Theo báo cáo của TCYTTG có chủ đề “Gánh nặng toàncầu về bệnh tật” dự báo đến năm 2020 hàng năm có khoảng 8 triệu người TV do TNTT [6] và TNTT là một trong ba nguyên nhân gây TV nhiều nhấ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu tử vong (TV) đã được bắt đầu từ rất lâu, hàng năm trongNiên giám thống kê Y tế do Bộ Y tế ban hành đều có các số liệu TV, chủ yếu
là số liệu TV tại Bệnh viện [8]
Nghiên cứu mô hình bệnh tật và TV nói chung và TV do tai nạn thươngtích (TNTT) nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá hoạt động y tếcũng như tình hình phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của khu vực, phục
vụ phòng ngừa bệnh tật và giảm tỷ lệ TV, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhândân Hiện nay, tỷ lệ TV do TNTT ngày càng gia tăng, một trong nhữngnguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật và là vấn đề Y tế công cộngmang tính toàn cầu, cần được cả thế giới quan tâm Theo Tổ chức Y tế thếgiới (TCYTTG), hàng năm có khoảng trên 5 triệu người TV do TNTT, tươngđương với khoảng 98 trường hợp TV do TNTT/100.000 dân Ngoài ra, cònmột số lượng lớn hơn các trường hợp TNTT bị di chứng hoặc tàn tật suốt đời,
TV do TNTT chiếm 10% số năm sống bị mất đã được điều chỉnh do tàn tậtcủa con người [41] Theo báo cáo của TCYTTG có chủ đề “Gánh nặng toàncầu về bệnh tật” dự báo đến năm 2020 hàng năm có khoảng 8 triệu người TV
do TNTT [6] và TNTT là một trong ba nguyên nhân gây TV nhiều nhất trênthế giới và TV do TNTT chiếm 20% số năm sống bị mất đã được điều chỉnh
do tàn tật của con người TV do TNTT nhìn chung cao hơn ở các nước có thunhập thấp và trung bình như Việt Nam
Trong các TNTT thì tai nạn giao thông (TNGT) là nguyên nhân hàngđầu của gánh nặng TNTT ở mọi khu vực [41]
Ở Việt Nam, TNTT là nguyên nhân gây TV hàng đầu với trên 30 người
TV và 70 người tàn phế sau TNTT xảy ra hàng ngày và gia tăng nhanh theo
Trang 2các năm [56] Theo Tổng cục Thống kê, cứ 10 trường hợp TV do cácnguyên nhân, có 1 trường hợp TV do TNTT [11].
Đánh giá gánh nặng TV qua số năm sống tiềm tàng bị mất đi vì chếtsớm (YPLL) do TNTT là chỉ số cho phép đánh giá gánh nặng TV của mộtcộng đồng Đây là phương tiện hữu ích trong việc so sánh tình trạng sức khỏechung giữa các cộng đồng khác nhau và hỗ trợ một cách đắc lực quá trình lựachọn ưu tiên và đang được áp dụng khá phổ biến trên thế giới và khu vựcĐông Nam Á, trong đó có Việt Nam [13]
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều chương trìnhcan thiệp phòng chống TNTT đã và đang được triển khai ở nhiều địa phươngtrong cả nước, nhưng tại Điện Biên có rất ít nghiên cứu về TV do TNTT, đặcbiệt chưa có nghiên cứu nào đánh giá gánh nặng TV do TNTT Từ tình hình
trên, luận văn này được tiến hành nhằm các Mục tiêu sau:
1. Mô tả tình hình tử vong do tai nạn thương tích tại tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2005 - 2008.
2. Đánh giá gánh nặng tử vong do tai nạn thương tích thông qua số năm sống tiềm tàng bị mất đi do chết sớm tại tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2005 - 2008.
Từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa TV do TNTT theo một sốnguyên nhân TNTT thường gặp tại địa phương
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm:
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu tử vong:
Việc nghiên cứu TV có lẽ xuất phát từ rất lâu, bắt nguồn từ việc đăng kýquản lý hộ khẩu, hộ tịch Theo các tài liệu nước ngoài, ở châu Âu người ta đãnghiên cứu TV từ những năm cuối của thế kỷ 19 Khi đó người ta thấy tỷ lệ
TV rất khác nhau giữa các quốc gia, các vùng và có liên quan rất lớn đến chủtrương, chính sách, luật pháp của xã hội Điều này được chứng minh qua một
số bệnh tật và TV được giảm hẳn ở nước Anh khi có những chương trình sứckhỏe cộng đồng, bảo hiểm y tế, phúc lợi xã hội cho bà mẹ trẻ em, luật chongười nghèo, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho trẻ em [37]
1.1.2 TNTT và các khái niệm liên quan:
- Tuổi thọ trung bình hay Kỳ vọng sống (KVS) khi sinh là số năm trungbình có thể sống của một cá thể trong một cộng đồng dân cư nào đó ước tính
từ khi mới sinh ra Tuổi thọ là một con số được tính trên cơ sở những cuộcđiều tra về dân số, về TV ở một cộng đồng xác định [7]
- TNTT: là thương tổn thực thể trên cơ thể người do tác động của nănglượng (cơ học, nhiệt, điện, hóa học/ phóng xạ) với mức độ, tốc độ khác nhauquá sức chịu đựng của cơ thể người Ngoài ra, chấn thương còn là thiếu hụtcác yếu tố cần thiết cho sự sống (thiếu oxy trong đuối nước, nghẹt/ giảm nhiệttrong đông lạnh) TNTT gây tổn hại sức khỏe người bị tai nạn và làm ngườinày phải nghỉ việc hoặc nghỉ học, cần phải chăm sóc y tế, làm hạn chế sinhhoạt bình thường ít nhất một ngày hoặc làm chết người [34]
Trang 4- TV do TNTT là TNTT làm cho người bị nạn TV vì thương tích trongvòng 1 tháng kể từ ngày bị tai nạn [23].
