Xuấtphát từ thực tế trên, nhằm đánh giá sự phù hợp của hệ thống quản lý môitrường nội bộ so với tiêu chuẩn ISO 14000 cũng như sự tuân thủ pháp luậtmôi trường của hệ thống này để từ đó xá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
TRUNG SƠN – HƯNG YÊN”
Người thực hiện : HOÀNG THỊ NHI
Chuyên ngành đào tạo : Môi trường Giáo viên hướng dẫn :Ths CAO TRƯỜNG SƠN Địa điểm thực tập : Công ty CPTP xuất khẩu
Trung Sơn- Hưng Yên
Hà Nội - Năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân,tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo trong Khoa Môitrường và các cán bộ công nhân viên của Công ty Cổ phần thực phẩm xuấtkhẩu Trung Sơn Hưng Yên
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trườngĐại học Nông nghiệp Hà Nội, Khoa Môi trường, Bộ môn Quản lý môitrường; cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt những kiến thức và nhữngkinh nghiệm giúp tôi thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo Th.S CaoTrường Sơn, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp tôi thực hiện tốt đề tài này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ công nhân viên của Công
ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Trung Sơn Hưng Yên đã nhiệt tình giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập tại công ty
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè – những người đãluôn quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập vàthực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian, tài chính vàtrình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khó tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiếncủa thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan những kết quả trong báo cáo này là trung thực
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng năm 2014
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Yêu cầu nghiên cứu 3
Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận của kiểm toán môi trường 4
2.1.1 Các khái niệm chung về kiểm toán môi trường 4
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của kiểm toán môi trường 7
2.1.3 Phân loại kiểm toán môi trường 8
2.1.4 Các bước thực hiện kiểm toán hệ thống quản lý môi trường 11
2.2 Cơ sở thực tiễn của kiểm toán môi trường 15
2.2.1 Tình hình thực hiện kiểm toán môi trường trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình thực hiện kiểm toán môi trường tại Việt Nam 21
2.3 Cơ sở pháp lý của kiểm toán môi trường 23
2.3.1 Hệ thống ISO và TCVN về kiểm toán môi trường 24
2.3.2 Các quy định luật pháp về bảo vệ môi trường 28
Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31
3.2 Nội dung nghiên cứu 31
Trang 43.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 31
3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 32
3.3.3 Phương pháp thẩm tra tài liệu 33
3.3.4 Phương pháp đối chiếu các điều khoản kiểm toán 33
3.3.5 Phương pháp phân tích, lấy mẫu 34
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 35
3.3.7 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 35
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Tình hình sản xuất của Công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩu Trung Sơn Hưng Yên 36
4.1.1 Giới thiệu chung về công ty 36
4.1.2 Đặc điểm sản xuất 38
4.2 Hiện trạng quản lý môi trường của công ty 45
4.2.1 Tổ chức nhân sự 45
4.2.2 Chính sách môi trường nội bộ 46
4.2.3 Hoạt động kiểm soát môi trường 47
4.2.4 Hoạt động giáo dục đào tạo, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho cán bộ công nhân viên 60
4.3 Đánh giá hệ thống quản lý môi trường của Công ty CP thực phẩm xuất khẩu Trung Sơn Hưng Yên 63
4.3.1 Đánh giá sự phù hợp của hệ thống quản lý môi trường công ty Trung Sơn so với yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 14001 63
4.3.2 Đánh giá sự tuân thủ các quy định pháp luật Nhà nước của hệ thống quản lý môi trường nội bộ công ty Trung Sơn 68
4.3.3 Các ưu, nhược điểm của hệ thống quản lý môi trường công ty Trung Sơn Hưng Yên 75
Trang 5Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường
10 HTQLMT Hệ thống quản lý môi trường
11 HTXLNT Hệ thống xử lý nước thải
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lợi ích kinh tế do KTMT đem lại tại một số lĩnh vực ở Anh quốc
20
Bảng 3.1: Các phương pháp phân tích chất lượng nước 34
Bảng 4.1: Mức nguyên vật liệu sử dụng trong chế biến Cá hồi 40
Bảng 4.2 : Danh mục thiết bị máy móc của công ty Trung Sơn 43
Bảng 4.3: Tổ chức nhân sự của bộ phận quản lý môi trường công ty Trung Sơn 46
Bảng 4.4: Kết quả phân tích khí thải tại ống khói lò hơi 48
Bảng 4.5: Kết quả phân tích chất lượng không khí xung quanh khu vực chứa rác và xử lý nước thải 49
Bảng4.6: Kết quả đo đạc phân tích chất lượng không khí tại trung tâm phân xưởng sản xuất 50
Bảng 4.7 : Kết quả phân tích nước thải đầu vào và đầu ra của hệ thống xử lý nước thải công ty Trung Sơn Hưng Yên 56
Bảng 4.8: So sánh kết quả phân tích nước thải đầu vào – đầu ra hệ thống xử lý nước thải với số liệu quan trắc trong báo cáo quan trắc môi trường của công ty 57
Bảng 4.9 : Thành phần và khối lượng chất thải rắn nguy hại của công ty 60
Bảng 4.10: Thang điểm đánh giá mức độ đáp ứng ISO 14001:2004 63
Bảng 4.11: Sự phù hợp của HTQLMT công ty Trung Sơn so với ISO 14001 .64
Bảng 4.12: Đánh giá sự tuân thủ các quy định pháp luật Nhà nước của hệ thống quản lý môi trường Công ty CP thực phẩm xuất khẩu Trung Sơn Hưng Yên 69
Trang 8năm 1999- 2009 27Hình 4.1: Bản vẽ mặt bằng tổng thể của Công ty CP thực phẩm xuất khẩu
Trung Sơn Hư ng Yên 37Hình 4.2: Sơ đồ tổ chức của Công ty CP thực phẩm xuất khẩu Trung Sơn
Hưng Yên 38Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ sử dụng điện trung bình tháng của các thiết bị máy
móc trong công ty 42Hình 4.4: Sơ đồ tổng quát quy trình chế biến thủy sản của công ty CP
thực phẩm xuất khẩu Trung Sơn Hưng Yên 44Hình 4.5: Sơ đồ quy trình xử lý nước thải công ty Trung Sơn Hưng Yên 53Hình 4.6: Mức độ tổ chức các chương trình đào tạo theo đánh giá của
công nhân 61Hình 4.7: Mức độ hiểu biết của công nhân về các chính sách môi trường
của công ty 61Hình 4.8: Mức độ đáp ứng ISO 14001:2004 của hệ thống quản lý
môi trường công ty 68
Trang 9Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay vấn đề phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trườngkhông còn là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà nó đã trở thành vấn đềtoàn cầu, có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự sinh tồn của nhân loại Tại ViệtNam, bảo vệ môi trường là yếu tố không thể tách rời trong sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã đặt
ra mục tiêu phát triển đến năm 2020 về cơ bản trở thành nước công nghiệptheo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế
hệ mai sau
Trước bối cảnh đó rất nhiều các tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực khácnhau đã và đang ngày càng quan tâm tới lĩnh vực bảo vệ môi trường, mộtphần do Nhà nước ngày một thắt chặt các chính sách bảo vệ môi trường,gia tăng chi phí môi trường của mọi hoạt động; mặt khác các tổ chức cũngmong muốn đạt được các kết quả tích cực trong quản lý, bảo vệ môi trườngcũng như được chứng minh, công nhận các kết quả đó Vì vậy, nhiều tổchức đang cố gắng kiểm soát các tác động môi trường do hoạt động sảnxuất, kinh doanh của họ gây ra sao cho phù hợp với các mục tiêu và chínhsách môi trường mà họ đã thiết lập, cũng như phù hợp với mục tiêu, chínhsách môi trường của Nhà nước
Nhiều tổ chức đã tiến hành xem xét và đánh giá môi trường nhằm tựđánh giá kết quả hoạt động môi trường của chính mình Tuy nhiên, việclàm tự phát và đơn lẻ đó không đủ đảm bảo cho tổ chức có được sự côngnhận các kết quả một cách rộng rãi, cũng không bảo đảm rằng các kết quảcủa hoạt động môi trường của họ đã đảm bảo và đáp ứng được yêu cầu haychưa và liệu có còn tiếp tục phù hợp với các mục tiêu và chính sách môitrường nữa hay không Chính vì vậy phải xem xét các vấn đề môi trường
Trang 10theo hệ thống nhất định đã được tích hợp sẵn trong hệ thống quản lý chungcủa mỗi tổ chức.
