nguyên nhânchủ yếu cần phải khắc phục trong thời gian tới

Về giáo dục, mặc dù trong những năm qua, công tác giáo dục của vùng đã được nâng lên cả

về số lượng và chất lượng, từng bước xoá lớp học bằng tranh tre nứa lá, lớp học tạm bợ, xây dựngnhà trường đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, cơ sở vật chất được đầu tư hơn, thuận lợi cho việc dạy

và học nhằm thu hút học sinh đặc biệt là học sinh dân tộc ít người tới trường, nâng cao trình độdân trí [Xem biểu 7, 8, 9]

Mặc dù đã có sự hỗ trợ của nhà nước về giáo dục đào tạo cho con em đồng bào các DTTS,đặc biệt là các dân tộc ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới và đặc biệt khó khăn; tỷ lệ biết chữ củangười dân đã tăng từ 79,91% năm 1999 lên 84,1% năm 2006 nhưng đây vẫn là tỷ lệ thấp so vớimặt bằng chung của toàn quốc (94,4%)

- Lối sống

Lối sống là một khái niệm bao hàm cả lối sống, lẽ sống và nếp sống trong nội hàm của nó.Trong đó, lối sống là toàn bộ hoạt động của con người; lẽ sống là mặt ý thức của lối sống; còn nếpsống là mặt ổn định của lối sống Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thànhthói quen trong sản xuất, trong sinh hoạt, trong tổ chức đời sống xã hội Nếp sống làm cho đờisống được ổn định, còn lẽ sống dẫn dắt lối sống ấy Vì thế, lẽ sống chính là những giá trị nhâncách Vì vậy, tìm hiểu đặc điểm về lối sống của NNL các DTTS ở Tây Bắc cần tìm hiểu về nhữnggiá trị nhân cách của đối tượng

Trang 17

Theo kết quả điều tra XHH gần đây về những định hướng trong giá trị nhân cách ở thanhthiếu niên các DTTS, khi trả lới câu hỏi: “Theo bạn, để đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, tuổi trẻcác DTTS chúng ta phải có những giá trị nhân cách gì?” Những yếu tố cơ bản được đa số các ýkiến lựa chọn là: Bất bình với việc thiếu tôn trọng (76,9%); giữ đúng hẹn trong quan hệ và côngviệc (54,0%); làm việc gì cũng nghĩ đến danh dự (48,8%); rèn luyện sức khoẻ, giữ vệ sinh(44,2%) Những yếu tố chiếm tỷ lệ thấp nhất là sẵn sàng thích nghi với hoàn cảnh thay đổi(11,2%); làm việc theo kế hoạch (14,2%); tìm cách hợp tác đúng đắn với bạn (16,6%) [TL-17].Như vậy, NNL, đặc biệt là NNL trẻ các DTTS vùng Tây Bắc vẫn có lối sống theo nhữngkhuôn mẫu như trọng lễ nghi, chữ tín, danh dự, sức khoẻ… chứ chưa có lối sống làm việc theo kếhoạch, hành động chưa có sự nhanh nhạy, thích nghi với những biến đổi của hoàn cảnh sống Điềunày một phần cũng do cuộc sống tại Tây Bắc lâu nay ít có những biến đổi, cạnh tranh, phát triểnnhư ở những khu vực khác.

- Tính năng động xã hội (kiến thức, thái độ, hành vi sẵn sàng tham gia các hoạt động vàphong trào xã hội) thể hiện qua kết quả khi trả lời câu hỏi “Theo bạn, để đẩy mạnh CNH-HĐH ởmiền núi, LĐ trẻ của chúng ta phải có tiêu chuẩn nào”? Những yếu tố cơ bản được đa số ý kiến lựachọn là: có nghề nghiệp: 70,5% (nhóm 11-17 tuổi) và 87,0% (nhóm 18-30 tuổi); biết ngoại ngữ,tin học: 69,2% (nhóm 11-17 tuổi) và 57,0% (nhóm 18-30 tuổi); nhiệt tình, tận tâm với công việc:62,5% (Nhóm 11-17 tuổi) và 56,8% (nhóm 18-30 tuổi); có sức khoẻ: 56,0% (nhóm 11-17 tuổi) và68,0% (nhóm 18-30 tuổi) Những yếu tố ít được lựa chọn là: biết ganh đua cạnh tranh: 22,7%(nhóm 11-17 tuổi) và 27,2% (nhóm 18-30 tuổi); độc lập tự chủ: 25,9 (nhóm 11-17 tuổi) và 26,4%(nhóm 18-30 tuổi) [TL-17]