- TNTT là danh từ chung để chỉ: TNGT, TNLĐ, Ngã, Đuối nước, Bỏng,Ngộ độc, Hành hung, bạo lực, Điện giật
TNGT bao gồm tất cả các tai nạn do người đi bộ không liên quanđến phương tiện giao thông đi trên đường giao thông, người đangtham gia giao thông đụng vào người đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy,đụng vào xe súc vật kéo, xe công nông, xe ô tô, xe bus, xe tải, tàuhỏa hoặc đổ tàu, xe không do va chạm
Tai nạn lao động (TNLĐ): là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộphận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây TV, xảy
ra trong quá trình lao động, gắn liền với thực hiện công việc,nhiệm vụ lao động (Theo Bộ luật lao động 23/ 6/ 1994)
Ngã: là những trường hợp chấn thương do bị ngã, rơi từ trên caoxuống (ngã cao) hoặc ngã trên cùng một mặt bằng Ngã là nguyênnhân thường gây nên những chấn thương nghiêm trọng khiếncho nạn nhân buộc phải nằm viện Ngã thường gây ra cácthương tật vĩnh viễn và dẫn đến rất nhiều chấn thương nhỏ khác.Phần lớn các vụ gãy xương, chấn thương sọ não, tủy sống đều
do ngã gây ra [23]
Đuối nước: Là những trường hợp TV do bị ngạt khi bị chìm sâudưới nước Chết đuối nước được phân thành 2 loại: Chết đuốinước và chết đuối khô [23]
Bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc vớilửa, chất lỏng nóng, chất rắn nóng Các tổn thương da do sự phát
xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổn
Trang 5thương phổi do khói cũng được coi là những trường hợp bỏngnhư: bỏng do lửa cháy, nước sôi, nước vôi tôi…[23].
Ngộ độc: là những trường hợp hít phải, ăn vào, ngấm vào, tiêmvào cơ thể các loại độc tố dẫn đến TV hoặc dẫn đến sự chăm sóc
Y tế: ngộ độc thuốc chuột, rượu và các loại hóa chất khác [23]
Hành hung, bạo lực là những TNTT do 1 người có chủ ý gây racho người khác hoặc do một người có chủ ý gây ra cho mình: cố ýgây TNTT do xung đột trong gia đình, tự tử, cưỡng bức tình dục,côn đồ gây gổ [23]
Điện giật: là những chấn thương do tiếp xúc trực tiếp với nguồnđiện dẫn đến chấn thương hoặc TV Điện giật trong các gia đình
do sử dụng không an toàn, nơi công cộng trong mưa bão, trongđánh cá bằng điện, bị điện giật ở nơi lao động [23]
1.1.3 Phân loại bệnh tật theo Bảng phân loại quốc tế bệnh tật chỉnh sửa lần thứ 10 (ICD- 10) [5]:
- TNTT (Chấn thương, ngộ độc và nguyên nhân bên ngoài) (V01- Y98):+ TNGT (V01- V99)
Trang 6- Bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng (A00- B99)
- Khối u, ung thư (C00- D48)
- Bệnh máu và cơ quan tạo máu (D50- D89)
- Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa (E00- E90)
- Bệnh hệ thần kinh (G00- G99)
- Bệnh hệ tuần hoàn (I00- I99)
- Bệnh hệ hô hấp (J00- J99)
- Bệnh hệ tiêu hóa (K00- K93)
- Bệnh hệ sinh dục, tiết niệu (N00- N99)
- Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản (O00- O99)
- Bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh (P00- P96)
- Dị tật bẩm sinh (Q00- Q99)
- Khác: Bệnh tâm thần, hành vi; Bệnh mắt và phần phụ; Bệnh tai xươngchũm; Bệnh da và mô dưới da; bệnh hệ cơ xương khớp và mô liên kết; Dấuhiệu, triệu chứng không phân loại ở phần khác (F00- F99; H00- H59; H60-H95; L00- L99; M00- M99; R00- R99; S00- T98; Z00- Z99) [5]
1.2 Tình hình TV do TNTT:
1.2.1 Tình hình TV do TNTT trên thế giới và trong khu vực:
Nghiên cứu TV có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình hình bệnhtật, tuổi thọ của một dân tộc, khu vực cũng như toàn cầu Với thông tin số liệuthống kê có thể dự báo được xu thế tuổi thọ tăng hay giảm ở mức độ nào đó
và chiến lược đầu tư nào đem lại hiệu quả hơn [13]
Hiện nay, TNTT là vấn đề sức khỏe công cộng nghiêm trọng ở khắp mọinơi trên thế giới với số TV ước tính ngày càng tăng, là một trong những tháchthức hàng đầu của sức khỏe ngày nay [41] Năm 1998, trên toàn cầu cókhoảng 5,8 triệu người TV do TNTT, chiếm 16% của tất cả các nguyên nhân
TV [6] Tám trong tổng số 15 nguyên nhân hàng đầu của TV ở người 15- 29
Trang 7tuổi có liên quan đến thương tích và bạo lực Nhiều người có thể sống sótnhưng mang di chứng tàn tật suốt đời, nhiều gia đình và cộng đồng đang đốimặt với những gánh nặng do thương tích và bạo lực gây nên [14]
Mức độ TNTT và TV do TNTT rất khác nhau giữa các quốc gia và khuvực Ở châu Âu, tỷ lệ chết do TNTT chiếm khoảng 8,3% so với tất cả các loại
TV khác Khu vực Tây Thái Bình Dương, có khoảng 1,2 triệu người TV doTNTT/ năm, tương đương với khoảng 3.300 người TV do TNTT/ngày Khuvực Đông Nam Á, có khoảng 1,4 triệu người TV do TNTT/ năm [41]
