1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh

117 212 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu xét mức độ quan trọng thì lao động của con người đóng vai trò quan trọng, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, yếu tố tư liệu sản xuất là quan trọng, nhưng nếu không có sự kết hợ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu trong báo cáo là trung thực đáng tin cậy và có nguồn gốc rõ ràng Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm”

Sinh viên

Nguyễn Thu Hiền

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người Để tiến hành sản xuất phải có 3 yếu tố: Lao động, đất đai, vốn, thiếu một trong 3 yếu tố đó quá trình sản xuất sẽ không thể diễn ra Nếu xét mức độ quan trọng thì lao động của con người đóng vai trò quan trọng, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, yếu tố tư liệu sản xuất là quan trọng, nhưng nếu không có sự kết hợp với sức lao động của con người thì tư liệu sản xuất không phát huy được tác dụng, tiền lương vừa

là động lực thúc đầy con người trong sản xuất kinh doanh vừa là một chi phí được cấu thành vào giá thành sản phẩm, lao cụ, dịch vụ, tiền lương là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng năng suất lao động, có tác dụng động viên khuyến khích công nhân viên

Trang 7

trong mỗi doanh nghiệp tích cực tham gia lao động, tăng thu nhập cho bản thân và gia đình Khi tiến hành hoạt động sản xuất, vấn đề đặt ra cho nhà quản lý doanh nghiệp phải chi tiền lương bao nhiêu, việc sử dụng lao động như thế nào, để mang lại hiệu quả hơn, hữu ích hơn trong quá trình sản xuất, từ đó đặt ra kế hoạch sản xuất cho kỳ tới Đây là lý do tại sao hạch toán tiền lương trong doanh nghiệp lại có tầm quan trọng đặc biệt

Việc phân tích đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch quỹ tiền lương nhằm cung cấp cho nhà quản lý những thông tin khái quát về tình hình thực hiện tiền lương của toàn bộ doanh nghiệp, thấy được ưu, nhược điểm chủ yếu trong công tac quản lý cũng như đi sâu vào nghiên cứu các chế độ chính sách định mức tiền lương Tiền thưởng để trả lương đúng những gì mà người lao động đóng góp và bảo đảm cho người lao động Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của tiền lương và các khoản trích theo lương tại doanh nghiệp với mong muốn vận dụng những kiến thức ở nhà trường với thực tế em đã chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh” Vì điều kiện thời gian có hạn, do đó em chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi số liệu về tiền lương và các khoản trích theo lương của năm 2013 để từ đó đưa ra những vấn đề có tính chất chung nhất về thực trạng hạch toán kế toán tiền lương và kiến nghị các giải pháp giải quyêt vấn đề còn tồn tại về tiền lương Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tổng hợp cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

- Tìm hiểu thực tế công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty

Trang 8

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tình hình quản lý, sử dụng lao động, phương pháp tính trả lương, phương pháp trích lập các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Đề tài tiền lương là một đề tài lớn với phạm vi nghiên cứu rộng lớn thì mới phản ánh được đầy đủ thực tế của nó

Tuy nhiên em chỉ nghiên cứu đề tài này ở phạm vi của một đơn vị Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh và dừng lại ở mức độ xem xét, đánh giá ở một khía cạnh của vấn đề về lao động và tiền lương của một đơn vị Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh

Ở đề tài này em chỉ nghiên cứu , và thu thập số liệu kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tháng 10 năm 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, em sử dụng một số phương pháp như:

- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu

- Phương pháp hạch toán kế toán

- Và một số phương pháp khác

6 Kết cấu báo cáo của em : gồm 3 phần

- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán tiền lương và các

khoản trích theo lương

- Chương 2: Thực trạng công tác tiền lương và các khoản trích

theo lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh

- Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản

trích theo lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh

Trang 9

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 10

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

1.1 Khái niệm, phân loại, bản chất, chức năng cơ bản của tiền lương

và các khoản theo lương

1.1.1 Khái niệm về tiền lương.

Sự phức tạp về tiền lương đã thể hiện ngay trong quan điểm triết lý về tiền lương Trên thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới

Ở Pháp “Sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”

Ở Nhật Bản: Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như

là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là tiền lương

Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về tiền lương Một số khái niệm về tiền lương có thể được nêu ra như sau:

“Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”

Trang 11

“Tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó , mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm ”

“ Tiền lương là khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà nhân viên được hưởng từ công việc đó”

“ Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động”

Tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động

và thường được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mướn lao động có thời hạn Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động (Ở Việt Nam , trên thị trường tự do thuật ngữ “tiền công” thường được dùng để trả công cho lao động chân tay , còn “thù lao” dùng chỉ việc trả công cho lao động trí óc ).Nói cách khác, tiền lương là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động thanh toán tương đương với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao để tạo ra của cải vật chất hoặc các giá trị có ích khác

1.1.2 Phân loại và nguyên tắc hạch toán tiền lương

*Phân loại tiền lương:

a Tiền lương chính và tiền lương phụ:

Về phương diện hạch toán, tiền lương công nhân doanh nghiệp sản xuất được chia làm hai loại đó là : Tiền lương chính và tiền lương phụ + Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm tiền lương trả theo

Trang 12

cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo( Phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực)

+ Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công nhân viên được nghỉ được hưởng lương theo chế độ ( Nghỉ phép, nghỉ vì ngừng sản xuất…)

Việc phân chia tiền lương chính và tiền lương phụ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành sản phẩm

Tiền lương chính của công nhân sản xuất được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất của từng loại sản phẩm Tiền lương phụ của công nhân

do không gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương đúng và đầy đủ sẽ vừa kích thích sản xuất phát triển, vừa là vấn đề xã hội trực tiếp tác động đến đời sống vật chất, tinh thần của người lao động

b Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế

Trên thực tế, cái mà người lao động yêu cầu không phải là một khối lượng tiền lương lớn, mà họ quan tâm đến khối lượng tư liệu sinh hoạt

mà họ nhận được thông qua tiền lương Vấn đề này liên quan đến hai khái niệm về tiền lương đó là: Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế

- Tiền lương danh nghĩa: là khối lượng tiền trả cho công nhân viên dưới hình thức tiền tệ, đó là số tiền thực tế mà người lao động nhận được Tuy vậy cùng với một số tiền như nhau người lao động sẽ mua được khối lượng hàng hoá dịch vụ khác nhau ở các thời điểm, các vùng khác nhau do sự biến động thường xuyên của giá cả

