Dovậy, việc sử dụng hóa chất BVTV để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùamàng và giữ gìn an ninh lương thực vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu.Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triế
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HÀ NGỌC Độc lập – tự do – hạnh phúc
GIẤY XÁC NHẬN THỰC TẬP
Kính gửi: - Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội
-Khoa Tài nguyên & Môi trường
Ủy ban nhân dân xã Hà Ngọc xác nhận:
Sinh viên: Trần Thị Ngọc
Lớp: Khoa học đất – k54
Về địa bàn xã Hà Ngọc thực hiện đề tài: : “Đánh giá hiện trạng sử dụng
hóa chất BVTV và tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Hà Ngọc – huyện Hà Trung – tỉnh Thanh Hóa”.
Trong thời gian thực tập tại xã Hà Ngọc từ ngày 15/1/2013 đến 30/4/2013sinh viên đã đi điều tra phỏng vấn 30 hộ gia dình sản xuất nông nghiệp trong xã
Vậy ủy ban nhân dân xã Hà Ngọc xác nhận và đề nghị khoa Tài nguyên &Môi trường trường ĐHNN Hà Nội tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp sinh viên TrầnThị Ngọc hoàn thành bài thực tập cuối khóa của mình
Hà Ngọc, ngày tháng năm
TM ỦY BAN NHÂN DÂN
Trang 2Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Hoàng Hiệp đã tận tìnhhướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện báo cáo.
Khóa luận này sẽ không thực hiện được nếu không có lòng tốt và hiếu kháchcủa người dân xã Hà Ngọc Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các cán bộcủa Ủy ban nhân dân xã Hà Ngọc đã ủng hộ và giúp đỡ tận tình cho em thực hiện
đề tài này
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã khích lệ emhoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2013
Sinh viên Trần Thị Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ i
1.1 Tính cấp thiết cuả đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Những hiểu biết chung về hóa chất BVTV 4
2.1.1 Khái niệm 4
2.1.2 Phân loại hóa chất BVTV 4
2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV 7
2.2.1 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam 10
2.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến cây trồng, thực phẩm, môi trường và sức khỏe con người 12
2.3.1 Ảnh hưởng đến cây trồng 12
2.3.2 Ảnh hưởng đến thực phẩm 13
2.3.3 Ảnh hưởng đến môi trường 14
2.3.4 Ảnh huởng đến sức khoẻ của con người 17
2.4 Tình hình ngộ độc thuốc BVTV 17
2.5 Một số phương pháp xác định hóa chất BVTV 19
2.5.1 Phương pháp lấy mẫu: 19
2.5.2 Phương pháp chiết tách hóa chất BVTV 19
2.5.3 Phương pháp phân tích 20
Trang 4PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Nội dung nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25
3.1.2 Nội dung nghiên cứu 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc BVTV bằng phiếu điều tra nông hộ 25
3.2.2 Lấy mẫu phân tích tồn dư thuốc BVTV trong nước 26
3.2.3 Phương pháp phân tích mẫu 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp của các nông hộ 27
4.1.1 Tình hình kinh doanh – quản lý thuốc BNVTV tại xã Hà Ngọc 27
4.1.2 Liều lượng sử dụng thuốc BVTV 32
4.1.3 Số lần phun và khoảng cách giữa các lần phun 33
4.1.4 Thời gian cách ly 35
4.1.5 Xử lý lượng thuốc dư trong bình phun của người dân 36
4.1.6 Vấn đề thu gom bao bì thuốc BVTV 37
4.1.7 Nhận thức của người dân về tính độc hại của thuốc BVTV 38
4.1.8 Tình hình sử dụng các dụng cụ phòng hộ lao động 40
4.2 Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường nước trong sản xuất nông nghiệp tại xã Hà Ngọc, Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa 41
4.3 Các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm thuốc BVTV trong nông nghiệp 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Kiến nghị 44
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Trường hợp xấu nhất của bệnh ung thư do tồn thuốc BVTV trong thực phẩm
14
Bảng 2.2 tình hình dư lượng thuốc BVTV trên rau ở một số nước 18
Bảng 4.1 Một số loại thuốc BVTV được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tại xã Hà Ngọc 29
Bảng 4.2 Các loại thuốc BVTV sử dụng để phòng trừ sâu bệnh trên lúa và rau màu .31 Bảng 4.3 Lượng thuốc BVTV sử dụng cho cây trồng ở xã Hà Ngọc 32
Bảng 4.4 Số lần phun và khoảng cách giữa các lần phun 34
Bảng 4.5 Thời gian cách ly của các loại cây trồng 35
Bảng 4.6 Cách xử lý thuốc còn dư trong bình của người dân 36
Bảng 4.7 Nơi vứt vỏ bao bì, chai lọ thuốc BVTV của người dân 37
Bảng 4.9 Tình hình sử dụng dụng cụ phòng hộ của nông dân 40
Trang 6PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết cuả đề tài
Việc sử dụng hóa chất BVTV là chìa khóa của sự thành công trong cuộccách mạng xanh trong nền nông nghiệp công nghiệp hóa (nông nghiệp đầu tư cao)
để đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm Tuy nhiên trong những nămgần đây nhiều người lo ngại về ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường và sứckhỏe con người Điều lo ngại không chỉ ở những nước phát triển mà cả những nướcđang phát triển rất được quan tâm.Thật vậy, khi người nông dân áp dụng nhữngcông nghệ hiện đại và “công nghệ cả gói” (giống mới, phân bón hóa học, thuốcBVTV, máy móc, công nghệ tưới tiêu…) thì rất nhiều các vấn đề nảy sinh Đặc biệt
là vấn đề ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm do thuốc BVTV đã thu hút sựquan tâm của nhiều nhà khoa học, các tổ chức xã hội và nhiều nước trên thế giớitrong đó có Việt Nam
Việt nam là một nước sản xuất nông nghiệp với khí hậu nhiệt đới nóng
và ẩm Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rấtthuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Dovậy, việc sử dụng hóa chất BVTV để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùamàng và giữ gìn an ninh lương thực vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu.Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết(2005) [1] nếu không sử dụng thuốc BVTV thì thiệt hại các sinh vật gây nên đối với cây trồng trên đồng ruộng có thể làm giảm20%- 50% năng suất cây trồng, có khi lên đến 50% thì loài người cần đến 3 lầndiện tích trồng cấy như hiện nay
Trang 7Ở nước ta do điều kiện sống và điều kiện lao động và nhận thức của ngườidân về tác hại của thuốc BVTV còn nhiều hạn chế, cộng thêm với chính sách quản
lý lỏng lẻo trong việc nhập khẩu, lưu thông sử dụng thuốc BVTV Theo báo nôngthôn (17/03/2006) [2] thuốc BVTV được lưu thông tự do, có một số loại đã bị cấmhoặc không rõ nguồn gốc vẫn được lưu hành và sử dụng một cách tùy tiện Giốngnhư tân dược, đa phần các loại thuốc BVTV trên thị trường hiện nay không có nhãnmác, hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt Nông dân sử dụng theo thói quen hoặcchỉ dẫn của các đại lý thuốc, mà không phải đại lý nào cũng có một “dược sĩ nônghọc” để hướng dẫn đến nơi đến chốn Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tìnhtrạng ô nhiễm thuốc BVTV trong rau quả, thực phẩm, nó tác động trực tiếp đến sứckhỏe con người, động vật máu nóng, thủy sinh… làm cho người nông dân tiền mấttật mang Theo Lê Văn Khoa, 2004 [8] khi phun thuốc BVTV thì có tới 50% lượngthuốc rơi vào đất và khi đó thuốc BVTV sẽ bị biến đổi, phân tán theo nhiều conđường khác nhau gây ô nhiễm môi trường
Xã Hà Ngọc –huyện Hà Trung – tỉnh Thanh Hóa là một vùng chuyên sảnxuất lúa Đây là nguồn thu nhập chính của người dân Vì vậy, họ rất chú trọng tớiviệc đầu tư thuốc BVTV với mục đích làm thế nào để cây trồng đạt năng suất caonhất Do đó, tình hình sử dụng thuốc BVTV đáng được quan tâm hàng đầu
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiện trạng sử dụng hóa chất BVTV và tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Hà Ngọc – huyện Hà Trung – tỉnh Thanh Hóa”.
Trang 81.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường nước trong sản xuất nông nghiệp ở
xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa,
- Kiểm tra một số mẫu tồn dư thuốc BVTV trong nước
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
* Đánh giá được tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất lúa và raumàu và công tác quản lý thuốc tại địa phương
*Đánh giá được tình trạng ô nhiễm môi trường nước trong sản xuất nôngnghiệp
*Đề xuất các giải pháp có tính khả thi và dễ áp dụng đối với nông dân, nângcao ý thức của người dân trong sử dụng, quản lý thuốc BVTV, bảo vệ môi trườngsinh thái
Trang 9PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Những hiểu biết chung về hóa chất BVTV
2.1.1 Khái niệm
Lê Văn Khoa, 2004 [8] thuốc BVTV là các loại hóa chất có nguồn gốc thiênnhiên hoặc tổng hợp bằng con đường công nghiệp dùng để phòng chống hoặc tiêudiệt những sinh vật gây hại mùa màng trong nông lâm nghiệp hoặc gây bệnh đốivới sức khỏe con người
Trần Quang Hùng, 2000[5] đã định nghĩa về hóa chất BVTV như sau: Hóachất BVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp theo conđường hóa học dùng để phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, loài gặn nhấm… gây hại chocây trồng ngoài đồng ruộng, nông sản trong kho bảo quản và được gọi chung làsinh vật gây hại cây trồng và nông sản Theo một số tác giả thì hóa chất BVTVnhiều khi được gọi chung là thuốc trừ dịch hại(Pesticides) và khái niệm này baogồm cả thuốc trừ các loại ve, bét, rệp hại vật nuôi và trừ côn trùng y tế, thuốc làmrụng lá cây, điều hòa sinh trưởng cây trồng
2.1.2 Phân loại hóa chất BVTV
a) Phân loại dựa vào đối tượng phòng chống
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, (1996) [15] và Lê Trung (1997) [21]phân loại như sau:
Thuốc trừ sâu (Insecticides)
Thuốc trừ nấm và vi khuẩn (Fungicides, Bactericides)
Trang 10 Thuốc diệt nấm loài gặm nhấm (Rodenticides, Zoocides)
Thuốc trừ kí sinh trùng (Acarcides, Miticides)
Thuốc trừ cỏ dại và cây dại (Herbicides, Arboricides)
Thuốc gây rụng lá (Defulicumts)
Chất điều hòa sinh trưởng (Growth regulators)
b) Phân loại dựa vào con đường xâm nhập
Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên, (1996) [15] phân loại như sau:
-Thuốc có tác dụng tiếp xúc: là những loại thuốc có thể gây độc cho cơ thểsinh vật khi chúng xâm nhập qua da
-Thuốc có tác dụng vị độc: gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhậpqua con đường tiêu hóa
-Thuốc xông hơi: là thuốc có khả năng bốc hơi đầu độc bầu không khí baoquanh dịch hại và xâm nhập vào bên trong cơ thể sinh vật qua hệ hô hấp
-Thuốc nội hấp: là nững thuốc có khả năng xâm nhập vào cây qua thân,
lá hoặc rễ và được dịch chuyển ở trong cây
-Thuốc có tác dụng thấm sâu: là những thuốc có khả năng xâm nhập qua biểu
bì lá cây và thấm sâu vào lớp tế bào nhu mô
c) Phân loại dựa nguồn gốc và cấu trúc hóa học
Phùng Minh Phong, 2002 [17] dựa vào nguồn gốc, cấu trúc hóa học người taphân các hóa chất BVTV thành 11 nhóm chính, các thuốc còn lại thuộc nhóm 12
Trang 11- Nhóm 1: Lân hữu cơ gồm Diazinon, Dichlorovos, Trichlofon…
- Nhóm 2: Clo hữu cơ gồm DDT, Aldrin, Heptachor…
- Nhóm 3: Cacbamat gồm cacbaryl, Cacbofuran…
- Nhóm 4: Các hợp chất chứa axit Phenoxy alkanic
- Nhóm 11: Các hợp chất chứa Ure (Fenuron)
- Nhóm 12: Các loại thuốc còn lại
d) Phân loại theo thời gian phân hủy
Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2005 [1] Các thuốc BVTV có thời gianphân hủy khác nhau.Nhiều chất có thể tồn dư lâu trong môi trường đất, nước,không khí và trong cơ thể động, thực vật nhưng cũng có những chất dễ phân hủytrong môi trường Dựa vào thời gian phân hủy của chúng có thể sắp xếp thuốcBVTV vào các nhóm sau:
Trang 12- Nhóm thuốc BVTV dễ phân hủy: Nhóm này gồm các hợp chất photpho hữu
cơ, cacbamat.Các hợp chất này có thời gian bán phân hủy trong đất trong vòng
từ 1- 2 tuần
- Nhóm thuốc BVTV phân hủy trung bình: Các hợp chất này có thời gianbán phan hủy trong đất từ 1 – 18 tháng Điển hình thuộc nhóm này là thuốc diệt
cỏ 2,4-D (thuộc hợp chất hưu cơ chứa clo)
- Nhóm thuốc BVTV khó phân hủy: Các hợp chất này có thời gian phân hủy
từ 1 – 2 năm.Thuộc nhóm này có thể kể đến thuốc trừ sâu bị cấm sử dụng ở ViệtNam là DDT, 666 (HCH) và các hợp chất clo khó phân hủy
- Nhóm thuốc BVTV hầu như không phân hủy: Là các hợp chất hữu
cơ có chứa kim loại như: thủy ngân (Hg), Asen (As)… các kim loại nặng Hg, Askhôn bị phân hủy theo thời gian.Các hóa chất này đã bị cấm sử dụng ở Việt nam
Ngoài 4 cách phân loại như trên còn có nhiều cách phân loại khác nhằm phục
vụ cho mục đích sử dụng hay nghiên cứu
2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV
Theo Lê Trung, 1997 [21], cho biết hiện nay do hiểu biết dầy đủ hơn
về tương tác giữa vật chủ - côn trùng nên đã có những quan điểm mới về sản xuất
và sử dụng thuốc BVTV để giảm thiểu những nguy cơ nhiễm độc Nhiều việnnghiên cứu trên thế giới hiện đang nghiên cứu những tác nhân diệt côn trùng
là những chế phẩm sinh học và vi khuẩn
Theo tư liệu của phòng quản lý thuốc – Cục bảo vệ thực vật hiện nay trên
Trang 13dẫn xuất khác nhau và khoảng 1000 hợp chất hóa học được tổng hợp để làm hóachất BVTV.Số lượng hóa chất BVTV trên thế giới hàng năm ước tính khoảng hàngchục triệu tấn (Theo thống kê năm 1991 – 1992 là 25 triệu tấn).
Theo Phùng Minh Phong, 2002 [17]
Từ lâu con người đã biết sử dụng một số sản phẩm tự nhiên để diệt trừ sâubệnh bảo vệ cây trồng như các hợp chât Asen, các hợp chất Flo, các hợp chất
có nguồn gốc thực vật và dầu sa khoáng
Cuối thế kỷ 19 người ta bắt đầu nghiên cứu hệ thống việc sử dụng hóa chấtbảo vệ mùa màng.Năm1867 các hợp chất Asen được nghiên cứu và sử dụng ở Hoa
Kì. Đến năm 1990 do việc sử dụng quá rộng rãi hóa chất này nên người ta đã banhành những điều luật quy định và đây có lẽ là điều luật đầu tiên về sử dụng hóachất BVTV trên thế giới
Theo một số tác giả thì từ năm 1913 ở Đức, hợp chất thủy phân hữu cơ đầutiên được sử dụng để bảo quản hạt giống.Năm 1924, Zeidler đã tổng hợp được DDTnhưng đến năm 1939 Muler mới phát hiện ra khả năng diệt sâu hại của nó.Điều đó đãđặt nền móng đầu tiên cho việc sử dụng các hợp chất hữu cơ, hữu cơ –vô cơ vào mụcđích làm hóa chất BVTV Sau đó là các hợp chất Clo hữu cơ, Cacbamat, các hợp chấtPhotpho hữu cơ được phát hiện và dùng rộng rãi trên thế giới
Năm 1972, người ta đã thành công trong việc sản xuất từ cây cỏ tự nhiênnhóm hoạt chất Pyrethroid, đây là nhóm hóa chất diệt côn trùng mới và có ý nghĩahết sức quan trọng.Trong những năm của thập kỷ 70 – 80, có nhiều thuốc BVTVmới ra đời, những hợp chất này có hiệu quả ở nồng độ thấp hơn các loại trước đây
Trang 142.2.1 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV trên thế giới
Theo Phùng Minh Phong, 2002 [17], Các nhà khoa học nghiên cứu về tìnhhình sử dụng hóa chất BVTV trên thế giới đã tiêu thụ trên toàn cầu năm 1985khoảng 3 triệu tấn, trong đó khoảng 20% lượng thuốc BVTV sản xuất ra xuất sangcác nước đang phát triển, 75% được dùng ở Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Năm 1985,
Mỹ sử dụng 486.000 tấn, riêng ngành nông nghiệp sử dụng 464.000 tấn Indonesianăm 1982 sử dụng 45.285 tấn bao gồm 405 loại thuốc BVTV.Thái Lan, năm 1981
sử dụng khoảng 35.000 tấn thuốc BVTV trị giá 130 triệu USD Malaixia trong năm
1983 bán hơn 100 triệu USD, trong đó thuốc diệt cỏ chiếm 80%, thuốc diệt côntrùng chiếm 12%
Theo Nguyễn Trần Oánh, Nguyễn Văn Viên và Bùi Trọng Thủy, 2007 [16]Mặc dù sự phát triển của biện pháp hóa học có nhiều lúc thăng trầm, songtổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tăng lên khôngngừng, số chủng loại ngày càng phong phú, nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới antoàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuấy hiện bất chấp các quy định quản lýngày càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí đầu tư chonghiên cứu để một loại thuốc mới ra đời ngày càng lớn
Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảmnhưng giá trị của thuốc không ngừng tăng.Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi:Nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh môi trường đượcthay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng với lượng ít hơnnhưng lại có giá thành cao
Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc nàytùy thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước
Trang 152.2.2 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam
Theo Nguyễn Duy Trang (1996) [20] cho biết 100% số nông dân vùng trồngrau thường hỗn hợp các loại thuốc trừ sâu trong quá trình sử dụng Theo như quanniệm của nông dân việc pha trộn thuốc là biện pháp nâng cao hiệu lực của thuốc,
mở rộng phổ tác động, giảm giá thành (do không phải mua những loại thuốc đắttiền) Do hỗn hợp theo cảm tính, liều lượng thường dùng áng chừng nên lượngthuốc thực tế cao hơn 2 – 3 lần liều bình thường và cao hơn khuyến cao 6 – 8 lần
Số lần phun cũng thay đổi khá nhiều: từ 5 – 7 lần với 4 – 5 kg a-i/ha/vụ với bắp cảisớm đến 7 – 10 lần với 5 – 10 kg a-i/ha/vụ với bắp cải chính và vụ muộn
Theo thống kê của Sở tài Nguyên Môi Trường, lượng thuốc BVTV được
sử dụng ở Việt Nam từ năm 1986 – 1990 khoảng 13 – 15 nghìn tấn (Hoàng Lê,2003) [9] và thống kê của viện BVTV Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc BVTV
từ 10.300 tấn lên 33.000 tấn, đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm 2005
là 50.000 tấn (Phương Liễu, 2006) [10] Đây là con số đáng báo động
Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (năm 2005) [1]: hàng năm Việt Nam
sử dụng 13 – 15 nghìn tấn thuốc BVTV bình quân lượng thuốc sử dụng trên 1hagieo trồng là 0,4 – 0,5 kg a-i/ ha Vùng song Thuận Hải là 1,7 – 3,5 kg a-i/ha Vùngrau Hà Nội là 6,5 – 9,5 kg a-i/ha Vùng Đồng Bằng Sông Cửu long là 1,5 – 2,7 kga-i/ha Hòa Bình là 3,2 – 3,5 kg a-i/ha
Cho đến năm 2002 đã có 354 hoạt chất với 1.113 tên thuốc thương phẩm đangđược phép lưu hành Tại tỉnh Thái Nguyên (năm 2005) một vụ lúa, ngô trung bìnhngười nông dân dùng thuốc BVTV từ 3 – 5 kg a-i/ha đất nông nghiệp Lượng thuốcBVTV dùng trong 1 vụ lúa lên tới hàng trăm tấn tại các vùng thâm canh rau, tỷ lệ
Trang 16lượng thuốc BVTV và phân hóa học được sử dụng cao gấp 3 – 5 lần các vùng trồnglúa (Hoa Xương Rồng, 2007) [18].
Năm 2006 trên cả nước có 140 cơ sở sản xuất hóa chất (Ja Minh, 2006) [12]
để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Các cơ sở sản xuất hóa chất này đa dạng
về chủng loại sản phẩm, loại hình và số lượng cung cấp thuốc BVTV cho việc sửdụng trong nông nghiệp Mặc dù vậy nhưng năm 2007 theo thống kê của vụ KhoaHọc Công Nghệ và Môi Trường lượng thuốc BVTV vẫn nhập khẩu trong nước 77nghìn tấn (Ngọc Huyền, 2008) [6] Điều này cho thấy lượng thuốc BVTV ở nước ta
có chiều hướng ngày càng tăng
Trong những năm gần đây thời tiết thay đổi thất thường, sản xuất nôngnghiệp đã liên tục phát sinh nhiều dịch bệnh mới như vàng lùn, xoăn lá làm giatăng lượng thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp Trước tình hình dịch bệnhvàng lùn, xoăn lá tỉnh Đồng Tháp đã ứng trước 70.000 chai thuốc cấp phát chonông dân phun xịt (Tuổi Trẻ, 2006) [23] và sau dịch bệnh vàng lùn, xoăn lá, nhànước cấp phát hàng trăm tấn thuốc BVTV cho khu vực Đồng Bằng Sông CửuLong qua 3 đợt nhận trên 64 tấn thuốc BVTV phân phát cho dân
Mặc dù hiện nay đã có những chương trình như: ba tăng, ba giảm, biện phápphòng trừ dịch hại tổng hợp nhưng tình trạng sử dụng thuốc BVTV không giảm.Đối với các đối tượng như ốc bưu vàng, cỏ dại người nông dân hiện nay đều sửdụng các loại thuốc để phòng trừ
Trang 172.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến cây trồng, thực phẩm, môi trường và sức khỏe con người
Về nguyên tắc, thuốc BVTV phải được sử dụng đúng, bao gồm: đối tượng( công trùng, bệnh nấm…), liều lượng nồng độ Đó là 3 yếu tố bắt buộc Ví dụ nhưSimazin dùng cho ngô và cây ăn quả: Diphenamid (nhóm Amid) dùng cho lạc,thuốc lá, rau tươi; Propanil dùng cho lúa nước
Ở nước ta thường không dùng đúng chủng loại, không đúng đối tượng, dùngnồng độ cao gây cháy táp lá, thân dẫn đến giảm năng suất Mặt khác khi sử dụngxong các bao nilon, chai đựng thuốc vứt tùy tiện ra đồng ruộng thuốc BVTV lại đivào đất, nước tiêu diệt các sinh vật có ích khác hoặc đi vào sản phẩm cây trồng, vậtnuôi và con người
2.3.1 Ảnh hưởng đến cây trồng
Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2005 [1] Đôi lúc, do tính quen thuốccủa sâu, nồng độ của thuốc BVTV sau khi phun trực tiếp lên cây trồng phải rất cao,mới đủ hiệu lực chống lại sâu hại Nồng độ thuốc BVTV ảnh hưởng tới sức khỏecon người phụ thuộc vào tồn lưu thuốc BVTV trong cây trồng tại thời điểm đượcđưa vào sử dụng trong sinh hoạt, nồng độ này đóng vai trò chính trong việc đánhgiá tác hại của thuốc BVTV đối với con người và môi trường thiên nhiên
Con người mong muốn đạt sản lượng cao, nhất là những cây trồng có giá trịkinh tế, nên thuốc BVTV được sử dụng đối với các loại cây trồng này nhiều hơn làđối với các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp hơn Trên thực tế, các thuốc BVTVthường lại được sử dụng trước khi thu hoạch chỉ vài ngày hoặc vài giờ Do vậy, dưlượng thuốc BVTV trong cây trồng còn cao, gây ngộ độc cho con người nếu chúng
Trang 18được tiêu thụ sớm ngay sau thu hoạch Đây là nguyên nhân chính gây ra các ngộđộc thuốc BVTV hiện nay, bởi vì rất nhiều loại rau, quả sau khi phun thuốc BVTVchỉ được rửa sơ rồi đem thẳng tới chợ bán.
Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2005 [1]
Ngoài việc gây ô nhiễm trực tiếp quá trình phun thuốc BVTV, thực phẩm cóthể bị ô nhiễm bởi nhiều con đường khác nhau Ví dụ: thịt có thể chứa một lượngthuốc BVTV cao do các con vật ăn thức ăn bị nhiễm thuốc BVTV; cá bắt ở nhữngruộng lúa đã được phun bằng thuốc BVTV qua tiếp xúc bùn đất ở ruộng
Người ta còn dùng thuốc BVTV để bảo quản thực phẩm tránh bị tác hại củacác động vật chân đốt hoặc các loài gặm nhấm.Việc sử dụng thuốc BVTV để xử lýthực phẩm và hạt giống là một thói quen hiện nay, mặc dù vấn đề này đã đượckhuyến cáo nhiều lần, được xử lý bằng cách này có thể sẽ chứa nồng độ thuốcBVTV cao
Trong thời gian bảo quản, đã có những trường hợp nhiễm độc hàng loạt dongười và vật nuôi trong nhà ăn phải một cách vô tình hoặc cố ý như giống lúa đãđược xử lý bằng thuốc BVTV
Dư lượng thuốc BVTV đôi khi còn bị phát hiện trong cả sữa mẹ của các bà
mẹ cho con bú khi thường xuyên tiếp xúc với thuốc trừ sâu
Trang 19Bảng 2.1 Trường hợp xấu nhất của bệnh ung thư do tồn thuốc BVTV trong thực phẩm
Nguồn: Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2005 [1]
2.3.3 Ảnh hưởng đến môi trường
a) Tác động đến môi trường đất (Theo Lê Văn Khoa, 2004 [8])
Trang 20Đất được phun thuốc BVTV một cách có tính toán là kiểm soát côn trùng,giun tròn hoặc bệnh tật Ngoài ra có tới 50% lượng thuốc BVTV được phun để diệtsâu cho cây trồng trong các vụ mùa hoặc được sử dụng như thuốc diệt cỏ đã bị rơivãi trên mặt đất Một vài loại thuốc BVTV (đặc biệt là clo hữu cơ) lại rất khó phânhuỷ nên chúng có thể tồn tại nhiều năm trong đất.
Sự tồn tại và vận chuyển của thuốc BVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu
tố cấu trúc hoá học của hợp chất, loại thuốc, loại đất, điều kiện thời tiết, phươngthức tưới tiêu, loại cây trồng và các vi sinh vật hiện có trong đất
Sơ đồ 2.1 Sự biến đổi thuốc trừ sâu trong đất
đất
Rửa trôi
bề mặt và xói mòn
sinh học
Chuyển
hoá hoá
học
Trang 21Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 2005 [1] Quá trình di chuyển khuyếchtán lan truyền độc hại thuốc trừ sâu bệnh trong môi trường đất có nhiều loại có tínhbền trong đất Dư lượng thuốc sau khi xuống đất, đất được hấp thụ và nằm lại đâyrất lâu mà các nhà môi trường đất gọi là “Thời gian bán phân huỷ” Thuật ngữ nàyđược xác định là cả một thời gian dài nó ẩn tích trong các dạng cấu trúc hoá họckhác nhau hoặc các hợp chất liên kết trong môi trường sinh thái đất Tai hại hơn,các dạng hợp chất mới này lại thường có tính độc cao hơn là bản thân nó Ví dụ:Sản phẩm tồn lưu DDT trong đất cũng như DDE nó cũng có tác dụng độc như mộtloại thuốc trừ sâu Nhưng nó có tác hại đối với sự phát triển phôi bào trứng chimđộc hơn DDT từ 1 – 2 lần Loại thuốc Aldrin cũng đồng thời với DDT, khả nănglưu tồn trong môi trường sinh thái đất rất lâu dài và cũng bị phân ly thành một sảnphẩm gọi là “ Diedrin” mà tính độc của nó cao hơn Aldrin nhiều lần Thuốc diệt cỏ2,4 – D có khả năng lưu tồn trong môi trường sinh thái đất và cũng có khả năngtích luỹ trong quả hạt cây trồng Một tác hại khác của sự xâm nhập thuốc vào đất là
nó làm cho cơ lý tính đất giảm sút, “chai hoá” Khả năng diệt khuẩn rất cao do đó
nó diệt cả những vi sinh vật có ích khác trong đất
b) Tác động đến môi trường nước
Theo Lê Huy bá và Lâm minh Triết, 2005 [1] nước có thể bị ô nhiễm thuốcBVTV trong các trường hợp sau:
- Đổ các thuốc BVTV dư thừa sau khi sử dụng
- Đổ nước rửa dụng cụ chứa thuốc BVTV xuống hồ, ao
- Cây trồng cạnh mép hồ, ao, sông, suối được phun thuốc BVTV
- Sự chảy rò rỉ hoặc quá trình xói mòn, rửa trôi đất đã bị ô nhiễm thuốcBVTV
- Thuốc BVTV lẫn trong nước mưa ở các vùng có không khí bị ô nhiễmthuốc BVTV
Trang 22- Dùng thuốc BVTV ở các hồ để giết cá và vớt cá bán cho người tiêu dùnggây ngộ độc hàng loạt Điều này đã và đang xảy ra ở một số nơi.
Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong đất tại huyện Cẩm Khê, PhúThọ cho thấy hàm lượng DDT trong đất bằng 1,56 mg/kg Ở Thanh Sơn, Phú Thọ
là 30 mg/kg, huyện Diễn châu, Nghệ An vượt ngưỡng tới mức từ 15 đến 2.800mg/kg (Ja Minh, 2006) [12] Sự tích tụ hoá chất này trong đất thấm vào nguồnnước ngầm làm cho nguồn nước giếng bị nhiễm thuốc BVTV ảnh hưởng đếnnguồn nước sinh hoạt và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gây bệnhung thư tại các làng xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh, nghệ An, Phú Thọ,Tuyên Quang TạiTiên Lãng, Vĩnh Bảo nguồn nước giếng khoan, giếng đào đã có 70% mẫu nước lấy
từ các giếng bị ô nhiễm bởi chất sắt, asen và dư lượng thuốc BVTV ( Nhân Dân,2006) [13]
2.3.4 Ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người
Trong 2 năm 2004 và 2005, tình hình ngộ độc thuốc BVTV đứng hàng thứ 5trong 12 loại ngộ độc và gây ra những tác hại vô cùng nguy hiểm đến sức khoẻ conngười Chẳng hạn như với tác hại cấp tính có thể gây co giật, liệt cơ… nhẹ nhất gâynôn mửa, ỉa chảy, đau bụng… cấp tính hơn nữa là co giật, hôn mê, trụy mạch…Những loại thuốc BVTV quen thuộc như : thuốc diệt chuột, diệt cỏ, trừ sâu, đặcbiệt là hoá chất neretockskin mới xuất hiện 1 – 2 năm gần đây đều gây tử vong cao.Ngoài ra, thuốc BVTV còn gây ra những tác dụng mãn tính, ảnh hưởng lâu dài đếnsức khoẻ Nếu tích luỹ mỗi ngày sẽ dẫn đến tình trạng suy kiệt, mệt mỏi, chán ăn,mất ngủ, thiếu máu, ảnh hưởng đến tinh thần, hệ miễn dịch, di truyền, gây biến dịtrong các tế bào, ảnh hưởng đến thế hệ sau (Nhân Dân, 2006) [13]
2.4 Tình hình ngộ độc thuốc BVTV
Theo FAO, những năm gần đây trên thế giới hàng năm có khoảng trên 20
Trang 23quả điều tra của Shu – jen – juan (2001) về tình hình dư lượng thuốc BVTV trênrau ở một số nước ( Nguyễn Trường Thành, 2004) [19] được trình bày ở bảng 2.2.
Trang 24Bảng 2.2 tình hình dư lượng thuốc BVTV trên rau ở một số nước
lượng thuốc BVTV
Tỷ lệ % mẫu có dư lượng thuốc BVTV >
Nguồn: Nguyễn Trường Thành, 2004 [19]
Theo số liệu của cục vệ sinh an toàn thực phẩm - Bộ Y Tế: Số vụ ngộ độcthuốc BVTV tăng từ 2 vụ năm 1999 lên đến 9 vụ năm 2001(bằng 128,5%) và năm
2001 giảm xuống còn 59 người(54,6%) Nhưng nguy hiểm là số người chết tăngnhiều: 3 người năm 1999 tăng lên 7 người năm 2001(bằng 233,3%) (Nguyễn TrầnOánh, 2002) [14] Theo Võ Mai, 1990 [11], khi liều lượng thuốc thuốc trừ sâu trênvài loại rau ăn lá tại 3 chợ đầu mối khu vực thành phố Hồ Chí Minh cho biết:Tháng2/1994 tại Long An có 155 người bị ngộ độc thuốc BVTV cũng rất trầmtrọng: Số vụ ngộ độc thuốc BVTV trong 7 tháng đầu năm 2002 tăng 6 lầnvà sốngười bị ngộ độc tăng 5,5 lần so với năm 2000 nhưng cả 2 năm không có ngườichết Các trường hợp ngộ độc nêu trên đều do người tiêu dung ăn phải các loại raungoài chợ có nhiễm thuốc trừ sâu liều cao (Nguyễn Trần Oánh, 2002) [14] Theo sốliệu của chi cục BVTV Hà Nội (1997) có 66,7% mẫu rau cải, đậu đõ trong vụ hèthu và 50% số mẫu các loại rau trong vụ thu đông lấy tại các cơ sở trồng rau khucực Hà Nội có dư lượng thuốc BVTV Rau cải trong vụ hè thu vượt MRL là 33%
số mẫu, trong vụ thu đông dao động 8,3 – 16,7 %
Trang 252.5 Một số phương pháp xác định hóa chất BVTV
2.5.1 Phương pháp lấy mẫu:
Độ chính xác của phương pháp lấy mẫu tăng lên theo kích thước mẫu và tính chấtphức tạp của sơ đồ lấy mẫu Về nguyên tắc có 2 sơ đồ lấy mẫu: Lấy mẫu ngẫunhiên và lấy mẫu hệ thống Có 2 loại mẫu: Mẫu đơn và mẫu tổng hợp Giá trị tồn
dư HCBVTV trong mẫu đơn có thể dao động rất lớn, với hệ số biến động khoảng100% Vì vậy số lượng mẫu phải lấy để phân tích để đạt được độ tin cậy cần thiết làrất lớn Do đó việc nghiên cứu trở lên rất tốn kém
Khi lấy mẫu tổng hợp thì độ biến động sẽ giảm đi khi tăng kích thước mẫu, do đó
số lần phân tích để đạt độ tin cậy cần thiết sẽ ít hơn trường hợp trên nhiều và giáthành nghiên cứu sẽ giảm Vì vậy việc lấy mẫu tổng hợp thường dùng để nghiêncứu tồn lượng
Việc lấy mẫu hệ thống theo thứ tự thời gian hoặc không gian thì đơn giản, thuậntiện ít gây sai số hơn nên hay được sử dụng để lấy mẫu phân tích tồn lượng Mộtvài ví dụ xác định vị trí lấy mẫu theo hệ thống a, b, c hoặc d
2.5.2 Phương pháp chiết tách hóa chất BVTV
Phân tích tồn lượng chất bảo vệ thực vật trong môi trường là phân tích lượngvết nên khi phân tích luôn phải tách chiết HCBVTV ra khỏi mẫu, làm giàu mẫu,tinh chế loại các tạp chất sau đó mới đem phân tích bằng phương pháp đã chọn
Trang 26Phần lớn các HCBVTV đều tan trong các dung môi hữu cơ Do đó người ta thườngdùng các dung môi hữu cơ như hexan, benzen, ete, axeton, axetonnitrin…để chiếtcác HCBVTV ra khỏ mẫu rau quả, thực phẩm, nước, đất…tùy theo đối tượng mẫu
cổ điển (10-3 – n.10-5) Để xác định các lượng chất cực nhỏ thường dùng cácphương pháp cực phổ hiện đại như cực phổ sóng vuông, cực phổ xung vi phân [5]
A Guiberteau , T Galeano Diáz, F Salinas và J.M Ortiz [12] đã xác địnhcarbaryl và carbofuran bằng phương pháp cực phổ xung vi phân Phương phápđược ứng dụng xác định các mẫu nước sông Các mẫu nước sau khi xử lí sẽ đượcxác định bằng phương pháp cực phổ xung vi phân với các điều kiện sau: tốc độquét 20mV/s (bước nhảy thế: 5mV, khoảng thời gian 0,25s), biên độ xung 50mVtrong khoảng từ + 0,4V đến + 0,8V Khoảng tuyến tính của carbaryl từ 5.10-7 10-
4M và của carbofuran từ 5.10-7 – 5.10-5M với độ lệch chuẩn tương đối tương ứng là1,62 và 1,86%
Trang 27b Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử
Các tác giả Urmila Tamrakar, Vinay K Gupta và Ajai K Pillai [32] đã xácđịnh đồng thời 3 loại thuốc trừ sâu nhóm carbamat bằng phương pháp quang phổhấp thụ phân tử Phương pháp dựa trên sự tạo mầu của carbamat với thuốc thử p-aminoacetanlide Khoảng nồng độ tuân theo định luật Lambert - Beer của carbaryl,propoxur và carbosulfan tương ứng là 0,04 – 0,36µg/ml, 0,032 – 0,32µg/ml và 0,08– 0,64µg/ml Phương pháp đã được áp dụng để phân tích thuốc trừ sâu nhómcarbamat trên các mẫu rau, đất, thức ăn, nước… với hiệu suất thu hồi khoảng 95%
Tác giả L Alvarez-Rodriguez [26] đã xác định thuốc trừ sâu carbamat nhưcarbaryl, bendiocarb, carbofuran, methiocarb, promecarb và propoxur bằng phươngpháp quang phổ hấp thụ phân tử tại bước sóng 510nm Các thuốc trừ sâu được thủyphân trong môi trường kiềm nhẹ tạo thành 1-naphtol hoặc phenolate, sau đó nó sẽtạo mầu với diazo trimethylanilin có chứa mixen natri dodecyl sunfat Giới hạnphát hiện của phương pháp trong khoảng 0,2 – 2mg/ml
Các phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử chỉ phân tích được một loạithuốc trừ sâu nào đó hoặc phân tích đồng thời một số hóa chất BVTV Hơn nữa,phương pháp có độ nhạy kém Do đó, hiện nay phương pháp này rất ít được ứngdụng để phân tích hóa chất BVTV
c Phương pháp phân tích dòng chảy (flow injection analysis – FIA)
Phân tích dòng chảy là một kĩ thuật phân tích động, trong đó mẫu phân tích ởdạng lỏng được bơm vào dòng chất mang chuyển động liên tục Sau đó trong vòngphản ứng chất phân tích sẽ phản ứng với thuốc thử có trong dòng chất mang, hayđược bơm trực tiếp vào đầu vòng phản ứng, để tạo ra một sản phẩm có thể pháthiện được theo một tính chất hóa lí nào đó nhờ một loại detector phù hợp Các tính