Trung Quốc: Theo thống kê Quốc gia năm 1999, TNTT là nguyên nhângây TV hàng đầu ở độ tuổi 1- 44 với khoảng 750.000 người TV do TNTT/năm [59] TV do TNTT ở độ tuổi 0- 39, vùng nông thôn 30,4/100.000 dân;vùng thành thị 21,3/100.000 dân [16]
Philippines: TV do TNTT tăng 7 lần trong vòng 42 năm từ 1960 đến2002; TNTT là nguyên nhân thứ 2 gây TV ở nhóm tuổi 0- 14, Số TV doTNTT/100.000 dân là 40 (năm 1976) [28] Tương tự ở Singapore: Số TV doTNTT/100.000 dân là 43 (năm 1984) [65]
Ở Thái Lan: Số TV do TNTT/100.000 dân là 61 (năm 1978) [66], 68(năm 1981) [67]
Khảo sát TV tại thành phố Malaybalay, Bukidnon, Philippines năm2004- 2006 cho kết quả: TNTT là nguyên nhân thứ hai gây TV cho mọi nhómtuổi [23]
Nghiên cứu ở Ấn Độ về các trường hợp TV từ 1993- 2002 cho thấy tỷ lệ
TV do TNTT chiếm 11% tổng số TV, là nguyên nhân gây TV thứ 3 (nam13%, nữ 9%) Tỷ lệ TV do TNTT ở nhóm tuổi 5- 14 là 32%, nhóm tuổi 15-
45 là 35% [20] Nghiên cứu ở nước này năm 1994- 2007, tỷ lệ TV do TNTT ởnam 68%, cao gấp 2,1 lần ở nữ (32%) [32]
Trang 8Ở Bangladesh, năm 2005, tỷ lệ TV do TNTT tăng theo lứa tuổi của trẻ
em với 2% ở trẻ sơ sinh, 29% TV trong độ tuổi 1- 4, 48% trường hợp TVtrong độ tuổi 5- 9, 52% trường hợp TV từ 10- 14, 64% trường hợp TV từ 15-
17 Đuối nước là nguyên nhân TV lớn duy nhất ở trẻ trên 1 tuổi TNGT, bỏng,ngã, ngạt, chấn thương có chủ định là những cấu phần quan trọng trong chấnthương của trẻ [1] Và vẫn là vấn đề lớn ở Bangladesh với khoảng 19% số ca
TV ở trẻ 1- 4 tuổi [29], Tỷ lệ TV do TNTT năm 2007 là 6,01% [22]
Nghiên cứu ở Mỹ 1986- 1996 cho kết quả TNTT là nguyên nhân TV đầutiên ở trẻ > 1 tuổi và thanh thiếu niên với tỷ lệ 67,9% [47] Ngoài ra, TNTTcòn là một trong bảy nguyên nhân hàng đầu gây TV ở người lớn tại nước này,chủ yếu là ngã, TNGT và bỏng [63]
Trong các nguyên nhân gây TV do TNTT thì TV do TNGT là cao nhất.Trên toàn cầu, trung bình hàng năm TNGT đường bộ đã giết chết gần 1,2triệu người [9] Năm 2004, TV do TNGT chiếm 2,1% TV toàn cầu [25] Ướctính đến năm 2030 TNGT đường bộ là nguyên nhân thứ 8 trong các nguyênnhân gây TV [11]
TNGT có sự khác nhau ở từng quốc gia Ở Trung Quốc, ước tính hàngnăm có khoảng 100.000 trường hợp TV do TNGT [68] trong khoảng thờigian 42 năm từ 1951 đến 1999, số người bị TV do TNGT tăng lên gấp 4 lần[69] Tỷ lệ TV do TNGT tăng nhanh từ năm 1987 đến năm 2001 tăng từ 7,5%lên 19% [53] Một nghiên cứu khác cho thấy TV do TNGT từ 2,1/100.000(năm 1975) tăng lên 3,65/100.000 dân (năm 2005) [26] Ngoài ra, ở TrungQuốc, TNGT là nguyên nhân quan trọng làm tỷ lệ TV ở nông thôn cao hơnthành thị [16];
Ở Philippines, nghiên cứu các trường hợp TV từ 2004- 2006 cho biết,TNGT là nguyên nhân chính gây TV do TNTT ở nước này, chiếm tỷ lệ 39,3%
Trang 9[23]; TV do TNGT tăng từ 1,12/100.000 dân (năm 1961) lên 3,65/100.000dân (năm 2002) [28]
Ở Ấn Độ, nghiên cứu TV từ 1994- 2007, TV do TNGT là cao nhất với
tỷ lệ 52% [32]
TV do TNGT cũng có sự khác nhau về giới và tuổi Trên toàn thế giới
TV do TNGT ở nam chiếm 26%, nữ chiếm 4% trong tổng số các nguyên nhângây TV [20] Ở Mỹ, nghiên cứu giai đoạn 1981- 1985, TV do TNGT ở nam14,88/100.000 dân, nữ 5,75/100.000 dân; nghiên cứu giai đoạn năm 1994-
1998, TV do TNGT ở nam là 9,27/100.000 dân, nữ là 3,55/100.000 dân [51].Năm 2006, có 1335 trẻ em ≤ 14 tuổi TV do TNGT, tương đương với khoảng
4 trường hợp TV do TNGT/ ngày [48] Ở Thụy Điển, năm 1992 TV do TNGTchiếm 9/100.000 dân [57] Ở Ấn Độ, TV do TNGT ở trẻ em ≤ 10 tuổi chiếm52% [55]
Sau TNGT, tính trên toàn cầu, đuối nước là nguyên nhân thứ 2 gâyTNTT không chủ ý và đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây TV ở trẻ emtrên 1 tuổi trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, trên 50% TV do đuốinước xảy ra ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Trong đó, nam giớichiếm phần lớn [21] Ở Trung Quốc, đuối nước là nguyên nhân chính gây ra
sự khác biệt tỷ lệ TV giữa vùng nông thôn và thành thị ở nước này [46]
Ở Philippines, đuối nước là một trong những nguyên nhân chính gây TV
do TNTT ở trẻ em [28], TV do đuối nước chiếm 2,3% tổng số TV do cácnguyên nhân [23];
Ở Mỹ, năm 2005, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây TV ở trẻ em ≤
14 tuổi với tỷ lệ là 25% Trong đó, trẻ em 1- 4 tuổi chiếm 30%, nam TV dođuối nước nhiều hơn nữ 4 lần [46] Tương tự với kết quả nghiên cứu ởBangladesh [1] và ở Thái Lan, TV do đuối nước cao gấp 2 lần TV do TNGTđường bộ, với Tỷ lệ TV do đuối nước dao động từ 7,5- 11,5/100.000 trẻ [30]
Trang 10Ngoài các nguyên nhân TV trên còn có TV do bỏng, súc vật, côn trùngcắn, TNLĐ, ngộ độc, tự tử, điện giật.