Như vậy, những tiêu chuẩn được NNL các DTTS lựa chọn vẫn là những tiêu chuẩn cơ bản,phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Khu vực này, tính năng động, sự cạnh tranh, ganh đua, hay làmviệc tự chủ vẫn còn ít và không được chú ý do những đặc trưng của cuộc sống ở Tây Bắc là vẫnchậm phát triển

- Chỉ số phát triển con người HDI

Theo Báo cáo quốc gia năm 2001 về chỉ số phát triển con người (HDI) thì hầu hết các dântộc ít người ở vùng Tây Bắc cũng đã đạt gần sát đến ranh giới mức nghèo khổ hiện nay Trong khi

đó, người Mông vẫn là dân tộc chậm phát triển nhất Trong số 16 tỉnh có HDI thấp nhất của ViệtNam thì đều có cả 6 tỉnh Tây Bắc Xếp theo thứ tự từ cao xuống là Hoà Bình (1), Yên Bái (8), LàoCai (11), Sơn La (12), Lai Châu và Điện Biên (16) Báo cáo trên kết luận: ở đâu có tỷ lệ ngườiDTTS cao thì ở đó thường có chỉ số phát triển con người thấp [TL-8]

Trên thực tế, mặc dù HDI phụ thuộc một cách đáng kể vào tỷ lệ giữa người DTTS so vớitổng số dân cư trên địa bàn Nhưng mặt khác nó còn phụ thuộc vào sức mua (một yếu tố biểu hiệnmức sống) của dân cư, theo đó góp phần làm biến đổi HDI của họ Sức mua lại phụ thuộc rất lớnvào khả năng thu nhập thực tế Điều đó cũng có nghĩa là mức sống của dân cư được qui định bởi

Trang 18

trình độ phát triển của sản xuất, sự giao lưu hàng hoá và cơ hội tiếp cận các dịch vụ hiện đại nhưchuyển giao công nghệ tiên tiến, y tế, giáo dục, văn hoá Thế cho nên một điều tưởng chừng nhưnghịch lý là trong khi tỉnh Hoà Bình có tỷ lệ người DTTS 73,3% cao hơn Yên Bái 27,3% và caohơn Lào Cai 6,4% về tỷ lệ DTTS trong tổng dân số nhưng lại xếp trên Yên Bái 7 bậc, trên Lào Cai

10 bậc về chỉ số HDI là vì thu nhập bình quân tính theo đầu người so với sức mua của người dântại hai tỉnh này hoàn toàn khác nhau Điều đó được lý giải bởi sự phát triển kinh tế, sự giao lưuhàng hoá trong và ngoài nước cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ hiện đại của Hoà Bình caohơn so với Yên Bái và Lào Cai

Giáo dục là một khía cạnh quan trọng biểu hiện HDI Theo các số liệu của Tổng cục Thống

kê, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liênhợp quốc (FAO), tỷ lệ người biết chữ bình quân cả nước là trên 90%, trong khi đó tỷ lệ ngườiDTTS ở Tây Bắc biết chữ là 84,1%, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước Các dân tộc nhưHoa, Tày, Mường, Thái và Nùng có số người đi học cao hơn so với một số DTTS khác Dân tộcMông, La Hủ, Cống, Hà Nhì… có tỷ người đi học thấp nhất [Xem biểu 1]

Trong số các trường tiểu học dạy chữ các DTTS hiện nay không có trường nào ở Tây Bắc

Số trẻ em gái người DTTS ở Tây Bắc ít có cơ hội đến trường hơn so với trẻ em trai Nếu tỷ lệ đếntrường của trẻ em trai các DTTS vùng Tây Bắc là 53,5% thì tỷ lệ đó ở trẻ em gái chỉ là 31,5%.Khoảng cách về tỷ lệ đi học của trẻ em gái và trẻ em trai không chỉ có ở bậc tiểu học mà cả ở bậctrung học cơ sở và trung học phổ thông Tuy nhiên, với một số DTTS có sự phát triển về sản xuất,giao lưu hàng hoá và tiếp cận các dịch vụ giáo dục hiện đại thì tỷ lệ chênh lệch như vậy khôngđáng kể Chẳng hạn như người Tày và người Hoa Ở người Tày tỷ lệ đó là 94,9% và 94,4%; ởngười Hoa tỷ lệ đó là 94,5% và 92,9% Sự chênh lệch biểu hiện đáng kể nhất là đối với đồng bàodân tộc Mông Phải chăng do những tập tục lạc hậu còn rơi rớt, sự bất bình đẳng về giới đã để lạidấu ấn khá đậm nét trong lĩnh vực giáo dục con cái?