- Tiền lương thực tế: Là số lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động mua được bằng tiền lương danh nghĩa Tiền lương thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố sau:

Trang 13

+ Tổng số tiền nhận được( Tiền lương danh nghĩa)

+ Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng dịch vụ

Như vậy, tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế có mối quan hệ khăng khít với nhau và được thể hiện qua công thức sau:

Tiền lương danh nghĩa

Tiền lương thực tế =

Chỉ số giá cả và dịch vụ

Khi chỉ số tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn chỉ số giá cả điều này có nghĩa là thu nhập thực tế của người lao động tăng lên, khi tiền lương không đảm bảo được đời sống của cán bộ công nhân viên chức, khi đó tiền lương không hoàn thành chức năng quan trọng đó là tái sản xuất sức lao động Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải luôn quan tâm đến tiền lương thực tế

* Nguyên tắc hạch toán tiền lương:

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì phân phối theo lao động là nguyên tắc cơ bản nhất

- Trong điều kiện như nhau, làm việc ngang nhau thì trả công ngang nhau, lao động khác nhau thì trả công cũng khác nhau

- Trong điều kiện khác nhau lao động như nhau có thể trả công khác nhau, hoặc lao động khác nhau có thể trả công bằng nhau

Hiện việc tính toán và thanh toán tiền lương từ phía doanh ghiệp, cho người lao động chủ yếu là đưa vào các nghị định và các điều khoản, điều

lệ trong Bộ luật lao Động của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 05/07/1994

Điều 55 trong Bộ luật lao động có quy định: "Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức lương của người lao độg không thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định"

Trang 14

Điều 8 của Nghị định 26/CP ngày 23/05/1993 của chính phủ quy định:

- Làm công việc gì, chức vụ gì hưởng lương theo công việc đó thông qua hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể Đối với công nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh, cơ sở để xếp lương là tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, đối với viên chức tiêu chuẩn là nghiệp vụ chuyên môn, đối với quản lý doanh nghiệp là tiêu chuẩn xếp hạng doanh nghiệp theo độ phức tạp về quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Việc trả lương phải theo kết quả sản xuất kinh doanh và doanh nghiệp phải bảo đảm các nghĩa vụ đối với nhà nước không được thấp hơn quy định hiện hành, nhà nước không hỗ trợ ngân sách để thực hiện chế độ tiền lương mới

Tất cả các quy định trên điều phục vụ cho việc:

+ Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đồi sống vật chất, tinh thần cho người lao động

+ Làm cho năng suất lao động không ngừng được nâng cao

+ Đảm bảo tính đơn giản dễ hiểu

Xét trong mối liên hệ với giá thành sản phẩm, tiền lương là một bộ phận quan trọng của chi phí, vì vậy việc thanh toán, phân bổ chính xác tiền lương vào giá thành sản phẩm, tính đúng, tính đủ và thanh toán kịp thời tiền lương cho người lao động sẽ góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao động, tăng tích luỹ và cải thiện đời sống người lao động

Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm được chi phí tiền lương là một nhiệm vụ quan trọng Trong đó cách thức trả lương được lựa chọn sau khi nghiên cứu thực tế các loại công việc trong doanh nghiệp là biện pháp cơ bản nhất, có hiệu quả cao để tiết kiệm khoản chi phí này Thông thường trong doanh nghiệp thì các phần việc phát sinh đa dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau Vì vậy các hình thức trả lương hiện

Trang 15

nay được các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù hợp với mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được hiệu quả kinh tế cao nhất.

Nói tóm lại, hạch toán tiền lương phải tuân thủ vào 3 nguyên tắc cụ thể như sau:

- Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải hạch toán chi tiết số lượng lao động, thời gian lao động và kết quả lao động

- Căn cứ vào Bảng chấm công, Phiếu làm thêm giờ, Phiếu giao nộp sản phẩm, Hợp đồng giao khoán, Phiếu nghỉ hưởng BHXH, để lập bảng lương và các khoản trích theo lương cho người lao động

- Căn cứ vào vào Bảng tính lương kế toán lập Bảng tính và phân bổ chi phí tiền lương cùng các khoản trích theo lương vào chi phí của từng phân xưởng, bộ phận sử dụng lao động

1.1.3 Bản chất của tiền lương:

Trong tất cả mọi hình thái kinh tế xã hội, con người luôn đóng vai trò trung tâm chi phối quyết định mọi quá trình sản xuất kinh doanh Để sản xuất ra của cải vật chất, con người phải hao phí sức lao động Để có thể tái sản xuất và duy trì sức lao động đó, người lao động sẽ nhận được những khoản bù đắp được biểu hiện dưới dạng tiền lương Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động Như vậy bản chất của tiền lương chính là giá cả sức lao động, được xác định dựa trên cơ sở giá trị của sức lao động đã hao phí để sản xuất ra của cải vật chất, được người lao động và người sử dụng lao động thoả thuận với nhau

Trang 16

1.1.4 Chức năng và ý nghĩa của tiền lương:

*Chức năng của tiền lương:

a Chức năng thước đo giá trị:

Biểu hiện giá cả sức lao động, là cơ sở điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả biến động

b Chức năng tái sản xuất sức lao động:

Đây là yêu cầu thấp nhất của tiền lương đúng với nghĩa của

nó Tiền lương phải đảm bảo tính tái sản xuất, tức là nuôi sống người lao động, duy trì sức lao động, năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ

sở tiền lương đảm bảo bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người lao động Vì vậy tiền lương được tính toán trên ba mặt

- Mặt thứ nhất: Duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân người lao động

- Mặt thứ hai: Sản xuất ra sức lao động mới ( Nuôi dưỡng thế hệ sau)

- Mặt thứ ba: Tích luỹ kinh nghiệm, hoàn thành kĩ năng lao động, nâng cao trình độ tay nghề ( Tăng cường chất lượng lao động)

c Chức năng kích thích sức lao động:

Tiền lương là động lực chủ yếu kích thích người lao động làm việc tích cực hơn, thúc đẩy người lao động cải cách một cách có hệ thống các phương pháp tổ chức lao động, sử dụng tốt và hiệu quả ngày công lao động, máy móc thiết bị, tiết kiệm nguyên vật liệu, phát huy sáng kiến, nâng cao trình độ văn hoá nghiệp vụ của công nhân viên Từ đó giúp họ làm việc có hiệu quả nhất, với mức tiền lương xứng đáng nhất

Phần lương cơ bản là cơ sở để xác định phần phụ cấp ngoài lương cho công nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất, hoặc có sáng kiến phát minh khoa học, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Tiền thưởng là một trong những công cụ quản lý có hiệu quả nhất, khắc phục những thiếu sót của lương cơ bản, nhằm tăng cường hơn nữa sự

Trang 17

quan tâm vật chất của công nhân viên trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội

d Chức năng công cụ quản lý của Nhà nước:

Tiền lương với chế độ của nó là những đảm bảo có tính chất pháp lý của Nhà nước buộc người sử lao động phải trả theo công việc đã hoàn thành của người lao động, đảm bảo quyền lợi tối thiểu người mà họ được hưởng Từ đó mới phát huy được chức năng kích thích người lao động, căn cứ vào yêu cầu cơ bản này thông qua thực hiện tình hình kinh tế xã hội mà Nhà nước đặt ra chế độ tiền lương phù hợp, như một văn bản bắt buộc đối với người sử dụng lao động Các cơ sở sản xuất kinh doanh lấy một phần thu nhập của mình để trả lương Người lao động được giới hạn giữa mức tối thiểu do Nhà nước quy định và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì điều này buộc người sử dụng lao động phải biết tiết kiệm sức lao động cũng như những chi phí khác

e Chức năng điều tiết lao động:

Thông qua hệ thống thang lương, bảng lương và các chế độ phụ cấp được xác định cho từng ngành, từng vùng với mức tiền lương đúng đắn và thoả mãn thì người lao động sẽ tự nguyện nhận công việc được giao Tiền lương tạo ra động lực và là công cụ điều tiết giữa các ngành, các vùng trên toàn lãnh thổ, góp phần tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý,

đó là điều kiện cơ bản để Nhà nước thực hiện kế hoạch cân đối vùng - ngành – lãnh thổ

*Ý nghĩa của tiền lương:

Như chúng ta đã biết, tiền lương đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người lao động, nó quyết định sự ổn định, phát triển của nền kinh tế và kinh tế gia đình của họ Tiền lương là nguồn để tái sản xuất sức lao động vì vậy nó tác động rất lớn đến thái độ của người lao động đối với sản xuất, quyết định tâm tư tình cảm của nhân dân đối với chế độ của

XH Xét trên góc độ quản lý kinh doanh, quản lý XH, vì tiền lương luôn

Trang 18

là nguồn sống của người lao động nên nó là đòn bẩy kinh tế cực kỳ quan trọng Thông qua chính sách tiền lương, Nhà nước có thể đIều chỉnh lại nguòn lao động giữa các vùng theo yêu cầu phát triển kinh tế XH của đất nước.

Xét trên phạm vi Doanh nghiệp, tiền lương đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích người lao động phát huy khả năng lao động sáng tạo của họ, làm việc tận tụy, có trách nhiệm cao đối với công việc tiền lương cao hay thấp là yếu tố quyết định đến ý thức công việc của họ đối với Công ty Đặc biệt trong cơ chế thị trờng hiện nay, khi mà phần lớn lao động được tuyển dụng trên cơ sở hợp đồng lao động, người lao động có quyền lựa chọn làm việc cho nơi nào mà họ cho là có lợi nhất Vì vậy chính tiền lương đIều kiện đảm bảo cho Doanh nghiệp có một đội ngũ lao động lành nghề Thông qua tiền lương, người lãnh đạo hướng người lao động làm việc theo ý định của mình, nhằm tổ chức hợp lý, tăng cường kỷ luật lao động cũng như khuyến khích tăng năng suất lao động trong sản xuất Về mặt nội dung, tiền lương là phạm trù kinh tế tổng hợp, cụ thể là:

Tiền lương là một phạm trù trao đổi

Sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, nhưng cũng như các loại hàng hoá khác, khi được đem ra mua bán trên thị trường thì nó phải tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá, giá cả hàng hoá sức lao động phải ngang bằng với giá cả các tư liệu sinh hoạt mà người lao động tiến hành tái tạo sức lao động Trong điều kiện hiện nay khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì việc mua bán sức lao động thực sự cha tuân thủ đúng nguyên tắc này, một số trường hợp ngời lao động phải chấp nhận tiền công rẻ, không bằng với sức lao động mà người lao động bỏ ra hay nói cách khác: sự trao đổi không ngang giá đã gây ra nhiều tiêu cực trong

XH và chúng ta cần phải có những biện pháp để hạn chế

Trang 19

Tiền lương là một phạm trù phân phối

Sản xuất hàng hoá của Doanh nghiệp, của cải vật chất của XH do người lao động làm ra và nó được phân phối lại cho người lao động theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó tiền lương là một hình thức biểu hiện

rõ nét nhất của sự phân phối này Để đảm bảo sự phân phối tiền lương được công bằng, hợp lý cần căn cứ vào năng suất lao động, năng suất lao động là thước đo số lượng và chất lượng lao động của mỗi người Thực tế trong Doanh nghiệp quản lý giỏi đã khẳng định: dù chế độ trả lương khoán hay lương thời gian, chế độ trả lương sản phẩm hay hợp đồng thời vụ…Nhưng nếu gắn với số lượng và chất lượng lao động thông qua hệ thống mức là khoa học, gắn với sản phẩm cuối cùng thì các chế độ tiền lơng phát huy tác dụng tốt trong việc khuyến khích người lao động Trả lương đúng, đủ và công bằng thể hiện mức độ cống hiến của người lao động, sự thừa nhận công lao và đãi ngộ, thì tiền lương khi đó mới thực sự

là động lực khuyến khích tăng năng suất lao động

Tiền lương là một phạm trù tiêu dùng

Trong bất kỳ XH nào thì tiền lương luôn thực hiện chức năng kinh tế

XH cơ bản của nó là đảm bảo tái lại sức lao động Tuy nhiên, mức độ tái sản xuất sức lao động cho ngời lao động trong mỗi chế độ là khác nhau, ngời lao động tái lại sức lao động của mình thông qua các tư liệu sinh hoạt nhận được từ việc sử dụng khoản tiền lương của họ, vì vậy qui định mức độ tái sản xuất sức lao động là tiền lương thực tế chứ không phải là tiền lương danh nghĩa

Trang 20

1.1.5 Qu ti n l ỹ ề ươ ng, Các kho n trích theo l ả ươ ng

- Quỹ tiền lương của doanh nghiệp được phân ra 2 loại cơ bản sau:

+ Tiền lương chính: Là các khoản tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian họ hoàn thành công việc chính đã được giao, đó là tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên, và tiền thưởng khi vượt kế hoạch

+ Tiền lương phụ: Là tiền lương mà doanh nghiệp phảI trả cho người lao động trong thời gian không làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định như tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc khác như: Đi họp, học, nghỉ phép, thời gian tập quân sự, làm nghĩa vụ xã hội

Việc phân chia quỹ tiền lương thành lương chính lương phụ có ý nghĩa nhất định trong công tác hoạch toán phân bổ tiền lương theo đúng đối tượng và trong công tác phân tích tình hình sử dụng quỹ lương ở các doanh nghiệp

Quản lý chi tiêu quỹ tiền lương phải đặt trong mối quan hệ với thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị nhằm vừa chi tiêu tiết kiệm

Trang 21

và hợp lý quỹ tiền lương vừa đảm bảo hoàn thành vượt mức kế hoạch sản

xuất của doanh nghiệp.

Các loại tiền thưởng trong công ty: Là khoản tiền lương bổ sung nhằm quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc phân phối theo lao động Trong cơ cấu thu nhập của người lao động tiền lương có tính ổn định, thường xuyên, còn tiền thưởng thường chỉ là phần thêm phụ thuộc vào các chỉ tiêu thưởng, phụ thuộc vào kết quả kinh doanh

Nguyên tắc thực hiện chế độ tiền thưởng:

+ Đối tượng xét thưởng: Lao động có làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp

Mức thưởng: Thưởng một năm không thấp hơn một tháng lương được căn cứ vào hiệu quả đóng góp của người lao động qua năng suất chất lượng công việc, thời gian làm việc tại doanh nghiệp nhiều hơn thì hưởng nhiều hơn

+ Các loại tiền thưởng: Bao gồm tiền thưởng thi đua (từ quỹ khen thưởng), tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (vượt doanh số, vượt mức

kế hoạch đặt ra của công ty)

*Bảo hiểm xã hội:

Khái niệm: Quỹ BHXH là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức

Nguồn hình thành quỹ: Quỹ BHXH được hình thành bằng cách tính

theo tỷ lệ 26% trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ hạch toán

Người sử dụng lao động phải nộp 18% trên tổng quỹ lương và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

Nộp 8 % trên tổng quỹ lương thì do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ vào thu nhập của họ)

Trang 22

Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động tại doanh nghiệp trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, được tính toán dựa trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ và tỷ lệ trợ cấp BHXH, khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và lập bảng thanh toán BHXH

để làm cơ sở thanh toán với quỹ BHXH

Quỹ BHXH được quản lý tập trung ở tài khoản của người lao động Các doanh nghiệp phải nộp BHXH trích được trong kỳ vào quỹ tập trung

do quỹ BHXH quản lý

Mục đích sử dụng quỹ: Là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động

có tham gia đóng góp quỹ

Hay theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) BHXH được hiểu là sự bảo vệ của xã hội với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế xã hội do bị mất hoặc giảm thu nhập, gây ra ốm đau mất khả năng lao động

BHXH là một hệ thống 3 tầng:

Tầng 1: Là tầng cơ sở để áp dụng cho mọi người, mọi cá nhân trong

xã hội Người nghèo, tuy đóng góp của họ trong xã hội là thấp nhưng khi

có yêu cầu nhà nước vẫn trợ cấp

Tầng 2: Là tầng bắt buộc cho những người có công ăn việc làm ổn định

Tầng 3: Là sự tự nguyện cho những người muốn đóng BHXH cao

Về đối tượng: Trước đây BHXH chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp nhà nước Hiện nay theo nghị định 45/CP thì chính sách BHXH được áp dụng đối với tất cả các lao động thuộc mọi thành phần kinh tế (tầng 2) Đối với tất cả các thành viên trong xã hội (tầng 1) và cho mọi người có thu nhập cao hoặc có điều kiện tham gia mua BHXH còn quy định nghĩa vụ đóng góp cho những người được hưởng chế độ ưu đãi Số

Trang 23

tiền mà các thành viên thành viên trong xã hội đóng hình thành quỹ BHXH.

*Bảo hiểm y tế:

Khái niệm: Quỹ BHYT là quỹ được sử dụng để trợ cấp cho những người có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh.Nguồn hình thành quỹ:

Các doanh nghiệp thực hiện trích quỹ BHYT như sau:

4,5% Trên tổng số thu nhập tạm tính của người lao động, trong đó:

[ 1,5% Do người lao động trực tiếp nộp (trừ vào thu nhập của họ), 3% Do doanh nghiệp chịu (Tính vào chi phí sản xuất- kinh doanh) ]Mục đích sử dụng quỹ: Quỹ BHYT do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế, những người có tham gia nộp BHYT khi ốm đau bệnh tật đi khám chữa bệnh họ

sẽ được thanh toán thông qua chế độ BHYT mà họ đã nộp

*Bảo hiểm thất nghiệp:

Khái niệm: Bảo hiểm thất nghiệp là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật địnhĐối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định Ngoài ra, chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với người lao động tham gia BHTN Nguồn hình thành quỹ:

Trang 24

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau: 2% Trên tổng thu nhập của người lao động

[ 1% Do người lao động trực tiếp nộp (trừ vào thu nhập của họ), 1% Do doanh nghiệp chịu (Tính vào chi phí sản xuất- kinh doanh) ]

Mục đích sử dụng quỹ: nhằm bù đắp một phần thu nhập của người laođộng bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động bị thất nghiệp được học nghề đồng thời được hưởng chế độ bảo hiểm y tế

-Theo Điều 81 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1 Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

2 Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

3 Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này

-Theo Điều 82 Trợ cấp thất nghiệp:

1 Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền

kề trước khi thất nghiệp

2 Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau: a) Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

b) Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

c) Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

d) Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên

Trang 25

*Kinh phí công đoàn:

Khái niệm: Là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các cấp

Nguồn hình thành quỹ: KPCĐ được trích theo tỷ lệ:

2% Trên tổng số tiền lương phải trả cho người lao động, và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ (tính vào chi phí sản xuất- kinh doanh)

Mục đích sử dụng quỹ:

50% KPCĐ thu được nộp lên công đoàn cấp trên, còn 50% để lại chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại đơn vị

1.1.6 Các hình thức trả lương

*Hình thức trả lương theo thời gian:

Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc, cấp bậc lương ( chức danh) và thang lương( hệ số lương) Hình thức này chủ yếu áp dụng cho lao động gián tiếp, công việc ổn định hoặc có thể cho cả lao động trực tiếp mà không định mức được sản phẩm

Trong doanh nghiệp hình thức tiền lương theo thời gian được áp dụng cho nhân viên làm văn phòng như hành chính quản trị, tổ chức lao động, thống kê, tài vụ- kế toán Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế, theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghề nghiệp, nghiệp vụ kỹ thuật chuyên môn của người lao động

Hình thức tiền lương theo thời gian có mặt hạn chế là mang tính bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao động thực tế của người lao động

Các chế độ tiền lương theo thời gian:

- Đó là lương theo thời gian đơn giản

- Lương theo thời gian có thưởng

- Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn:

Trang 26

Đó là tiền lương nhận được của mỗi người công nhân tuỳ theo mức lương cấp bậc cao hay thấp, và thời gian làm việc của họ nhiều hay ít quyết định.

+ Tiền lương ngày:

Là tiền lương trích cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng

Tiền lương cơ bản của tháng

Tiền lương ngày =

Số ngày làm việc theo quy định của 1tháng

+ Tiền lương tuần:

Là tiền lương tính cho người lao động theo mức lương tuần và số ngày làm việc trong tháng

Tiền lương tháng x 12 tháng

Tiền lương tuần =

52 tuần

+ Tiền lương giờ:

Lương giờ có thể tính trực tiếp để trả lương theo giờ hoặc căn cứ vào lương ngày để phụ cấp làm thêm giờ cho người lao động

Tiền lương ngày Tiền lương giờ =

8

Lương giờ trả trực tiếp như trả theo giờ giảng dạy đối với giảng viên

Trang 27

Phụ cấp làm thêm giờ tính trên cơ sở lương ngày

Ví dụ : Lương ngày là 40.000đ

Một người lao động làm thêm 5 giờ

Vậy người lao động đó được hưởng là :

- Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:

Là hình thức trả lương theo thời gian kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất Hình thức này có tác dụng thúc đẩy công nhân viên tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu và đảm bảo chất lựơng sản phẩm Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng thường

áp dụng cho công nhân phụ, làm công việc phụ hoặc công nhân chính làm việc ở nơi có độ cơ khí hóa tự động cao

Tiền lương thời gian có thưởng= Tiền lương thời gian giản đơn + Tiền thưởng có tính chất lương

*Hình thức trả lương theo sản phẩm:

Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương chủ yếu hiện nay mà các doanh nghiệp sản xuất vật chất thường áp dụng Tiền lương công nhân viên được phụ thuộc vào đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm và số sản phẩm sản xuất ra

Tổng tiền lương phải trả = Đơn giá TL/SP * Số lượng sản phẩm hoàn thành

Chế độ trả lương theo sản phẩm gồm các hình thức sau:

+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế

Trang 28

+ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp có thưởng

+ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp

+ Trả lương theo sản phẩm thưởng lũy tiến

+ Trả lương theo sản phẩm tập thể

- Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế:

Là hình thức trả lương căn cứ vào số lượng và chất lượng sản phẩm mà công nhân đó hoàn thành trong thời gian làm việc và được xác định bằng cách lấy số lượng sản phẩm đã hoàn thành đúng qui cách nhân với đơn giá tiền lương quy định cho 1 đơn vị sản phẩm, không chịu bất

cứ một sự hạn chế nào

Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế được xác định nhưsau:

Lsp =ĐG x Q Trong đó: ĐG : là đơn giá sản phẩm

Q : là Số sản phẩm mà người lao động làm được.

Đơn giá sản phẩm có thể được xác định như sau:

ĐG = ( Lcb + PC )/ Msl

Hoặc:

ĐG = ( Lcb + PC ) x Mtg

Ở đây:

Lcb : Lương cấp bậc của công việc ( mức lương trả cho công việc đó )

PC : Phụ cấp mang tính lương cho công việc đó

Msl : Mức sản lượng

Mtg : Mức thời gian

Chế độ tiền lương này gắn trực tiếp tiền lương của từng cá nhân với kết quả lao động của bản thân họ, do đó tạo ra sự khuyến khích cao đối với người lao động nhằm nâng cao năng suất lao động Tuy nhiên chế độ tiền lương bộc lộ rõ nhất những nhược điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm Đó là: công nhân ít quan tâm đến việc bảo vệ máy móc thiết bị,

Trang 29

không chú ý đến tiết kiệm vật tư, nguyên vật liệu, và không quan tâm đến kết quả chung của tập thể

Vì vậy khi áp dụng chế độ tiền lương này doanh nghiệp cần phải có những quy định chặt chẽ nhằm hạn chế những ảnh hưởng không tốt của chế độ tiền lương này

- Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp có thưởng:

Là tiền lương trả theo sản phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất như nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, giảm tỉ lệ hàng hư hỏng Tiền lương trả người lao động căn cứ vào số lượng sản phẩm đã sản xuất ra theo đơn giá mỗi đơn vị sản phẩm, kết hợp với một hình thức tiền thưởng khi hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức

kế hoạch đặt ra

Tiền lương sản phẩm có thưởng được xác định như sau :

Lspthưởng = Lsp + ( mh/100 x Lsp )

Trong đó:

h : là phần trăm hoàn thành vượt mức sản lượng

m : là % tiền thưởng so với lương sản phẩm cho 1% hoàn thành vượt mức

sản lượng

Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng này có ưu điểm là khuyến khích người lao động hăng say làm việc, năng suất lao động tăng cao, có lợi cho doanh nghiệp cũng như đời sống của công nhân viên được cải thiện

- Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp:

Là tiền lương trả cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất, như bảo dưỡng máy móc thiết bị họ không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng họ gián tiếp ảnh hưởng đến năng xuất lao động trực tiếp vì vậy họ được hưởng lương dựa vào căn cứ kết quả của lao động trực tiếp làm ra để tính lương cho lao động gián tiếp

Trang 30

Hình thức tiền lương này thì tiền lương của công nhân phụ sẽ phụ thuộc vào việc sản lượng mà công nhân chính làm ra được.

Lspgt = ĐGpv x Q

Trong đó:

ĐGpv – là đơn giá sản phẩm phục vụ

Q – số sản phẩm mà công nhân chính đạt được

Còn ĐGpv – được xác định như sau:

ĐGpv = Lcbpv / Msl hoặc ĐGpv = Lcbpv x Mtgpv

Ở đây :

Lcbpv – lương cấp bậc công việc phục vụ.

Nói chung hình thức tính lương theo sản phẩm gián tiếp này không được chính xác, còn có nhiều mặt hạn chế, và không thực tế công việc

- Hình thức trả lương theo sản phẩm thưởng lũy tiến

Ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn có một phần tiền thưởng được tính ra trên cơ sở tăng đơn giá tiền lương ở mức năng suất cao

Hình thức tiền lương này thì đơn giá tiền lương cho một đơn vị sản phẩm sẽ được tăng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt quy định Công thức tính tiền lương của chế độ này như sau:

Lsplt = ĐG xQ + ĐGlt x (Q – Msl)

Trong đó:

ĐGlt – là đơn giá trả thêm cho những sản phẩm vượt mức quy định.

Chế độ tiền lương có tác động khuyến khích rất mạnh mẽ công nhân hoàn thành vượt mức quy định Tuy nhiên chế độ này có thể làm cho việc tăng tiền lương nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất lao động Vì vậy chế

độ tiền lương này ít được áp dụng trong các doanh nghiệp Chế độ tiền lương này thường chỉ được áp dụng trong những khâu trọng yếu hoặc những khâu yếu kém cần phải tăng tốc trong một thời gian ngắn

- Hình thức trả lương theo sản phẩm tập thể:

Trang 31

Hình thức tiền lương này thường được áp dụng với những công việc cần phải có một nhóm công nhân mới hoàn thành được (vì công việc đòi hỏi những yêu cầu chuyên môn khác nhau) hoặc một nhóm người thực hiện mới có hiệu quả Chẳng hạn như lắp ráp máy móc thiết bị, xây dựng các công trình …

Với chế độ tiền lương này thì tiền lương của mỗi người phụ thuộc vào kết quả hoạt động chung của nhóm và sức đóng góp của họ vào kết quả chung đó

Khi thực hiện chế độ tiền lương này cần lưu ý 2 vấn đề:

Tính tiền lương sẩn phẩm chung của tập thể:

Lsptt = ĐG x Q

Trong đó:

ĐG – là tiền lương trả cho tập thể lao động khi thực hiện một đơn vị sản

phẩm

Q – là Sản lượng chung của tập thể

Đơn giá sản phẩm trả cho tập thể có thể tính theo 2 cách

ĐG = Tổng Lcb nhóm / Msl nhóm

ĐG = Mtg x MLbq

Ở đây : MLbq – Mức lương bình quân của nhóm

Phân phối lương cho các thành viên trong nhóm

Tiền lương của mỗi công nhân được tính toán dựa vào các yếu tố sau đây:

- Lương cấp bậc mà công nhân đảm nhận

- Thời gian làm việc thực tế của từng công nhân

Nói tóm lại hình thức tiền lương theo thời gian còn có nhiều hạn chế là chưa gắn chặt tiền lương với kết quả và chất lượng lao động, kém tính kích thích người lao động Để khắc phục bớt những hạn chế này ngoài việc tổ chức theo dõi, ghi chép đầy đủ thời gian làm việc của công nhân viên, kết hợp với chế độ khen thưởng hợp lý

Trang 32

So với hình thức tiền lương theo thời gian thì hình thức tiền lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm hơn Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng, chất lượng lao động, gắn chặt thu nhập tiền lương với kết quả sản xuất của người lao động.

Kích thích tăng năng suất lao động, khuyến khích công nhân phát huy tính sáng tạo cải tiến kỹ thuật sản xuất, vì thế nên hình thức này được

sử dụng khá rộng rãi

*Hình thức trả lương khoán:

-Hình thức trả lương khoán theo khối lượng công việc:

Hình thức tiền lương này thường được áp dụng cho những công việc

mà nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho người lao động trong một khoảng thời gian nào

đó phải hoàn thành mới có hiệu quả Hình thức tiền lương này thường được áp dụng trong các nghành như xây dựng cơ bản, nông nghiệp …

Về thực chất chế độ tiền lương khoán là một dạng đặc biệt của hình thức tiền lương sản phẩm

Đơn giá khoán có thể được tính cho 1m2 diện tích (trong xây dựng cơ bản), cho 1hec-ta (trong nông nghiệp)…

Khi giao khoán những chỉ tiêu khoán thường bao gồm:

- Đơn giá khoán

- Thời gian hoàn thành

- Chất lượng sản phẩm hay công việc

Lgkhoán = ĐG khoán x Khối lượng công việc hoàn thành

Hình thức tiền lương này có thể áp dụng cho cá nhân hoặc tập thể Nếu đối tượng nhận khoán là tập thể thì khi phân phối tiền lương cho cá nhân sẽ giống như chế độ tiền lương tập thể

Trang 33

Điều cần chú ý là khi xây dựng đơn giá khoán để bảo đảm chính xác cần phải tỉ mỉ, chặt chẽ.

Sự khác biệt hình thức tiền lương này với hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếp cá nhân là người ta không kiểm soát thời gian làm việc của người lao động mà miễn sao họ hoàn thành công việc theo đúng hạn định

là được Và khi hoàn thành khối lượng khoán người lao động không nhất thiết phải làm thêm

- Trả lương khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng:

Hình thức này thường được áp dụng đối với đơn vị đã có biên chế lao động Doanh nghiệp tính toán quỹ tiền lương chế độ của tổng số lao động trong định mức biên chế và giao khoán cho từng phòng, từng ban, từng bộ phận theo nguyên tắc phải hoàn thành công việc Nếu chi phí

ít, bộ phận gián tiếp ít thì thu nhập của công nhân sẽ cao và ngược lại

1.2 Yêu cầu quản lí và nhiệm vụ kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

1.2.1 Yêu cầu quản lí:

Tiền lương là giá trị của sức lao động là một yế tố của chi phí sản xuất

Do đó muốn tiết kiệm được chi phí tiền lương trong giá thành sản xuất các doanh nghiệp phải sử dụng tiền lương của mình có kế hoạch thông qua các phương pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ tiền lương.Việc trả lương cho công nhân trong các doanh nghiệp phải theo từng tháng Muốn làm tốt tất cả các vấn đề trên các doanh nghiệp phải lập kế hoạch quản lý nguồn vốn tạm thời này Nếu thực hiện tốt sẽ tạo ra khả năng sử dụng có hiệu quả đồng vốn, nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất king doanh của đơn vị mình

Trong điều kiện kinh tế thị trường, quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của các qui luật cạnh tranh, quy luật giá trị Cơ chế thị trường khắc nghiệt sẵn sàng đào thải những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không có hiệu quả Trong điều kiện đó, chất lượng

Trang 34

sản phẩm và giá cả là những nhân tố quan trọng giúp cho mỗi doanh nghiệp đứng vững và phát triển.

Để công nhân gắn bó với doanh nghiệp, phát huy hết khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm trong sản xuất, luôn tìm ra cách cải tiến mẫu

mã, chất lượng sản phẩm tiết kiệm nguyên vật liệu và hạ giá thành Các doanh nghiệp phải có phương pháp quản lý hiệu quả tiền lương nói riêng

và quỹ tiền lương nói chung

- Tính đúng, tính đủ, kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho từng người lao động, từng tổ sản xuất, từng hợp đồng giao khoản, đúng chế độ nhà nước,phù hợp với các quy định quản lý của doanh nghiệp

- Tính toán phân bổ chính xác, hợp lý chi phí tiền lương các khoản trích theo lương, theo đúng đối tượng sử dụng có liên quan

- Thường xuyên cũng như định kỳ tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động và chỉ tiêu quỹ lương, cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan đến quản lý lao động tiền lương

Có thể nói chí phí về lao động hay tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ là vấn đề được doanh nghiệp chú ý mà còn được người lao động đặc biệt quan tâm vì đây chính là quyền lợi của họ

Trang 35

Do vậy việc tính đúng thù lao lao động và thanh toán đầy đủ, kịp thời cho người lao động là rất cần thiết, nó kích thích người lao động tận tụy với công việc, nâng cao chất lượng lao động Mặt khác việc tính đúng

và chính xác chí phí lao động còn góp phần tính đúng và tính đủ chí phí

và giá thành sản phẩm

Muốn như vậy công việc này phải được dựa trên cơ sở quản lý và theo dõi quá trình huy động và sử dụng lao động các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc huy động sử dụng lao động được coi

là hợp lý khi mỗi loại lao động khác nhau cần có những biện pháp quản

lý và sử dụng khác nhau Vì vậy việc phân loại lao động là rất cần thiết đối với mọi doanh nghiệp, tùy theo từng loại hình doanh nghiệp khác nhau mà có cách phân loại lao động khác nhau

Nói tóm lại tổ chức tốt công tác hoạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt quỹ tiền lương, bảo đảm việc trả lương và trợ cấp BHXH đúng nguyên tắc, đúng chế độ, kích thích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao đồng thời tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm được chính xác

Tổ chức tốt công tác hạch toán lao động tiền lương giúp doanh nghiệp quản lý tốt quỹ lương, đảm bảo việc trả lương và trợ cấp bảo hiểm

xã hội đúng nguyên tắc, đúng chế độ, khuyến khích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao, đồng thời tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm được chính xác

1.3 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương:

1.3.1 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương:

*Tài khoản sử dụng:

Để theo dõi tình hình thanh toán tiền công và các khoản khác với người lao động, tình hình trích lập, sử dụng quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN kế toán sử dụng tài khoản 334 và tài khoản 338

Trang 36

Tài khoản 334: ’’Phải trả người lao động ’’

- Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán lương và các khoản thu nhập khác cho công nhân viên (CNV) trong kỳ

Kết cấu:

- Bên nợ : Phát sinh tăng

+ Phản ánh việc thanh toán tiền lương và các khoản thu nhập khác cho công nhân viên

+ Phản ánh các khoản khấu trừ vào lương của công nhân viên

- Bên có: Phát sinh giảm

+ Phản ánh tổng số tiền lương và các khoản thu nhập khác cho công nhân viên trong kỳ

Số dư bên có: Phản ánh phần tiền lương và các khoản thu nhập mà

doanh nghiệp còn nợ công nhân viên lúc đầu kỳ hay cuối kỳ

Tài khoản 334 được chi tiết ra thành 2 tài khoản: - 334.1 Phải trả CNV

- 334.8 Các khoản khác

- TK 334.1: Phải trả CNV Dùng dể phản ánh các khoản thu nhập có tính chất lương mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động

- TK 334.8: Các khoản khác Dùng để phản ánh các khoản thu nhập không có tính chất lương, như trợ cấp từ quỹ BHXH, tiền thưởng trích từ quỹ khen thưởng mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động

Tài khoản 338: Phải trả phải nộp khác.

- Dùng để theo dõi việc trích lập sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

Kết cấu:

- Bên nợ: Phát sinh giảm.

+ Kết chuyển giá trị tài sản thừa vào các tài khoản khác có liên quan

+ BHXH phải trả người lao động

+ KPCĐ chi tại đơn vị

Trang 37

+ Số BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN đã nộp cho cơ quan quản lí.

+ Các khoản đã trả, đã nộp khác

- Bên có: Phát sinh tăng.

+ Giá trị tài sản thừa chờ giải quyết (chưa xác định rõ nguyên nhân)

+ Giá trị tài sản thừa phải trả cá nhân, tập thể trong và ngoài đơn vị

+ Trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

+ Phản ánh phần BHXH, KPCĐ vượt chi được cấp bù

+ Các khoản phải trả, phải nộp khác

Số dư bên có: Các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN chưa nộp

hoặc chưa chi tiêu, số tiền còn phải trả, phải nộp khác, giá trị tài sản thừa còn chờ giải quyết

(Nếu có Số dư Nợ thì số dư Nợ phản ánh phần KPCĐ, BHXH vượt chi chưa được cấp bù)

Tài khoản 338 được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 như sau:

- Tài khoản 338.1 (Tài sản thừa chờ giải quyết)

- Tài khoản 338.2 (KPCĐ)

- Tài khoản 338.3 (BHXH)

- Tài khoản 338.4 (BHYT)

- Tài khoản 338.8 (Phải trả, phải nộp khác)

Trang 38

KPCĐ, BHTN được thực hiện trên Bảng phân bổ tiền lương và Trích BHXH (Mẫu số 01/BPB)

Nội dung: Bảng phân bổ tiền lương và trích BHXH dùng để tập hợp và

phân bổ tiền lương thực tế phải trả (gồm lương chính, lương phụ và các khoản khác) BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN phải trích nộp hàng tháng cho các đối tượng sử dụng lao động (Ghi có TK 334, 335, 338.2, 338.3, 338.4, 338.9)

*Phương pháp kế toán:

- Tính tiền lương phải trả cho công nhân viên

- Hàng tháng, trên cơ sở tính toán tiền lương phải trả cho CNV, kế toán ghi sổ theo định khoản:

Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp: Tiền lương phải trả cho CNV trực tiếp sản xuất

Nợ TK 241- XDCB dở dang: Tiền lương công nhân viên XDCB và sửa chữa TSCĐ

Nợ TK 627- Chi phí sản xuất chung ( 6271)

Nợ TK 641- Chi phí bán hàng ( 6411)

Nợ TK 642- Chi phí QLDN ( 642.1)

Có TK 334- Phải trả CNV

- Tính tiền thưởng phải trả công nhân viên

Hàng quý hoặc hàng năm tuỳ theo tình hình kinh doanh doanh nghiệp được tính từ lợi nhuận để lập quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng cho người lao động Sau khi được trích lập, quỹ khen thưởng dùng để chi thưởng cho công nhân viên như thưởng thi đua, thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật…

+Tiền thưởng từ quỹ khen thưởng phải trả CNV ( thưởng thi đua… )

kế toán ghi sổ theo định khoản:

Nợ TK 353- Quỹ khen thưởng, phúc lợi

Có TK 334- Phải trả CNV

Trang 39

- Trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp ( Các khoản mà người lao động sử dụng lao động được tính vào chi phí)

cụ thể về việc phân công quản lý sử dụng quỹ BHXH

- Trường hợp phân cấp quản lý sử dụng quỹ BHXH, doanh nghiệp được giữ lại một phần BHXH trích được để trực tiếp sử dụng chi tiêu cho CNV như : ốm đau, thai sản, … theo quy định; khi tính số BHXH phải trả trực tiếp CNV, kế toán ghi sổ theo định khoản :

Nợ TK 138 – Phải thu khác (1388)

Có TK 334- Phải trả CNV

Trang 40

- Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân viên

Trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có tính thời vụ , để tránh

sự biến động của giá thành sản phẩm, doanh nghiệp thường áp dụng phương pháp trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất như một khoản chi phí phải trả, cách tính như sau :

Mức lương nghỉ phép = Tiền lương thực tế phải trả x Tỉ lệ trích trước phải trả CNV

Ngày đăng: 21/04/2015, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các văn bản quy định chế độ tiền lương mới.Bộ lao động thương binh và xã hội Khác
2. Giáo trình kế toán doanh nghiệp theo luật kế toán mới Nhà xuất bản thống kê Khác
3. Tìm hiểu các quy định về tiền lương. BHXH và các chế độ khác của người lao động.Nhà xuất bản thống kê Khác
4. Chế độ kế toán doanh nghiệp. Hướng dẫn lập chứng từ kế toán. Hướng dẫn ghi sổ kế toán (Ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng - BTC)Nhà xuất bản Tài chính Khác
5. Giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Sơ đồ h ạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích (Trang 41)
Hình 1.1. Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích  theo lương - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 1.1. Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương (Trang 42)
Bảng tổng hợp  chứng từ kế toán  cùng loại - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Bảng t ổng hợp chứng từ kế toán cùng loại (Trang 48)
Bảng cân đối - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Bảng c ân đối (Trang 51)
Hình 1.6. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký –  Chứng từ - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 1.6. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký – Chứng từ (Trang 54)
Hình thức kế toán Nhật ký chung có ưu điểm là đơn giản, thích hợp  với mọi đơn vị kế toán và thuận lợi cho việc sử dụng kế toán máy, thuận  tiện đối chiếu, kiểm tra chi tiết theo từng chứng từ gốc. - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình th ức kế toán Nhật ký chung có ưu điểm là đơn giản, thích hợp với mọi đơn vị kế toán và thuận lợi cho việc sử dụng kế toán máy, thuận tiện đối chiếu, kiểm tra chi tiết theo từng chứng từ gốc (Trang 56)
Hình 1.7. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký  chung - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 1.7. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung (Trang 57)
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý (Trang 61)
Hình 2.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán -Nhiệm vụ của từng bộ phận trong phòng kế toán - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 2.2. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán -Nhiệm vụ của từng bộ phận trong phòng kế toán (Trang 62)
Hình 2.3. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 2.3. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung (Trang 64)
Hình 2.4. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán tiền lương và các khoản - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 2.4. Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán tiền lương và các khoản (Trang 69)
2.1.7. Hình thức tổ chức tiền lương tại Công ty Cổ phần Thương mại  Quảng Ninh - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
2.1.7. Hình thức tổ chức tiền lương tại Công ty Cổ phần Thương mại Quảng Ninh (Trang 72)
Hình 2.5 Qui trình luân chuyển của các chứng từ các khoản trích - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
Hình 2.5 Qui trình luân chuyển của các chứng từ các khoản trích (Trang 77)
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG (Trang 82)
BẢNG THANH TOÁN BHXH - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần thương mại quảng ninh
BẢNG THANH TOÁN BHXH (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w