Trên thế giới TV do ngộ độc khác nhau giữa nam và nữ, giai đoạn
1979-1980, TV do ngộ độc ở nam 5,41/100.000 dân, nữ 2,59/100.000 dân; giaiđoạn 1989- 1990, nam 7,4/100.000 dân, nữ 2,64/100.000 dân [51];
Tỷ lệ TV do TNLĐ giai đoạn 1980- 1985 ở nam là 7,45/100.000 dân, ở
nữ là 0,29/100.000 dân; giai đoạn 1993- 1997 ở nam là 6,26/100.000 dân, ở
ở những người dưới 20 tuổi [50]; Năm 2001 tỷ lệ TV do chó cắn là 0,07/100.000 dân [61]; Năm 2005, TV do bỏng là 1 trong 5 nguyên nhân đầutiên gây TV do TNTT [45];
0,004-Ở Atlanta, TV do điện giật (1977- 1985) 0,9/100.000 dân/ năm Cao nhất
ở công nhân lao động trong các công ty tiện ích (10/100.000 dân), công nhân
mỏ (5,9/100.000 dân), và các ngành công nghiệp (3,9/100.000 dân) [54]
Trang 111.2.2 Tình hình TV do TNTT ở Việt Nam:
TNTT là một vấn đề y tế công cộng nổi cộm ở Việt Nam, nó đã đượcchính phủ Việt Nam và nhiều tổ chức khác nhìn nhận và các hoạt động vềphòng chống TNTT đã được triển khai trong một vài năm vừa qua [2]
Ở Việt Nam, tỷ lệ TV do TNTT chiếm 10,7% trong tổng số các trườnghợp TV theo kết quả điều tra y tế quốc gia 2002 Ngoài TNGT (chiếm khoảng50%), các TNTT khác thường gặp tại cộng đồng: Đuối nước, ngộ độc, ngã,bỏng, TNLĐ là nguyên nhân của hàng nghìn trường hợp TV mỗi năm [41]
Ở Việt Nam, xu hướng TV do TNTT tăng nhanh trong những thập kỷqua, mỗi năm có khoảng 30.000 trường hợp TV do TNTT, chiếm 11% cácnguyên nhân gây TV [42]; Theo Niên giám thống kê Y tế năm 2007, mô hình
TV do TNTT cũng khác nhau giữa các năm: năm 2001 tính trên cả nước TV
do TNTT là 88,4/100.000 dân, chiếm tỷ lệ 10,7% tổng số TV, cao gấp 3 lần
so với TV do nhóm bệnh truyền nhiễm [8], [41]; năm 2002, TV do TNTT đãvượt tỷ lệ TV do nhóm bệnh truyền nhiễm trở thành nguyên nhân thứ 2 gây
TV, chiếm 10,8% [7]; năm 2005 Tỷ lệ TV do TNTT cả nước là 45/100.000dân; năm 2006 là 46,1/100.000 dân chiếm 11,8% [8], [43] Đặc biệt TV doTNTT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TV tại bệnh viện Trong đó,
TV do TNTT ở trẻ em chiếm 17- 18% [26] Ở Lâm Thao- Phú Thọ tỷ lệ TV
do TNTT năm 2005 là 8,91% [13]
Nghiên cứu tại xã Thượng Cát- Từ Liêm- Hà Nội năm 1996- 2005, tỷ
lệ TV do TNTT chiếm 8,3% tổng số các trường hợp TV, đứng thứ 3 trong cácnguyên nhân gây TV [17]
Tỷ lệ TV/100.000 dân, năm 2001, do TNGT là 27,2; do đuối nước là23,3; do ngộ độc là 7,7; Năm 2005, TNGT 19,9; do đuối nước là 8,6; do tự tử
là 5; do ngộ độc là 2,1; Năm 2006, do TNGT 21,2; do đuối nước là 8,7; do tự
tử là 5; do ngộ độc là 1,9 [8], [44]
Trang 12TNTT là nguyên nhân chính gây TV ở trẻ em 5- 19 tuổi, đặc biệt làđuối nước với tỷ lệ TV/100.000 dân là 13,47; TNGT là 6,85 [42].
Mô hình TV do TNTT có sự khác nhau giữa các vùng miền, vùng đồngbằng sông Hồng năm 2005 Tỷ lệ TV do TNTT là 38,6/100.000 dân; năm
2006 là 38,4/100.000 dân; vùng Đông Bắc năm 2005 Tỷ lệ TV do TNTT là60,0/100.000 dân; năm 2006 là 60,0/100.000 dân; vùng Tây Bắc (trong đó cóĐiện Biên), năm 2005 Tỷ lệ TV do TNTT là 56,3/100.000 dân; năm 2006 là60,7/100.000 dân [8]
Ngoài ra, TV do TNTT cũng có sự khác nhau giữa các tỉnh Tỷ lệ TV
do TNTT trung bình ở Long An, Huế, Hải Dương và Hưng Yên là50,25/100.000 dân, tương tự tỷ lệ TV báo cáo trong cuốn sổ A6/YTCS [43].Căn cứ theo kết quả điều tra hộ gia đình về TNTT tại Hải Dương và HưngYên (2006) tỷ lệ TV do TNTT là 61/100.000 dân [39]; tại Huế (2005)49,5/100.000 dân; tại Long An (2005) 44,5/100.000 dân [40]; Tại huyện TừLiêm- Hà Nội, TV do TNTT là 51,1/100.000 dân [18], Tại Định Công, TV doTNTT 65,3/100.000 dân [27] Năm 2005, ở Sơn La, TV do TNTT48,8/100.000 dân, ở Hòa Bình là 64,2/100.000 dân; năm 2006 ở Sơn La, TV
do TNTT 55,0/100.000 dân, ở Hòa Bình là 59,5/100.000 dân [8]
Tỷ lệ TV do TNTT cũng khác nhau theo giới Tỷ lệ TV do TNTT ởnam cao gấp 3 lần ở nữ (nam chiếm 76%, nữ chiếm 24%) [14]; tính trên cảnước, năm 2002, tỷ lệ TV do TNTT ở nam chiếm 13,7%, ở nữ chiếm 7,1%;năm 2005 tỷ lệ TV do TNTT ở nam là 66,1/100.000 dân, ở nữ là 22,8/100.000dân Trong đó, tỷ lệ TV do TNGT ở nam là 30,8/100.000 dân, ở nữ là8,6/100.000 dân; do đuối nước ở nam là 11,2/100.000 dân, ở nữ là5,7/100.000 dân; do tự tử ở nam là 6,4/100.000 dân, ở nữ là 3,5/100.000 dân;
do ngộ độc ở nam là 3,0/100.000 dân, ở nữ là 1,0/100.000 dân; năm 2006 tỷ
lệ TV do TNTT ở nam là 68,2/100.000 dân, ở nữ là 23/100.000 dân, tỷ lệ TV
Trang 13do TNGT ở nam là 32,8/100.000 dân, ở nữ là 9,0/100.000 dân; do đuối nước
ở nam là 11,8/100.000 dân, ở nữ là 5,5/100.000 dân; do tự tử ở nam là6,4/100.000 dân, ở nữ là 3,4/100.000 dân; do ngộ độc ở nam là 2,7/100.000dân, ở nữ là 1,0/100.000 dân [8]
