1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử của quan niệm duy vật lịch sử đặc biệt

97 576 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 482 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai là, nó đề ra nhu cầu xã hội phải giải thích một cách khoa học những thực tế của cuộc đấu tranh đang phát triển giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, phải thay đổi những quan niệm

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đáp ứng yêu cầu của việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy di sản của chủ nghĩa Mác thì một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải nhận thức lại cơ sở khoa học trực tiếp của nó là chủ nghĩa duy vật lịch sử Ở đây vấn

đề đặt ra là muốn hiểu đúng hơn, sâu sắc và toàn diện hơn quan niệm duy vật về lịch sử thì nhất định phải nghiên cứu kỹ hơn lịch sử của nó

Trong triết học Mác- Lênin, chủ nghĩa duy vật lịch sử có quá trình hình thành, phát triển tương đối độc lập, vì thế có thể nghiên cứu riêng quá trình này Giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành, phát triển quan niệm duy vật về lịch sử có thời gian khoảng từ năm 1842 đến 1845 So với toàn bộ lịch sử của quan niệm duy vật về lịch sử, thì đây chính là giai đoạn hình thành những tư tưởng triết học khoa học về lịch sử Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã từng mắc phải những thiếu sót, hạn chế là thường chỉ chú ý đến giai đoạn trưởng thành của triết học Mác, còn quan tâm chưa đúng mức lịch sử của chúng, nhất là giai đoạn đầu tiên của nó, có nghĩa là chưa thấy rõ nội dung và ý nghĩa của những

tư tưởng triết học mang tính chất khởi nguồn của triết học Mác Điều này dẫn đến chỗ làm ta khó phân biệt được đâu là những tư tưởng, những luận điểm đã thành thục và đâu là những luận điểm, nguyên lý gốc đang được thực tiễn chứng minh là đúng cần phải bảo vệ, phát triển, đâu là những luận điểm trước kia đúng nhưng nay do hoàn cảnh lịch sử thay đổi nên không còn phù hợp, bị thực tiễn vượt qua cần phải sửa đổi, bổ sung, và đâu là những luận điểm đúng nhưng do ta hiểu và vận dụng chưa đúng Bởi vậy, yêu cầu đặt ra ở đây là phải quan tâm hơn đến việc học tập và nghiên cứu lịch sử triết học Mác- Lênin, trong đó có giai đoạn hình thành những tư tưởng triết học khoa học về lịch sử

Trang 2

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông

Âu làm cho thế lực thù địch càng cố công tìm mọi thủ đoạn để công kích, bác bỏ Chủ nghĩa Mác với mục đích “chiến thắng mà không cần chiến tranh” Chính thực tiễn này đã đặt ra nhiệm vụ cần phải khôi phục và bảo

vệ giá trị thực của triết học Macxit Đặc biệt sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay đang đòi hỏi phải nắm vững một cách có hệ thống triết học Mác và chủ nghĩa Mác, nhằm xây dựng lối tư duy lý luận có hệ thống Vì vậy, không được phép hiểu một cách đại khái hệ thống lý luận Mác – Lênin, mà phải nghiên cứu để nắm vững, hiểu biết sâu từng học thuyết, từng quan điểm riêng biệt của nó trong mối liên hệ mật thiết với nhau Muốn vậy, không thể không tìm hiểu lịch sử triết học Mác- Lênin, nhất là giai đoạn hình thành những tư tưởng triết học về lịch sử, vì nó có ý nghĩa đặt nền móng, làm tiền đề cho toàn bộ hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Tình hình nghiên cứu

Giai đoạn Mác-Lênin trong lịch sử triết học đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả, thể hiện ở nhiều tác phẩm, trong đó đến cuốn “Lịch sử triết học Mác- Lệnin” của Viện Hàn Lâm Khoa học Liên xô(1962); “Giáo trình lịch sử triết học” do GS PTS Nguyễn Hữu Vui chủ biên(1998), PGS.TS

Lê Doãn Tá với cuốn “Triết học Macxit- Quá trình hình thành và phát triển”(1996); PGS Bùi Thanh Quất và TS Vũ Tình đồng chủ biên cuốn “ Lịch sử triết học”; Giáo trình “Triết học” do PGS.TS Đoàn Quang Thọ chủ biên(2006); cuốn “Triết học Mác về lịch sử” của tác giả Phạm Văn Chung(2007); cuốn “Học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội và lý luận

về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của tác giả Phạm Văn Chung…Có thể nói trong phần lớn các công trình trên, các tác giả đã tiếp cận vấn đề lịch sử của quan niệm duy vật về lịch sử đồng thời với lịch sử

Trang 3

triết học Mác – Lênin nói chung Chính vì vậy vấn đề phân kỳ các giai đoạn của chủ nghĩa duy vật lịch sử và do đó, việc đi sâu nghiên cứu mỗi giai đoạn của nó chưa thực sự được quan tâm.

Việc nghiên cứu riêng lịch sử của quan niệm duy vật lịch sử trong các tài liệu trên đã được nghiên cứu, nhưng các kết quả lại chưa được trình bày thành chuyên đề riêng một cách cụ thể, trong các giai đoạn khác nhau, trong đó có giai đoạn hình thành những tư tưởng triết học khoa học

về lịch sử Cho nên chúng tôi nhận ra sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu kỹ hơn lịch sử của quan niệm duy vật lịch sử đặc biệt là giai đoạn đầu tiên của nó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ

- Khảo sát tiền đề và cơ sở của sự hình thành triết học Mác về lịch sử

- Tìm hiểu nội dung của một số tư tưởng duy vật về lịch sử, dựa trên việc tập hợp các luận điểm triết học tiêu biểu của C Mác và Ph Ănghen trong các tác phẩm cơ bản ở giai đoạn 1842-1845

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn nghiên cứu những tư tưởng duy vật cơ bản về lịch sử trong một số tác phẩm cơ bản của C.Mác và Ph.Ănghen

4.2.Phạm vi

Trang 4

- Luận văn nghiên cứu một số tư tưởng duy vật cơ bản về lịch sử của C.Mác và Ph.Ănghen trong khoảng thời gian 1842-1845

- Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu một số tư tưởng duy vật về lịch

sử của C.Mác và Ph.Ănghen trong, thông qua các tác phẩm tiêu biêủ như:

“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” và “Lời nói đầu” của nó; tác phẩm “Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844”; tác phẩm “Gia đình thần thánh”; tác phẩm “Luận cương về Phoiơbăc”

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận Macxit, sử dụng các phương pháp nghiên cứu: kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh

6 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần nhỏ vào nhiệm vụ nghiên cứu, nhận thức đúng hơn, rõ hơn, đầy đủ hơn nội dung và ý nghĩa của những tư tưởng duy vật lịch sử trong sự phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng và triết học Mác nói chung Việc nghiên cứu đề tài còn giúp tôi củng cố thêm vốn kiến thức chuyên môn cần thiết cho công tác sau này

- Luận văn cũng có thể được sử dụng trong việc giảng dạy và nghiên cứu triết học đặc biệt cho việc nghiên cứu những tư tưởng duy vật

về lịch sử giai đoạn 1842- 1845

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 7 tiết

Trang 5

Chương 1 TIỀN ĐỀ VÀ CƠ SỞ CỦA SỰ HÌNH THÀNH

CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Những năm 40 thế kỷ XIX được đánh dấu bằng cuộc cách mạng vĩ đại trong triết học và trong toàn bộ khoa học xã hội Triết học Mác đã xuất hiện và bắt đầu phát triển trong thời gian đó

Sự ra đời của triết học Mác không phải là ngẫu nhiên mà là sự kết tinh có tính quy luật của quá trình phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại dựa trên các điều kiện kinh tế - xã hội cũng như trình độ phát triển của khoa học tự nhiên ở thế kỷ XIX Chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời đã tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong xã hội học, vì nó đã phát hiện ra chân lý quan trọng “không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ, trái lại, chính sự tồn tại của họ quyết định ý thức của họ” và “phương thức sản xuất quyết định mọi quá trình sinh hoạt khác”[17; 439] Đây là những quan điểm cơ bản đặt nền móng cho toàn bộ chủ nghĩa duy vật lịch sử Đánh giá về vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử, Ăngghen viết “Đứng trên quan điểm đó, nếu người ta hiểu biết đầy đủ về tình hình kinh tế của

xã hội trong một thời kỳ nhất định, điều mà những nhà chuyên môn về lịch sử của chúng ta không biết một tí gì cả- thì tất cả mọi hiện tượng lịch

sử đều có thể giải thích được rất dễ Cả những quan niệm và tư tưởng của mỗi thời đại lịch sử cũng vậy, đều giải thích được một cách dễ dàng bằng những điều kiện sinh hoạt kinh tế của thời đại ấy và bằng những quan hệ

xã hội và chính trị bắt nguồn từ những điều kiện ấy Lần đầu tiên, lịch sử

đã được giải thích một cách chính xác nhất” [Trích theo 23; 4] Sở dĩ chủ nghĩa duy vật lịch sử có được nội dung và ý nghĩa khoa học như vậy là do được dựa trên những tiền đề và cơ sở phát triển của chính nó

Trang 6

Tuy nhiên, có những nhà lý luận tư sản đã quan niệm sai lầm rằng triết học Mác nói riêng và chủ nghĩa Mác nói chung ra đời như một biệt phái, như một sự độc thoại và tự giành cho mình quyền phát ngôn chân lý cuối cùng Thực tế cho thấy sự xuất hiện triết học Mác là một tất yếu lịch

sử, một hiện tượng hợp quy luật Nó kết tinh tất cả những thành tựu của tư duy triết học, văn hóa, khoa học và cả thực tiễn của lịch sử nhân loại nói chung

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là những học thuyết chủ yếu hợp thành triết học Mác, vì vậy chúng có chung những tiền đề tư tưởng và cơ sở thực tiễn, lý luận Song do tính độc lập tương đối của mình chủ nghĩa duy vật lịch sử hình thành, phát triển dựa trên những tiền đề, cơ sở mang tính đặc thù Do đó, khi nghiên cứu lịch sử của quan niệm này phải tính đến tính đặc thù ấy, kể cả giai đoạn đầu tiên của nó

