1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1C học tốt môn Tiếng Việt Giai đoạn học vần

12 346 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 51,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Điều tra cơ bản về tình hình lĩnh hội kiến thức của học sinh để nắm được thực trạng học môn Tiếng Việt giai đoạn vần của học sinh.. Để các em học tốt môn Tiếng Việt nói chung, giai đoạ

Trang 1

Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1C học tốt môn Tiếng Việt (Giai đoạn học vần).

1 Thực trạng hoặc vấn đề đặt ra

- Hệ thống bài dạy phân môn học vần lớp 1 gồm 64 bài

- Đặc trưng của phân môn học vần là sử tranh hoặc vật thật một cách thành thạo của giáo viên và học sinh

- Tất cả các bài đã học giúp cho học sinh đọc viết được tiếng từ đã học

2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Các em học sinh lớp 1C trường TH Xã Phan

- Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt phân môn học vần

- Một số biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng về kỹ năng đọc viết nhuần nhuy ễn môn Tiếng Việt

- Đối tượng nghiên cứu là phần vần ở lớp 1

- Tham khảo tài liệu ở sách giáo viên lớp 1

- Tham dự các buổi chuyên đề do tổ, trường, ngành tổ chức

a Tài liệu nghiên cứu

- Đọc tài liệu: Tìm đọc các loại sách, tạp chí giáo dục, các văn bản chỉ đạo về đổi mới

Trang 2

phương pháp, tài liệu có liên quan đến như:

+ Vở bài tập Tiếng Việt tập 1

+ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học chu kỳ III (2003- 2007)

+ Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Tiếng Việt lớp 1 – Theo chuẩn kiến thức

kỹ năng các môn học ở tiểu học – Nhà xuất bản Giáo dục

+ Tài liệu dạy Tiếng Việt 1 nhà xuất bản Giáo dục

+ Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 1 nhà xuất bản Giáo dục

b Điều tra:

- Điều tra để nắm được hoàn cảnh sống, tâm sinh lý của từng học sinh

- Điều tra cơ bản về tình hình lĩnh hội kiến thức của học sinh để nắm được thực trạng học môn Tiếng Việt (giai đoạn vần) của học sinh

- Thống kê đối chiếu: Thống kê số liệu cụ thể qua các lần kiểm tra ở từng thời điểm theo dõi sự tiến bộ của học sinh

- Thông qua các phương pháp như trực quan, thực hành giúp chúng tôi so sánh, đối chiếu kết quả trước

Trang 3

và sau khi vận dụng đề tài để thấy được kết quả của quá trình thực hiện đề tài

- Đưa những kinh nghiệm vào kế hoạch dạy học để dạy thử nghiệm cho đề tài

- Trao đổi ý kiến với các bạn đồng nghiệp đưa ra phương pháp dạy học cho phù hợp

với từng đối tượng học sinh cụ thể Đồng thời rút ra kinh nghiệm cho bản thân

- Đàm thoại: thường xu y ên trao đổi chuyên môn cùng đồng nghiệp nhằm rút ra các

biện pháp hữu hiệu áp dụng vào việc dạy môn Tiếng Việt giai đoạn học vần tốt hơn

3 Giải pháp hoặc tính mới, tính sáng tạo của đề tài

- Trước thực tế giảng dạy tôi xác định yêu cầu đạt được như sau:

+ Sử dụng tối đa có hiệu quả các đồ dùng như tranh ảnh hoặc vật thật

+ Học sinh hứng thú học tập và rèn kỹ năng tìm tiếng, từ và đọc thành thạo các

tiếng từ đó

- Học sinh tự tìm được tiếng, từ sau mỗi tiết học giúp học sinh nắm vững vần đã học,

Trang 4

giúp học sinh đọc nhanh viết đúng, làm nền tảng để học sang giai đoạn luy ện tập tổng hợp

– tập đọc

- Từ những thực tiễn trên chúng tôi đã nhìn thấy được tồn tại của học sinh và của

giáo viên trong quá trình giảng dạy Nên ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu đã bàn bạc

và thống nhất với tổ chuyên môn xây dựng ngay chu yên đề học vần vào tuần 7 Bên cạnh

đó nhà trường tăng cường dự giờ thăm lớp, giúp

đỡ giáo viên nắm vững việc đổi mới

phương pháp dạy học trong việc giảng dạy Để các

em học tốt môn Tiếng Việt nói chung,

giai đoạn học vần nói riêng, trước tiên phải hướng dẫn các em nắm chắc cách phân tích

vần, cơ chế đánh vần và đọc trơn vần, để đạt được mục tiêu bài học

- Từ những hạn chế nêu trên, chúng tôi nghiên cứu tìm ra những kinh nghiệm dạy

Tiếng việt (giai đoạn học vần) để giúp học sinh nắm vững vần hơn để chuẩn bị sang giai

đoạn luyện tập tổng hợp

Trang 5

- Bên cạnh, nó còn phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy Phối hợp chặt

chẽ với gia đình học sinh, tạo ra môi trường dạy – học thân thiện trong lớp học

+ Đối với giáo viên: gần gũi với học sinh để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của các

em giúp đỡ các em trong học tập

+ Đối học sinh: Có ý thức học tập tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo viên giao

Tích cực tham gia các hoạt động học tập theo nhiều hình thức như: đọc nhóm đôi

Biết đọc ,viết đúng các vần, tiếng, từ đã học

+ Phát huy khả năng nghe, nói, đọc, viết và khả năng tìm tiếng, từ qua bài học

- Tăng cường khả năng quan sát để phân biệt và nhận biết chính xác, động não và ghi

nhớ từng âm, từng vần, từng tiếng, qua đó hiểu và tìm được những tiếng, từ cần thiết của

bài học

- Qua quá trình giảng dạy, bản thân chúng tôi nhận thấy vấn đề cần thiết để giúp học

sinh học tốt giai đoạn học vần là:

Trang 6

+ Giáo viên phải phát âm chuẩn

16

+ Ở giai đoạn này việc hướng dẫn học sinh cách đánh vần là điều cần thiết vì đó là

nền tảng trong suốt giai đoạn học vần Ví dụ tiết 1 (dạng bài cung cấp vần mới)

+ Dạy bài ia - ua - ưa: Đây là những bài dạy vần đầu tiên sau khi học sinh kết thúc

giai đoạn học âm Có thể các em còn bỡ ngỡ với cách đánh vần Giáo viên cần giúp các em

nắm vững cấu tạo vần: âm nào đứng trước, âm nào đứng sau, đánh vần như thế nào (Âm

nào đứng trước, đọc trước Âm đứng sau, đọc sau) Ví dụ: vần ia đánh vần i – a – ia đọc là

ia,vần ua đánh vần u- a – ua đọc là ua, vần ưa đánh vần ư – a – ưa đọc là ưa Đó là qu y chế

đánh vần Giáo viên cần đánh vần mẫu thật chuẩn, nhắc nhở học sinh chú ý cách phát âm

của giáo viên, học sinh đọc được đó chỉ là bước đầu của trọng tâm bài học, bước tiếp theo

là giúp học sinh viết đúng, viết đẹp các vần Cuối cùng phát triển tư duy học sinh bằng

Trang 7

cách cho các em ghép tiếng, từ có vần vừa học.

- Để học sinh nắm được cách đánh vần ngay từ bài đầu tiên phải giúp học sinh nắm

vững cấu tạo vần Ví dụ: vần ia có i đứng trước, a đứng sau Cách đánh vần âm nào đứng

trước, đọc trước Âm nào đứng sau, đọc sau: i- a - ia đọc là ia

- Học sinh đọc được đó chỉ là bước đầu của trọng tâm bài học; bước tiếp theo là

luyện cho học sinh viết đúng, viết đẹp các vần, cuối cùng phát triển tư duy học sinh bằng

cách cho các em tự ghép tiếng có vần vừa học Giáo viên phải hướng dẫn các em chọn một

trong những âm đã học để ghép vào trước vần đang học để có tiếng mới Ví dụ: : Em A

chọn âm b, em B chọn âm h, em C chọn âm t,… ghép vào phía trước vần đang học thêm

dấu thanh và tự đánh vần tiếng vừa ghép, giáo viên theo dõi chỉnh sửa cho những em phát

âm sai hoặc ghi dấu thanh chưa đúng vị trí

* Ví dụ: Dạy vần ua em A chọn âm b ghép vào vần ua được tiếng búa, em B âm h

Trang 8

ghép vào vần ua được tiếng hùa, em C chọn âm t ghép vào vần ua được tiếng tủa…

- Để động viên học sinh, giáo viên chọn tiếng hay , viết lên bảng để tiết 2 luy ện đọc

Đối với những em khá, giỏi, có thể gợi ý các em tìm từ

- Giáo viên khắc sâu cho học sinh nắm, nhưng thực tế không phải bất cứ phụ âm nào

khi đứng trước vần đều tạo thành tiếng có nghĩa Ví dụ các vần: ia, iu, êu, eo, iêu, inh, ênh,

iêt, oa, oanh… không thể ghép được với âm c, mà chỉ ghép được với âm k, kh và một điều

mà giáo viên cần nắm vững nữa là qu y tắc về dấu thanh Ví dụ: những vần có âm: t, c, p,

ch không thể ghi dấu thanh huy ền, hỏi, ngã hoặc không dấu thanh mà chỉ sử dụng thanh

sắc và thanh nặng

- Điều này đòi hỏi giáo viên phải thật chuẩn về luật chính tả mới tránh sự sai sót

trong giảng dạy

* Ví dụ: học tập, chắc chắn, tấc đất, sạch sẽ

- Khi học sinh nắm được cơ chế đánh vần, tiếng, nâng dần cho học sinh đọc trơn

Trang 9

- Buổi sáng: đầu giờ chúng tôi kiểm tra lại bảng

âm, trong tiết học chúng tôi thường

xu y ên gọi những em yếu phân tích vần, tiếng để khắc sâu kiến thức nhiều hơn

- Buổi chiều: tiếp tục kiểm tra lại bảng âm kết hợp với bảng vần và một số tiếng giáo

viên gọi học sinh đọc cá nhân bảng âm, bảng vần

đã học Giáo viên yều cầu học sinh tự

ghép âm, vần vừa ôn để được tiếng mới viết vào bảng con và đọc tiếng đó

- Chúng tôi thực hiện như thế hằng ngày và giao việc cho học sinh vào buổi chiều ở

các tiết tăng viết lại bảng âm, vần, tiếng, từ vừa học hôm sau lại kiểm tra lại

* Học sinh trung bình, khá, giỏi ngồi xen kẽ nhau để thuận lợi trong việc học tập

- Bên cạnh đó, chúng tôi ân cần, gần gũi, vui vẻ giúp các em tự nhiên hòa nhập vào

hoạt động chung của lớp Giáo viên còn phải quan tâm, khen ngợi sự cố gắng tiến bộ của

Trang 10

các em, tạo điều kiện phát huy tiềm năng của mỗi học sinh Trong tiết dạy giáo viên cần

17

chú ý, đặt câu hỏi cho từng đối tượng học sinh.Ví dụ: câu hỏi khó dành cho học sinh khá,

giỏi Câu hỏi dễ dành cho học sinh trung bình, yếu

- Giới thiệu bài, giáo viên chuẩn bị tranh, ảnh hoặc vật thật gần gũi với các em để

giới thiệu từ khóa và vần mới học Trước khi đến trường, các em đã biết nói tiếng mẹ đẻ,

nay chỉ còn học “viết” nói ra mà thôi Để phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết học

vần, giáo viên hướng dẫn học sinh xem tranh, ảnh, vật thật hay mô hình gắn với nội dung

từ khóa, từ ngữ ứng dụng, cho các em nghe giọng đọc, nhìn khuôn miệng của giáo viên

phát âm, đánh vần mẫu

4 Hiệu quả đem lại

- Với giải pháp trên tôi đã cố gắng thực hiện có kết quả tốt trong năm học, giúp học

sinh nắm vững phương pháp học tập của bộ môn, góp phần vào việc phát triển tư duy học

Trang 11

sinh và ren kỹ năng đọc viết trong Tiếng Việt.

- Nâng cao trình độ chu y ên môn nghiệp vụ của giáo viên

- Tăng dần số lượng học sinh y ếu lên trung bình và từ trung bình lên khá, giỏi

- Học sinh biết áp dụng vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả

- Hình thành tính cẩn thận, kiên trì cho học sinh

Kết quả: Năm học 2012 – 2013

Tổng số học sinh lớp 1C: 32

GHKI: 32: đọc đúng chính xác âm 24 em, tỷ lệ: 75,0% Đọc còn sai: 8 em, tỷ lệ:

25,0%

CHKI: 32 em đọc đúng chính xác 30 em, t ỷ lệ: 93,75% Đọc còn sai 2 em, tỷ lệ:

6,25%

5 Khả năng và áp dụng cho đến thời điểm hiện tại

a Về tính mới và tính sáng tạo

- Giáo viên cần phát huy tối đa tính tích cực của học sinh, tổ chức mọi tình huống

phát triển tư du y cho học sinh, giáo viên yêu cầu học sinh phải biết biết tự tìm tiếng, tìm từ

Trang 12

và đọc được tiếng từ vừa tìm Cần tổ chức cho các

em thi đua tìm tiếng, từ, giúp các em

tích cực hơn trong học tập

- Giúp học sinh nắm vững tiếng, từ đã học

- Rèn cho học sinh

- Học sinh phải dựa vào những kiến thức đã vận dụng các thao tác tư duy để tìm ra

những tiếng, từ mà trong sách giáo khoa không có

- Rèn tính cẩn thận, kiên trì ở học sinh

b Hiệu quả xã hội: Vận dụng kiến thức đã học các em biết đọc sách báo ngoài sách

Tiếng Việt mà các em đã học Từ đó giúp các em biết quý trọng sách vở của mình và tình

yêu quê hương, y êu đất nước Tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ môi trường

c Về triển vọng áp dụng và triển khai: Chúng tôi thực hiện ở lớp 1C và cả khối 1,

trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp ở trường bạn nhằm hướng tới giải pháp tối ưu để giúp

các em còn lại (chưa ghép được vần, tiếng) sẽ tiến bộ hơn

Ngày đăng: 21/04/2015, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w