Ở vùng đồng bằng sông Hồng năm 2005 tỷ lệ TV do TNTT ở nam là56,4/100.000 dân, ở nữ là 20,1/100.000 dân; năm 2006 ở nam là 56,5/100.000dân, ở nữ là 19,8/100.000 dân; vùng Đông Bắc năm 2005 tỷ lệ TV do TNTT
ở nam là 87,1/100.000 dân, ở nữ là 31,7/100.000 dân; năm 2006 ở nam là89,2/100.000 dân, ở nữ là 29,7/100.000 dân; vùng Tây Bắc (trong đó có ĐiệnBiên), năm 2005 tỷ lệ TV do TNTT ở nam là 80,2/100.000 dân, ở nữ là31,5/100.000 dân; năm 2006 ở nam là 87,0/100.000 dân, ở nữ là 33,7/100.000dân [8], phần lớn các trường hợp TV tập trung vào lứa tuổi lao động (15- 59tuổi) [14] hoặc 20- 59 [43] Năm 2002, tỷ lệ TV do TNTT cao nhất ở lứa tuổi10- 24 tuổi (56,5%), tiếp theo là 5- 9 tuổi (39,4%), 1- 4 tuổi (25,8%), 25- 59tuổi (19,5%), ≥ 60 tuổi (3,2%), < 1 tuổi (2,5%) [7] Năm 2005, ở Sơn La, TV
do TNTT ở nam là 66,4/100.000 dân, ở nữ là 31,0/100.000 dân; ở Hòa Bình
TV do TNTT ở nam là 96,2/100.000 dân, ở nữ là 30,2/100.000 dân; Năm
2006, ở Sơn La, TV do TNTT ở nam là 79,0/100.000 dân, ở nữ là30,8/100.000 dân; ở Hòa Bình TV do TNTT ở nam là 87,5/100.000 dân, ở nữ
là 30,1/100.000 dân [8]; Tại Lâm Thao- Phú Thọ, năm 2005, nam (11,28%),
Trang 14trường hợp TV do TNTT [41]; Năm 2005, tại Từ Liêm- Hà Nội, TV doTNGT chiếm 50,51% [18] Tại hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên năm 2006,
tỷ lệ TV do TNGT cao nhất (38%) [39]
Từ năm 1989 đến năm 1998, sau 10 năm TV do TNGT tăng lên 4 lần.Năm 1990 cả nước có 2000 người TV do TNGT thì chỉ 8 tháng năm 2002 cảnước có 8.500 người TV do TNGT [2] Năm 2007, TV do TNGT là14,76/100.000 dân [35]
TV do TNGT cũng có sự khác nhau về khu vực, tỉnh, giới và độ tuổi,Tây Nguyên (2005- 2006), TNGT là nguyên nhân hàng đầu trong 10 nguyênnhân chính của TNTT với tỷ lệ 62,3% [31]; nam chiếm 79%, nữ chiếm 21%,chủ yếu tập trung ở lứa tuổi 20- 59 [43]
Đuối nước là nguyên nhân thứ hai gây TV trong nhóm TNTT không cố
ý, chỉ sau TNGT đường bộ Hầu hết các trường hợp TV rơi vào nhóm trẻ em
≤ 14 tuổi [38]
Tỷ lệ TV do đuối nước ở trẻ em cao nhất 39,2/100.000 trẻ [44] Năm
2005, tại Từ Liêm- Hà Nội TV do đuối nước 14,14% Cũng trong nghiên cứunày, đứng sau TV do đuối nước là TV do điện giật với 3,54% [18]
Ở hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên nghiên cứu năm 2006, TV do ngã
là nguyên nhân thứ 2 gây TV do TNTT (23%), sau đó là súc vật cắn (11%),Đuối nước (0,45%), Bỏng (4,04%), Điện giật (1,94%), Ngộ độc (0,6%) [39]
Nghiên cứu ở Thừa Thiên- Huế năm 2004- 2006, tỷ lệ TV do TNGT là50,4%, do đuối nước là 19,5%, do tự tử là 10,5%, do TNLĐ là 4,9% [36]
1.3 Gánh nặng TV do TNTT:
Ngoài những chỉ số đơn lẻ phản ánh tình trạng sức khỏe của cộng đồng:KVS khi sinh, tỷ suất chết thô, tỷ suất chết trẻ dưới 1 tuổi, tỷ suất chết trẻ emdưới 5 tuổi, tỷ lệ mắc một số bệnh , chỉ số YPLL được đưa ra và sử dụngnhư là phương tiện hữu ích trong việc so sánh tình trạng sức khỏe chung giữa
Trang 15các cộng đồng khác nhau và hỗ trợ một cách đắc lực quá trình lựa chọn ưutiên, phân bổ nguồn lực Y tế Chỉ số này đã thể hiện được những ưu điểm vàngày càng được dùng trên thế giới Đây là chỉ số cho phép đánh giá gánhnặng TV của một cộng đồng dựa trên hiệu số KVS khi sinh và tuổi lúc TV.Phương pháp này cho thấy nếu chết ở độ tuổi càng trẻ thì số năm sống mất đicàng nhiều Một xã hội có tuổi thọ càng cao thì chỉ số YPLL càng thấp.
Trong nghiên cứu này, tính YPLL theo KVS khi sinh của Việt Nam năm
2007 là 72,84 Như vậy, nếu 1 người chết ở tuổi 35, có nghĩa là người đó mất37,84 năm vì chết sớm
1.3.1 Gánh nặng TV do TNTT trên thế giới:
Năm 2004, trên thế giới ước tính có khoảng 2,6% giảm DALYs (Sốnăm sống bị mất đi vì chết sớm và mang bệnh) [25] Mỗi năm tỷ lệ TV ởcác nước có thu nhập thấp và trung bình, chiếm tới 85- 90% số trường hợpgiảm chỉ số DALYs [25]
Gánh nặng toàn cầu do TNTT sẽ gia tăng trong những thập kỷ tới [15].Tại khu vực Đông Nam Á, TNTT đóng góp 16% tổng gánh nặng bệnhtật toàn cầu [41], Khu vực châu Á- Thái Bình Dương, TNTT làm thiệt hại
về kinh tế chiếm từ 1- 5% tổng sản phẩm quốc nội của mỗi quốc gia [33]
Tổ chức lao động Quốc tế ước tính 4% GDP toàn thế giới chi phí choTNTT [3] Tương tự ước tính của TCYTTG tổn thất toàn cầu do TNGTkhoảng 518 tỉ đô la Mỹ/ năm, ở các nước thu nhập thấp và trung bình nhưViệt Nam chi phí này là 65 tỷ đôla Mỹ/ năm, nhiều hơn khoản viện trợ củacác nước này nhận được cho phát triển kinh tế xã hội [41] Còn ở Mỹ, ướctính chi phí cho TNLĐ khoảng 140 tỷ đô la Mỹ/ năm, chiếm 1/6 chi phí xãhội [58]; chi phí cho TV do bỏng chiếm 2% tổng chi phí cho TNTT [45]; tuổithọ mất đi do súng ngắn là 103,6 ngày [62]