1.1 Hoàn cảnh kinh tế- xã hội những năm đầu thế kỷ XIX

1.1.1 Sự củng cố và phát triển của chủ nghĩa tư bản

Triết học Mác xuất hiện ở Tây Âu nơi mà giữa thế kỷ XIX những mâu thuẫn của chế độ tư bản chủ nghĩa đã biểu hiện hết sức mạnh mẽ và gay gắt Vào những năm 40 thế kỷ XIX, phương thức sản xuất đã thống trị

ở Anh, Pháp và trong một chừng mực quan trọng cả ở Đức Phuơng thức sản xuất này đã bộc lộ tính chất tiến bộ lịch sử một cách hiển nhiên so với phương thức sản xuất phong kiến

Lúc này, nước Anh đã trở thành quốc gia tư bản lớn nhất, lực lượng công nghiệp phát triển rất hùng mạnh Nước Pháp mặc dù còn tàn dư của chế độ phong kiến nhưng tiến khá nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa Nước Pháp đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp với những thành

Trang 7

tựu tăng vọt: Từ năm 1830 đến 1847, số lượng máy hơi nước tăng lên 9 lần, các ngành khai thác sản xuất than đá, quặng, sắt thép đã tăng lên khoảng 3 lần, trong 12 năm, từ 1835 đến 1847 đường sắt tăng lên 12 lần.

Nước Đức, mặc dù còn phụ thuộc vào Anh và Pháp vì về cơ bản nước này vần còn ở giai đoạn công trường thủ công trong quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa nhưng sản xuất cũng tăng lên rất nhanh Từ 1800 đến 1840 sản lượng công nghiệp ở Đức tăng lên tối thiểu là 2,5 lần Cách mạng công nghiệp ở nước Đức bắt đầu vào những năm 40 của thế kỷ XIX thì đến năm 1837, riêng Phổ có trên 300 máy hơi nước Công nghiệp dệt

và khai khoáng phát triển mạnh Nền sản xuất tư bản đạt được nhiều thành tựu đáng kể ngày càng tỏ ra mâu thuẫn với chế độ phong kiến

Trong khoảng từ 1815 đến 1848 cách mạng công nghiệp tiếp tục phát triển ở các nước thúc đẩy nền kinh tế ở các nước này phát triển lên một bước Ở các nước chưa tiến hành cách mạng tư sản, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng có những bước phát triển đáng kể Nó đã tạo ra nguồn của cải vật chất phong phú cho chủ nghĩa tư bản “ Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”[18; 547] Những thế lực phong kiến đã buộc phải rời khỏi vũ đài và thích ứng với những điều kiện lịch sử mới Vượt qua thời kỳ phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh tính ưu việt so với các chế độ xã hội khác trong lịch sử Nước Anh và nước Pháp đã trở thành những quốc gia tư bản hùng mạnh, là động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu

Như vậy, dù ở mức độ khác nhau nhưng Châu Âu, đặc biệt Tây Âu

đã trở thành trung tâm của sự phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ

Trang 8

nghĩa, làm cơ sở cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội Điều này đòi hỏi phải phát triển khoa học kỹ thuật và phương thức tư duy trên cơ sở thế giới quan triết học mới.

1.1.2 Sự phát triển của những mâu thuẫn trong lòng chủ nghĩa

hệ xã hội diễn ra song song với chủ nghĩa sùng bái đồng tiền và sự tha hóa trong quan hệ giữa người với người Sự cảnh báo của G.G.Rutxô về

tỷ lệ nghịch giữa tiến bộ vật chất và đời sống tinh thần của con người đã thể hiện trong điều kiện xã hội tư bản Quan hệ tư bản tiếp tục đào hố sâu ngăn cách giữa các tầng lớp xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay Nó chẳng những không khắc phục được những mâu thuẫn và xung đột xã hội do trật tự phong kiến để lại, mà còn làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn và xung đột xã hội đó C.Mac chỉ

rõ rằng, tích lũy của cải và “tích lũy” sự bần cùng dường như song hành, tạo nên bước tranh xã hội với những đường nét tương phản nhau, và điều

đó cũng có nghĩa là việc cải tạo lại các quan hệ xã hội đã trở thành nhu cầu tất yếu, khách quan” [6; 16]

Trang 9

Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản tất yếu tạo

ra trong lòng nó một lực lượng đối lập là giai cấp vô sản hiện đại Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Những vũ khí

mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính giai cấp tư sản Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại, những người vô sản”[18; 539] Qúa trình này cũng đã nảy sinh đầy mâu thuẫn Nó không những tiếp tục bộc lộ, phát triển những mâu thuẫn vốn

có tiềm tàng của nó, mà còn hình thành , phát triển những mâu thuẫn mới Bên cạnh mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ phong kiến, xuất hiện mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Đây là mâu thuẫn

cơ bản nổi bật và là một trong những vấn đề trung tâm của tình hình xã hội các nước lúc bấy giờ

Khi giai cấp tư sản chưa trở thành giai cấp thống trị về chính trị, vẫn còn là một lực lượng cách mạng chống chế độ phong kiến, thì sự đối lập giữa lợi ích của nó với lợi ich của gia cấp vô sản chưa bộc lộ một cách gay gắt Nhưng sau khi đã xác lập được sự thống trị của mình rồi, giai cấp

tư sản không còn là giai cấp cách mạng nữa, mà dần dần trở thành lực lượng bảo thủ, phản cách mạng Những mâu thuẫn giai cấp vốn có của xã hội tư bản ngày càng gay gắt, trước hết là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản

và giai cấp vô sản Mâu thuẫn này là sự biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa: giữa một bên là tính chất xã hội hóa và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa với một bên là quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa[39;468] Mâu thuẫn này biểu hiện thành sự đối kháng kịch liệt

Trang 10

giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, biểu hiện sự tự phủ định của chủ nghĩa tư bản

Năm 1825, ở Anh lâm vào khủng hoảng kinh tế sau đó lan rộng ra lục địa châu Âu, lúc này những nhà tư tưởng phong kiến và những nhà lý luận của giai cấp tư sản đã bị chủ nghĩa tư bản làm cho phá sản đã kêu gọi quay trở về thời đại “hoàng kim cũ” nghĩa là quay trở về chế độ phong kiến Tuy nhiên, không một nhà chính trị hay bác học nào thời kỳ này nhìn nhận thấy một sự thực là sự cùng khổ của nhân dân lao động gắn liền với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất của chủ nghĩa tư bản Chính hiện thực chứa đựng khuynh hướng tự phủ định ấy mới thực sự là cơ sở hiện thực cho sự hình thành hệ thống triết học khoa học

1.1.3 Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử

Sau khi xác lập vị trí thống trị về chính trị của mình thì giai cấp tư sản không còn là một giai cấp cách mạng như khi còn là lực lượng cách mạng chống phong kiến Bây giờ, mâu thuẫn giai cấp vô sản với giai cấp

tư sản đã bộc lộ hết sức gay gắt Đây là biểu hiện của mâu thuẫn về mặt kinh tế giữa trình độ phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất với

sự chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn đó là cuộc đấu tranh không điều hòa giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản nhưng chính chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cái lực lượng để giải quyết mâu thuẫn đó Lực lượng đó là giai cấp vô sản cách mạng, ngày càng phát triển có tính tự giác và tổ chức cao

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã trải qua nhiều giai đoạn Ở thời kỳ đầu, phong trào công nhân còn mang tính tự phát, thiếu tổ chức hình thức đấu tran cơ bản lúc này là bạo động tự phát (nổi loạn), công nhân chưa hiểu được những nguyên nhân chủ yếu của địa vị thống khổ của mình

Trang 11

Cuối thế kỷ XVIII, công nhân ở Anh và Pháp đã áp dụng những hình thức đấu tranh mới như bãi công về sau trở thành phương tiện đấu tranh chính trị mạnh mẽ Bãi công mang tính chất quần chúng rộng rãi và kết hợp với biểu tình tuần hành và nhiều tổ chức nghiệp đoàn của công nhân ra đời.

Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã buộc chính phủ tư sản phải đề ra một số luật nhằm rút ngắn thời gian lao động trong ngày và cải thiện điều kiện làm việc trong các xí nghiệp tư bản

Trong những năm 30 - 40 thế kỷ XIX, phong trào công nhân trong những nước lớn nhất ở Tây Âu mặc dù còn tính chất tự phát nhưng ngày càng trở thành một lực lượng mạnh mẽ, quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội Họ bắt đầu cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột của chế độ tư bản, họ chuyển dần từ đấu tranh tự phát , vì mục tiêu kinh tế thuần túy sang trình độ tự giác có tổ chức, gắn liền cuộc đấu tranh vì lợi ích vật chất với lý tưởng chính trị, hướng tới ục tiêu nhân văn, dân chủ, công bằng và

tự do Nơi à các nhà tư tưởng tư sản chỉ nhận thấy có sự bạo loạn, phá hoại của quần chúng nghèo đói chống nền văn minh, thì C.Mác và Ph.Ăngghen lại cảm nhận rõ ràng sức sống của tương lai

Phong trào hiến chương nước Anh những năm 30 – 40 đã tạo ra sự quan tâm đặc biệt và sự tham gia của các tầng lớp trí thức và tư sản tiến

bộ Phái hiến chương đòi ban bố và đảm bảo quyền bầu cử cho mọi người lao động, cho rằng giai cấp công nhân phải có nhiều đại biểu của mình trong nghị viện và có thể thông qua họ thực hiện những cải cách xã hội cần thiết cho nhân dân lao động Phong trào này được Lênin đánh giá cao coi như phong trào quần chúng đầu tiên đã hình thành về mặt chính trị và

có tính chất cách mạng vô sản

Trang 12

Ở Pháp, cuộc đấu tranh chống tư bản phát triển thành một loạt những cuộc khởi nghĩa vũ trang Năm 1831 và 1834, nổ ra cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông Bàn về cuộc khởi nghĩa này, một tờ báo tư sản đã viết “cuộc khởi Liông vạch ra bí mật quan trọng tức là vạch ra cuộc đấu tranh bên trong xảy ra trong xã hội giữa giai cấp có của và giai cấp chỉ có hai bàn tay trắng”[trích theo43;6]

Năm 1844, ở Đức cũng diễn ra cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi đòi tăng lương, phá hủy nhà cửa của tư sản Mác đánh giá cao cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Xilêdi: xe đó là một hiện tương có ý nghĩa chính trị lớn lao, mở đầu cho phong trào công nhân có tính chất quần chúng, chứ không phải là “ một cuộc khởi nghĩa vì đói” như tư sản cố tình xuyên tạc Điều này cho thấy giai cấp vô sản Đức đã tiến công mạnh mẽ vào giai cấp tư sản

Trung tâm của phong trào cách mạng chuyển sang nước Đức, trong khi nước này đang phải hoàn thành cuộc cách mạng tư sản Cuộc cách mạng tư sản Đức diễn ra trong những điều kiện lịch sử phát triển hơn so với nước Anh trong thế kỷ XVII và nước Pháp trong thế kỷ XVIII Giai cấp tư sản Đức khiếp sợ cách mạng và ngày càng biến thành lực lượng phản cách mạng Nó lo sợ trước sự phát triển của giai cấp vô sản Đức và

sự thức tỉnh ý thức cách mạng của giai cấp này Nó thỏa hiệp với phong kiến nhằm chống lại phong trào cách mạng của quần chúng lao động

Các phong trào đấu tranh của công nhân trong những năm 30-40 của thế kỷ XIX đều có đặc điểm chung là: những khẩu hiệu về chính trị đã được nêu lên bên cạnh những khẩu hiệu về kinh tế, phong trào đã mang tính chất quần chúng rộng rãi, quy mô đấu tranh ngày càng lớn hơn…Những đặc điểm này chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ở các nước đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập Mặt khác, phong trào công nhân

Trang 13

những năm 30-40 của thế kỷ XIX, như Ăngghen nhận xét, đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong quan niệm về lịch sử Một là, vạch trần tính chất sai lầm của sự khẳng định của các nhà tưởng tư sản về sự hân hoan chung của tư bản và lao động, sự hài hòa chung, hạnh phúc chung trong xã hội

tư bản Hai là, nó đề ra nhu cầu xã hội phải giải thích một cách khoa học những thực tế của cuộc đấu tranh đang phát triển giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, phải thay đổi những quan niệm cũ về lịch sử bằng những quan niệm mới, phải trả lời một cách rõ ràng những vần đề mà mọi giai cấp đều quan tâm: số phận của loài người sẽ ra sao và những lực lượng nào đóng vai trò chủ yếu trong cuộc đấu tranh cho tương lai của nhân loại: giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử gì

Tuy nhiên, sự thất bại của các phong trào chứng tỏ rằng giai cấp vô sản chưa được giác ngộ đầy đủ, tổ chức chưa chặt chẽ, không được hướng dẫn bằng một lý luận cách mạng khoa học Cuộc đấu tranh cách mạng buộc giai cấp vô sản phải đề ra nhiệm vụ sáng tạo một học thuyết đúng đắn để đưa phong trào đi đến thắng lợi Do đó yêu cầu xác lập một cương lĩnh đấu tranh cho giai cấp công nhân là một yêu cầu cấp thiết của lịch sử Hơn nữa, thực tiễn lịch sử nước Đức lúc bấy giờ đòi hỏi phải hoàn thành cuộc cách mạng tư sản nên giai cấp vô sản Đức đã trở thành lực lượng tiến hành cách mạng với nước Đức Điều này đã làm cho nước Đức trở thành quê hương của chủ nghĩa Mác và hệ tư tưởng của giai cấp vô sản

1.1.4 Chủ nghĩa Mác ra đời đáp ứng về mặt lý luận những yêu cầu của lịch sử xã hội

Những cuộc đấu tranh của công nhân đã cho thấy giai cấp vô sản đã trưởng thành, họ có thể đứng lên vũ đài chính trị của mình nhưng tính chất của nó vẫn còn tự phát vì thiếu lý luận khoa học dẫn đường Họ chưa

Trang 14

giác ngộ được địa vị lịch sử của mình, chưa thấy con đường và cách thức

để xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn

Vào lúc này cũng đã có nhiều trào lưu lý luận về tổ chức xã hội cố gắng nhân danh lợi ích của giai cấp vô sản nhưng lại không bao giờ thực

sự đặt mình vào địa vị của giai cấp công nhân, cho nên họ không bao giờ đại diện thực sự cho lợi ích của giai cấp công nhân, không đáp ứng được yếu cầu của phong trào vô sản, không thể hiện được những lợi ích căn bản của giai cấp vô sản trong sự nghiệp giải phóng lao động khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa Yêu cầu tất yếu vào lúc này là phải có một lý luận đúng đắn dẫn đường cho giai cấp công nhân đi từ đấu tranh tự phát tới đấu tranh tự giác vì lợi ích của giai cấp mình Từ yêu cầu tất yếu đó, triết học Mác ra đời, triết học Mác ra đời mới đáp ứng được nhu cầu là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản, cũng như giai cấp vô sản đóng vai trò là vũ khí vật chất của triết học Mác

Cũng cần nhấn mạnh rằng, Mác và Ăngghen mặc dù không xuất thân từ tầng lớp lao động là giai cấp công nhân, nhưng con người xã hội, con người lý luận khoa học, chính trị, con người cộng sản của các ông lại được sản sinh ra từ địa vị của giai cấp công nhân Vì vậy, chính Mác và Ăngghen đã thực hiện sứ mệnh vẻ vang là sáng tạo lý luận cách mạng cho phong trào vô sản Có thể gọi Mác và Ăngghen là yếu tố hay điều kiện có tính tổng hợp của toàn bộ điều mà chúng ta gọi là cơ sở thực tiễn, cơ sở hiện thực của sự hình thành phát triển triết học Mác về lịch sử và của chủ nghĩa Mác nói chung Có thể thấy những yếu tố điều kiện, tiền đề của sự hình thành triết học Mác về lịch sử đươc tập trung kết tinh trong giai cấp công nhân, quy định địa vị lịch sử của nó Đến lượt mình, nó lại chuyển hóa, kết tinh trong các đại biểu ưu tú của nó là Mác và Ăngghen Rõ ràng toàn thể giai cấp công nhân không trực tiếp tham gia vào quá trình sáng

Trang 15

tạo nên nền triết họa mới, mà chỉ có thông qua những đại biểu ưu tú về trí tuệ, đạo đức và tinh thần nói chung của mình, giai cấp công nhân mới có thể có được nền triết học mới, có được quan niêm duy vật về lịch sử.

1.2 Những tiền đề lý luận cho sự ra đời triết học Mác

“Lịch sử tư tưởng nhân loại đã chứng minh rằng, không có một hệ

tư tưởng nào ra đời trên mảnh đất trống không mà sự ra đời của nó bao giờ cũng là kế thừa các tư tưởng trước đó Lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội chứng tỏ hết sức rõ ràng chủ nghĩa Mác không có gì giống “chủ nghĩa bè phái”, hiểu theo nghĩa một học thuyết đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới Trái lại toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp những vấn đề và tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã đặt ra Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”[40;49] Luận điểm của Lênin đã khẳng định rõ ba tiền đề,

ba nguồn gốc lý luận khách quan tất yếu của chủ nghĩa duy vật lịch sử đó là: Triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh và kinh tế chính trị học cổ điển Anh Với thiên tài của mình, Mác và Ăngghen đã phê phán, kế thừa những thành tựu vĩ đại của tư tưởng nhân loại, xây dựng nên một thế giới quan mới là thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, biểu hiện lý luận khoa học về địa vị lịch sử của giai cấp vô sản

1.2.1 Tiền đề tư tưởng triết học về lịch sử trước Mác.

Tư tưởng triết học về lịch sử trước Mác đã đặt ra hầu hết các vấn đề thuộc về nội dung mà triết học lịch sử Macxit sau này phải giải đáp như các vấn đề: con người, xã hội, lịch sử, văn hóa, chính trị, đạo đức, tôn giáo, sự vận động và phát triển lịch sử Những tư tưởng triết học về lịch

Trang 16

sử gần gũi và trực tiếp nhất đối với triết học Mác về lịch sử là tư tưởng của các đại biểu trong xã hội tư sản trước Mác Tiêu biểu là tư tưởng của một số đại biểu sau:

Khi bàn về con người, trong thời đại Phục hưng, triết học lịch sử đã

nhận thấy cái phân biệt con người với tự nhiên là thế giới văn hóa và nó

đã tìm nguyên nhân của thế giới từ con người Theo họ con người sở dĩ tạo ra văn hóa là vì nó là một thực thể độc lập và có trí tuệ Trí tuệ chính

là cái làm cho con người hoạt động không lệ thuộc vào tự nhiên Tiếp tục những tư tưởng của thời đại Phục hưng, Vônte cho rằng đối tượng chân chính của triết học về lịch sử là trí tuệ con người và xem trí tuệ con người

là động lực của lịch sử

Nói về xã hội, nhà triết học Ý- Giabatixta Vicô cho rằng xã hội là

những tổ chức được xác lập trong phạm vi dân tộc và do thể chế cai trị, quyết định Còn theo tư tưởng của Cantơ tổ chức xã hội, cơ cấu xã hội chỉ

là cái phương thức mà nhờ đó con người thực hiện sự tiến bộ chứ không phải mục đích của nó Vì thế ông cho rằng cần phải xây dựng tổ chức xã hội hoàn thiện để con người phát triển Hêghen cũng nhận thấy xã hội là chỉnh thể bao gồm các yếu tố cầu thành cơ bản như: gia đình, xã hội công dân, nhà nước, tôn giáo, pháp quyền…ông cho rằng chính nhà nước mà trong đó “ý niệm tuyệt đối” là bản chất của nó, là cơ sở quyết định gia đình và xã hội công dân”[7; 309-313] Ta thấy các quan niệm về xã hội như trên dù khác nhau, hoặc mang tính chất siêu hình, máy móc, hoặc mang tính chất duy tâm, nhưng đều cho thấy sự cần thiết phải thừa nhận

sự tồn tại khách quan của những tổ chức xã hội, phải nhận thức chúng như những hệ thống, những chỉnh thể xác định và phải vạch rõ vai trò, chức năng của mỗi yếu tố của chúng đối với sự tồn tại và phát triển của con người

Trang 17

Quan niệm về xã hội loài người như một chỉnh thể ở trong quá trình phát sinh, phát triển, là tư tưởng triết học lịch sử đặc sắc nhất trong

giai đoạn trước Mác.

Giabatixta Vicô là người đầu tiên xây dựng ý niệm về tiến triển logic của lịch sử, đã quan niệm quá trình phát triển lịch sử loài người về thực chất là những giai đoạn phát triển của dân tộc Và ông phân chia các giai đoạn phát triển căn cứ vào những giai đoạn phát triển của cá thể người Theo ông dân tộc trải qua các thời kỳ phát triển là: thời thơ ấu của dân tộc bị thống trị bởi tầng lớp giáo sỹ, bởi các lý thuyết tôn giáo và thần thoại, tiếp theo là thời đại anh hùng của dân tộc bị chi phối bởi sự vô thần

về quyền lực, cuối cùng là thời trưởng thành của dân tộc, là thời đại cộng hòa dân chủ và bình đẳng phổ biến của xã hội Kết thúc giai đoạn này các dân tộc lại quay lại thời kỳ đầu tiên và lại phát triển theo chu kỳ đó.[25;108] Đây chính là tư tưởng về sự vận động đi lên của lịch sử loài người Quan niệm của Vicô cho thấy xu hướng chung của lịch sử nhân loại là sự phát triển của các dân tộc riêng biệt, mặt khác cho thấy cách thức chung của phát triển lịch sử với đặc trưng là sự thay đổi về chất của những tổ chức xã hội toàn vẹn trong phạm vi dân tộc do thể chế cai trị đóng vai trò quyết định Đồng thời tư tưởng đó cũng bao hàm quan niệm

về sự phân kỳ lịch sử theo quan điểm phát triển Mặt hạn chế và sai lầm của Vicô là ở chỗ ông cho rằng những thể chế cai trị là cơ sở quyết định những biến đổi của lịch sử dân tộc, cho rằng lịch sử loài người nói chung chỉ là lịch sử dân tộc và diễn ra theo chu kỳ khép kín Tuy vậy không thể phủ nhận tư tưởng tiến bộ của ông về sự phát triển lịch sử với tư cách là quá trình biến đổi, thay thế nhau của những tổ chức xã hội toàn diện, được thành lập trong phạm vi dân tộc Đây là một tư tưởng sâu sắc có ý nghĩa

Trang 18

quan trọng đối với nhận thức triết học về lịch sử nói riêng và đối với nhận thức xã hội, lịch sử nói chung.

Nhà tư tưởng Pháp Rutxô có bước tiến xa hơn trong quan niệm về

sự phát triển lịch sử Ông đã thấy được mâu thuẫn xã hội và nêu tư tưởng

về xu thế chung của quá trình lịch sử nhân loại thông qua sự phát triển của các quan hệ xã hội của con người và diễn ra theo quy luật phủ định của phủ định Theo Ru-xô, xu hướng của vận động lịch sử là một quá trình đi từ bình đẳng nguyên thủy, trải qua bất bình đẳng do sự đồi bại gây lên, sau đó là sự thiết lập bình đẳng ở trình độ cao hơn Đó là phủ định của phủ định[25;107] Ông còn có tư tưởng về tiến bộ và thoái bộ trong lịch sử Lý tưởng chính trị của ông là nền dân chủ trực tiếp dựa trên khế ước xã hội Tư tưởng này một lần nữa chứng tỏ sự cần thiết phải nhận thức quá trình có quy luật của lịch sử xã hội loài người nói chung Tuy nhiên, trong khi phác họa ra xu hướng chung của sự phát triển lịch sử ông

đã không giải thích được cơ sở khách quan, tất yếu của nó

Đại biểu của chủ nghĩa xã hội không tưởng- Xanh Ximông đã phân chia lịch sử loài người thành các giai đoạn phát triển chủ yếu, gắn liền với các hệ thống xã hội như sau: 1) Thời Cổ đại với những hệ thống xã hội xây dựng trên cơ sở chế độ nô lệ; 2) Thời trung đại với hệ thống xã hội xây dựng trên cơ sở lao động bị cột chặt vào ruộng đất; 3) Thời Cận đại với hệ thống xã hội xây dựng trên cơ sở lao động làm thuê, là hệ thống xã hội công nghiệp Ông đã thấy được nhân tố nòng cốt của lịch sử là hoạt động kinh tế, với những hình thức sở hữu và những giai cấp tương ứng và cho rằng chỉ có thể xây dựng hợp lý bằng cách ra sức phát triển lực lượng sản xuất, nhưng lại không thấy sự diệt vong tất yếu của chế độ người bóc lột người, tính tất yếu của đấu tranh giai cấp trong xa hội Vì vậy, Ăngghen nhận xét rằng nhận thức của Xanh Xi mông cho rằng kinh tế là

Trang 19

cơ sở của các thiết chế chính trị chỉ mới biểu hiện dưới hình thức phôi thai.”[12; 285]

Triết học cổ điển Đức là một trong những tiền đề lý luận quan trọng, cần thiết để chuyển triết học từ chủ nghĩa duy vật siêu hình sang thế giới quan duy vật biện chứng “…Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII, mà thúc đẩy triết học tiến lên Ông làm cho nó phong phú thêm bằng những thành quả của triết học cổ điển Đức, đặc biệt là của học thuyết Hêghen, học thuyết này đến lượt nó lại đã dẫn tới chủ nghĩa duy vật của Phơ bách Cái chủ yếu trong những thành quả là phép biện chứng, nghĩa là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và hoàn toàn không có tính chất phiến diện, học thuyết về tính tương đối của tri thức loài người, tri thức này đem lại cho chúng ta sự phản ánh của vật chất đang phát triển vĩnh viễn”[42;4]

Không thể phủ nhận, Mác và Ăngghen đã kế thừa yếu tố tích cực trong toàn bộ lịch sử triết học, tuy nhiên trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức với hai đại biểu tiêu biểu là Hêghen và Phơ bách

Hêghen- đại biểu lớn nhất của triết học lịch sử trước Mác, mặc dù giải thích lịch sử theo quan điểm duy tâm, nhưng đã đưa ra những kết luận mang tính phỏng đoán thiên tài về tính thống nhất của quá trình lịch sử nhân loại Ông coi lịch sử loài người là sự phát triển của “ ý niệm tự do”, trải qua ba giai đoạn chủ yếu: 1) Thế giới phương đông không có tự do của nhân dân, chỉ có tự do của một người là nhà vua chuyên chế; 2) Thế giới Hylap- Roma có tự do hạn chế cho một số người; 3) Thế giới Đức có

tự do cho tất cả[25;108] Hêghen muốn hướng tới cái căn nguyên thực sự quy định tính đặc thù về chất của quá trình lịch sử, đó là sự phát triển của bản thân con người Ông hiểu lịch sử con người là quá trình con người tự

Trang 20

sản sinh ra mình nhờ lao động, song do xuất phát từ quan niệm cho rằng tồn tại thực chất là tồn tại tinh thần, nên lao động theo ông là lao động tinh thần Tuy quan niệm này mang tính chất duy tâm, nhưng cũng đã cho thấy rằng chỉ có thể vạch ra được bản chất, cách thức và xu hướng chung, tất yếu của lịch sử xã hội loài người khi chứng tỏ rằng nó là quá trình có quy luật, là quá trình đặc thù so với tự nhiên.

Đến với Hêghen, lần đầu tiên trong lịch sử triết học, tư tưởng biện chứng được xây dựng thành một hệ thống phương pháp biện chứng, quan điểm biện chứng trong việc nghiên cứu hiện thực Thực chất, ngay từ thời cổ đại, tư tưởng biện chứng đã xuất hiện mà Hêracơlít đã được coi là ông tổ của phép biện chứng Trong suốt tiến trình lịch sử của nhận thức, việc nghiên cứu những mối liên hệ, sự vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng đã được thực hiện nhưng tư duy siêu hình vẫn chiếm vị trí thống trị trong triết học và khoa học do khoa học tự nhiên, đặc biệt là cơ học phát triển Bởi vậy, công lao rất lớn của Hêghen là đã xây dựng thế giới quan biện chứng, phương pháp biện chứng và lôgic biện chứng, mặc dù vẫn trên cơ sở duy tâm Ông đã phê phán phương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức về sự vật hiện tượng, từ đó ông tìm ra những nguyên lý, những quy luật cơ bản của phương pháp tư duy biện chứng, rất tiếc phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng “lộn đầu xuống đất” nhưng điều này đã không thể phủ nhận công lao của ông đúng như C.Mác đã nhận xét: “tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”[13;494] Nhiệm vụ lịch sử này đã được Mác và

Trang 21

Ănghen hoàn thành một cách xuất sắc mà cho đến nay vẫn không có hệ tưởng nào vượt qua được.

Khi nghiên cứu về lịch sử triết học Mác ta thấy, thoạt đầu, Mác và Ăngghen là những nhà biện chứng duy tâm, ủng hộ triết học của Hêgghen Mác làm quen với triết học đó vào năm 1837 và Ăngghen là năm 1839 Những luận điểm biện chứng của Hêghen đã thu hút Mác và Ăgghen thời trẻ Hai ông đã tham gia nhóm Hêgghen trẻ và sử dụng triết học của Hêgghen vào cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chế độ chuyên chế Nhưng trong nhóm Hêgghen trẻ Mác và Ăngghen đã có một lập trường riêng: hai ông kiên quyết đấu tranh chống các mối quan hệ xã hội đương thời Nếu những người trong phái Hêgghen trẻ cho rằng những biến đổi xã hội diễn ra dưới ảnh hưởng của những cá nhân biết suy nghĩ một cách có phê phán và họ là những người sáng tạo ra lịch sử, thì Mác và Ăngghen ngay từ thời trẻ đã kính trọng sâu sắc quần chúng nhân dân và không bao giờ nghĩ rằng những biến đổi xã hội lại có thể thực hiện được mà không cần cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân Ngay trong những tác phẩm đầu tiên của mình, hai ông đã cố gắng gắn triết học với cuộc đấu tranh chính trị- xã hội của nhân dân lao động

Mác và Ăngghen thời trẻ đã nắm vững phương pháp biện chứng của Hêgghen Hai ông đã dùng những tư tưởng cách mạng của phép biện chứng của Hêgghen để luận giải cho những khát vọng dân chủ- cách mạng của mình

Dưới ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chính trị- xã hội và của chủ nghĩa duy vật của Phoibắc, trong quan điểm của Mác và Ăngghen những năm 1842-1843 đã đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản

Trang 22

Bước chuyển đó được hoàn thiện vào cuối năm 1843- đầu 1844 Khi vứt

bỏ chủ nghĩa duy tâm, triết học thần bí của Hêgghen, Mác và Ăngghen đã xem xét lại một cách có phê phán những tư tưởng hợp lý trong phép biện chứng của ông Hai ông hiểu rất rõ rằng, trong những lời tối tăm, cầu kỳ, thông thái rởm của các bài viết của Hêgghen đã dấu kín những tư tưởng cách mạng Mác viết nếu tước bỏ đi các hình thức thần bí thì phép biện chứng của Hêgghen sẽ là hình thức cơ bản của mọi phép biện chứng Khi giải phóng phép biện chứng của Hêgghen khỏi chủ nghĩa duy tâm và thần

bí, Mác và Ăgghen đã xây dựng những nguyên tắc của phép biện chứng duy vật Phép biện chứng Mac-xit không chỉ khác mà còn đối lập với phép biện chứng của Hêgghen Nó là hình thức lịch sử cao nhất của phép biện chứng

Phơ bách có công lao lớn trong việc chống lại chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và các nhà triết học khác, chống lại tôn giáo, khôi phục và phát triển các học thuyết triết học duy vật trước đó Ông cho rằng, hạn chế của Hêghen là ở tính duy tâm của nó trong việc giải quyết vấn đề quan hệ giữa con người và thế giới, tinh thần và vật chất, coi toàn bộ thế giới hiện thực chỉ là hiện thân của tinh thần tuyệt đối được hiểu như một lực lượng siêu nhiên

Theo Phơ bách, tự nhiên, con người là thực thể duy nhất, không có

gì cao hơn hay thấp hơn nó, không có gì trước hay sau nó Ông coi tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý cá nhân và bản chất con người Người

ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin và an ủi Bản chất của thần học, do vậy, chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú của con người Tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với những điều kiện xã hội Tôn giáo thực chất chỉ là sự biểu hiện bản chất của con người dưới hình thức thần bí Ông nói, không phải

Trang 23

chúa sáng tạo ra con người theo hình ảnh của chúa mà chính con người sáng tạo ra chúa theo hình ảnh của con người.

Về nhận thức, Phơ bách cho rằng chính giác quan, nơi xuất phát của

tư duy là nguồn gốc của sự hiểu biết về thế giới bên ngoài Con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới, và nếu con người có nhiều hơn năm giác quan thì sự hiểu biết của con người về thế giới cũng không thay đổi về nguyên tắc

Từ đây, Phơ bách đưa ra quan điểm có phần hợp lý về thực tiễn và chỉ rõ tư duy không tách rời hoạt động cảm tính Tuy nhiên, ông vẫn chưa vượt qua được tư duy siêu hình cũ ở chỗ cho rằng nhận thức chỉ như sự tác động của sự vật trong tự nhiên trong ý thức con người mà không thấy được sự tác động của con người vào sự vật, không thấy được con người biến đổi tự nhiên và hoạt động thực tiễn là cơ sở của nhận thức bởi ông không thấy được hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động cải tạo nhằm biến đổi thế giới là bộ phận vô cùng quan trọng của hoạt động cảm tính

Hơn nữa, khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, ông đã không nhìn thấy hạt nhân hợp lý đó là phép biện chứng mà đã phủ định sạch trơn, vứt bỏ cả phép biện chứng của Hêghen Ông phê phán triết học Hêghen giống như hắt chậu nước có đứa trẻ thì ông hắt bỏ cả đứa trẻ cùng với nước trong chậu tắm, lẽ ra ông phải giữ lại đứa trẻ vì đó chính là yếu

tố tích cực – chính là phép biện chứng trong triết học Hêghen và chỉ vứt

bỏ yếu tố duy tâm

Như vậy, mặc dù Phơ bách đã có bước tiến so với các nhà triết học duy vật trước đó nhưng ông vẫn không thể khắc phục được khuyết điểm, hạn chế trong triết học của họ là phép siêu hình, quan niệm duy tâm về đời sống xã hội

Trang 24

Đối với Mác và Ănghen thời trẻ thì Phoiơbắc như một luồng nhiệt cháy bỏng, một lò luyện của thời gian, Bằng sự phê phán của mình đối với chủ nghĩa duy tâm, Phoiơbắc đã nhanh chóng giúp Mác và Ănghen thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm và chuyển vững chắc sang lập trường của chủ nghĩa duy vật Ảnh hưởng của triết học Phoiơbắc đặc biệt mạnh mẽ đối với những tác phẩm của Mác và Ănghen viết vào những năm 1844-

1845 Nhưng cần nhấn mạnh rằng, Mác và Ănghen chưa bao giờ là những người theo Phoiơbắc triệt để, cũng giống như chưa bao giờ theo Hêghen triệt để Khác với Phoiơbắc đã vứt bỏ hoàn toàn triết học của Hêghen Mác và Ănghen đã giữ lại và biến đổi có phê phán học thuyết về sự phát triển và phép biện chứng của Hêghen Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là chủ nghĩa duy vật siêu hình, còn Mác và Ănghen đã phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng Hơn nữa, Phoiơbắc còn là nhà duy tâm trong lĩnh vực xã hội Trái lại, Mác và Ănghen ngay từ giữa những năm 40 của thế

kỷ XIX đã xây dựng những quan niệm duy vật về lịch sử Đồng thời, Phoiơbắc đã không hiểu cuộc đấu tranh chính trị- xã hội, không hiểu vai trò của thực tiễn Trái lại, Mác và Ănghen là những nhà cách mạng, là những nhà duy vật thực tiễn, là những người cộng sản Hai ông đã gắn những vấn đề lý luận triết học với cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, của giai cấp vô sản Trong tác phẩm “ Luận cương về Phoiơbắc” và trong nhiều tác phẩm sau này Mác và Ănghen đã phê phán sâu sắc chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, song hai ông luôn luôn nhấn mạnh vai trò to lớn của Phoiơbắc trong cuộc đấu tranh chống tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, trong việc làm hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Hai ông đã thừa nhận rằng, chủ nghĩa duy vật Phơ bách và phép biện chứng của Hêghen đã trở thành một trong những tiền đề lý luận cho

sự ra đời triết học Mác

Trang 25

Mặc dù Mác và Ănghen đã kế thừa trực tiếp phép biện chứng của Hêghen và triết học duy vật của Phơ bách nhưng đây không phải là duy nhất bởi triết học Mác đã tổng kết có phê phán toàn bộ lịch sử nhận thức của loài người như Lênin đã nói: “tất cả những gì đã được tư tưởng của nhân loại sáng tạo ra, ông đều đã cải tạo; phê phán, sau khi đã đem ra kiểm nghiệm trong phong trào công nhân và ông đã rút ra kết luận mà những người bị hạn chế bởi khuôn khổ tư sản hoặc bị những thiên kiến tư sản trói buộc không thể làm được”[trích theo 36;9]

Như đã đề cập ở trên, triết học duy vật của Phơ bách mặc dù tiến bộ hơn các nhà triết học duy vật thế kỷ 17, 18 nhưng vẫn chưa triệt để Phơ bách đã có quan niệm đúng về mặt tự nhiên của con người khi cho rằng con người không phải là nô lệ của thượng đế hay tinh thần tuyệt đối, mà

là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả phát triển của tự nhiên nhưng ông lại không thấy được bản chất xã hội của con người mà trước hết chính là hoạt động lao động, hoạt động thực tiễn của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới

Cũng vậy, trong quan niệm về tôn giáo, mặc dù đã chỉ ra được nguồn gốc tâm lý của con người đối với tôn giáo nhưng ông chưa đề cập tới những điều kiện kinh tế - xã hội – một trong những nguồn gốc quan trọng cho sự ra đời tôn giáo

Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ sẽ được khắc phục và triết học duy vật sẽ được hoàn thiện, trở thành triết học duy vật biện chứng với công lao của Mác và Ăngghen kế thừa những giá trị trong kinh tế chính trị

cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh

Những tư tưởng triết học học về lịch sử nêu trên mang giá trị tiền đề quan trọng, không thể thiếu được đối với sự hình thành, phát triển của chủ

Trang 26

nghĩa duy vật lịch sử Giá trị tiền đề ấy là ở chỗ: tư tưởng triết học lịch sử trước Mác trong khi cố gắng chứng minh lịch sử xã hội loài người nói chung không những là quá trình thống nhất, toàn vẹn mà còn là quá trình phát sinh phát triển, đã cho thấy rõ vấn đề cấp bách đặt ra cho nhận thức triết học lịch sử là phải tìm ra và chứng minh sự tồn tại của cơ sở khách quan qui định toàn bộ quá trình ấy Những tư tưởng triết học lịch sử trước Mac đã nêu ra có thể qui thành những vấn đề chính như sau: vấn đề về con người, về xã hội và về quá trình phát triển xã hội Mặc dù chúng mang tính chất duy tâm, sai lầm, nhưng nếu thiếu chúng thì không thể hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử Chúng là sự chuẩn bị từng bước cho cuộc cách mạng mà Mác sẽ tiến hành trong nhận thức lịch sử Triết học về lịch sử trước Mac là giai đoạn hợp thành tất nhiên của lịch sử nhận thức triết học về lịch sử nhân loại, mà đỉnh cao của nó là chủ nghĩa duy vật lịch sử.

1.2.2 Giá trị tiền đề của kinh tế chính trị học cổ điển Anh.

Với những đại biểu nổi tiếng như Ađam – Smít, Ricácđô, kinh tế chính trị học cổ điển Anh đã để lại ý nghĩa quan trọng:

Ađam – Smith đã xây dựng được một hệ thống các phạm trù kinh

tế cơ bản như phân công lao động, trao đổi, giá trị trao đổi, tiền công…và

sử dụng chúng để phân tích các quy luật trong hoạt động của nền kinh tế Ông đã phân biệt hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị, xác định giá trị bằng lao động chi phí trong sản xuất hàng hóa và việc trao đổi hàng hóa phải tương ứng với lượng lao động chứa đựng trong nó

Bên cạnh đó, A.Smith đã xác định được lượng giá trị là lượng giá trị trung bình chứ không phải lượng lao động chi phí thực tế để sản xuất hàng hóa Ông cũng phân chia thành lao động phức tạp và lao động giản

Trang 27

đơn và cho rằng lao động phức tạp trong cùng một thời gian tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn.

A.Smith đã nhận thấy sự khác biệt của thu nhập tư bản với thu nhập của công nhân, theo ông, công nhân chỉ được nhận một phần nào đó giá trị tạo ra từ lao động dưới dạng tiền công và bằng một lượng lao động nhất định của mình, phần tăng thêm do công nhân làm ra thì biến thành lợi nhuận của các nhà tư bản

Tới Ricácđô – nhà lý luận giá trị lao động cho rằng lao động quyết định giá trị, điều này đúng không chỉ trong sản xuất hàng hóa giản đơn mà còn đúng cả trong sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Ông phân biệt rõ ràng hai thuộc tính của hàng hóa:

Giá trị sử dụng là tính có ích của hàng hóa, là điều kiện cần đối với giá trị trao đổi, song không thể là thước đo của giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi của đại đa số hàng hóa được xác định bằng chi phí lao động sản xuất ra chúng Giá trị trao đổi được ông coi là một lượng tương đối biểu hiện ở khối lượng hàng hóa khác, do đó trong hàng hóa tồn tại một giá trị tuyệt đối, nó kết tinh trong giá trị Giá trị trao đổi là một hình thái cần thiết và duy nhất có thể biểu hiện giá trị tuyệt đối của hàng hóa

D.Ricardo đã khẳng định lợi nhuận là kết quả lao động của công nhân và là kết quả của việc chiếm hữu phần giá trị do họ tạo ra Ông cho rằng khi tiền công tăng lên một cách phổ biến thì tỷ suất lợi nhuận sẽ giảm xuống Đây cũng là một quy luật của chủ nghĩa tư bản mà ông đã nhận ra

Trong quan niệm về địa tô, Ricardo đã đạt được thành tựu nổi bật, ông giải thích rằng nguồn gốc của địa tô là từ chính lao động đã bỏ vào

Trang 28

đất đai trong điều kiện có chiếm hữu nhất định đưa lại; giá trị sản phẩm của nông nghiệp được quyết định bởi cho phí lao động ở những mảnh đất xấu nhất Theo ông địa tô không làm tăng giá cả của sản phẩm nông nghiệp, lúa mỳ đắt không phải vì nhà kinh doanh phải trả địa tô, mà ngược lại chính vì giá lúa mỳ cao cho nên phải trả địa tô cho chủ đất.

Như vậy, các nhà kinh tế chính trị cổ điển đã vạch rõ nhiều vấn đề

có tính quy luật nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đã phân tích lý luận của họ trên cơ sở một hệ thống các khái niệm và phạm trù kinh tế Họ là những người đầu tiên đặt cơ sở khoa học cho việc phân tích các phạm trù và quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa…

Việc nghiên cứu, cải tạo, kế thừa có phê phán những giá trị trong kinh tế chính trị học cổ điển Anh đã giúp cho Mác và Ăngghen phát hiện

ra cơ sở vật chất của quá trình lịch sử xã hội mà nếu thiếu chúng thì không thể sáng lập ra quan niệm duy vật về lịch sử và sẽ không khắc phục được tính chất không triệt để trong chủ nghĩa duy vật trước Mác

Như đã biết, kinh tế chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống kinh tế của xã hội trong chỉnh thể Nhưng tự mình kinh tế chính trị học không thể giải đáp được vấn đề mối quan hệ giữa kinh tế với nhà nước và

do đó với toàn bộ đời sống xã hội nói chung Vì vậy kinh tế chính trị học cần phải có lý luận khác đóng vai trò cơ sở lý luận và phương pháp luận cho nó, đó chính là triết học về lịch sử

Do đó, giá trị tiền đề của kinh tế chính trị cổ điển Anh đối với sự hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử là ở chỗ nó đã biểu hiện mối liên hệ

tự nhiên của nó với triết học về lịch sử thông qua sự đòi hỏi phải có một khoa học có khả năng chỉ ra vị trí, vai trò xác định của kinh tế trong đời sống xã hội cũng như trong toàn bộ sự phát triển lịch sử loài người nói

Trang 29

chung Điều này cũng có nghĩa là triết học và lịch sử không thể hình thành

và phát triển mà không quan tâm, giải đáp những vấn đề kinh tế chính trị học đặt ra Triết học Mác với tư cách là khoa học triết học về lịch sử đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó Nó không những quan tâm đến kinh tế chính trị học, dựa trên những kết quả của môn học này và giải đáp chính vấn đề đặt ra từ nội dung của kinh tế chính trị học, mà còn cho thấy việc quan tâm đến những vấn đề của kinh tế chính trị học đặt ra là một nhiệm

vụ có tính chất trọng tâm

Thực tế cũng cho thấy rằng, chỉ khi bắt tay vào nghiên cứu theo tinh thần phê phán, mang tính chất khoa học và cách mạng kinh tế chính trị cổ điển Anh, chỉ sau khi nhận ra rằng, muốn giải thích lịch sử loài người nói chung thì phải “ tìm cái chìa khóa ở trong khoa kinh tế chính trị”, thì Mác mới sáng lập ra môn khoa học về sự phát sinh, phát triển của xã hội loài người nói chung Chính việc quan tâm nghiên cứu kinh tế chính trị học cổ điển, sự hiểu biết sâu sắc, chính xác nội dung của nó là tiền đề tất yếu cho

sự ra đời hệ thống quan niệm duy vật về lịch sử Luận điểm duy vật lịch

sử của Mác: “ không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của

họ, trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của học”[17; 439], không phải ngẫu nhiên có được, trái lại chỉ có thể là kết quả của nghiên cứu kinh tế chính trị học cổ điển Mác hiểu rằng muốn giải thích đúng được kết cấu của đời sống xã hội, những quan hệ pháp quyền, hình thái nhà nước, sự phát triển của tinh thần thì phải căn cứ, xuất phát từ “xã hội công dân”, từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội

Đồng thời ta cũng biết rằng “từ khi khoa kinh tế chính trị nêu ra luận điểm cho rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải và mọi giá trị, thì nhất định người ta phải đặt câu hỏi: vì sao người lao động làm thuê lại không được hưởng toàn bộ giá trị lao động của anh ta đã sản xuất ra và vì

Trang 30

sao anh ta lại để cho nhà tư bản hưởng một phần? Các nhà kinh tế học tư sản và những người xã hội chủ nghĩa đã mất công phí sức mà vẫn không giải đáp được câu hỏi ấy một cách khoa học và đúng đắn”[12;167-168] Ở đây không phải các nhà kinh tế học không thấy được nguyên nhân trực tiếp của thực trạng xã hội này là do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, nhưng do đứng trên lập trường của giai cấp mình, để bảo vệ cho lợi ích của giai cấp mình, nên các nhà kinh tế tư sản đã cho rằng “ trật tự tư bản chủ nghĩa không phải là một nấc thang phát triển nhất thời trong lịch

sử, mà ngược lại là hình thức tuyệt đối và cuối cùng của nền sản xuất xã hội”[15; 25] Đây chính là những kết luận thể hiện sự khẳng định sở hữu tư nhân, những đối lập về lợi ích và xung đột giữa các giai cấp là vĩnh viễn, chính là phương pháp lịch sử siêu hình của kinh tế chính trị học tư sản

Việc phê phán những hạn chế và sai lầm trên của kinh tế chính trị học cổ điển và tiếp thu được những cái có giá trị của nó, đó là nghiên cứu kinh tế chính trị phải dựa trên một lập trường giai cấp nhất định, phải vì lợi ích của một giai cấp nhất định, và phải theo phương pháp luận nhất định, là tiền đề quan trọng cho sự hình thành triết học Mác về lịch sử Nhờ đó mà Mác đã xác định, củng cố lập trường giai cấp công nhân của mình và xây dựng nên phương pháp luận duy vật biện chứng về lịch sử nhằm xây dựng môn kinh tế chính trị khoa học của giai cấp công nhân Trong kinh tế chính trị học macxit, lợi ích giai cấp công nhân và phương pháp luận lịch sử khoa học kết hợp với nhau rất chặt chẽ, không thể tách rời

Tuy nhiên, cần thấy rằng giá trị tiền đề của kinh tế chính trị học cổ điển Anh không phải đã được ý thức đầy đủ như vậy trong giai đoạn 1842-1845 của sự hình thành quan niệm duy vật lịch sử Trong thời kỳ này Mác mới chỉ nhận thức ra được tầm quan trọng của nghiên cứu kinh

Trang 31

tế chính trị học cổ điển và công việc nghiên cứu mới chỉ bắt đầu, mà kết quả thành công đầu tiên là “ bản thảo kinh tế- triết học năm 1844” Song chỉ điều đó cũng đủ minh chứng rằng kinh tế chính trị học cổ điển Anh là một trong những tiền đề lý luận không thể thiếu được của nhận thức duy vật về lịch sử.

1.2.3 Giá trị tiền đề của chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh

Các học thuyết xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh với các đại biểu như Xanhximông, S.Phuriê, R.Ôoen cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành triết học Mác

Henry Xanhximông đã có tư tưởng hợp lý về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về sự phân chia giai cấp trong xã hội, về vai trò của của “giai cấp công nghiệp”…Ông mơ ước xây dựng một xã hội tốt đẹp trong đó đáp ứng được những nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội, trước hết là của giai cấp nghèo khổ nhất và đông đảo nhất…

Phrăngxoa Mari Sáclơ Phuriê đã phê phán chủ nghĩa tư bản một cách sâu sắc ở nhiều khía cạnh như “sự nghèo khổ được sinh ra từ chính bản thân sự thừa thãi” Khi phân tích sự phát triển xã hội ông cũng có quan điểm biện chứng, khi dự kiến về xã hội mới ông chú ý tới vai trò của

tổ chức lao động tập thể và sự thống nhất về lợi ích giữa cá nhân và tập thể Ông coi trọng vấn đề giải phóng phụ nữ trong giải phóng xã hội nói chung vì theo ông “trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ giải phóng chung”

Rôbớt Ooen dựa trên học thuyết về bản tính con người làm cơ sở lý luận cho xã hội tương lai Ông cho rằng, tính cách con người được hình thành thông qua sự tác động qua lại giữa con người với môi trường bên ngoài, trong đó tác động của khách quan có ý nghĩa quan trọng nhất Đối

Trang 32

với xã hội mới, ông chủ trương thực hiện chế độ công hữu, lao động tập thể, về quyền lợi và nghĩa vụ mọi người đều bình đẳng Theo ông, ba trở lực cần phải loại bỏ trên con đường thực hiện lý tưởng về xã hội mới đó là chế độ tư hữu, hôn nhân tư sản và tôn giáo.

Như vậy, những nhà tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng đã thể hiện tinh thần phê phán chế độ tư bản chủ nghĩa, bênh vực người nghèo khổ trước những bất công của xã hội và đi đến kết luận phải phủ định xã hội tư hữu về tư liệu sản xuất Các ông đã nêu lên nhiều luận điểm có giá trị về sự phát triển của xã hội tương lai Chủ nghĩa xã hội không tưởng chứa đựng những yếu tố nhân đạo Tuy nhiên, do xu hướng lịch sử chưa phát triển đến độ chín muồi, do sự phát triển chưa đầy đủ của phương thức xản xuất tư bản chủ nghĩa, của quan hệ giữa vô sản và tư sản, đồng thời do các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng xây dựng lý thuyết của mình trên cơ sở nhận thức và phương pháp luận duy tâm về lịch sử, không xuất phát từ đời sống xã hội hiện thực, từ cơ sở kinh tế, từ quan hệ đối kháng về lợi ích giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản để giải thích tình trạng hiện có của xã hội cũng như việc đề ra các biện pháp khắc phục mà lại xuất phát từ tình cảm, tư tưởng, mong muốn của mình và dựa trên niềm tin cho rằng “lý tính và chính nghĩa” cuối cùng sẽ chiến thắng, sẽ thiết lập được “vương quốc vĩnh cửu” của mình, nên lý luận về chủ nghĩa

xã hội của họ rơi vào không tưởng Lý thuyết như vậy không thể phù hợp với hiện thực, mà chỉ là sự tưởng tượng thuần túy về khả năng, xu hướng của hiện thực mà thôi Nguyên nhân khác là các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã không tự coi mình là đại biểu của giai cấp vô sản, về thực chất họ vẫn đứng trên lập trường của giai cấp tư sản để giải thích hiện trạng xã hội cũng như trong việc tìm ra giải pháp khắc phục nó

Trang 33

Nhận thấy những thiếu xót của chủ nghĩa xã hội không tưởng, Mác

và Ăngghen đã ý thức được rằng để lý thuyết này có thể trở thành khoa học thì phải phê phán những hạn chế và sai lầm về lập trường giai cấp, về nhận thức và phương pháp luận của các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng Chính sự nhận thức đúng đắn về hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và phê phán nó, đã tạo tiền đề quan trọng để Mác và Ăngghen ý thức được lợi ích của giai cấp công nhân và theo đó là sáng tạo ra quan niệm duy vật lịch sử, phê phán xã hội tư bản chủ nghĩa và dự kiến một cách khoa học con đường phát triển và những đặc điểm quan trọng của xã hội mới – xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên cũng phải thấy rằng trong giai đoạn đầu tiên của quan niệm duy vật lịch sử, Mác và Ăngghen cũng chưa ý thức đầy đủ về vai trò, ý nghĩa tiền đề của chủ nghĩa xã hội không tưởng Để phê phán một cách có hệ thống lý luận không tưởng về chủ nghĩa xã hội thì phải có hệ thống quan niệm duy vật lịch sử, và phải xây dựng được môn kinh tế chính trị học của giai cấp công nhân Giá trị tiền đề của chủ nghĩa xã hội không tưởng đối với sự hình thành quan niệm duy vật lịch sử lúc này chính là ở chỗ Mác và Ăngghen nhận thấy ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội không tưởng trong cách đặt vấn đề, trong sự ảnh hưởng của nó đến sự hình thành các trào lưu cộng sản chủ nghĩa, ở chỗ các ông nhận ra nguồn gốc sai lầm của các quan điểm về xã hội, lịch sử lúc đó và thấy sự cần thiết phải phê phán những quan điểm này, nhất là “ hệ tư tưởng Đức”

.1.3 Nhân tố chủ quan cho sự ra đời triết học Mác

Không thể phủ nhận điều kiện kinh tế - xã hội những năm 40 thế kỷ XIX cùng với tiền đề lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên là những điều kiện, tiền đề không thể thiếu cho sự ra đời triết học Mác Trong bối cảnh

Trang 34

đó nếu thiếu nhân tố chủ quan là C.Mác và Ph.Ăngghen thì khó có thể khẳng định triết học Mác sẽ xuất hiện.

1.3.1 Ảnh hưởng của gia đình

C.Mác (1818 – 1883) sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm 1818 ở Tơ –

re – vơ Cha ông là luật sư giỏi, học cao hiểu rộng, ông có tinh thần cấp tiến, yêu tự do, ủng hộ cách mạng tư sản Pháp nhưng không có khuynh hướng cách mạng

Năm 1835, Mác vào học luật ở trường đại học Bon và qua một năm chuyển sang học ở trường đại học Béclin Ở đây, ông chuyển sang nghiên cứu lịch sử và triết học Cha ông muốn ông trở thành luật sư – một viên chức nhà nước nhưng ngay từ thời sinh viên, ông đã chống lại chế độ xã hội đang thống trị ở Đức hồi đó, thể hiện một thanh niên tài năng, yêu quê hương đất nước, gắn hạnh phúc cá nhân với hạnh phúc chung của mọi người

Với bộ óc thiên tài và lòng khát khao tự do, tiến bộ được thừa hưởng từ cha mình, C.Mác luôn có thái độ nghiêm túc tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ của loài người để vun đắp một thế giới quan khoa học, đầy tính cách mạng

Bên cạnh đó, Mác còn là người rất may mắn vì đã có một tình yêu của người vợ hiền, cao thượng, yêu tự do Bà đã có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc đời Mác, giúp Mác vượt qua khó khăn để cống hiến cho nhân loại

Ph Ăngghen sinh ngày 28/11/1820 ở thành phố Bác – men trong một gia đình chủ xưởng sợi Ông đã sớm cảm thấy tình hình đang thống trị trong gia đình ông mâu thuẫn sâu sắc với tình hình của đông đảo quần chúng nhân dân Điều này đã được Lênin nói đến “khi còn là học sinh

Trang 35

trung học, ông đã căm ghét sự chuyên quyền và độc đoán của bọn quan lại Việc nghiên cứu triết học dẫn ông đi xa hơn”[36;23]

Ăngghen không được học đại học, ngay cả trung học ông cũng không được bố ông cho học hết và muốn ông sớm trở thành nhà kinh doanh Tới năm 1838 ông được phái đi làm thư ký nhà buôn ở Bơ rô men Ông đã kiên trì tự học, tham gia hoạt động khoa học, chính trị và tự chọn con đường cách mạng của cuộc đời mình

Trong những năm từ 1842 đến 1845, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, sự bước lên vũ đài chính trị và trở thành một lực lượng chính trị độc lập của giai cấp vô sản thì bản thân Mác và Ăngghen cũng luôn nắm bắt thực tiễn sôi động ấy

và tổng kết nó Mùa thu năm 1842, theo yêu cầu của cha Ăngghen sang Anh, ở đó ông tham gia tích cực vào phong trào Hiến chương và phong trào cộng sản Ông đã đăng nhiều bài báo và thư từ trong tờ báo của phong trào Hiến chương “ ngôi sao bắc đẩu” và tờ báo cơ quan của riêng Ô-oen, cũng như đăng những bức thư trong tờ “Báo Sông Ranh” do C Mác làm chủ bút Trong các bài báo và thư từ đó, Ăngghen lần đầu cố gắng chỉ ra viễn cảnh lịch sử của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Anh Mùa thu 1843 C Mác đến Pari, những truyền thống cách mạng của nước Pháp đã làm ông xúc động ngay từ thời trẻ Ông chăm chú nghiên cứu tình cảnh giai cấp vô sản Pháp, thường xuyên thăm các vùng ngoại ô ở Pari, nơi tập trung quần chúng công nhân cơ bản, xây dựng mối quan hệ với những người lãnh đạo của nhiều tổ chức Pháp bí mật, cũng như với những người lãnh đạo của “ Liên minh những người chính nghĩa”- một tổ chức bí mật của những công nhân Đức ở Pháp Mác

và Ăngghen hân hoan đón nhận tin về cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Xê-lê-di Do ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa đó, Hai-nơ đã viết

Trang 36

bài hát nổ tiếng “Những người thợ dệt Xê-lê-di” Ăngghen đã cho dịch và đăng bài hát đó trên tờ báo của Ô-oen Mác đã viết một bài báo dài chỉ ra

ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Xê-lê-di Từ năm 1843 trở đi toàn bộ cuộc đời và hoạt động phong phú của Mác và Ăngghen đã gắn liền với số phận của giai cấp công nhân Hai ông đã hiến dâng mọi sức lực và tài năng cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản

Cũng như vậy với những tiền đề lý luận, với tài năng và lòng nhiệt huyết cách mạng, hai ông đã phê phán, kế thừa một cách có chọn lọc tư tưởng của Hêgghen, Phoiơbắc và những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng để xây dựng nên một học thuyết cách mạng và khoa học cho giai cấp công nhân

Với những yếu tố trên, C.Mác, Ph Ăngghen đã có công lao vô cùng lớn lao trong việc xây dựng một học thuyết được coi là vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản và nhân loại ưa chuộng tiến bộ, công bằng…trong nhận thức và cải tạo thế giới, trong việc giải phóng con người ra khỏi áp bức, bóc lột

1.3.2 Tình bạn vĩ đại giữa C.Mác và Ph Ăngghen

Nói đến C.Mác, người ta không thể không nhắc đến tình bạn vĩ đại giữa ông và Ăngghen

Mác và Ănghen đã gặp nhau lần đầu vào tháng 11 năm 1842 và từ

đó hai ông trở thành đôi bạn thân thiết và vô cùng cảm động như Lênin nhận xét: chuyện cổ tích lịch sử loài người kể lại rất nhiều tình bạn cảm động Nhưng giai cấp công nhân ở châu Âu có thể nói Mác và Ăngghen là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, tình bạn của họ vô cùng thắm thiết, vĩ đại và cảm động, đã làm lu mờ tất cả các tình bạn cảm động của các tiền nhân trong lịch sử Ngay cả Mác cũng có lần nói rằng:

Trang 37

sở dĩ Mác là Mác bởi vì có Ăngghen là Ăngghen, sở dĩ Ăngghen là Ăngghen bởi vì có Mác là Mác Mặc dù là một thiên tài sáng tạo ra chủ nghĩa Mác, nhưng Ăngghen luôn khiêm tốn tự nhận mình chỉ là “cây vĩ cầm” trong dàn nhạc mà người nhạc trưởng là Mác.

Chính tình bạn vĩ đại, nổi tiếng thế giới này đã giúp cho Mác và Ăngghen vượt qua khó khăn, thử thách để cống hiến cho lịch sử tư tưởng nhân loại hệ tư tưởng có giá trị vô cùng to lớn mà cho tới tận ngày nay – hai thế kỷ đã trôi qua nhưng vẫn chưa có học thuyết nào vượt qua được

Trang 38

sự quy đinh của kết cấu xã hội tư bản dựa trên nền sản xuất đại công nghiệp đối với quan điểm khoa học cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, kinh tế là nền tảng của mọi sinh hoạt xã hội khác, sự xuất hiện của lịch sử toàn thế giới quy định quan niệm về sự phát triển và về tính chỉnh thể của lịch sử loài người nói chung, rằng quan điểm duy vật lịch sử không thể có được nếu Mác và Ăngghen không phải là đại biểu về

lý luận, tư tưởng của giai cấp vô sản Rõ ràng, đó là những cơ sở, điều kiện đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành, phát triển triết học Mác về lịch sử

Dựa trên những tiền đề và cơ sở nêu trên mà Mác và Ăngghen đã thực hiện cuộc cách mạng trong nhận thức triết học, làm cho triết học Mác nói chung và chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng khác hoàn toàn về chất

so với các triết học trước kia Cũng cần thấy rằng việc các ông nghiên cứu

và tham khảo những thành tựu trước đây của toàn bộ tư tưởng nhân loại không phải là tùy tiện, ngẫu nhiên, không có hệ thống và đối lập nhau, mà trái lại đã thực hiện việc này không thể thiếu việc kia, sự phê phán song

Trang 39

song với việc nghiên cứu sáng tạo quan điểm mới Lênin đã nhận xét rằng: “ Thiên tài của Mác chính là ở chỗ Người đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đã đặt ra”[28;37]

Nghiên cứu những tiền đề và hoàn cảnh kinh tế - xã hội, lý luận của

sự hình thành quan niệm duy vật lịch sử, cho thấy rằng những quan niệm này có nguồn gốc, cơ sở đặc thù của nó, phân biệt chúng với những tiền

đề, cơ sở của triết học Mác và chủ nghĩa Mác nói chung Ngay trong giai đoạn đầu tiên của sự hình thành quan niệm duy vật lịch sử, những tiền đề,

cơ sở quy định nội dung của những tư tưởng triết học về lịch sử cũng khác với cơ sở của toàn bộ lịch sử quan niệm này Hiểu biết này càng khẳng định tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử và cho phép hiểu sâu hơn, chính xác hơn nội dung và ý nghĩa của những tư tưởng triết học về lịch sử

Như vậy, triết học Mác là sản phẩm tất yếu khách quan của khoa học và của triết học trong toàn bộ lịch sử tư tưởng nhân loại Trong điều kiện kinh tế - xã hội, với những tiền đề lý luận và khoa học tự nhiên, Mác

và Ănghen với bộ óc thiên tài đã khái quát một cách khoa học được toàn

bộ lịch sử, văn hóa tinh thần mà loài người đã có được để xây dựng học thuyết triết học để đáp ứng yêu cầu của nhận thức và cải tạo thực tiễn mà thời đại đặt ra, đúng như Lênin đã nhận xét: “ chủ nghĩa Mác…không nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của nền văn minh thế giới Trái lại, toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra Học thuyết của ông

ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội”[40; 50]

Trang 40

Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ LỊCH SỬ TRONG

GIAI ĐOẠN TỪ 1842 ĐẾN 1845

Lịch sử nhận thức xã hội cho thấy rằng mỗi hệ thống lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không, mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những thành tựu lý luận của các thời đại, các giai đoạn trước Không những thế, mỗi học thuyết của mỗi thời đại cũng có quá trình phát triển riêng của nó Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa duy vật lịch sử không phải ngay từ đầu đã là một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, mà đã trải qua các quá trình phát triển khác nhau và có sự kế thừa

rõ rệt Giai đoạn đầu tiên là hình thành những tư tưởng triết học khoa học Đây là giai đoạn chứa đựng những quan điểm, tư tưởng có ý nghĩa đặt cơ

sở, dẫn đường cho toàn bộ hệ thống lý luận

2.1 Những quan điểm triết học về lịch sử trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgghen” và “Lời nói đầu” của nó

Cũng như nhiều nhà triết học cùng thời, lúc đầu Mác và Ăngghen chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học Hêghen đặc biệt là phép biện chứng của nó Song không dừng lại ở đó, trong quá trình hoạt động báo chí và nghiên cứu lịch sử nhất là lịch sử cách mạng tư sản Pháp 1789-1798, đọc tác phẩm của các nhà duy vật Pháp như Rút xô, Môngtexkiơ …, cùng với tinh thần phê phán, khát vọng, niềm tin vượt qua triết học Hêghen, đã giúp ông từng bước thoát khỏi triết học này và hường triết học vào thực tiễn, chính trị

Ngày đăng: 21/04/2015, 10:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.G.Xpirkin(1989), Triết học xã hội, Nxb Tuyên huấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học xã hội
Tác giả: A.G.Xpirkin
Nhà XB: Nxb Tuyên huấn
Năm: 1989
2. Bộ Giáo dục- Đào tạo(1993), Triết học dùng cho nghiên cứu sinh cao học không chuyên ngành Triết học, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học dùng cho nghiên cứu sinh cao học không chuyên ngành Triết học
Tác giả: Bộ Giáo dục- Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
3. Bộ Giáo dục- Đào tạo(1993, Triết học dùng cho nghiên cứu sinh cao học không chuyên ngành Triết học, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học dùng cho nghiên cứu sinh cao học không chuyên ngành Triết học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4. Bộ Giáo dục- Đào tạo(2006), Giáo trình triết học- Dùng cho học viên cao học và NCS không thuộc chuyên ngành triết học , Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học- Dùng cho học viên cao học và NCS không thuộc chuyên ngành triết học
Tác giả: Bộ Giáo dục- Đào tạo
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục- Đào tạo( 1996), Triết học 3, Nxb CTQG, Hà Nội 6. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), Vấn đề triết học trong tácphẩm của C.Mác – Ăngghen, Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học 3", Nxb CTQG, Hà Nội6. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), "Vấn đề triết học trong tác "phẩm của C.Mác – Ăngghen, Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục- Đào tạo( 1996), Triết học 3, Nxb CTQG, Hà Nội 6. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
7. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, HN 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia,HN 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
9. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, HN 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, HN 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
12. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, HN 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
14. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia 2004
15. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, HN 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, HN 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
20. Phạm Văn Chung (2007), Triết học Mác về lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác về lịch sử
Tác giả: Phạm Văn Chung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
22. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn(đồng chủ biên)(2000): Sức sống của một tác phẩm triết học, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống của một tác phẩm triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn(đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000
24. ĐHKHXH&NV(2007), Giới thiệu kinh điển triết học Mác –Lênin, Nxb ĐHQGHN, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu kinh điển triết học Mác –Lênin
Tác giả: ĐHKHXH&NV
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2007
25. Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội (2001), Triết học Mác – Lênin( Đề cương bài giảng), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác – Lênin( Đề cương bài giảng
Tác giả: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
26. Đ.Benxaidơ( 1998), C.Mác người vượt trước thời đại, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác người vượt trước thời đại
Nhà XB: Nxb CTQG

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w