Chất lượng giáo dục hiện nay là một vấn đề khá nan giải, đặc biệt là đối với đồng bào cácdân tộc ở vùng sâu, vùng xa và miền núi Theo các báo cáo gần đây của Ngân hàng Phát triển châu

Á (ADB), có tới 50% số giáo viên ở vùng sâu, vùng xa và miền núi chưa đạt chuẩn quốc gia Đây

là điều rất đáng báo động về chất lượng giáo viên, một nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượnggiáo dục Gần đây, Chính phủ và ngành Giáo dục nước ta đã có nhiều chính sách khuyến khíchnhư miễn thi đầu vào đối với một số trường sư phạm miền núi, vùng sâu, vùng xa, hạ mức chuẩnthi đỗ đối với đầu ra, cấp học bổng, miễn giảm học phí và tăng lương cho giáo viên dạy ở cácvùng nói trên gấp 1,7 lần, thậm chí ở một số nơi cao gấp 3 lần so với giáo viên dạy cùng cấp học ởmiền xuôi và cao hơn nhiều so với lương một cán bộ y tế có cùng trình độ và công tác trong cùngmột địa phương Tuy nhiên, đây chỉ là những giải pháp tình thế Bởi lẽ, việc tăng lương dù cóquan trọng nhưng không thể giải quyết được sự thiếu thốn về các nhu cầu sinh hoạt vật chất vàcũng như đời sống tinh thần đối với những người công tác ở những vùng sâu, vùng xa

Trang 19

Nếu tiến bộ của giáo dục là khía cạnh nói lên sự phát triển về mặt trí tuệ và tinh thần (sứckhoẻ tinh thần) của con người thì công tác chăm sóc y tế và nâng cao mức sống lại là khía cạnhbiểu hiện khả năng phát triển của con người về mặt thể chất (sức khoẻ thể chất) Hơn thế nữa,công tác chăm sóc y tế đã can thiệp như một yếu tố góp phần quyết định đối với HDI Nhưng vìcuộc sống gần gũi và gắn chặt với tự nhiên nên quan niệm của các DTTS ở Tây Bắc về sức khoẻcũng "tự nhiên" hơn Họ ít quan tâm và sử dụng các dịch vụ y tế công, mỗi khi mắc bệnh họthường tự điều trị Một số hủ tục còn rơi rớt ở một số nơi, một số dân tộc gây ảnh hưởng xấu đếncông tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân như kiêng khem, cúng ma khi có người thântrong gia đình bị ốm đau, bệnh tật Nhiều dân tộc có tập tục là trẻ nhỏ không ngồi ăn cơm chungvới những người khác nên việc phát hiện trẻ bỏ ăn, hoặc mắc bệnh về đường tiêu hoá là rất khó.Người già ở các DTTS mắc bệnh không muốn đi bệnh viện Nếu bị ốm nặng phải tới điều trị tạibệnh viện thì lập tức cả nhà đi theo chăm sóc Làm như vậy không những tạo nên sự quá tải chobệnh viện về chỗ ăn ở, chi phí điện, nước, vệ sinh, mà còn gây tốn kém gấp bội lần cho gia đình.Tâm lý sợ đến bệnh viện của số đông đồng bào DTTS từ đó nảy sinh cũng là điều dễ hiểu.

2.3 Cơ cấu NNL

2.3.1 Về cơ cấu thành phần

So với những năm trước đổi mới, sự thay đổi lớn nhất là các thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh đã đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giải quyết việc làm và sử dụng NNL Nhờ chủtrương khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển mà số lượng LĐ làm việc trong khu vựcngoài quốc doanh tăng lên đáng kể qua các năm Nếu như năm 1997, LĐ làm việc ở các doanhnghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 981.475 người thì đến năm

2000, con số đó đã là 1.043.843 người (tăng 62.368 người) Tuy nhiên, xét theo tỷ trọng thì LĐ ởkhu vực ngoài quốc doanh tăng không đáng kể So sánh giữa năm 1997 với năm 2000 thì sự tăngtrưởng chỉ là 0,92% Đó là bởi các ngành công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ ngoài quốcdoanh ở Tây Bắc nhỏ bé, chủ yếu là các hộ sản xuất kinh doanh cá thể nên sự chuyển dịch cơ cấutheo ngành ở các khu vực này xét theo thành phần kinh tế không tạo ra sự đột biến trong chuyểndịch cơ cấu LĐ của toàn bộ nền kinh tế

Xét riêng khu vực công nghiệp xây dựng thì khối công nghiệp xây dựng ngoài quốc doanh

đã thu hút một số lượng khá lớn LĐ vào làm việc Nếu như năm 2007, công nghiệp ngoài quốcdoanh mặc dù chỉ tạo ra 30% GDP trong toàn ngành công nghiệp nhưng về LĐ lại chiếm tới 70%của toàn bộ ngành công nghiệp trong vùng [TL-9] Điều này chứng tỏ công nghiệp ngoài quốcdoanh đã giữ vai trò rất quan trọng trên thị trường LĐ, góp phần giảm bớt sự căng thẳng về quan

hệ cung cầu LĐ trong thời gian vừa qua

LĐ dịch vụ trong khu vực quốc doanh những năm qua giảm chủ yếu ở ngành thương nghiệpbán lẻ, dịch vụ công cộng, giao thông vận tải đường bộ, đường thuỷ Các ngành bưu chính viễnthông, đường sắt tuy tạo ra mức tăng GDP lớn như thu hút thêm không nhiều LĐ mà chủ yếu do

Ngày đăng: 04/04/2013, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Đề tài nghiên cứu “Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ DTTS ở nước ta hiện nay” (Báo cáo tóm tắt). Vụ Dân tộc - Văn phòng Quốc hội. Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc thực hiện chính sách dân tộc trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý cán bộ DTTS ở nước ta hiện nay
1. Bài trả lời phỏng vấn Phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam của đ/c Hà Quyết, Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái (Đăng trên Giadinh.net.vn. Thứ năm, 15/11/2007) Khác
16. Bùi Tịnh và Cầm Trọng, Nguyễn Hữu Ưng: Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam. Ban dân tộc Khu Tây Bắc xuất bản năm 1975 Khác
17. Đặng Cảnh Khanh. NNL trẻ các DTTS - những phân tích xã hội học, Nxb. Thanh niên, H.2005 Khác
19. Điều tra mức sống hộ gia đình tỉnh Lai Châu năm 2006. Cục Thống kê tỉnh Lai Châu thực hiện năm 2006 20. Nguyễn Sinh-Doãn Huề. Phát triển kinh tế vùng Tây Bắc trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, Tc. Cộng sản, số 21 (165) năm 2008 Khác
21. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XI các tỉnh Hoà Bình, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái Khác
22. Phạm Minh Hạc (chủ biên). Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH-HĐH, Nxb.Chính trị Quốc gia, H.1996 Khác
24. UNDP. Việt Nam tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng, kathmandu.2003 25. Tổng cục Thống kê – B ộ Y tế. Hà Nội, 2000 Khác
30. Tổng cục Thống kê-Niên giám thống kê năm 1995 31. Tổng cục Thống kê-Niên giám thống kê năm 2005 Khác
33. Tổng cục Thống kê-Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra 2000 - 2007 34. Tổng cục Thống kê -Thực trạng lao động, việc làm ở Việt Nam, 2002 Khác
37. TS.Phạm Thắng. Dân số và NNL trong thời ký CNH-HĐH ở Việt Nam, Tc.Cộng sản, Số phát hành 62- 2004 Khác
44. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Điện Biên – Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề, phát triển NNL DTTS tỉnh, tháng 7/2008 Khác
45. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hoà Bình – Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề, phát triển NNL DTTS tỉnh, tháng 7/2008 Khác
46. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu – Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề, phát triển NNL DTTS tỉnh, tháng 7/2008 Khác
47. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Lào Cai – Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề, phát triển NNL DTTS tỉnh, tháng 7/2008 Khác
48. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Sơn La – Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề, phát triển NNL DTTS tỉnh, tháng 7/2008 Khác
49. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Yên Bái – Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề, phát triển NNL DTTS tỉnh, tháng 7/200850. webside Đảng Cộng sản Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w