Trang 161.3.2 Gánh nặng TV do TNTT ở Việt Nam:
Ngân hàng châu Á ước tính, tổn thất kinh tế hàng năm do TNGT đường
bộ gây ra ở Việt Nam là 885 triệu đô la Mỹ [10], tương đương với khoảng140.000 tỷ đồng Việt Nam (chưa kể nguồn lực của ngành Y tế dành cho cứuchữa và phục hồi chức năng cho nạn nhân) [41]
Theo nghiên cứu Gánh nặng của thương tích nghề nghiệp ở công nhân
cơ khí đóng tàu, tổng số năm mất đi với 145 công nhân bị thương là 4,04DALYs, nam mất nhiều DALYs hơn nữ (nam 3,743 DALYs, nữ 0,287DALYs) [12]
Kết quả nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật tại huyện Chí Linh- Hải Dươngqua phân tích số liệu TV năm 1997- 1998 cho thấy TNTT là gánh nặng bệnhtật hàng đầu, chiếm gần 40% tổng số năm sống tiềm tàng bị mất đi do chếtsớm Khi phân tích số liệu theo giới, gánh nặng TV do TNTT ở nam cao hơnhẳn ở nữ trong cả 2 năm và gánh nặng TV do các bệnh lý chu sinh ở nữ luôncao hơn ở nam, ở nhóm tuổi 5- 14 gánh nặng TV do TNTT đứng đầu chiếmhơn 70% tổng gánh nặng bệnh tật, đứng hàng thứ hai là nhóm tuổi 0- 4; Gánhnặng TV do TNTT tiếp tục đứng hàng đầu ở nhóm tuổi 15- 29 và 30- 49; TV
do đuối nước ở nam cao chỉ gần bằng 1/2 ở nữ nhưng gánh nặng TV do đuốinước lại chiếm gần 1/3 gánh nặng bệnh tật do TNTT (30,3%) và nữ chiếm 2/3(61,5%) [24]
Tại Lâm Thao- Phú Thọ, nghiên cứu TV năm 2005, tổng số năm mất đi
do chết sớm vì TNTT là 1.285/100.000 dân (theo KVS của người Nhật Bản),chiếm 8,97%; nam 11,28% cao hơn nữ 4,85%; trẻ em < 1 tuổi 0,2%; trẻ em 1-
< 5 tuổi 0,3%; trẻ em 5- < 15 tuổi 0,5%; 15- <60 tuổi 5,8%; ≥ 60 tuổi 1,9%;Tính theo tuổi thọ trung bình của người Việt Nam, số YPLL do TNTT củahuyện Lâm Thao- Phú Thọ năm 2005 là 5.110 năm/100.000 dân (theo KVScủa người Việt Nam [13]
Trang 17Tại Sóc Sơn- Hà Nội, nghiên cứu TV năm 2002 cho biết tổng số YPLL
do TNTT 34,8% [37]
Nghiên cứu “Đo lường gánh nặng TV sớm tại Tại Ba Vì- Hà Tây thôngqua chỉ số năm sống tiềm tàng bị mất đi năm 2002- 2003” cho thấy trong 2năm 2002- 2003, số năm sống tiềm tàng bị mất do chết sớm chủ yếu tập trungvào nhóm TNTT với tỷ lệ 25,7% và chủ yếu ở tập trung ở nhóm trẻ em < 5tuổi, nhóm người cao tuổi > 60 và giai đoạn trưởng thành 20- 60 Kết quảnghiên cứu cũng cho thấy số năm sống tiềm tàng bị mất do chết sớm ở namcao hơn nữ, năm 2002 gấp 1,24 lần; Năm 2003 nam gấp nữ 2,60 lần; trong
đó, chung cả 2 giới, gánh nặng TV do TNTT là 20.000/100.000 dân [19]
1.4 Tình hình TV do TNTT và gánh nặng TV do TNTT tại tỉnh Điện Biên
- Tại tỉnh Điện Biên, có ít nghiên cứu về tình hình TV và tình hình TV
do TNTT nhưng chưa được đầy đủ và cụ thể Đặc biệt, chưa cónghiên cứu nào nghiên cứu về gánh nặng TV nói chung và gánh nặng
TV do TNTT nói riêng
- Năm 2005, TV do TNTT ở Điện Biên là 54,8/100.000 dân; Trong đó,
Tv do TNTT ở nam là 76,2/100.000 dân, nữ là 32,6/100.000 dân.Năm 2006, TV do TNTT ở Điện Biên là 69,0/100.000 dân; Trong đó,
Tv do TNTT ở nam là 92,9/100.000 dân, nữ là 44,1/100.000 dân [8]
- Trong nghiên cứu này sẽ tính toán YPLL của một số nguyên nhân TV
do TNTT thường gặp tại địa phương
Trang 18Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại tỉnh Điện Biên (Phụ lục 2)
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới, thuộc vùng Tây Bắc, cách thủ đô
Hà Nội gần 500 km về phía Tây; phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông vàĐông bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam- Trung Quốc;phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Tỉnh Điện Biên có 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố với 106 xã/ phường/ thịtrấn, chủ yếu nằm ở vùng núi cao, chỉ có 1 thành phố và 1 huyện nằm ở khu vựctương đối bằng phẳng, xung quanh bao phủ bởi đồi núi, giao thông đi lại khó khănvới kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, làm nương rẫy (Nguồn Ủy ban nhân dântỉnh Điện Biên)
Về hoạt động y tế, hiện nay Điện Biên đã cơ bản kiện toàn hệ thống y tế
từ tỉnh đến Trạm Y tế xã và Y tế thôn/ bản Toàn tỉnh Điện Biên có 5 Bệnhviện đa khoa, 20 phòng khám đa khoa khu vực, 106/106 xã/phường/thị trấn cóTrạm y tế (100%) [8]
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh hiện nay là 9.554.097 km2 với dân sốtrung bình năm 2007 là 459.100 người, gồm 21 dân tộc, trong đó dân tộc Tháichiếm 40,4%, dân tộc H’mông chiếm 28,8%, dân tộc Kinh chiếm 19,7%, cònlại là các dân tộc khác chiếm 11,1% [8]
Điện Biên đang là một trong những tỉnh nghèo của cả nước với trên13.000 hộ nghèo và có tới 4 huyện nằm trong danh sách 61 huyện nghèotrong cả nước theo nghị quyết 30A của Chính phủ, toàn tỉnh mới có 70/106xã/ phường có đường ô tô đến trung tâm xã đi lại được trong mùa khô (Nguồn
Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên)
Trang 192.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Toàn bộ các trường hợp TV thuộc diện quản lý hộ khẩu của tỉnh Điện Biên
từ 0h ngày 01/ 01/ 2005 đến 24h ngày 31/ 12/ 2008 là đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các trường hợp TV từ 0h ngày 01 tháng 01 năm
2005 đến 24h ngày 31 tháng 12 năm 2008 không phân biệt tuổi, giới, dân tộc,
có hộ khẩu tại tỉnh Điện Biên, dù TV ở bất kỳ đâu
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những trường hợp TV trên địa bàn tỉnh Điện Biênnhưng không thuộc tỉnh Điện Biên quản lý hộ khẩu
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu chung:
Dịch tễ học mô tả cắt ngang hồi cứu số liệu TV do TNTT của 106 xã/phường/ thị trấn thuộc tỉnh Điện Biên trong 4 năm 2005- 2008
2.3.2 Cỡ mẫu:
- Toàn bộ các trường hợp TV trong 4 năm (2005- 2008) được ghi chép
trong sổ A6/YTCS tại 106 xã/ phường/ thị trấn của tỉnh Điện Biên trong 4năm 2005- 2008: 6410 trường hợp TV.2.3.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu vàcông cụ, kỹ thuật thu thập thông tin:
Trang 202.3.3.1 Biến số, chỉ số nghiên cứu:
Mục tiêu Biến số Định nghĩa biến số/chỉ số Phương pháp thu thập
- Tính cấu trúc dân số theonhóm tuổi = (dân số thamgia nghiên cứu X dân sốtừng nhóm tuổi 1999)/ tổngdân số 1999
- Hồi cứu tư liệu sẵn có
về số dân trung bình theogiới từ Trạm y tế xã năm
2005, 2006, 2007, 2008theo mẫu báo cáo nguyênnhân TV
- Hồi cứu cấu trúc dân sốtheo nhóm tuổi 1999 bằngBiểu mẫu thu thập cấutrúc dân số 1999
Tuổi - Tính tỷ lệ TV do TNTT
theo nhóm tuổi = (số TV
do TNTT/ dân số tham gianghiên cứu của nhóm tuổiđó) X 100.000
Hồi cứu tư liệu sẵn có (SổA6/YTCS) theo mẫu báocáo nguyên nhân TV
Giới - Tính tỷ lệ TV do TNTT
theo giới = (số TV doTNTT từng giới/số TVtừng giới) X 100
Hồi cứu tư liệu sẵn có (SổA6/YTCS) theo mẫu báocáo nguyên nhân TV
Thángnăm
- Tính tỷ lệ TV do TNTT theonăm = (số TV do TNTT từngnăm / số TV từng năm) X 100
Hồi cứu tư liệu sẵn có (SổA6/YTCS) theo mẫu báocáo nguyên nhân TV.Nguyên
nhân
- Tính tỷ lệ TV do TNTTtheo nguyên nhân = (số TVtheo từng nguyên nhânTNTT/ dân số tham gianghiên cứu) X 100.000
Hồi cứu tư liệu sẵn có (SổA6/YTCS) theo mẫu báocáo nguyên nhân TV
Mục tiêu Dân số - Tính tỷ lệ gánh nặng TV - Hồi cứu tư liệu sẵn có
Trang 21về số dân trung bình theogiới từ Trạm y tế xã năm
2005, 2006, 2007, 2008theo mẫu báo cáo nguyênnhân TV
Tuổi - Tính YPLL = [Kỳ vong
sống khi sinh của ViệtNam năm 2007 (72,84)-tuổi trung bình khi chết] X
số chết từng khoảng
- Tính gánh nặng TV doTNTT theo nhóm tuổi =(YPLL của TNTT ở từngnhóm tuổi/dân số tham gianghiên cứu) X 100.000
Hồi cứu tư liệu sẵn có (SổA6/YTCS) theo mẫu báocáo nguyên nhân TV
Thángnăm
- Tính gánh nặng TV doTNTT theo năm= (YPLLcủa TNTT từng năm/dân
số tham gia nghiên cứu) X100.000
Hồi cứu tư liệu sẵn có (SổA6/YTCS) theo mẫu báocáo nguyên nhân TV
Dân số nghiên cứu là tổng số dân số trung bình năm ở các xã do Trạm Y
tế xã báo cáo Nếu xã nào không báo cáo dân số thì gọi điện thoại đến Trạm Y
tế xã bổ sung hoặc lấy dân số trung bình năm của năm gần nhất
Trang 222.3.3.2 Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin:
Công cụ thu thập thông tin: Sử dụng Mẫu báo cáo nguyên nhân
TV (phụ lục 1) gồm:
- Thông tin chung
- Hướng dẫn cách ghi chép nguyên nhân TV
- Danh sách các trường hợp TV,
Kỹ thuật thu thập thông tin:
- Tập huấn cách ghi chép thông tin vào phiếu ghi chép nguyên nhân TVcho giám đốc các trung tâm Y tế huyện/ thị/ thành phố (phụ lục 1)
- Sau đó, trung tâm Y tế huyện/ thị/ thành phố tập huấn cách ghi chépthông tin vào phiếu ghi chép nguyên nhân TV cho Trưởng trạm Y tếxã/ phường/ thị trấn
- Quy trình thu thập số liệu:
Các trường hợp TV từ ngày 01/ 01/ 2005 đến 31/ 12/ 2008 được khaithác các nguyên nhân TV từ sổ A6/YTCS do Trưởng trạm Y tế xã/phường/ thị trấn ghi chép
Trang 23Nhóm nghiên cứu
Đại học Y Hà Nội
Sơ đồ 1: Sơ đồ thu thập số liệu nghiên cứu
Ghi chú : Quy trình phát phiếu thu thập số liệu TV
Quy trình thu phiếu thu thập số liệu TV
TV báo cáo theo mẫu
Đối chiếu số liệu với các nguồn thông tin khác nhau: Dân số, Tưpháp, Y tế
2.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu:
Sở Y tế Điện Biên
Trung tâm Y tế cáchuyện/ thị/ thành phố
Trạm Y tế các xã
Trang 24Số liệu được ghi nhận, làm sạch số liệu rồi nhập vào máy tính bằngphần mềm Excel, mã hoá nguyên nhân TV theo ICD- 10, sau đó sửdụng thuật toán thống kê mô tả để phân tích số liệu bằng phần mềmStata 8.0.