Kiểm toán môi trường nói chung và kiểm toán hệ thống quản lý môitrường nói riêng là một công cụ quản lý mới được áp dụng ở nước ta trongmột vài năm gần đây Mặc dù không mang tính bắt buộc như các quy địnhluật pháp quốc gia về bảo vệ môi trường nhưng công cụ này với sự hỗ trợcủa bộ tiêu chuẩn ISO 14000 đã mang lại lợi ích không nhỏ, giúp các tổchức kiểm soát lĩnh vực môi trường cũng như những tác động đến môitrường của mình Trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng năm 2020 chỉ rõ: Định hướng đến năm 2020, 80% các
cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môitrường hoặc chứng chỉ ISO 14001 Điều này cho thấy việc thiết lập và duytrì hệ thống quản lý môi trường nội bộ phù hợp với tiêu chuẩn ISO 14000
và tuân thủ pháp luật quốc gia là rất cần thiết
Công ty Cổ phần thực phẩm - xuất khẩu Trung Sơn nằm trên địaphận thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, là công tychuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm thủy - hải sản (cá hồi, cuatuyết, bào ngư, ); được xây dựng năm 2003 và chính thức đi vào hoạtđộng từ năm 2008 Cũng như nhiều doanh nghiệp chuyên chế biến thựcphẩm quy mô lớn khác, công ty Trung Sơn đã xây dựng hệ thống quản lýmôi trường nội bộ và duy trì khá hiệu quả trong suốt thời gian qua Xuấtphát từ thực tế trên, nhằm đánh giá sự phù hợp của hệ thống quản lý môitrường nội bộ so với tiêu chuẩn ISO 14000 cũng như sự tuân thủ pháp luậtmôi trường của hệ thống này để từ đó xác định các cơ hội cải thiện, phát
huy tính hiệu quả tôi thực hiện đề tài: “Kiểm toán hệ thống quản lý môi trường của Công ty Cổ phần thực phẩm- xuất khẩu Trung Sơn- Hưng Yên”.
Trang 111.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được sự phù hợp của hệ thống quản lý môi trường củaCông ty Cổ phần thực phẩm Trung Sơn- Hưng Yên so với tiêu chuẩn hệthống quản lý môi trường được quy định trong ISO 14000;
Đánh giá khả năng đáp ứng của hệ thống quản lý môi trường củacông ty Trung Sơn với sự tuân thủ pháp luật của Nhà nước về môi trường;
Xác định cơ hội và khả năng cải thiện hệ thống quản lý môi trườngcủa công ty Trung Sơn
1.3 Yêu cầu nghiên cứu
Khảo sát thực tế toàn bộ công ty Cổ phần thực phẩm xuất khẩuTrung Sơn Hưng Yên, đặc biệt là các phân xưởng sản xuất, khu tập trung
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của kiểm toán môi trường
2.1.1 Các khái niệm chung về kiểm toán môi trường
2.1.1.1.Khái niệm về kiểm toán
Kiểm toán có nguồn gốc từ Latin là “Audit”, nguyên bản là
“Auditing”, xuất phát từ động từ trong tiếng Latin “Audive”, nghĩa là nghe.Trải qua thời gian dài phát triển thì ngày nay đã có rất nhiều các khái niệmkhác nhau về kiểm toán
Theo Liên đoàn kiểm toán quốc tế (International Federation of
Accountants - IFAC) thì: “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”.
Ở nước ta, Qui chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân(Ban hành theo Nghị định số 07/CP ngày 29/01/1994 của chính phủ) đã chỉ
rõ: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên
chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn hợp lý của các tài liệu, sổ kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơi vị này”.
Như vậy, ban đầu khái niệm kiểm toán chỉ bó hẹp trong lĩnh vực tàichính, sau này nó mới được mở rộng sang các lĩnh vực khác trong đó cómôi trường Hiểu một cách đơn giản, kiểm toán là một cuộc kiểm tra và ràsoát với sự tham gia của ba đối tượng (gồm chủ thể kiểm toán, đối tượngkiểm toán và khách hàng), và trải qua ba giai đoạn (đánh giá, kiểm tra vàchứng nhận kết quả)
2.1.1.2.Khái niệm về kiểm toán môi trường
Trang 13Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau vềkiểm toán môi trường Năm 1988, Viện thương mại Quốc tế (InternationalChamber of Commerce - ICC) đã đưa ra khái niệm ban đầu về kiểm toán
môi trường như sau: “Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lý bao
gồm sự ghi chép một cách khách quan, công khai công tác tổ chức môi trường, sự vận hành các thiết bị, cơ sở vật chất với mục đích quản lý môi trường bằng cách trợ giúp quản lý, kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ các chính sách của công ty bao gồm sự tuân thủ theo các tiêu chuẩn môi trường”.
Theo tiêu chuẩn ISO 14010 (1996) phần 3.9 thì kiểm toán môitrường được định nghĩa như sau:
“Kiểm toán môi trường là một quá trình thẩm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản, bao gồm việc thu thập và đánh giá một cách khách quan các bằng chứng nhằm xác định xem những hoạt động, sự kiện, điều kiện của hệ thống quản lý liên quan đến môi trường hay các thông tin
về những vấn đề đó có phù hợp với các tiêu chuẩn kiểm toán hay không và thông tin những kết quả của quá trình này cho khách hàng”.
Kiểm toán môi trường (Environmental Audit) là một khái niệm mới
ở nước ta, song thực chất nội dung của nó đã và đang được thực hiện ở các
cơ sở công nghiệp và các công ty dưới nhiều tên gọi khác nhau như: Ràsoát môi trường, tổng quan môi trường, kiểm soát môi trường, hay đánh giá
tác động môi trường (Trịnh Thị Thanh & Nguyễn Thị Hà, 2003).
Nhiều tác giả cũng đã đưa ra những khái niệm về thuật ngữ kiểmtoán môi trường Theo Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Thị Hà năm 2003 thì
kiểm toán môi trường được hiểu một cách khách quan là: “Tổng hợp các
hoạt động điều tra, theo dõi có hệ thống theo chu kỳ và đánh giá một cách khách quan đối với công tác tổ chức quản lý môi trường, quá trình vận hành công nghệ sản xuất, hiện trạng vận hành của trang thiết bị,…với mục
Trang 14đích kiểm soát các hoạt động và đánh giá sự tuân thủ của các đơn vị, các nguồn tạo ra chất thải đối với những chính sách của nhà nước
về môi trường”.
Còn theo Cục Bảo vệ môi trường năm 2003 định nghĩa thì kiểm toán
môi trường là: “công cụ quản lý bao gồm một quá trình đánh giá có tính
hệ thống, định kỳ và khách quan được văn bản hóa về việc làm thế nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý môi trường và trang thiết bị môi trường hoạt động tốt”.
Như vậy, đã có khá nhiều các định nghĩa khác nhau về kiểm toánmôi trường được đưa ra Trong các định nghĩa trên thì định nghĩa về kiểmtoán môi trường của Tổ chức ISO đưa ra trong phần 3.9 của tiêu chuẩn ISO
14010 năm 1996 được coi là đầy đủ và hoàn chỉnh nhất
2.1.1.3.Các thuật ngữ liên quan
Kiểm toán viên (Auditor) là người có năng lực để tiến hành một
cuộc kiểm toán (TCVN ISO 14012: 1997), bao gồm kiểm toán viên trưởng
và các thành viên đội kiểm toán
Kiểm toán viên trưởng (Leader of Audit team) là người đủ trình độ
để quản lý và thực hiện các cuộc kiểm toán môi trường (TCVN ISO 14012:
1997) Kiểm toán viên trưởng là người đứng đầu nhóm kiểm toán, chịu trách
nhiệm chính
Đối tượng kiểm toán (Auditee) là các hoạt động, sự kiện, điều kiện,
hệ thống quản lý môi trường cụ thể và thông tin về các vấn đề trên (TCVN
ISO 14010: 1997).
Bằng chứng kiểm toán là các thông tin được xác minh về số lượnghoặc chất lượng, các bản ghi hoặc tuyên bố về sự kiện dựa trên các cuộcphỏng vấn, thẩm tra tài liệu, quan sát các hoạt động và hoàn cảnh, các đođạc thực nghiệm hoặc các biện pháp khác nằm trong phạm vi kiểm toán
Trang 15 Phát hiện kiểm toán là kết quả của việc so sánh và đánh giá cácbằng chứng kiểm toán thu được với các chuẩn cứ kiểm toán đã định Các
phát hiện kiểm toán tạo cơ sở cho báo cáo kiểm toán (TCVN ISO 14010: 1997).
Kết luận kiểm toán là quan điểm hoặc sự phán xét chuyên môn củacác chuyên gia kiểm toán về đối tượng kiểm toán dựa trên và giới hạn ở các
suy luận từ các phát hiện kiểm toán (TCVN ISO 14010: 1997).
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của kiểm toán môi trường
Việc thực hiện công tác kiểm toán môi trường đem lại rất nhiều lợiích cho các nhà quản lý môi trường, cũng như các công ty, tổ chức sảnxuất Trong đó phải kể đến những lợi ích chính sau:
Bảo vệ môi trường và giúp đảm bảo sự tuân thủ các điều luật vềmôi trường
Nâng cao trình độ quản lý và nhận thức của công nhân tại các nhàmáy trong việc thi hành các chính sách môi trường, đem lại hiệu quả tốthơn trong quản lý tổng thể môi trường, nâng cao ý thức về môi trường cũngnhư trách nhiệm của công nhân trong lĩnh vực này
Đánh giá được hoạt động và chương trình đào tạo cán bộ, côngnhân viên của các nhà máy, cơ sở sản xuất về kiến thức môi trường
Thu thập được đầy đủ các thông tin về hiện trạng môi trường củanhà máy Căn cứ vào đó để cung cấp các thông tin, cơ sở dữ liệu trong cáctrường hợp khẩn cấp và ứng phó kịp thời
Đánh giá được mức độ phù hợp của các chính sách môi trường, cáchoạt động sản xuất nội bộ của nhà máy với các chính sách, thủ tục, luật lệbảo vệ môi trường của Nhà nước ở cả hiện tại và tương lai
Hỗ trợ việc trao đổi thông tin giữa các nhà máy, các cơ sở sản xuất
Chỉ ra các thiếu sót, các bộ phận quản lý yếu kém, từ đó đề ra cácbiện pháp cải thiện có hiệu quả để quản lý môi trường và sản xuất một cáchtốt hơn
Trang 16 Ngăn ngừa và tránh các nguy cơ, sự cố về môi trường ngắn hạncũng như dài hạn.
Nâng cao uy tín cho công ty, củng cố quan hệ của công ty với các
cơ quan hữu quan
Với vai trò hết sức to lớn như trên thì kiểm toán môi trường khôngchỉ đơn thuần là một công cụ quản lý môi trường mà nó còn là một lựachọn để phát triển, cũng như là một phương pháp đo đạc, tính toán, dự báotrước các tác động xấu đến môi trường
2.1.3 Phân loại kiểm toán môi trường
Kiểm toán môi trường đang ngày càng phát triển và bao trùm nhiềulĩnh vực, khía cạnh môi trường khác nhau dẫn tới nhiều loại, nhiều dạngkiểm toán môi trường Có rất nhiều cách để phân loại kiểm toán môitrường, sau đây là một số kiểu phân loại phổ biến nhất
Hình 2.1: Sơ đồ phân loại kiểm toán môi trường
Nguồn: Hồ Thị Lam Trà & Cao Trường Sơn, 2009 2.1.3.1 Phân loại theo chủ thể kiểm toán
Căn cứ vào chủ thể kiểm toán (tức người tiến hành cuộc kiểm toán)
Phân loạiKiểm toán môi trường
Chủ thể kiểm toán Đối tượng kiểm toán Mục đích kiểm toán
Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán độc lập
Kiểm toán nhà nước
Kiểm toán HTQLMTKiểm toán chất thảiKiểm toán năng lượngKiểm toán bất động sản
Kiểm toán pháp lýKiểm toán tổ chứcKiểm toán kỹ thuật
Trang 17* Kiểm toán nội bộ (Internal Audit)
Kiểm toán môi trường nội bộ là cuộc kiểm toán môi trường đượcthực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ của chính tổ chức đó Hay nói cáchkhác đây là việc một tổ chức tự đánh giá các hoạt động và việc thi hành cácquy định về môi trường của mình
* Kiểm toán độc lập (Independent Audit)
Kiểm toán môi trường độc lập là một cuộc kiểm toán môi trườngđược tiến hành bởi các kiểm toán viên độc lập thuộc các công ty, vănphòng kiểm toán chuyên nghiệp Đây là một loại hình hoạt động dịch vụ tưvấn được pháp luật thừa nhận hoặc bảo hộ, được quản lý chặt chẽ bởi cáchiệp hội chuyên ngành về kiểm toán môi trường Cuộc kiểm toán này diễn
ra tùy theo yêu cầu của công ty hoặc của một bên thứ ba gọi chung là kháchhàng đối với cơ quan kiểm toán
* Kiểm toán Nhà nước (National Audit)
Kiểm toán nhà nước về môi trường là một cuộc kiểm toán môitrường do các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước và cơ quan kiểmtoán nhà nước tiến hành theo luật định Kiểm toán nhà nước thường tiếnhành để đánh giá, kiểm tra sự tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chínhsách, luật lệ liên quan tới vấn đề môi trường của cơ quan, nhằm nâng caohiệu quả thi hành luật bảo vệ môi trường
2.1.3.2 Phân loại theo mục đích kiểm toán
Căn cứ theo các mục đích mà cuộc kiểm toán môi trường hướng tớikiểm toán môi trường được chia thành các dạng như sau:
* Kiểm toán pháp lý
Đây là một cuộc kiểm toán được thực hiện trên tầm vĩ mô nhằm xemxét, đánh giá các chính sách của Nhà nước về quyền sở hữu, sử dụng và
Trang 18bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xem xét các bộ luật, các văn bảnluật, các quy định về bảo vệ môi trường mà Nhà nước ban hành có phù hợp
và hiệu quả hay không
* Kiểm toán kỹ thuật môi trường
Đây là một cuộc kiểm toán môi trường nhằm đánh giá các trang thiết bị,máy móc của các dây truyền sản xuất, quá trình vận hành, hoạt động của chúng
Kiểm toán kỹ thuật môi trường là một loại hình kiểm toán phổ biến
và rộng rãi nhất, đặc biệt thường được sử dụng để kiểm toán cho các cơ sởsản xuất công nghiệp, chẳng hạn như kiểm toán chất thải rắn, kiểm toánchất thải khí
2.1.3.3 Phân loại theo đối tượng kiểm toán
Căn cứ vào các đối tượng của kiểm toán môi trường người ta có thểphân chia kiểm toán môi trường ra làm rất nhiều loại khác nhau, bởi lẽ đốitượng của kiểm toán môi trường rất đa dạng và phong phú Sau đây là mộtvài dạng kiểm toán môi trường thường gặp trong phân loại này:
* Kiểm toán hệ thống quản lý môi trường
Kiểm toán hệ thống quản lý môi trường là quá trình thẩm tra có hệthống và được ghi thành văn bản việc thu thập và đánh giá một cách kháchquan các bằng chứng nhằm xác định hệ thống quản lý môi trường của một
tổ chức có phù hợp với các tiêu chuẩn kiểm toán của các hệ thống quản lý
Trang 19môi trường hay không; đồng thời xác định xem hệ thống đó có có được thihành một có hiệu quả hay không và thông báo kết quả cho khách hàng.
* Kiểm toán chất thải
Kiểm toán chất thải là việc quan sát, đo đạc, ghi chép các số liệu, thuthập và phân tích các mẫu chất thải, nhằm ngăn ngừa việc phát sinh ra chấtthải, giảm thiểu và quay vòng chất thải Kiểm toán chất thải là bước đầutiên trong quá trình nhằm tối ưu hóa việc tận dụng triệt để tài nguyên vànâng cao hiệu quả sản xuất Đây là một loại kiểm toán môi trường phổ biến
và quan trọng nhất
* Kiểm toán năng lượng
Kiểm toán năng lượng là việc xem xét, kiểm tra, xác định mức độtiêu thụ năng lượng (điện, dầu, than, nước…) tại một nhà máy hay một cơ
sở sản xuất trong một giai đoạn cụ thể để đánh giá mức độ phù hợp giữacác thông tin về năng lượng có thể định lượng được với các chuẩn mức đãđược thiết lập
* Kiểm toán bất động sản:
Đây là quá trình có hệ thống được mô tả trong tiêu chuẩn Z768-94(Hiệp hội tiêu chuẩn Canada) Qua đó, người đánh giá tìm cách xác địnhxem một bất động sản nhất định có phải là đang hoặc sẽ bị ô nhiễm thực sựhoặc tiềm tàng hay không
2.1.4 Các bước thực hiện kiểm toán hệ thống quản lý môi trường
Quy trình kiểm toán hệ thống quản lý môi trường (HTQLMT) đượchướng dẫn cụ thể trong tiêu chuẩn ISO 14011: 1996 Theo đó, một cuộckiểm toán HTQLMT được tiến hành qua ba giai đoạn:
Chuẩn bị kiểm toán
Tiến hành kiểm toán
Báo cáo và hồ sơ kiểm toán
Những công việc cụ thể cần thực hiện đó là:
Trang 202.1.4.1 Chuẩn bị kiểm toán
Lập chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán cần phải thiết kế linh hoạt để có thể phù hợpvới những thay đổi dựa trên những thông tin thu được khi đánh giá, và chophép sử dụng hiệu quả nguồn lực Tùy theo điều kiện, chương trình kiểmtoán có thể bao gồm các vấn đề:
Mục đích và phạm vi kiểm toán;
Các chuẩn cứ kiểm toán;
Xác định các đơn vị tổ chức và đơn vị chức năng của bên đượckiểm toán sẽ kiểm toán;
Xác định những cá nhân trong tổ chức có trách nhiệm quan trọngtrực tiếp đến HTQLMT của bên được kiểm toán;
Xác định các yếu tố của HTQLMT của bên được kiểm toán cầnđược ưu tiên kiểm toán;
Thủ tục kiểm toán các yếu tố của HTQLMT của bên được kiểmtoán tương ứng với cơ cấu của bên được kiểm toán;
Ngôn ngữ kiểm toán;
Xác định các tài liệu tham khảo;
Địa điểm và thời gian dự kiến tiến hành kiểm toán;
Xác định các thành viên của đội kiểm toán;
Chương trình các cuộc họp cần tổ chức với lãnh đạo của bên đượckiểm toán;
Các yêu cầu bảo mật;
Nội dung báo cáo, phần mềm và cấu trúc, thời gian dự tính công bốbáo cáo kiểm toán;
Trang 21Chương trình kiểm toán cần được hoàn thành và thông báo chokhách hàng, các chuyên gia kiểm toán và bên được kiểm toán trước khithực hiện kiểm toán tại hiện trường.
Phân công nhiệm vụ trong đội kiểm toán
Xem xét tài liệu làm việc
Để tiến hành một cuộc kiểm toán, các chuyên gia kiểm toán cần phảinghiên cứu các tài liệu như: Mẫu để thảo các phát hiện khi kiểm toán vàchứng cứ hỗ trợ; các thủ tục và phiếu kiểm tra dùng để kiểm toán các yếu
tố của HTQLMT; hồ sơ các cuộc họp, Các tài liệu làm việc phải được lưugiữ đến khi cuộc kiểm toán kết thúc
2.1.4.2 Tiến hành kiểm toán
Phiên họp mở đầu
Phiên họp mở đầu là cuộc họp đầu tiên của đội kiểm toán với cácthành viên của địa điểm được kiểm toán Phiên họp mở đầu cần được tiếnhành ngay khi xuống cơ sở nhằm mục đích:
Giới thiệu các thành viên của đội kiểm toán với lãnh đạo bên đượckiểm toán
Xem xét phạm vi, đối tượng và chương trình kiểm toán, thống nhấtthời gian tiến hành
Cung cấp tóm tắt các phương pháp và thủ tục tiến hành kiểm toán
Thiết lập các mối thông tin chính thức giữa đội kiểm toán và bênđược kiểm toán
Khẳng định nguồn lực và các phương tiện cần cho đội kiểm toán đã
có sẵn
Định ngày giờ cho phiên họp kết thúc
Thúc đẩy bên được đánh giá tham gia tích cực vào cuộc kiểm toán
Xem xét địa điểm an toàn và quy trình cấp cứu cho đội kiểm toán
Trang 22Thu thập các chứng cứ kiểm toán
Phải thu thập đầy đủ các chứng cứ kiểm toán để có thể xác định xemHTQLMT của bên được kiểm toán có phù hợp với các chuẩn cứ kiểm toánhay không Các chứng cứ kiểm toán phải được thu thập thông qua phỏngvấn, kiểm tra tài liệu và quan sát các hoạt động, điều kiện thực tế Nhữngđiểm không phù hợp với chuẩn cứ kiểm toán HTQLMT phải được lập hồ sơ
Phát hiện khi kiểm toán
Đội kiểm toán cần phải xem xét tất cả các chứng cứ kiểm toán cóđược để xác định điểm nào của HTQLMT không phù hợp với các chuẩn cứđánh giá HTQLMT Đội kiểm toán sau đó phải lập thành văn bản các pháthiện khi đánh giá sự không phù hợp, một cách rõ ràng, ngắn gọn và kèm cácchứng cứ kiểm toán
Các phát hiện kiểm toán phải được xem xét lại cùng với lãnh đạo cótrách nhiệm của bên được kiểm toán để đạt được sự xác nhận về cơ sở thực
tế của các kết quả về sự không phù hợp
Phiên họp kết thúc
Sau khi hoàn thiện các bước thu thập chứng cứ và chuẩn bị báo cáokiểm toán, đội kiểm toán tổ chức phiên họp với lãnh đạo của bên đượckiểm toán, trình bày các phát hiện kiểm toán cho bên được kiểm toán saocho họ thông hiểu và xác nhận cơ sở thực tế của các phát hiện
2.1.4.3 Báo cáo và hồ sơ kiểm toán
Chuẩn bị báo cáo kiểm toán
Những nội dung cần có trong báo cáo phải là những phần đã đượcquy định trước trong chương trình kiểm toán
Nội dung báo cáo
Báo cáo kiểm toán bao gồm các phát hiện kiểm toán hoặc tóm tắtphát hiện có trích dẫn các chứng cứ hỗ trợ Các mục trong báo cáo cần có
Trang 23sự nhất trí giữa kiểm toán viên trưởng và khách hàng, trong đó có các phầnchính sau:
Giới thiệu (Introduction): Giới thiệu qua về cuộc kiểm toán và địađiểm kiểm toán
Quy mô cuộc kiểm toán (Audit scope): Chỉ rõ mục tiêu, phạm vi,giới hạn của cuộc kiểm toán
Phương pháp và cách tiếp cận (Approach & Methodology): Cácphương pháp kiểm toán được áp dụng và cách tiếp cận vấn đề của cuộckiểm toán
Các phát hiện kiểm toán (Audit findings): Đưa ra các bằng chứngkiểm toán, các phát hiện kiểm toán quan trọng nhất
Các đề xuất (Recommendations): Đưa ra các giải pháp đề xuất đểcải thiện nhứng hạn chế tồn tại trong HTQLMT của đối tượng bị kiểm toán
Kết luận (conclusion): Đưa ra các kết luận cuối cùng của cuộc kiểmtoán (như sự phù hợp của HTQLMT với các chuẩn cứ kiểm toán, hệ thống
có được sử dụng và duy trì đúng đắn hay không, quá trình xem xét quản lýnội bộ có đảm bảo HTQLMT liên tục phù hợp và hiệu quả hay không)
Phân phối báo cáo kiểm toán
Lưu trữ bảo vệ tài liệu
Quá trình kiểm toán kết thúc khi tất cả các hoạt động kiểm toán trongchương trình kiểm toán được kết luận
2.2 Cơ sở thực tiễn của kiểm toán môi trường
2.2.1 Tình hình thực hiện kiểm toán môi trường trên thế giới
2.2.1.1 Sự ra đời của kiểm toán môi trường
Kiểm toán môi trường (KTMT) có nguồn gốc từ khu vực Bắc Mỹvào những năm 70 của thế kỷ XX Đây là giai đoạn mà nền công nghiệp vàkinh tế của khu vực Bắc Mỹ phát triển mạnh mẽ, các loại chất thải, nướcthải, khí thải phát sinh từ các hoạt động công nghiệp và các hoạt động kinh
Trang 24tế khác đã làm ảnh hưởng xấu tới môi trường, sự ô nhiễm môi trường lan rộng
và trở nên nghiêm trọng (Hồ Thị Lam Trà & Cao Trường Sơn,2009).
Trước các vấn đề bức xúc về môi trường thì hàng loạt các công cụluật pháp, kinh tế đã được đưa ra nhằm quản lý tốt môi trường và bắt buộccác tổ chức, nhà máy, cơ sở sản xuất phải tuân theo Trong bối cảnh đó thìKTMT đã được ra đời và được xem như là một công cụ quản lý sắc bén vàhiệu quả
KTMT là một công cụ quản lý giúp cho các nhà quản lý nhận thức rõnhững vấn đề môi trường đang xảy ra tại những nơi cần quan tâm, trên cơ
sở đó đề ra các biện pháp ngăn ngừa và cải thiện môi trường một cách có
hiệu quả (Phạm Thị Việt Anh, 2006).
KTMT được tiến hành nhằm mục đích kiểm tra và đánh giá sự tuânthủ của các cơ sở sản xuất đối với các luật lệ và quy định khắt khe của môitrường Ban đầu thì KTMT chỉ tập trung vào nhiệm vụ trên, tuy nhiên cùngvới thời gian và yêu cầu thực tế thì KTMT ngày càng được mở rộng và baotrùm nhiều khía cạnh hơn
KTMT thực sự phát triển mạnh mẽ vào những năm 80 của thế kỷ XX
ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, ngày nay thì nó đã được phát triển rộngrãi trên quy mô toàn cầu Mỹ, Canada, Anh là những nước đầu tiên thựchiện hoạt động kiểm toán có hiệu quả và thành công Các nước này cũng cónhững cơ quan tiến hành hoạt động KTMT chuyên nghiệp nhất với nhữngluật sư, chuyên gia đầy kinh nghiệm, có uy tín, được cấp chứng chỉ chứng
nhận đạt tiêu chuẩn kiểm toán viên môi trường (Hồ Thị Lam Trà & Cao
Trường Sơn,2009).
Ngày nay, khi mà vần đề môi trường ngày càng trở nên phức tạp vàmang tính chất toàn cầu thì càng có nhiều các quốc gia trên thế giới sửdụng KTMT trong việc bảo vệ môi trường Đây là một xu hướng phát triển
Trang 252.2.1.2 Tình hình kiểm toán môi trường tại một số nước
Kiểm toán môi trường tại Mỹ
KTMT được bắt đầu thực hiện ở Mỹ vào đầu năm 1970 với ngànhcông nghiệp hóa chất - ngành đầu tiên áp dụng hoạt động này trong lĩnhvực tư nhân
Cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 các tổ chức chínhphủ, các cố vấn môi trường và những người làm luật tại Mỹ cũng bắt đầuthừa nhận hiệu quả của các chương trình KTMT Ủy ban An ninh và Thịtrường là cơ quan Nhà nước đầu tiên ở Mỹ sử dụng KTMT như một công
cụ quản lý Chính cơ quan này đã buộc ba công ty nhà nước là US Steel,Allied Chemical và Occidental Petroleum phải tiến hành KTMT nội bộnhằm đánh giá môi trường tự nhiên và các trách nhiệm về môi trường của
công ty để công bố cho các cổ đông trong những báo cáo hàng năm (Hồ
Thị Lam Trà & Cao Trường Sơn, 2009).
Với các bộ luật “Bảo vệ và Phục hồi tài nguyên” năm 1976 , bộ luật
“Trách nhiệm, bồi thường và ứng phó môi trường” năm 1980, Cục Bảo vệmôi trường Mỹ đã nhấn mạnh vai trò thực hiện các chương trình KTMTnội bộ tại các cơ sở sản xuất; sử dụng KTMT nội bộ như một công cụ đểgiảm chi phí và trách nhiệm pháp luật với việc không tuân thủ các quy định
về bảo vệ môi trường của Nhà nước Như vậy, KTMT đã được thừa nhận
và đạt được các thành công trong cả lĩnh vực tư nhân và lĩnh vực công tại
Mỹ (Hồ Thị Lam Trà & Cao Trường Sơn, 2009).
Hiện nay, hoạt động KTMT ở Mỹ không chỉ dừng lại ở phạm vitrong nước mà còn được thực hiện trên phạm vi quốc tế Các lĩnh vựcKTMT cụ thể bao gồm: Kiểm toán quản lý môi trường, Đánh giá cơ hộiphòng ngừa ô nhiễm; các tiêu chuẩn kiểm toán và các cơ quan kiểm toánchuyên nghiệp được hình thành
Trang 26Kiểm toán môi trường tại châu Âu
KTMT du nhập vào Châu Âu từ Bắc Mỹ vào những năm 70 của thế
kỉ XIX và phát triển mạnh mẽ trong những năm 1980 Tháng 4 năm 1995,Chương trình kiểm toán và quản lý sinh thái (EMAS) được thiết lập, pháttriển mạnh và ngày càng trở nên có hiệu lực Việc tham gia EMAS chủ yếudựa trên sự tự nguyện, tuy nhiên yêu cầu chung là các nhà sản xuất đăng kíthực hiện EMAS phải tự cam kết thực hiện KTMT và lập báo cáo môitrường định kỳ, các cuộc kiểm toán này phải do các kiểm toán viên độc lập
từ bên ngoài thực hiện Hai năm sau khi công bố EMAS đã có 381 công ty
ở Châu Âu đăng ký tham gia chương trình này, trong đó có 293 công ty của
Đức (Phạm Thị Việt Anh, 2006).
Việc thiết lập HTQLMT là một chức năng xuyên suốt doanh nghiệpngày càng được coi là một điều bắt buộc KTMT là một yếu tố quan trọngcủa hệ thống quản lý này Điều đó được thẻ hiện bằng Quy chế số 1836/93của Hội đồng Liên minh châu Âu Về sự tham gia tự nguyện của các công– thương doanh nghiệp vào hệ thống cộng đồng về quản lý môi trường,được gọi ngắn gọn là Quy chế kiểm toán môi trường Quy chế EU số1836/93 (Quy chế Kiểm toán môi trường) đã được áp dụng thành luật quốcgia ở Đức vào năm 1995 Cốt lõi của quy chế này là sự kiểm toán thườngxuyên công tác quản lý bảo vệ môi trường doanh nghiệp thông qua phảnbiện viên hợp lệ và việc đăng kí cũng như thông báo lời tuyên bố về quyềnđược sử dụng mang tính chất hành nghề nhãn hiệu môi trường châu Âu.Mục tiêu của quy chế là khuyến khích tinh thần tự nhận trách nhiệm và xâydựng một hệ thống kiểm toán nhằm đánh giá và cải tiến liên tục công tác
bảo vệ môi trường doanh nghiệp (Manfred Schreinner, 2002).
Bỉ là thành viên của Cộng đồng Châu Âu (EU) nên phải tuân thủnhững quy định về môi trường do EU ban hành, trong đó có Chương trình
Trang 27150 doanh nghiệp ở các tỉnh thuộc vùng Flanders của Bỉ tham gia thực hiệnEMAS và sau đó là 22 doanh nghiệp khác Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp đã
tự nguyện áp dụng các quy trình này không chỉ với mục đích để đạt được
các chứng chỉ môi trường (Nguyễn Trung Thắng, Nguyễn Ngọc Tú, 2011).
Ngoài ra, KTMT của Châu Âu cũng được hỗ trợ bởi hệ thống ISO
9000 và ISO 14000
Kiểm toán môi trường tại Anh
KTMT du nhập vào Anh qua các công ty đa quốc gia vào những năm
70 của thế kỷ XIX KTMT ở Anh đã được thực hiện ở hầu hết các ngànhcông nghiệp từ những năm 1990 – trước dự án về kiểm toán và quản lý sinhthái (EMAS) do liên minh Châu Âu khởi xướng và có hiệu lực vào tháng4/1995 – và ngày càng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp,
thương mại (Hồ Thị Lam Trà & Cao Trường Sơn, 2009)
Năm 1994, Hiệp hội Công nghiệp Anh (CBI – Confederation ofBiritish Idustry) đã xuất bản tài liệu hướng dẫn kiểm toán môi trường chohoạt động thương mại nhằm thu hẹp các lỗ hổng trong hệ thống quản lýmôi trường của các ngành sản xuất công nghiệp Cũng trong năm này, ViệnTiêu chuẩn Anh quốc đã công bố Bộ Tiêu chuẩn BS7750, mô tả chi tiết cácđặc điểm của hệ thống quản lý môi trường, nhiều nội dung trong bộ tiêuchuẩn này là cơ sở quan trọng cho hoạt động kiểm toán của quốc gia này.Đây được coi là tiêu chuẩn đầu tiên cho HTQLMT Năm 1995, Chính phủAnh đã công bố Hệ thống Kiểm toán và Quản lý sinh thái Vương quốc Anh
(UK – EMAS) áp dụng cho các lĩnh vực công (Phạm Đức Hiếu & Đặng
Thị Hòa, 2009).
Ngày nay kiểm toán môi trường được thực hiện mạnh mẽ và đóngvai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuấtkinh doanh tại Anh quốc Hiệp hội Công nghiệp Anh quốc (CBI) đã kêugọi tất cả các công ty thuộc liên hiệp Anh thực hiện KTMT Để thực hiện
Trang 28KTMT, trung tâm về môi trường và kinh doanh của Anh (CEBIS – Centrefor Environment and Business in Scoland) đã có những hướng dẫn cụ thể
về KTMT, bao gồm: Định nghĩa và giới thiệu tổng quan, Quy trình KTMT,Nội dung KTMT, Một số loại KTMT chủ yếu
Theo số liệu điều tra của Hiệp hội Công nghiệp Anh quốc (CBI) vàTrung tâm về môi trường và kinh doanh của Anh (CEBIS), KTMT đã giúpcho các doanh nghiệp và các lĩnh vực trong nền kinh tế thu được những kếtquả đáng lưu tâm Bảng sau đây trình bày số liệu về chi phí tiết kiệm hàngnăm ở một số doanh nghiệp và tổ chức là kết quả của KTMT
Bảng 2.1: Lợi ích kinh tế do KTMT đem lại tại một số lĩnh vực ở Anh
quốc Lĩnh vực Biện pháp thực hiện sau
200.000 10 tháng
Công cộng Sản xuất điện từ rác thải 70.000 2 năm
Nguồn: Phạm Đức Hiếu & Đặng Thị Hòa, 2009
Kiểm toán môi trường tại một số nước châu Á
KTMT được du nhập vào châu Á khá chậm so với các nước Châu
Âu, nhưng một số quốc gia ở châu Á cũng đã đưa hoạt động KTMT vàotrong HTQLMT của mình
Tại Ấn Độ, hoạt động KTMT được đưa vào HTQLMT quốc gia từnhững năm 1990 Năm 1993, Ủy ban Năng suất quốc gia Ấn Độ thực hiện
Trang 29dự án “Trình diễn giảm chất thải tại các ngành công nghiệp nhỏ”, trongkhuôn khổ dự án quy trình DESIRE (Desmontration in Small Industries ofReducing Waste) được thiết lập để tiến hành kiểm toán chất thải Quy trìnhkiểm toán chất thải này sau đó đã được phát triển và áp dụng rộng rãi, đem
lại các hiệu quả cao (Hồ Thị Lam Trà & Cao Trường Sơn, 2009).
Tại Indonexia đã ứng dụng khá hiệu quả hoạt động KTMT trongHTQLMT Để quản lý chất lượng nước tại các lưu vực sông trong phạm vitoàn quốc, Chính phủ Indonexia đã yêu cầu các nhà máy dọc trên các bờsông phải nộp báo cáo quan trắc chất thải định kỳ Điều đáng chú ý là cácbáo cáo quan trắc này phải được các nhà KTMT kiểm tra và xác nhận Cơquan bảo vệ môi trường của Indonexia sẽ tiến hành lập sổ đen với nhữngnhà KTMT không trung thực và không cho họ tiếp tục làm việc Những saisót của báo cáo quan trắc chất thải sẽ được phát hiện khi cơ quan quản lý
môi trường tiến hành thanh tra ngẫu nhiên và bất ngờ (Hồ Thị Lam Trà &
Cao Trường Sơn, 2009).
2.2.2 Tình hình thực hiện kiểm toán môi trường tại Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán môi trường (KTMT) vẫn còn làmột khái niệm mới và chưa được hiểu đúng nghĩa Nguyên nhân là do luậtpháp bảo vệ môi trường nước ta chưa có những quy định về KTMT, hơnnữa thuật ngữ “Environmental Audit” bị dịch không sát nghĩa thành “Đánhgiá môi trường”
Khi nhắc tới KTMT người ta thường liên tưởng tới lĩnh vực kiểmtoán tài chính Nước ta đã có Luật Kiểm toán nhưng đối tượng của bộ luậtnày chỉ là những báo cáo tài chính, các hoạt động có sử dụng nguồn kinhphí của nhà nước Các nội dung của KTMT đã và đang được thực hiện ở
các cơ sở công nghiệp và các công ty dưới nhiều tên gọi khác nhau (Trịnh
Thị Thanh & Nguyễn Thị Hà, 2003) như: Rà soát môi trường, Tổng quan
môi trường, Kiểm toán môi trường hay Đánh giá tác động môi trường
Trang 30GS Lê Văn Khoa khi phân tích HTQLMT trên thế giới và ở ViệtNam cũng đã chỉ rõ sự khác biệt là trên thế giới các hoạt động KTMT là bộphận cuối cùng của HTQLMT, trong khi đó ở nước ta hoạt động KTMTđược thay thế bằng các hoạt động thanh kiểm tra Tuy nhiên nhờ có sự hợptác quốc tế mà hoạt động KTMT được thực hiện và hiểu biết nhiều hơn ởnước ta Một số dự án quốc tế đã mở các lớp tập huấn về HTQLMT,KTMT, các hoạt động trình diễn công nghiệp như: Dự án môi trường ViệtNam – Canada (1997); khóa đào tạo về hệ thống quản lý môi trường và cáccông cụ hỗ trợ do giảng viên Hy Lạp trình bày ở Tổng cục Đo lường chấtlượng (1999), Những hoạt động này đã giúp cho những nghiên cứu vềmôi trường Việt Nam và những lĩnh vực có liên quan có thêm những kiến
thức mới và cách tiếp cận trong lĩnh vực này (Phạm Thị Việt Anh, 2006).
Hiện nay KTMT ở Việt Nam chủ yếu dừng lại ở vấn đề kiểm toánchất thải công nghiệp mà chưa tiếp cận các mục tiêu kiểm toán khác đãđược thực hiện trên thế giới như kiểm toán HTQLMT, kiểm toán cácchương trình quan trắc, kiểm toán các tác động môi trường, Kiểm toánchất thải công nghiệp ở nước ta có thể kể tới như: Nhà máy giấy Vạn Điểm,Nhà máy hóa chất Việt Trì, Nhà máy bia Đông Nam Á, Mặc dù cácnghiên cứu ban đầu đã thu được một số kết quả nhất định như là cải thiệnđược môi trường một cách kinh tế và hữu hiệu thông qua việc quản lý bằngkhu vực sản xuất trên cơ sở nâng cao ý thức của cán bộ, công nhân trongcác cơ sở sản xuất; nhưng quá trình kiểm toán không tránh khỏi những khókhăn, hạn chế Nguyên nhân là do các cơ sở này đã cũ, không có đủ số liệuquan trắc liên tục làm ảnh hưởng đến quá trình phân tích đánh giá Mặtkhác, do thiếu quy chế về kiểm toán môi trường nên các số liệu thu được
cũng chưa đảm bảo độ tin cậy (Phạm Thị Việt Anh, 2006).
Trong những năm gần đây, do các quy định pháp luật về bảo vệ môi
Trang 31công ty sản xuất công nghiệp chú trọng tới việc bảo vệ môi trường trongcác hoạt động của mình Hệ thống ISO 14000 về HTQLMT ngày càngđược nhiều các cơ sở sản xuất, kinh doanh đăng ký áp dụng Trong quyđịnh của bộ ISO này thì các công ty, nhà máy tham gia buộc phải tiến hànhKTMT nội bộ HTQLMT của họ Đây là cơ hội để cho hệ thống KTMTphát triển ở nước ta trong thời gian tới.
Việc đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về KTMT ởnước ta cũng góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết của mọi người vềlĩnh vực này Một số trường đại học như: Đại học Khoa học tự nhiên HàNội, Đại học Mỏ Địa chất, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã đưa mônhọc Kiểm toán môi trường vào trong chương trình đào tạo cho sinh viênngành môi trường Trung tâm Công nghệ môi trường thuộc trường Đại họcBách khoa Hà Nội đã triển khai hướng nghiên cứu mới: Thử nghiệm kiểm
toán HTQLMT cho các nhà máy công nghiệp (Phạm Thị Việt Anh, 2006).
Sự hỗ trợ của tiêu chuẩn quốc tế ISO 14000 (hay Tiêu chuẩn Việt NamTCVN 14000) quy định về hệ thống KTMT, trong đó có các quy định vềKTMT; cùng với sự vào cuộc của các trường đại học, nhà nghiên cứu hứahẹn trong tương lai gần kiểm toán môi trường sẽ trở thành một công cụquản lý môi trường hữu hiệu và phổ biến ở nước ta
2.3 Cơ sở pháp lý của kiểm toán môi trường
Theo Điều 1 Khoản 3 Quy chế EU 1836/93 “ các quy định pháp lýcủa cộng đồng hay của từng quốc gia hoặc các tiêu chuẩn kỹ thuật cho việckiểm tra môi trường cũng như các nghĩa vụ của doanh nghiệp từ quy địnhpháp lý này và từ các tiêu chuẩn này ” sẽ không bị hệ thống chung của cộngđồng đụng chạm đến Căn cứ vào “điều khoản loại trừ” này thì phải đưa cácyêu cầu pháp lý hiện hành của Nhà nước vào quá trình xây dựng và vận hành
HTQLMT (Manfred Schreinner, 2002).
Trang 322.3.1 Hệ thống ISO và TCVN về kiểm toán môi trường
2.3.1.1 Giới thiệu ISO
ISO là tên viết tắt của Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa(International Organization for Standarddization), được thành lập vào năm
1946 và chính thức hoạt động vào ngày 23/2/1947 nhằm mục đích xâydựng các tiêu chuẩn về sản xuất, thương mại và thông tin ISO có trụ sở ởGevena (Thụy Sĩ) và là một tổ chức Quốc tế chuyên ngành có các thành
viên là các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia của hơn 120 nước (ISO Central
Secretariat, 2009) Mục đích của tiêu chuẩn ISO là tạo điều kiện cho các
hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên toàn cầu trở nên dễ dàng, tiệnlợi hơn và đạt được hiệu quả Tất cả các tiêu chuẩn do ISO đặt ra đều cótính chất tự nguyện
2.3.1.2 Hệ thống ISO 14000 và các tiêu chuẩn ISO liên quan đến KTMT
Hệ thống ISO 14000
Mục đích tổng thể của tiêu chuẩn quốc tế này là hỗ trợ trong việc bảo
vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm đáp ứng với yêu cầu của kinh tế, xã hội
Mục đích cơ bản của ISO 14000 là hỗ trợ các tổ chức trong việcphòng tránh các ảnh hưởng môi trường phát sinh từ hoạt động, sản phẩmhoặc dịch vụ của tổ chức đó Hơn nữa, tổ chức thực hiện ISO 14000 có thểđảm bảo rằng các hoạt động môi trường của mình đáp ứng và sẽ tiếp tụcđáp ứng với các yêu cầu luật pháp
Phạm vi điều chỉnh của bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là những tiêu chuẩntrong lĩnh vực thiết bị và hệ thống quản lý môi trường
Tiêu chuẩn ISO 14001
ISO 14001 được ban hành lần đầu tiên vào năm 1996, sau đó đượcsửa đổi, bổ sung và ban hành lần thứ 2 vào năm 2004, lần thứ 3 vào năm
2009 chỉ bổ sung phụ lục ISO 14000:2004 Hệ thống quản lý môi trường –
Trang 33định các yêu cầu về quản lý và các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường trongquá trình hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp Đây là tiêu chuẩn dùng đểxây dựng và chứng nhận HTQLMT theo ISO 14000 Tại Việt Nam, tiêuchuẩn ISO 14001 đã được ban hành phiên bản mới TCVN ISO 14001:
2010, gồm ba nội dung chính: Phạm vi áp dụng, Các khái niệm và thuậtngữ, Yêu cầu của HTQLMT
HTQLMT theo tiêu chuẩn ISO 14001 được hiểu là một phần của hệthống quản lý chung, một tập hợp gồm có chính sách, mục tiêu, kế hoạch,các chuẩn mực để thực hiện, con người, cơ sở vật chất để tạo ra sản phẩm
và đạt được các chính sách, mục tiêu và chuẩn mực đó Phần A - Phụ lục 1Quy chế Liên minh châu Âu số 1836/93 của Hội đồng châu Âu đã chỉ rõ 6yếu tố của một HTQLMT bao gồm: Chính sách môi trường, mục tiêu môitrường, chương trình môi trường; Tổ chức và nhân sự; Tác động đến môitrường; Kiểm tra cơ sở và kiểm tra tiến trình; Quản lý môi trường – tư liệu,
Kiểm toán doanh nghiệp về môi trường (Manfred Schreinner, 2002) Do
đó, để xây dựng một HTQLMT đạt tiêu chuẩn phải được triển khai qua 5bước quy định rất rõ trong ISO 14001, đó là:
Xây dựng chính sách môi trường
Lập kế hoạch về quản lý môi trường
Thực hiện và điều hành
Kiểm tra và hành động khắc phục
Xem xét của lãnh đạo
Trong quá trình hội nhập tiêu chuẩn ISO 14001 rất cần thiết, chứngnhận đạt tiêu chuẩn quốc tế là cơ hội để vượt qua rào cản kỹ thuật trongthương mại, cơ hội cho quảng bá Tiêu chuẩn mang lại các lợi ích:
Về thị trường: Nâng cao uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp vớikhách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
Trang 34 Về kinh tế: Giảm thiểu mức sử dụng tài nguyên và nguyên liệu đầuvào, năng lượng, giảm thiểu lượng rác thải tạo ra và chi phí xử lý, tránh cáckhoản tiền phạt về vi phạm yêu cầu pháp luật về môi trường
Về quản lý rủi ro: đề phòng các rủi ro và hạn chế thiệt hại do rủi rogây ra
Chính vì những lợi ích trên, ISO 14001 là một công cụ đắc lực cho hoạtđộng kiểm toán môi trường nói chung và kiểm toán HTQLMT nói riêng
Ngoài ra để tiến hành kiểm toán HTQLMT cần có sự hỗ trợ của hệ thốngISO về kiểm toán môi trường, bao gồm: ISO 14010 Hướng dẫn KTMT – Cácnguyên tắc chung; ISO 14011 Hướng dẫn KTMT – Thủ tục Kiểm toán Kiểmtoán HTQLMT; ISO 14012 Hướng dẫn KTMT – Chuẩn cứ trình độ đối vớikiểm toán viên
2.3.1.3 Hiện trạng áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001
Trên thế giới:
Nguồn: http://www.iso.org
Hình 2.2: Số lượng chứng chỉ ISO 14001 được cấp trên
thế giới qua các năm
Trang 35Theo Báo cáo thống kê của Tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế - ISOcông bố cho thấy số chứng chỉ ISO 14001 được cấp cho các tổ chức, doanhnghiệp đạt tiêu chuẩn liên tục tăng qua các năm Năm 2009, có ít nhất223.149 chứng chỉ ISO 14001: 2004 được cấp ở 159 quốc gia và nền kinh
tế Đến năm 2012, có ít nhất 285.844 chứng chỉ ISO 14001:2004 đã đượcphát hành ở 167 quốc gia, tăng 9% (23.887) so với năm 2011 Những nước
có số chứng chỉ ISO 14001 cao nhất là Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Ban
Nha (Trung tâm Năng suất Việt Nam,2011 & Trung tâm Chứng nhận Phù
hợp (QUACERT),2013)
Tại Việt Nam
Chứng chỉ ISO 14001 đã được cấp lần đầu tiên vào năm 1998, và từ
đó đến nay số lượng áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 và đạt chứng chỉ khôngngừng tăng lên Cụ thể qua biểu đồ sau:
Nguồn: http://www.vinacert.vn
Hình 2.3 Số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng
nhận ISO 14001 từ năm 1999- 2009
Thời gian đầu, các công ty tại Việt Nam áp dụng ISO 14001 hầu hết
là các công ty nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, đặc biệt là vớiNhật Bản Hiện có rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động kinh
Trang 36doanh tại Việt Nam, có thể kể đến một số tập đoàn lớn như Honda, Toyota,Panasonic, Canon, Yamaha…Hầu hết công ty mẹ của các tổ chức này đều
đã áp dụng ISO 14001 và họ yêu cầu các công ty con tại các quốc gia đềuphải xây dựng và áp dụng ISO 14001 Bởi vậy, các doanh nghiệp này cũng
đã góp phần rất lớn trong việc xây dựng trào lưu áp dụng ISO 14001 tạiViệt Nam Trào lưu này cũng là điều kiện thuận lợi để hoạt động KTMTngày càng được chú trọng hơn Tuy nhiên, hạn chế về mặt dịch thuật làmthuật ngữ “Environmental Audit” bị dịch không sát nghĩa thành “Đánh giámôi trường” đã làm cho khái niệm KTMT chưa được hiểu rõ, phần nào ảnhhưởng đến hoạt động KTMT theo tiêu chuẩn TCVN ISO về KTMT hiện hành
2.3.2 Các quy định luật pháp về bảo vệ môi trường
Hiện nay nước ta đã ban hành Bộ luật Kiểm toán nhưng đối tượng ápdụng của bộ luật này chỉ gói gọn trong lĩnh vực tài chính Các nội dung quyđịnh về kiểm toán môi trường chưa được quy định trong một bộ luật cụ thểnào Hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường ở nước ta đã được hìnhthành khá đầy đủ và ngày càng hoàn thiện đây là những căn cứ quan trọng
để thực hiện các nội dung kiểm toán môi trường
Luật Bảo vệ môi trường 2005
Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29tháng 11 năm 2005 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006bao gồm 15 chương, 136 điều Trong đó, tại Chương V – Bảo vệ môitrường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, Điều 37 quy định rõviệc bảo vệ môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Cụ thể,
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệmôi trường sau đây:
Có hệ thống kết cấu hạ tầng thu gom và xử lý nước thải đạt tiêuchuẩn môi trường Trường hợp nước thải được chuyển về hệ thống xử lý
Trang 37nước thải tập trung thì phải tuân thủ các quy định của tổ chức quản lý hệthống xử lý nước thải tập trung;
Có đủ phương tiện, thiết bị thu gom, lưu giữ chất thải rắn và phảithực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn;
Có biện pháp giảm thiểu và xử lý bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn trướckhi thải ra môi trường; bảo đảm không để rò rỉ, phát tán khí thải, hơi, khíđộc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, phát sáng, phát nhiệt gây ảnhhưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao động;
Bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa vàứng phó sự cố môi trường, đặc biệt là đối với cơ sở sản xuất có sử dụng hoáchất, chất phóng xạ, chất dễ gây cháy, nổ
Luật Bảo vệ môi trường 2005 là văn bản luật quan trọng nhất củaNhà nước ta trong lĩnh vực quản lý môi trường Kể từ khi Việt Nam banhành Luật Môi trường lần đầu vào năm 1993 và Luật Bảo vệ môi trườngsửa đổi vào năm 2005, công tác quản lý và bảo vệ môi trường đã có nhữngbước tiến đáng kể, đặc biệt là nhận thức của cộng đồng xã hội, cộng đồngdoanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường sống, môi trường làm việc vàmôi trường kinh doanh
Các văn bản dưới luật
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hànhLuật Bảo vệ môi trường năm 2005
Nghị định số 81/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực bảo vệ môi trường
Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phíbảo vệ môi trường đối với nước thải
Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08 tháng 1 năm 2007 của Chínhphủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP
Trang 38ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối vớinước thải.
Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý vi phạmpháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của
Bộ TNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại
Hệ thống tiêu chuẩn/ quy chuẩn môi trường
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chấtlượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của các chất ô nhiễm trongchất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để
quản lý và bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường, 2005 Điều 3.5).
Hệ thống các tiêu chuẩn môi trường quốc gia là những căn cứ quantrọng cho các hoạt động KTMT đặc biệt là lĩnh vực kiểm toán chất thải vàkiểm toán sự tuân thủ của các cơ sở sản xuất trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Một số Quy chuẩn môi trường được áp dụng trong phạm vi đề tài:
QCVN 11: 2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nướcthải công nghiệp chế biến thủy sản;
QCVN 05: 2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chấtlượng không khí xung quanh;
QCVN 26: 2010/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
Trang 39Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống quản lý môi trường của Công ty Cổ phần thực phẩm – xuấtkhẩu Trung Sơn – Hưng Yên
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tại Công ty CP thực phẩm – xuất khẩu TrungSơn, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Phạm vi thời gian: 4 tháng (từ 1/1/2014 đến 30/4/2014)
3.2 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm, tình hình sản xuất của Công ty CP thực phẩm –xuất khẩu Trung Sơn – Hưng Yên;
Điều tra, so sánh hệ thống quản lý môi trường của Công ty CP thựcphẩm – xuất khẩu Trung Sơn so với yêu cầu về hệ thống quản lý môitrường quy định trong ISO 14000;
Đánh giá sự tuân thủ của hệ thống quản lý môi trường của công tyxuất khẩu Trung Sơn với quy định của pháp luật;
Chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong hệ thống quản lý môi trườngcủa công ty Trung Sơn và đề xuất giải pháp cải thiện
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, các nghiên cứu về kiểm toán môi trường nóichung và kiểm toán hệ thống môi trường nói riêng từ thư viện, mạnginternet, để viết tổng quan tài liệu
Trang 40Thu thập các số liệu, báo cáo về tình hình hoạt động của công ty, quytrình sản xuất, cơ cấu tổ chức, quản lý hoạt động nội bộ, các báo cáo quan trắcđịnh kỳ, chính sách môi trường, từ cán bộ quản lý công ty Trung Sơn.
3.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Thiết kế các phiếu điều tra và tiến hành thu thập các số liệu, tài liệu liên quan tới đề tài, bao gồm:
Bảng hỏi trước kiểm toán: Được gửi xuống công ty trước khi thực
hiện cuộc kiểm toán, sử dụng để thu thập các thông tin tổng quan về côngty: Lịch sử hình thành, quá trình sản xuất và các hoạt động bảo vệ môitrường để phục vụ quá trình lập kế hoạch kiểm toán tại hiện trường Bảnghỏi trước kiểm toán đã thực hiện được đính kèm trong Phụ lục 1
Bảng hỏi khảo sát: Là các phiếu điều tra sử dụng để tiến hành
phỏng vấn cán bộ quản lý môi trường và công nhân công ty trong quá trìnhthanh tra nhà máy Quá trình phỏng vấn công nhân lao động được tiến hànhtại kí túc xá cán bộ công nhân viên công ty với tổng số phiếu điều tra là 32phiếu chia đều cho 2 phân xưởng sản xuất của công ty Phỏng vấn cán bộphụ trách quản lý môi trường của công ty (1 phiếu) Mẫu phiếu phỏng vấncông nhân trong các phân xưởng sản xuất và phiếu phỏng vấn cán bộ quản
lý môi trường của công ty được trình bày trong Phụ lục 1
Phương pháp thanh tra nhà máy
Tiến hành xem xét kỹ lưỡng một vòng quanh nhà máy để tìm hiểutoàn bộ hệ thống quản lý môi trường thực tế của công ty đặc biệt các phânxưởng sản xuất, quy trình sản xuất, hệ thống xử lý chất thải, điểm xả thải,khu tập trung rác thải, nhà kho, đồng thời thu thập một số hình ảnh trựcquan về công ty để làm bằng chứng đánh giá sự tuân thủ, tính phù hợp của
hệ thống quản lý môi trường công ty cũng như sự tham gia của cán bộ,