Kiểm tra tính logic của số liệu:
- Loại trừ các trường hợp TV báo cáo lặp lại
- Các trường hợp TV không có giới, ngày tháng năm TV, không có tuổilúc TV
- Chỉ các trường hợp TV trong 4 năm từ 0h ngày 1/1/2005 đến 24hngày 31/12/2008 mới được đưa vào nghiên cứu
- Kiểm tra mỗi huyện/ thị/ thành phố 1 xã/ phường/ thị trấn bằng cáchlấy danh sách TV ở cán bộ tư pháp và cán bộ dân số để so sánh với danh sáchbáo cáo từ sổ A6/YTCS của trạm Y tế xã/ phường/ thị trấn
2.5 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2009
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu:
- Việc thu thập số liệu này không gây hại cho cộng đồng và cá nhân
- Số liệu thu được sẽ giữ bí mật và chỉ dùng cho mục đích khoa học
- Hệ thống tổ chức thu thập thông tin dựa vào chức năng quản lý nhànước của cục Y tế dự phòng- Bộ Y tế
- Nghiên cứu được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế tỉnhĐiện Biên, Trung tâm Y tế các huyện /thị/ thành phố và Trạm y tế cácxã/ phường/ thị trấn
- Kết quả thu được báo cáo cho Sở Y tế và chính quyền địa phương đểphục vụ công tác phòng bệnh
2.7 Hạn chế của đề tài:
Trang 25Do điều kiện nguồn nhân lực, thời gian, kinh phí và là nghiên cứu hồicứu các tư liệu sẵn có và mới thu thập số liệu ở một nguồn là sổ A6/YTCSnên số liệu có thể không đầy đủ, nguyên nhân có thể ghi không đầy đủ hoặckhông chính xác và kết quả chỉ mang tính chất mô tả Lý do:
Không phải lúc nào, ở đâu và bất cứ ai ốm cũng đều đến Trạm Y tế
xã để cấp cứu trước khi chết
Không phải trường hợp chết nào trong xã cũng được ghi nhận vàcông tác ghi chép nguyên nhân TV không được quan tâm thườngxuyên và nhiều khi còn chỉ ghi các trường hợp chết tại cơ sở y tế.Các trường hợp được ghi vào sổ A6/YTCS còn qua loa, không điềnđầy đủ các thông tin, nguyên nhân không ghi hoặc ghi chết ốm, chếtbệnh, chết già…
Nghiên cứu này mới chỉ đánh giá kết quả ghi chép nguyên nhân TVcủa 4 năm theo báo cáo của Trạm Y tế xã, số liệu TV do TNTT cóthể thay đổi theo các năm nên số liệu này chưa thể đại diện cho tìnhhình TV của toàn tỉnh Điện Biên
Trang 26TV do TNGT cao
TV do ngộ độc cao
TV do tự tử cao
TV do đuối nước cao
TV do các nguyên nhân tai nạn thương tích khác
Không có người lớn trông trẻ
Kinh tế nghèo phải
đi làm kiếm sống
Hệ thống sông ngòi ao hồ dày đặc không rào bảo vệ
Văn hoá lối sống lạc hậu
Kinh tế nghèo, mâu thuẫn nhiều
Tỷ lệ người nghiện ma tuý cao
Cây, hoá chất độc không được cách ly khói người dân
Người dân
không thực hiện
luật giao thông
Khó khăn trong
việc tuyên truyền
luật giao thông
Phương tiện giao thông không đảm bảo chất lượng
Chất lượng
đường giao
thông xấu
Trang 27Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Số huyện, xã, trạm y tế xã tham gia nghiên cứu về tình hình TV do TNTT tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005- 2008:
Bảng 3.1: Số huyện, xã, trạm y tế xã tham gia nghiên cứu:
Tỷ lệ
Có SL
Tỷ lệ
Có SL
Tỷ lệ
%
Xã 101 68 67,3 101 75 74,3 106 106 100 106 105 99,1
Nhận xét: Số huyện tham gia nghiên cứu trong tổng số các huyện có
trên địa bàn tỉnh năm 2005 và 2006 là 7/8 chiếm 87,5%; năm 2007 và 2008đạt tỷ lệ 100%
Số xã tham gia nghiên cứu, năm 2005 là 68/101 xã, đạt tỷ lệ 67,3%; năm
2006 là 75/101 xã, chiếm tỷ lệ 74,3%; năm 2007 là 106/106 xã, chiếm tỷ lệ100%; năm 2008 là 105/106 xã, chiếm tỷ lệ 99,1%
3.2 Tình hình TV do TNTT tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005- 2008:
3.2.1 Tình hình TV do TNTT tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005- 2008 theo tuổi, giới, năm, huyện/ thị/ thành phố:
Trang 28Bảng 3.2: Tỷ lệ TV do TNTT/100.000 dân theo nhóm tuổi tại tỉnh Điện
Biên
Nhóm
tuổi
Số người- năm tham gia nghiên
cứu
Số TV do TNTT Tỷ lệ TV/100.000 dân
Trang 29Bảng 3.3: Tỷ lệ TV do TNTT theo giới và theo năm:
Tỷ lệ
%
Số TV
Số TV do TNTT
Tỷ lệ
%
Số TV
Số TV do TNTT
Nhận xét: Tỷ lệ TV do TNTT tăng dần qua các năm, trung bình là 21,1%.
Tỷ lệ TV do TNTT ở nam cao hơn nữ (24,0% so với 15,7%)
Nhận xét: Tỷ lệ TV do TNTT cao nhất ở huyện Điện Biên Đông
(32,8%), tiếp theo là huyện Mường Nhé (28,0%), huyện Tuần Giáo (24,2%)
Tỷ lệ TV/100.000
Trang 30Nhận xét: Tỷ lệ TV do TNTT/100.000 dân cao nhất ở huyện Điện Biên
Đông (146,6/100.000), tiếp theo là huyện Mường Lay (114,3/100.000), huyệnTuần Giáo (112,9/100.000),
Tỷ lệ TV do TNTT/100.000 dân thấp nhất là huyện Mường Nhé(63,7/100.000)
Tỷ lệ TV do TNTT/100.000 theo huyện/thị/thành phố
63,7 64,2 66,6 71,9 73,8 76,4
112,9 114,3
Trang 313.2.2 Tình hình TV do TNTT tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005- 2008 so với các nguyên nhân khác:
Bảng 3.6: Tỷ lệ TV do TNTT do với các nguyên nhân khác và theo năm:
Tỷ lệ
%
Số TV
Tỷ lệ
%
Số TV
Tỷ lệ
%
Số TV
Tỷ lệ
%
Số TV
5 Bệnh nội tiết, dinh
Nhận xét: TV do TNTT 1355 trường hợp, chiếm tỷ lệ cao nhất 21,1%.
TV do TNTT cao nhất ở năm 2007 (21,9%), thấp nhất năm 2008 (20,2%)
3.2.3 Tình hình TV do TNTT tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005- 2008 theo nguyên nhân TNTT: