1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý

64 787 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 214,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này b-ớc đầu nêu ra đợc thực trạng hiện nay trong việc đánh giá, sử dụng chứng cứtrong vụ án hình sự ma tuý, đa ra đề suất, một giải pháp thực tiễn, dự b

Trang 1

A Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dơng và đợc coi là một vị trí chiến lợcquan trọng với diện tích là 329600m2 đờng biên giới dài 7927km, tiếp giáp vớicác nớc: Lào, Cam PhuChia, Trung Quốc, có nhiều hải cảng, đảo, quần đảo rấtthuận lợi cho việc giao lu quốc tế dân số là 77.685.500 ngời ( tính đến ngày1/7/2000) ngời ở độ tuổi lao động đông Bên cạnh đó Việt Nam là nớc đang pháttriển với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng

có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa và trong nhữngnăm qua đã thu đợc rất nhiều thành tựu phấn khởi, nhng bên cạnh đó thì xã hộinảy sinh ra rất nhiều khó khăn phức tạp về việc làm Về sự quản lý xã hội của

Đảng và Nhà nớc ảnh hởng rất lớn đến vấn đề ANTT, tội phạm gia tăng với nhiềuthủ đoạn hoạt động tinh vi xảo quyệt hơn Đặc biệt là sự gia tăng tội phạm matuý Bọn chúng hoạt động ở khắp mọi nơi gây ra hậu quả nặng nền cho xã hội

Ma tuý đã vi phạm nghiêm trọng tới truyền thống đạo đức, ảnh hởng rất sấu tới

sự phát triển kinh tế gây hại cho sức khoẻ của một bộ phân nhân dân ảnh h ởngsấu tới nòi giống dân tốc, để lại hậu quả lớn cho thế hệ mai sau và ma tuý còn làcầu nối lan truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Trớc tình hình trên Đảng và Nhànớc đã có rất nhiều nghị quyết chỉ thị kế hoạch để phòng ngừa, đấu tranh, ngănchặn Nhng trong thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa ngăn chặn tội phạm ma tuývẫn còn nhiều hạn chế thiếu sót, tội phạm về ma tuý vẫn còn tồn tại nhởn nhơngoài vòng pháp luật mà không bị xử lý Một trong những nguyên nhân dẫn đếntình trạng này là do quá trình điều tra, xét xử các vụ án về ma túy vẫn còn kéodài, không kiểm tra đánh giá đợc chứng cứ, chứng cứ còn thu thập một cáchthiếu chuẩn xác, không đánh giá đợc hết các thuộc tính của chứng cứ Tất nhiênvấn đề này cũng đã đợc các cơ quan pháp luật tổng kết rút kinh nghiệm đối vớicác vụ án ma tuý oan sau nghĩa trọng, để ngăn ngừa những lệch lạc, vi phạm t-

ơng tự tiếp tục diễn ra trong thực tiễn đánh giá chứng cứ Việc nghiên cứu đề tài

"Vấn đề đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của trình tự đánh giá, sử dụng những chứng

cứ trong điều tra vụ án hình sự về ma tuý

2 Mục đích, nhiệm vụ, chức năng của đề tài

- Mục đích của đề tài: Nghiên cứu đề tài " Vấn đề đánh giá chứng cứ trongquá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý" sẽ làm rõ một cách cơ bản những

Trang 2

vấn đề lý luận và thực tiễn của trình tự đánh giá sử dụng chứng cứ trong quátrình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý Thông qua việc nghiên cứu đề tài này b-

ớc đầu nêu ra đợc thực trạng hiện nay trong việc đánh giá, sử dụng chứng cứtrong vụ án hình sự ma tuý, đa ra đề suất, một giải pháp thực tiễn, dự báo tìnhhình nhằm nâng cao hiệu quả, chất lợng của việc đánh giá sử dụng chứng cứtrong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý, góp phần vào đấu tranh tộiphạm và tệ nạn ma tuý, góp phần vào cuộc đấu tranh tội phạm và tệ nạn ma tuýcủa các cơ quan bảo vệ pháp luật và của toàn xã hội trong thời đại hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài: Đề tài sẽ làm rõ về tội phạm ma tuý và lý luận vềchứng cứ và chứng minh các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự về ma tuý ở cácvăn bản, tài liệu của Đảng và Nhà nớc trong giai đoạn hiện nay

Đề tài đánh giá đúng thực trạng thu thập đánh giá và sử dụng chứng cứtrong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở nớc ta hiện nay Dự báo đánh giá cácyếu tố tác động đến hoạt động đó ở Việt Nam trong những năm tới, từ đó nghiêncứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của những giải pháp nâng cao hiệuquả thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự về ma tuý

- Chức năng của đề tài: Đề tài có chức năng sau:

Chức năng mô tả: Đề tài đã ghi nhận, phản ánh cho chúng ta thấy đợc tìnhhình về tội phạm và tệ nạn ma tuý ở nơc ta thực trạng và vấn đề đánh giá chứng

cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ma tuý ở giai đoạn hiện nay

Chức năng giải quyết: Đề tài không chỉ mô tả cho chúng ta thấy bức tranhsinh động về tình hình tội phạm về tội phạm và tệ nạn ma tuý trong xã hội vàthực trạng vấn đề đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự matuý mà còn giải thích, làm sáng tỏ vì sao lại dẫn đến tình trạng thiêu sót và thếnào là đánh giá chứng cứ trong vụ án ma tuý từ đó tìm ra đ ợc những nguyênnhân và điều kiện dẫn đến những thiêu sót đó, các vấn đề xã hội ảnh hởng tớivấn đề đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự về ma tuý Chức năng này có vaitrò kiểm tra kết quả của chức năng mô tả đúng hay sai

Chức năng dự báo tình hình: Trên cơ sở của việc nghiên cứu, thực trạng tộiphạm và tệ nạn ma tuý, đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự ma tuý, các tàiliệu về nguyên nhân, yếu tố ảnh hởng tới vấn đề đánh giá chứng cứ trong quátrình giải quyết vụ án hình sự ma tuý Đề tài dự báo tình hình về vấn đề nàytrong tơng lai, từ đó có những phơng hớng, biện pháp khắc phục vấn đề trên

3 Phạm vi đối tợng và cơ sở lý luận của đề tài

Trang 3

Đề tài nghiên cứu tất cả những vấn đề có liên quan tới vấn đề đánh giáchứng cứ trong quát trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý ở nớc ta hiện nay vàtrong những năm tới.

Theo nội dung nghiên cứu của đề tài thì đối tợng nghiên cứu của đề tài làbao gồm các đối tợng sau:

Thực trạng về hoạt động của bọn tội phạm ma tuý trong thời gian vừa qua.Vấn đề đánh giá chứng cứ, những thiếu sót trong sử dụng đánh giá chứng

cứ về vụ án ma tuý ở nớc ta trong thời gian vừa qua, những phơng pháp khắcphục góp phần xây dựng biện toàn hệ thống pháp luật ở Việt Nam

Cơ sở lý luận của đề tài: Trên cơ sở về quan điểm của Mac - Lênin về con

đờng nhận thức, chân lý trong tố tụng hình sự, quan điểm của Đảng và nhà nớc

về thực trạng đánh giá chứng cứ hình sự ma tuý, những thành tựu của các khoahọc, triết học, luật hình sự, tố tụng hình sự, lô gíc học các văn bản của Đảng vàNhà nớc về phòng ngừa ngăn chặn đấu tranh tội phạm ma tuý và các tệ nạn xãhội và các học thuyết, chính trị pháp lý Để tài trình bày trên cơ sở nghiên cứu hệthống các văn bản của ban ngành Công An, Kiểm Sát, Toà án đã hớng dẫn về

điều tra hình sự nói chung là điều tra hình sự về ma tuý nói riêng bộ luật tố tụnghình sự và tài liệu t pháp hình sự của một số nớc trong khu vực, trên tế giới

4 Phơng pháp nghiên cứu đề tài

- Phơng pháp luận của đề tài

Phơng pháp ở đây đợc hiểu là phơng thức giúp chúng ta tìm hiểu sự vậthiện tợng và quá trình nhận thức đối tợng Cách hiểu này có thể trở thành phơngpháp luận, nhng phơng pháp này chỉ trở thành phơng pháp luận khi đợc diễn đạtdới dạng những nguyên tắc, quy luật, khái niệm, phạm vi nhất định Nó là hệthống các phơng pháp dùng để nhận thức và cải tạo thực tại, để tổ chức hoạt

động của con ngời và xã hội, cũng không phải bất kỳ một tập hợp các phơngpháp nhận thức nào đều có thể coi là phơng pháp luận Chỉ có phơng pháp nàocho phép tìm ra đợc hớng chung nhất, khái quát nhất và đầy đủ nhất của quátrình nhận thức và xuất phát điểm của việc tiếp nhận thực tiễn, đánhgiá kết quảcủa hoạt động nhận thức thì mới có thể coi là phơng pháp luận của hoạt động đó.Phơng pháp luận chỉ bao hàm hệ thống các phơng pháp có khả năng nói trên, nócho phép chúng ta dùng để tiếp cận, quan sát, đánh giá các dạng chung nhất,khái quát và đầy đủ nhất các sự vật hiện tợng và qúa trình đó

Triết học Mác - Lênin - Chủ Nghĩa Duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử hay nói cách khác là các nguyên tắc, quy luật, phạm trù, khái niệm

Trang 4

của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cho ta khả năngnhận thức một cách chung nhất, khái quát nhất và đầy đủ nhất của sự vật, hiện t -ợng, quá trình của tự nhiên, xã hội, t duy, do vậy nó đã trở thành phơng phápluận chung nhất của các ngành khoa học và đề tài cũng đã sử dụng phơng phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phơngpháp luận.

- Hệ thống phơng pháp nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở phơng pháp luận và t tởng Hồ Chí Minh đề tài đã chọn các

ph-ơng pháp của khoa học quản lý xã hội, quản lý nhà nớc của tội phạm học, và luậthình sự, phơng pháp luật học so sánh, các phơng pháp phân tích tổng - kết thựctiễn, thống kê, chọn lọc, so sánh, các phơng pháp của khoa học dự báo kết hợpvới phơng pháp khảo sát thực tế và phơng pháp điều tra xã hội học, phơng phápchuyên gia, phơng pháp tâm lý và lô gíc toán học, để chọn lọc trí thức khoa học

5 Những đóng góp của đề tài

Đề tài đã bổ sung và hoàn thiện đợc những vấn đề lý luận cơ bản về nhữngchứng cứ, về thu thập và đánh giá chứng cứ vấn đề đánh giá chứng cứ trong quátrình giải quyết vụ án hình sự và ma tuý

Đề tài phát hiện đợc những điểm thiếu sót, vớng mắc trong thực tiễn đánhgiá chứng cứ trong qúa trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý làm rõ vai tròcủa các biện pháp trinh sát trong việc hỗ trợ hoạt động giải quyết vụ án hình sự

về ma tuý để thu thập đánh giá và sử dụng chứng cứ

6 ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa về lý luận về thực tiễn rất lớn đối với vềvấn đề đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý ở n-

ớc ta hiện nay

Về lý luận: Đề tài có ý nghĩa trong việc khai thác sử dụng trong công tácnghiên cứu lý luận của ngành bảo vệ pháp luận và có thể làm tài liệu tham khảotrong công trình nghiên cứu khoa học Trong việc xây dựng những quan điểmcho việc sửa đổi bộ luật tố tụng hình sự sắp tới và hoàn thiện hơn phần tội phạmcủa bộ luật hình sự nhất là " các tội phạm về ma tuý và một số văn bản pháp luậtkhác về ma tuý

ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận của thực tiễn đánh giáchứng cứ nói chung và đánh giá chứng cứ về ma tuý nói riêng, các ngành pháp

Trang 5

luật, cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, cơ quan toàn án, đặc biệt là cơ quan

điều tra các cấp có thể vận dụng để không ngừng nâng cao chất lợng hiệu quảhoạt động cuả mình

7 Bố cục của đề tài

Đề tài có kết cấu 3 phần: Gồm 3 chơng và hệ thống các phụ lục, đề tài đã

cố gắng nêu ra đợc những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm ma tuý, đánh giáchứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý Thực trạng hoạt

động của bọn tội phạm ma tuý cũng nh việc đánh giá chứng cứ trong các vụ án

về ma tuý hiện nay Đề xuất hệ thống giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả củaviệc đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự về ma tuý

Trang 6

- Vụ một số đối tợng móc nối với Nguyễn Văn Hùng là cán bộ Bộ độiBiên Phòng, Đồn Biên Phòng 497 vận chuyển 30kg thuốc phiện từ Lào vào ViệtNam, bị Công ảnh tỉnh Thanh Hoá bắt ngày 10/8/1993 Bọn chúng lại dùng xecủa những cán bộ lãnh đạo đi công tác để vận chuyển ma tuý nh vụ Đinh VănPhát và Hoàng Đức Hải dùng xe của cửa hàng vàng bạc điện biện phủ vậnchuyển 172kg thuốc phiện, bị công an tỉnh Lào Cai bắt ngày 25 tháng 12 năm

1993 Hoặc vụ Nguyễn Văn Quang dùng xe của Giám đốc Sở giáo dục Tỉnh LaiChâu vận chuyển 227 kg thuốc phiện bị công an tỉnh Sơn La bắt ngày 24 tháng

01 năm 1994

4.2.3 Tuyến và địa bàn trọng điểm

Việt Nam đng thực hiện đờng lối đổi mới, mở cửa hợp tác rộng rãi với cácnớc, vì vậy đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên, nócũng làm cho tình hình tội phạm ở trong nớc ngày càng diễn biến phức tạp, nớc

ta lại nằm ở gần khu vực " tam giác Vàng" (nơi sản xuất 70% lợng thuốc phiệnbất hợp pháp trên toàn thế giới) nên đã ảnh hởng trực tiếp đến tình hình gia tăngtội phạm về ma tuý

Tội phạm về ma tuý thờng hoạt động theo các tuyến và địa bàn nhất định.Tuyến là hớng vận động chính của tội phạm là đờng giao dịch, chuyển trở

ma tuý diễn ra các hoạt động liên lạc, thanh toán, cất dấu ma tuý

Địa bàn trọng điểm là nơi tập trung nhiều đối tợng và diễn ra nhiều hoạt

động phạm tội về ma tuý trong một khoảng thời gian nhất định Việc hình thànhcác tuyến và địa bàn trọng điểm chính là quá trình hình thành thị trờng ma tuýtrong cả nớc chịu chi phối bởi thị trờng ma tuý quốc tế Nó phụ thuộc vào cácnguồn cung cấp ma tuý khu vực tiêu thụ cũng nh đặc điểm về giao thông, địabàn, dân c và công tác và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý

và cơ quan bảo vệ pháp luật Vì vậy, tuyến và địa bàn làm trọng điểm về tộiphạm ma tuý cũng sẽ thay đổi theo từng thời gian nhất định

Qua tổng kết công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý trongnhững năm 2001, tội phạm về ma tuý diễn ra trên các tuyến trọng điểm

- Tuyến biên giới chủ yếu là:

+ Tuyến biên giới Việt - Lào, tập trung chủ yếu vào các tỉnh Lai Châu, Sơn

La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, phát hiện bắt dữ chiếm 12,1% số vụ và10,9% số đối tợng, song Hêrooin chiếm 55,5%, thuốc phiện chiếm 55,2% so với

địa bàn cả nớc

+ Tuyến biên giới Việt - Căm puchia, tập trung chủ yếu là Tỉnh Tây Ninh,

Đồng Tháp, Long An, An Giang , phát hiện bắt giữ chiếm 2% số vụ, 2,7% số

Trang 7

đối tợng, song chiếm 65% tổng số thuốc tân dợc gây nghiện so với địa bàn cả ớc.

n-+ Tuyến biên giới Việt - Trung, tập chung chủ yếu ở các tỉnh Quảng Ninh,Lạng Sơn, Lào Cai, công an 5 địa phơng trên tuyến phát hiện, bắt dữ, chiếm12,1% số vụ, 10,2% số đối tợng 6,2% hêrôin, 10,9% thuốc phiện và 16,4%thuốc tân dợc gây nghiện so với địa bàn cả nớc

- Tuyến hàng không nổi lên trong năm phát hiện 8 vụ buôn lâu ma tuý từMalasia, úc, Thái Lan, Mỹ về Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh: có bắt gần

500 viên ATS, đồng thời qua đấu tranh chuyên án ta thông tin cho bạn đã bắt 5vụ

- Tuyến bu điện, phát hiện 3 vụ vận chuyển ma tuý từ Việt Nam đi úc và

01 vụ đi NiuDiLand

- Tuyến đờng Thuỷ chủ yếu bọn tội phạm vận chuyển ma tuý từ HảiPhòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng đi Nhật, úc và từ Hồng Kông, Trung Quốc về HảiPhòng, Quảng Ninh

- Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 47,9% số vụ,51,4% số đối tợng thuốc phiện thu chiếm 9,6% hêrôin chiếm 23,3%, Tân dợcgây nghiện chiếm 10,4%, song ma tuý tổng hợp chiếm 80% tổng số thu toànquốc

5 Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự về ma tuý.

Trong thực tiễn các vụ án hình sự xảy ra khác nhau Để giải quyết vụ ánhình sự đúng pháp luật thì vấn đề đầu tiên là phải làm rõ sự thật khách quan của

vụ án hình sự đó Vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự đ ợc quy địnhtại điều 47 Bộ Luật tố tụng hình sự là nội dung bắt buộc của pháp luật đối vớicác cơ quan tiến hành tố tụng Thực chất đó là 4 dấu hiệu của tội phạm và 4 yếu

đợc chứng cứ trong hệ thống trong hệ thống đó chứng minh những vấn đề nàogiá trị chứng minh đến đâu còn là cơ sở nghiên cứu vấn đề có liên quan đến

đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự

Trang 8

Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự là cơ sở để xác địnhchính xác những phơng hớng của hoạt động tố tụng hình sự, xác định đợc giớihạn của quá trình chứng minh làm rõ vụ án hình sự Góp phần quan trọng để bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cơquan tổ chức và công dân

Nội dung những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự ma tuý

Trên cơ sở những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại

điều 47 Bộ luật Tố Tụng hình sự cụ thể:

1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và nhữngtình tiết khác của hành vi tội phạm

2 Ai là ngời thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ýhay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích hoặc cơ quanphạm tội

3 Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và

đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo

4 Tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội xảy ra

(Điều 47 Bộ luật tố Tụng Hình sự nớc CHXHCNVN)

Trong quá trình điều tra vụ án ma tuý cơ quan điều tra cần phải quán triệt

đầy đủ những vấn đề cần phải chứng minh theo điều 47 Bộ luật Tố Tụng Hình Sự

và căn cứ vào những dấu hiệu pháp lý của từng tội, danh cụ thể của bộ Luật Hình

Sự Tội phạm hình sự ma tuý đợc quy định tại chơng XVIII; Các tội phạm về matuý, gồm 10 điều t điều 192 đến điều 201 Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ đểlàm rõ nội dung sau:

- Cơ quan hành vi tội phạm về ma tuý xảy ra không

- Ai là ngời thực hiện hành vi phạm tội

- Phơng thức đoạn thực hiện tội phạm, cung cụ phơng tiện đợc sử dụng đểgây án

- Chất ma tuý, thủ đoạn cất dấu

- Những tài sản, tiền và những giá trị vật chất khác do phạm tội mà có, gửivào Ngân hàng nào, đầu t vào hoạt động nào hoặc mua tài sản gì ?

- Những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ngờiphạm tội và những đặc điểm về nhân thân của ngời phạm tội

5.1 Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự ma tuý nói chung

và tội sản xuất, tàn chữ, vận chuyển mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng

Đối với tội sản xuất, tàn chữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuýcần phải làm rõ vấn đề sau

Trang 9

- Thời gian, địa điểm xảy ra hành vi tội phạm.

- Ai là ngời thực hiện hành vi phạm tội

- Diễn biến hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội

- Công cụ phơng tiện phạm tội

- Chất ma tuý và thủ đoạn cất dấu

- Những tài sản bằng tiền bạc và những giá trị vật chất khác do bị canphạm tội mà có

Đối với hành vi sản xuất, trái phép chất ma tuý cần chú ý làm rõ; thời gian

địa điểm sản xuất, những công cụ, phơng tiện sản xuất số lợng các chất ma tuý

đã sản xuất, số còn lại là nơi cất dấu; những ngời tham gia quá trình sản xuất,

động cơ, mục đích sản xuất trái phép chất ma tuý

Đối với hành vi tàn trữ trái phép chất ma tuý cần làm rõ thời gian tàn trữ,loại ma tuý và nguồn gốc của nó, mục đích tàn trữ, những ngời tham gia tàn trữ,vai trò, vị trí của họ, thủ đoạn cất dấu

Đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý cần phải làm rõ chất matuý là gì, vận chuyển trái phép chất ma tuý bằng phơng tiện gì, chuyển từ đâu

đến đâu, chủ hàng là ai, vận chuyển hàng giao cho ai nhận, đã chuyển đợc baonhiêu lần, số lợng ma tuý vận chuyển và kế hoạch vận chuyển tiếp theo (nếucó)

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cần làm rõ ngời mua, ngờibán, loại ma tuý, địa điểm, giá cả, phơng thức thanh toán, số lần mua bán trớc

đó, có hẹn ngời đến mua tiếp nữa không, nếu có thì bao giờ gặp nhau ở đâu

Đối với các bị can cần nghiên cứu làm rõ các đặc điểm nhân thân của họ,gồm có nội dung nh phân tích trên Lu ý nếu là ngời nớc ngoài cần làm rõ quốctịch, hộ chiếu thật hay giả, mối quan hệ với các đối tợng trong nớc

Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma tuý có quan điểmcho răng đối tợng với loại tội phạm nàythì cơ quan điều tra phải thu đợc vậtchứng là ma tuý thì mới xét xử đợc Điều này làm hạn chế khả năng mở rộng vụ

án Điều 48 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự quy định chứng cứ đợc xác định bằng

a Vật chứng

b Lời khai của ngời làm chứng, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơndân sự, ngời bị tạm dữ, bị can, bị cáo

c Kết luận giám định

d Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác

Vì vậy về phơng diện lý luận và pháp lý, ma tuý là vật chứng đồng thời làmột trong những chứng cứ để chứng minh tội phạm Việc đợc chứng minh các

Trang 10

hành vi tội phạm về ma tuý có thể dùng chứng cứ từ những nguồn khác nhau.Vấn đề quan trọng là tính khách quan và tính đầu đủ của thệ thống chứng cứ màcơ quan điều tra thu thập đợc đã đủ cơ sở để buộc tội hay cha, thực tiễn điều tra,truy tố, xét xử vụ án, về ma tuý lớn nhất từ trớc đến nay ở nớc ta do Siêng Phênhcầm đầu và vụ án do Nguyễn Văn Tám cầm đầu là một kinh nghiệm tốt trongviệc bắt giữ các đối tợng khác nhau từ lời khai của các bị can trong vụ án Điềunày mở ra khả năng thuận lợi cho việc khám phá các đờng dây và tổ chức tộiphạm về ma tuý.

5.2 Những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự về ma tuý nóichung và tội phạm liên quan đến tổ chức sử dụng trái phép, chứa chất việc sửdụng trái phép chất ma tuý, cỡng bức lôi kéo ngời khác sử dụng trái phép chất

ma tuý Vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng các chất gây nghiện

Căn cứ vào điều 192 đến điều 201 của Bộ Luật Hình Sự năm 1999 và điều

47 của Bộ Luật Tố Tụng Hình sự cần làm rõ vấn đề sau

- Có hay không có hành vi sử dụng chứa chấp việc sử dụng, cỡng bức ngờikhác sử dụng trái phép chất ma tuý, có hành vi vi phạm hay không Thực tiễn cầnphải làm rõ có thể xảy ra hành vi tổ chức dùng các chất ma tuý nh tập hợp ngờinghiện và những ngời cha nghiện và có những ngời cha nghiện vào một chỗ để tổchức sử dụng chất ma tuý, đang tàn trữ dụng cụ, phơng tiện để sử dụng trái phépchất ma tuý qua kiểm tra và giám định máu thành phần nớc tiểu nh vậy những

điều kiện cần và đủ để thừa nhận dùng chất ma tuý là: ngời tổ chức dùng mà tuý,các phơng tiện dùng chất ma tuý kim tiêm, giấy bạc để hút, đèn bàn ) nhữnghành vi tổ chức lôi kéo ngời khác vào dùng chất ma tuý, dấu vết ma tuý để lạihiện trờng hoặc cơ thể ngời sử dụng trái phép chất ma tuý Những hành vi tổchức sử dụng chất ma tuý có khi xảy ra không kể một hay nhiều lần Nh vậy khimột ngời mua các chất ma tuý về nhà tự tiêm, trích không phải là ngời tổ chức

sử dụng chất ma tuý Trong quá trình chứng minh làm rõ vấn đề này cần pháthiện thu dữ những công cụ, phơng tiện sử dụng chất ma tuý, các chất ma tuý,làm rõ những hành vi tập hợp lôi kéo ngời khác vào dùng chất ma tuý, nhữnghình thức sử dụng chất ma tuý nh hút, tiêm, trích

Quá trình tiến hành những hoạt động điều tra cho thấy những hành vi tổchức dùng chất ma tuý thờng đi liền với hành vi tàn trữ vận chuyển mua bán, tráiphép các chất ma tuý do đó điều tra viên phải chú ý làm rõ Để chứng minh vấn

đề này có thể tiến hành những biện pháp nh khám nghiệm hiện trờng là địa điểmdùng các chất ma tuý, khám sát, hỏi cung bị can

Trang 11

Địa điểm, thời gian chứa chấp sử dụng , tổ chức sử dụng trái phép, cỡngbức ngời khác sử dụng trái phép chất ma tuý Làm rõ địa điểm sử dụng (chỉ

đúng cho các hành vi nói chung) chất ma tuý không những tạo cơ sở để xác định

có tội phạm thời gian xảy ra hay không mà có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt

động điều tra Bởi vì tại địa điểm sử dụng chất ma tuý, các công cụ, phơng tiện

sử dụng chất ma tuý và đồ vật, tài liệu khác; mặt khác cũng phải làm rõ thời gianbắt đầu tổ chức dùng chất ma tuý cho đến thời điểm bị phát hiện hoặc tự kết thúc

do những lý do khách quan hoặc chủ quan

Thực tế cho thấy để chứng minh vấn đề nêu trên có thể tiến hành khámnghiệm hiện trờng là nơi tổ chức dùng ma tuý, lấy lời khai của ngời làm chứng,hỏi cung bị can

Công cụ phơng tiện sử dụng chất ma tuý và các chất ma tuý

Khi điều tra vụ án liên quan đến hành vi sử dụng chất ma tuý nh đã nóitrên, bất luận chứa chấp sử dụng tổ chức sử dụng hay cỡng bức ngời khác sửdụng điều này làm rõ công cụ, phơng tiện sử dụng chất ma tuý Các chất ma tuý,

số lợng, nguồn gốc các chất ma tuý đã dùng; số còn lại, nơi cất dấu

Ngời thực hiện hành vi đó là ai

Trong quá trình điều tra cần làm rõ tất cả các đối tợng tham gia và quátrình dùng chất ma tuý không kể 1 lần hay tái phạm nhiều lần và vai trò, vị trícủa từng đối tợng Đồng thời cũng cần làm rõ lai lịch, đặc điểm nhân thân, tiền

án, tiền sự, năng lực trách nhiệm của từng đối tợng Ngoài ra, cũng phải chứngminh những tình tiết, tăng nặng giảm nhẹ tội của bị can, tính chất, mức độ thiệthại mà bị can gây ra Nếu đối tợng tổ chức tổ chức dùng chất ma tuý không hứahẹn trớc mà chứa chấp những tài sản biết rõ là do ngời phạm tội mà có thì phảilàm rõ:

Trong những trờng hợp này đối tợng tổ chức sử dụng ma tuý vi phạm thêmmột tội nữa là tội chứa chấp tiêu thụ tài sản do ngời khác phạm tội mà có Mặckhác cũng cần làm rõ tất cả những tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác

do những đối tợng phạm tội mà có để tịch thu Để chứng minh làm rõ vấn đềnày có thể tiến hành những biện pháp điều tra, những khám sét, hỏi cung lấy lờikhai những ngời làm chứng, nhận dạng

Nghiên cứu những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự về matuý nh phân tích ở trên là nội dung chung nhất, cơ bản nhất Những vấn đề cầnphải chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý, là quá trình

từ những vấn đề cơ bản, khái quát đến chi tiết, đầy đủ; từ những vấn đề có tínhchất định hớng đến những vấn đề cụ thể

Trang 12

Thực chất đó là qúa trình thu thập tài liệu chứng cứ để làm rõ các giả thiếtnghiệp vụ, các kế hoạch điều tra làm rõ vụ án Do đó, trong từng vụ án cụ thể,

điều tra viên phải vận dụng linh hoạt nội dung những vấn đề, phải chứng minhnhằm làm rõ tội phạm Chẳng hạn vụ án mà đối tợng có liên quan đến ngời nớcngoài thì cần phải làm rõ thêm đối tợng mang quốc tịch gì ( thật hay giả) lý dovào Việt Nam và đi cùng với ai ? Những vụ mà đối tợng là ngời của cơ quanbảo vệ pháp luật thì cần phải làm rõ nguyên nhân, điều kiện, môi trờng dẫn đếnhành vi phạm tội Điều này sẽ tạo điều kiện để giáo dục, quản lý cán bộ, đồngthời phát hiện các đầu mối tội phạm có liên quan sau này hoặc phục vụ cho côngtác phòng ngừa ngăn chặn từ xa các đờng dây buôn lậu ma tuý vào Việt Nam

6 Quan điểm của Đảng, các Quy Định của Nhà nớc về phòng chống tội phạm ma tuý.

Để đấu tranh, phòng chống ma tuý, Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủtrơng chính sách nhằm triệt phá việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàn trữ và

tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, giải quyết giúp đỡ cai nghiện và sau cainghiện

Những quan điểm chủ trơng này đã có từ rất sớm Trong tuyên ngôn độclập ngày 2/9/1945 Hồ Chí minh đã vạch rõ những âm mu thâm độc của bọn thựcdân pháp - Ngời nói " chúng dùng thuốc phiện, diệu, diệu cần để làm cho nòigiống ta suy nhợc" đồng thời Hồ Chí Minh cũng đã đề ra nhiệm vụ cấp bách củanhà nớc là chú ý công tác tuyên truyền giáo dục nhân dân, ngời nói "chế độ thựcdân đã đầu độc dân ta bằng những thói h tật sấu, lời biếng, gian sảo và nhữngthói sấu khác

Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng tathực hiện chỉ thị của Bác Hồ ngay từ ngày đầu tiên thành lập Chính Phủ ViệtNam đã quan tâm đến vấn đề xây dựng pháp luật Ngày 10/10/1945 Chủ Tịch HồChí Minh đã ký sắc lệnh số 47/52 tạm thời giữ lại một số luật lệ cũ" Mà nhữngluật lệ này không trái với các văn bản pháp luật mới Chính Phủ cũng đã quantâm đến việc ngăn chặn thuốc phiện Ngày 05/03/1952 thủ tớng chính phủ đãban hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện khoanh vùng trồng cây thuốcphiện Ngời trồng cây thuốc phiện có nghĩa vụ nộp thuế bằng hiện vật là 1/3 sốthuốc phiện, phần còn lại phải bán toàn bộ cho mậu dịch quốc doanh Nghiêmcấm việc tàn trữ vận chuyển nhựa thuốc phiện Ngày 15/9/1965 tại Nghị định số580/TTG thủ tớng chính phủ đã quy định cụ thể những trờng hợp vi phạm về matuý có thể đa ra toà án để xét xử Sau khi giải phóng đất nớc Chính phủ đã ban

Trang 13

hành nghị định số 76/CP ngày 25/3/1977, về chống buôn lậu thuốc phiện Ngày1/3/1994 Ban Chấp Hành Trung ơng Đảng đã ra chỉ thị số 33 CT/TW về lãnh đạophòng, chống các tện nạn xã hội chỉ tiêu nêu rõ " Phòng, chống khắc phục cóhiệu quả các tệ nạn xã hội trớc hết là tệ nạn mại dâm, nghiện ma tuýlà nhiệm vụcấp bách hiện nay của Đảng và Nhà nớc ta, phải kiên quyết lãnh đạo và thựchiện " Ngày 8/4/1991 hội đồng bộ trởng ra chỉ thị số 99/CT về cận động nhândân không trồng cây Anh Túc Ngày 29/1/1993 Chính phủ ra nghị quyết 06/CP

về tăng cờng chỉ đạo công tác phòng, Chống và kiểm sát ma tuý Ngoài ra các bộNgành đã ra nhiều chỉ thị và hớng dẫn về công tác đấu tranh phòng, chống matuý Tội phạm nói chung và tội phạm ma tuý nói riêng diễn biến ngày càng phứctạp Để có công cụ sắc bén trong đấu tranh chống tội phạm năm 1985 Bộ LuậtHình Sự của nhà nớc ta đợc ban hành Thuật ngữ " ma tuý" đợc quy định trongcác tội có liên quan đến ma tuý tại 3 điều

- Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ quabiên giới

- Điều 166: Tội buôn bán hàng cấm

- Điều 203: Tội tổ chức dùng chất ma tuý

Đồng thời nhà nớc cũng quy định những hành vi, vi phạm khác về ma tuý

mà cha đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị sử phạt hành chính theonghị định 141/HĐBT nay đợc thay thế bằng Nghị định 49/CP ngày 15/8/1945của chính phủ Để đáp ứng nhu cầu cho cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạmnói chung và phòng chống tội phạm về ma tuý nói riêng, ngày 28/12/1989 Quốchội nớc CHXHCNVN đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luậtHình Sự song đó tách tội phạm ma tuý thành điều riêng: Điều 96 quy định tộisản xuất tàn trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý có khung hình phạtcao nhất đến tử hình Điều 203 tội tổ chức dùng chất ma tuý có khung hình phạtcao nhất 10 năm

Đầu năm 1992 quốc hội thông qua hiến pháp mới lần đầu tiên vấn đề về

ma tuý đợc ghi nhận trong hiến pháp: Điều 61 của hiến pháp 1992 ghi rõ "nghiêm cấm sản xuất vận chuyển buôn bán, tàn trữ, sử dụng trái phép thuốcphiện và các chất ma tuý khác nhà nớc bắt buộc chế độ cai nghiện và chữa bệnhxã hội nguy hiểm "

Trong những năm từ 1993 đến nay tình hình tệ nạn xã hội và tội phạm về

ma tuý trong cả nớc diễn biến phức tạp, có chiều hớng gia tăng.Trớc yêu cầuthực tiễn đó nhằm đấu tranh sử lý nghiêm khắc hơn đối với tội phạm về ma tuý.Ngày 29/1/1993 Chính phủ đã ra nghị quyết số 06/CP về tăng cờng chỉ đạo công

Trang 14

tác phòng, chống và kiểm sát ma tuý Ngày 25 tháng 8 năm 1997 thủ tớng chínhphủ ra quyết định 686/TTG thành lập Uỷ Ban Quốc Gia phòng chống ma tuý.Ngày 1/9/1997 chủ tích nớc CHXHCNVN ra quyết định số 798/QĐ - CTN thamgia 3 công ớc liên hợp quốc về kiểm sát ma tuý Ngày 31/7/1998 thủ tớng chínhphủ ra quyết định số 138/1998 QĐ /TTG phê duyệt chơng trình quốc gia phòng,chống tội phạm Ngày 10/5/1997 quốc hội khoá IX đã thông qua luật sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ luật Hình sự đã giành riêng một chơng quy định 13

điều về tội phạm ma tuý ( từ điển 185A đến 185 N)

Điều đáng chú ý từ trớc năm 1997 hành vi sử dụng trái phép chất ma tuýtrớc đây là tệ nạn xã hội và bị xử lý hành chính thì bộ luật hình sự sửa đổi bổsung lần này quy định là tội phạm Luật sửa đổi bổ sung một số điểm của bộluật hình sự bổ sung một số tôi danh mới, định lợng các chất ma tuý hay từngkhung hình phạt, tăng mặng mức hình phạt, nâng cao hình phạt tiền và tịch thutài sản, thêm một số hình phạt bổ sung khác Đó là những điểm mới quan trọngtrong chính sách hình sự của nhà nớc ta đối với tội phạm về ma tuý, luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của bộ luật hình sự lần thứ 4 năm 1997 chỉ là biện pháp tìnhthế Vì vậy nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đến manh chống tội phạm ngày21/12/1999 Quốc hội nớc CHXHCNVN khoá X đã thông qua bộ luật hình sựmới vào ngày 01/1/2000 chủ tích nớc CHXHCNVN công bố sác lệnh số01/51/CTN ban hành bộ luật hình sự mới có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2000

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã dành riêng chơng XVIII quy định về "ma tuý "gồm 10 điều, từ điều 192 đến 201 Những điểm mới cơ bản đối với các tội phạm

ma tuý trong Bộ luật hình sự 1994 là nhập 4 tội trớc đây thành 1 tội (Điều 194)một tội có hình phạt cao nhất là tử hình giảm xuống tù trung thân (còn 2 tội cóhình phạt tử hình 193/194) điều chỉnh hình phạt trong các khoản phù hợp vớihình thức phân loại tội pham mới, hình phạt bổ sung không quy định thành điềuriêng và đa vào từng điều luật tơng ứng Điều chỉnh một số cụm tù cho chặt chẽ

và chính xác Bộ luật hình sự đã có thêm điều 251 " Tội hợp pháp hoá tiền và tàisản do phạm tội ma tuý mà có" đã là cơ sở pháp lý quan trọng để phát hiện về

đấu tranh các đầu mối rửa tiền do tội phạm mà có

II Nhận thức chung về hệ thống chứng cứ trong hình sự về ma tuý.

1 Khái niệm và ý nghĩa của chứng cứ

Để đa ra một kết luận hay một quyết định nào đó trong đời sống xã hộ mà

có tính thuyết phục cao thì đòi hỏi phải có căn cứ đợc xác định là đúng đắn Đặcbiệt trong lĩnh vực t pháp Những vấn đề có liên quan đến tính mạng, danh dự,

Trang 15

đạo đức con ngời, để xét xử chính xác một vụ án hình sự thì toàn án phải dựa vàonhững chứng cứ Chứng cứ là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự vànhững ngời tiến hành tố tụng hình sự đa ra quyết định áp dụng pháp luật để giảiquyết vụ án hình sự Đồng thời những ngời tham gia tố tụng hình sự cũng dựatrên cơ sở những chứng cứ đợc xác định trong vụ án để đa ra ý kiến của mình,bảo vệ các lợi ích theo quy định của pháp luật Vì vậy chứng cứ đợc coi là đối t-ợng nghiên cứu ở nhiều môn khoa học pháp lý chuyên ngành và cũng là chế địnhpháp lý đợc quy định ở nhiều ngành luật khác nhau Khi nghiên cứu về chứng cứ

đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm chứng cứ

Các luật gia Xô Viết trớc đây có khẳng định " Chứng cứ đợc xem là

ph-ơng tiện để xác định chân lý, chứng cứ không tạo ra chân lý, không biến chân lýthành phi lý, bởi vì chân lý hay phi lý là ở chỗ sự việc có phù hợp với thực tếkhách quan hay không" < 48 tr 124>

Trong tác phẩm " Bàn về chứng cứ tố tụng" Ben tham, một học giả t sản đãviết " chứng cứ là một sự kiện giả định là có thật, sự kiện đấy đ ợc coi nh là một

sự kiện đơng nhiên có lý do để tin tởng việc có hay không một sự kiện khác" <

70 Tr 353>

Một luật gia ngời Bun - gari đã viết " chứng cứ trong tốt tụng hình sự trớchết đó là những sự thật mà dựa vào đó mà ngời ta có thể kết luận đợc sự thậtkhác Căn cứ vào tính chất đó thì các chứng cứ trong tố tụng " Hình sự nớc CHBun - gari trớc hết là những sự thật của vấn đề khách quan < 50 tr 29>

Một luật gia ngời Mỹ Webster cho rằng " Chứng cứ là vật hợp pháp đợc đa

ra trớc toà án nhằm chứng minh tính xác thực của các sự kiện đã đợc điều tra"

<49 tr 19> Cuối từ điển Luật do trờng Đại Học OXFORD ở Niu óc, nhà xuấtbản 1996 tại trang 151 đã định nghĩa về chứng cứ nh sau " Chứng cứ là cái đểchứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của một sự việc liên quan đến vụ

án.Chứng cứ bao gồm; lời khai ngời làm chứng, các tài liệu, vật chứng "

Bộ luật Tố Tụng Hình Sự nớc CH Liên Bang Nga tại điều 65 có đa ra kháiniệm về chứng cứ nh sau; " Chứng cứ trong vụ án hình sự là những tài liệu(Thông tin) xác thực bất kỳ trên cơ sở đó theo trình tự tố tụng hình sự các cơquan điều tra ban đầu, dự thẩm Viện điều tra và Toà án xác định có hành vi xảy

ra hay không ? Lỗi của ngời thực hiện hành vi phạm tội đó và những tình tiếtkhác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án " Đây là một nhận thức chính xác,khái niệm này đã đa ra đợc những chứng cứ cụ thể là " những tài liệu (thông tin)xác thực bất kỳ" Nhng ở khái niệm này cha rõ ở " tài liệu (thông tin) xác thực

Trang 16

bất kỳ" ở vụ án hình sự hay ở vấn đề gì Trên cơ sở đó để đánh giá chính xácchứng cứ.

Bộ luật Tố Tụng Hình sự năm 1989 của nớc CHND Trung Hoa cũng xác

định: " mọi sự thuật chứng minh chân lý của vụ án đều đợc coi là chứng cứ,chứng cứ gồm 6 loại sau đây; vật chứng, tài liệu làm chứng, lời khai của ngờilàm chứng, lời khai của ngời bị hại, lời khai của bị can, bị cáo, kết luận đánh giá,biên bản các hoạt động điều tra Những chứng cứ trên phải đợc xác định thật mớilàm chứng cứ trong vụ án"

Chứng cứ trong lý luận khoa học điều tra hình sự của các nớc t bản cũngxác định: " bằng chứng luôn đợc chấp nhận phải cần thiết và thích hợp nếu sựkiện bằng chứng có thể là một phần của một vấn đề trong vụ thu tang vật là cầnthiết"

ở nớc ta bộ luật Hồng Đức và Gia Long rất chú trọng đến đơn tố cáo, đơn

tố cao đợc coi là chứng cứ quan trọng để bắt đầu xét xử để đảm bảo tính kháchquan trong quá trình điều tra luật xa cũng đề cập đến ngời làm chứng Để tránh

sự thiên vị luật cũng quy định: không thể chọn những ngời thờng ngày có thântình hay thù oán đối với hai bên đơng sự ( chứng nhận; hệ bình thân đôi cập thùoán giá, tịnh bất thính) Ngời làm chứng mà giấu giếm là ngời có thân tình haythù oán thì sẽ bị khép vào tội làm chứng gian, không khai rõ sự thực ( điều 714luật Hồng Đức) Nếu ngời làm chứng không khai thực tình hay làm thông ngôn(phiên dịch) mà dịch sai hay giả dối khiến vụ án thay đổi mà đơng sự bị phạt oanhay tha không đúng tội, thì ngời làm chứng phải tội kém phạm nhân hai bậc, ng-

ời thông ngôn cùng bị một tội nh phạm nhân (điều 546 luật Hồng Đức) ngời làmchứng trong những vụ làm chúc th, văn tự giả mạo tranh chấp tài sản thì phải bồithờng 1/3 tài sản đó (điều 534 Luật Hồng Đức)

Cho đến bây giơì chứng cứ trong tố tụng hình sự của nhà nớc ta đợc xâydựng trên cơ sở của phép biện chứng duy vật Chủ nghĩa duy vật biện chứng đãkhẳng định rằng phản ánh là một trong những thuộc tính cơ bản cuả vật chất.Theo Nênin " hết thảy mọi vật đều có đặc tính về bản chất gồm gần giống nhcảm giác - đặc tính, phản ánh"

Vụ án hình sự là hiện tợng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất.Những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra đợc con ngời và các vật thể phản ánhlại Những phản ánh đó thờng đợc gọi là dấu vết của tội phạm Căn cứ vào đặc

điểm phản ánh này ngời ta có thể chia ra thành 2 loại dấu vết: Dấu vết tâm lý, ýthức ( dấu vết tinh thần), dấu vết trên các vật thể (dấu vết vật chất) Dấu vết của

Trang 17

tội phạm là những phản ánh về các mặt riêng lẻ, các bộ phận khác nhau của vụ

án hình sự

Chủ nghĩa duy vật biện chứng còn khẳng định rằng; con ngời có khả năngnhận thức thế giới khách quan Khả năng nhận thức đợc phát triển từ biết ít đếnbiết nhiều, từ hiện tợng đến bản chất ( từ trực quan sinh động đến t duy trừu t-ợng và từ t duy trừu tợng đến thực tiễn - đó là con đờng biện chứng của nhậnthức chân lý, của ngời nhận thức hiện thực khách quan" thực chất của quá trìnhchứng minh về vụ án hình sự là quá trình nhận thức sự thật của vụ án hình sự đãxảy ra trong quá khứ Bằng t duy lô gíc khoa học từ những sự kiện có thật đã biếtcho phép kết luận về sự tồn tại trên thực tế sự kiện cha biết nhng cần biết Dựavào dấu vết của tội phạm, ngời tiến hành tố tụng có thể nhận thức về sự thật của

vụ án hình sự đã xảy ra Đây chính là cơ sở lý luận của chứng cứ trong luật tốtụng hình sự Việt Nam

Khái niệm về chứng cứ đợc ghi nhận tại điều 48 luật tố tụng hình sự "chứng cứ là những gì có thật đợc thu thập theo trình tự do Bộ luật tố tụng hình

sự quyết định mà cơ quan tiến hành tố tụng hình sự dùng làm căn cứ để xác định

có hay không có hành vi phạm tội, ngời thực hiện hành vi phạm tội cũng nhnhững tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

2 Các thuộc tính của chứng cứ

2.1 Thính khách quan

Trong bất kỳ vụ án hình sự nào, để xét xử chính xác đúng ngời đúng tộicũng đều đảm bảo tính khách quan về mọi khía cạnh của vụ án, kể cả việc

đánhgiá chứng cứ cũng phải đảm bảo tính khách quan Chủ nghĩa Mac - Lênin

đã chỉ rõ hiện thực khách quan là cơ sở của nhận thức " Ngời Mác xít chỉ có thể

sử dụng để làm căn cứ cho chính sách của mình những sự thật đợc chứng minh

rõ dệt mà không thể chối cãi đợc" nếu dựa vào những gì mà cha xác định đợctính chân thực khách quan để ra các quyết định giải quyết vụ án để đem lạinhững sai lầm, vì vậy tính khách quan là một trong những thuộc tính cơ bản thứnhất của chứng cứ

Chứng cứ là những sự kiện tài liệu có thật chứa đựng những thông tin xácthực, tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời.Những gì do suy đoán, tởng tợng, suy diễn thì không thể là chứng cứ

Trong thực tế, chúng ta thờng gặp những vụ hiện trờng bị làm giả (ví dụ:Hiện trờng giả, lời khai, thông tin, giả tạo ) thì có thể xem là những thủ đoạn

Trang 18

che dấu tội phạm, gây khó khăn cho việc làm rõ sự thật vụ án hình sự Đó có thể

là chứng cứ chứng minh về tính chất mức độ của hành vi phạm tội Cơ quan tiếnhành tố tụng hình sự ngời tiến hành tố tụng phải tôn trọng sự thật khách quanphải thẩm tra xác minh những tài liệu thu đợc phản ánh cái thật kiên quyết chống

định kiến chủ quan hoặc làm giả tài liệu phải kịp thời phát hiện những hành vilàm giả tài liệu

2.2 Tính liên quan

Khi sử dụng một vấn đề gì để làm căn cứ chứng cứ chứng minh cho quan

điểm của mình thì vấn đề đó phải liên quan đến việc cần chứng minh và cấn đề

đó phải có thật Nếu vấn đề có thật mà không liên quan đến vấn đề cần chứngminh củamình thì không chính xác, không có sức thuyết phục

Những gì có thật phải có mối liên hệ khách quan với sự kiện cần phảichứng minh trong vụ án hình sự, giúp cho nhận thức về vụ án hình sự, làm rõnhững vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Mối liên quan ở đây cóthể ở những mức độ khác nhau nh liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, liên quantheo dạng nhân - quả, liên quan theo không gian - thời gian

Nếu những gì có thật không liên quan đến vụ án hình sự thì không đợcdùng làm chứng cứ

2.3 Tính hợp pháp

Chứng cứ phải đợc xác định từ những nguồn chứng cứ (phơng tiện chứngminh) và đợc thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của pháp luật tốtụng hình sự

Chứng cứ đợc xác định bằng những nguồn sau đây

Vật chứng

Lời khai của ngời làm chứng, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, ngời bị tạm giam, bị can, bị cáo

Kết luận giám định

Biên bản hoạt động kiểm tra, xét xử tài liệu khác

Chứng cứ phải đợc thu thập bằng các hoạt động điều tra (hỏi cung, lấy lờikhai, khám xét, thực hiện điều tra ) hoặc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cóthể yêu cầu các cơ quan tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, trình bày những tìnhtiết làm sáng tỏ vụ án hình sự những ngời tham gia tố tụng hình sự, các cơ quan,

tổ chức, cá nhân đều có thể cung cấp những tài liệu, đồ vật, trình bày về nhữngvấn đề có liên quan đến vụ án hình sự ( điều 49 bộ luật tố tụng hình sự)

Trang 19

Việc thu thập phải bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ phải đúng quy

định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn

Khi sử dụng một vấn đề gì mà đợc coi là chứng cứ thì phải đảm bảo cả bathuộc tính trên Vì 3 thuộc tính trên có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rờinhau Nếu thiếu 1 trong 3 thuộc tính này nó sẽ mất đi giá trị chứng minh của vật

đợc coi là vật chứng trong vụ án hình sự và để đánh giá đợc chứng cứ này khôngthể thiếu 3 thuộc tính trên

3 Đặc điểm của hệ thống chứng cứ trong các vụ án hình sự về ma tuý.

3.1 Vật chứng

Theo điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự nớc CHXHCNVN thì " vật chứng lànhững vật dùng làm công cụ, phơng tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tộiphạm; vật là đối tợng của tội phạm cũng nh tiền bạc và những vật khác có giá trịchứng minh tội phạm và ngời phạm tội " vật chứng luôn có vai trò đặc biệt vì nó

là những vật không thể thay thế đợc và tồn tại dới dạng vật chất Thông thờng nóchứa đựng chứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh rất cao, giúp cho việc giảiquyết vụ án đợc nhanh chóng

Vật chứng trong vụ án hình sự ma tuý đợc thể hiện nh là:

Vật chứng là những vật dùng làm những công cụ, phơng tiện dùng để thựchiện hành vi phạm tội ma tuý, các chất ma tuý, xi lanh, bàn đèn, giấy bạc và ph-

ơng tiện giao thông, thông tin, ô tô, xe máy, xe thồ, bộ đàm nhà ở, phòng( dùng để mua bán tàng chữ, vận chuyển, tổ chức, sử dụng chất ma tuý)

Vật chứng là những vật mang dấu vết của tội phạm ma tuý

Giấy bạc gói hêrôin, tép hêrôin những vật dụng dùng để cất dấu ma tuý,các xi lanh có chứa hêrôin nơi cất dấu ma tuý

Vật chứng là những vật đợc coi là đối tợng của tội phạm ma tuý; tiền bạc hay một mục đích nào đó

Vật chứng còn là những vật có giá trị chứng minh tội phạm ma tuý nh tiềnbạc, các vật dụng mà đối tợng đang dùng đến mua, bán, vận chuyển, tàng chữ, tổchức, sử dụng chất ma tuý

Khi xác định đợc chính xác đợc đó là vật chứng của vụ án thì phải tiếnhành, thu thập vật chứng; bảo quản vật chứng, xử lý vật chứng

3.2 Lời khai của ngời làm chứng

Trong vụ án hình sự về ma tuý lời khai của ngời làm chứng thờng phản

ánh những tình tiết cụ thể của vụ án mà họ biết, nh thủ phạm vận chuyển, thủ

Trang 20

phạm mua bán các chất ma tuý và thủ phạm tổ chức dùng trái pháp các chất matuý Đối tợng phạm tội, nơi cất dấu ma tuý, thân nhân của bị can, mối quan hệgiữa họ với bị can.

Không đợc dùng là những chứng cứ những tình tiết do ngời làm chứngtrình bày, nếu nh họ không nói rõ vì sao họ biết tình tiết đó

Nhng trong vụ án hình sự về ma tuý thì ngời làm chứng hầu nh rất ít hoặckhông có

3.3 Lời khai của bị can

Trong vụ án hình sự về ma tuý, là chủ thể của tội phạm, hơn ai hết là bịcan thờng biết nhiều nhất những tình tiết của vụ án thực tiễn hoạt động của cáccơ quan tiến hành tố tụng cho thấy lời khai của bị can thờng phản ánh đối tợng

vụ án ma tuý Vai trò, vị trí của từng đối tợng trong vụ án, về hành vi gây án nhthời gian, địa điểm diễn ra hành vi mua bán, vận chuyển cất dấu và tổ chức sửdụng ma tuý Thủ đoạn gây án bao gồm tất cả các hành vi mua bán, vận chuyểncất dấu và tổ chức sử dụng các chất ma tuý Tài sản, tiền bạc thu đợc sẽ đợc chia

Lời nhận tội của bị can chỉ đợc coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứkhác của vụ án Không đợc dùng lợi nhuận tội của bị can là chứng cứ duy nhất

để kết tội

3.4 Kết luận giám định

Giám định các chất ma tuý có ý nghĩa rất quan trọng trong đấu tranhchống tội phạm về ma tuý và là một khâu không thể thiếu đợc trong công tácphòng chống và kiểm sát chất ma tuý

Điều 1 nghị định 117/HĐBT ngày 21/7/1998 của hội đồng bộ trởng (nay

là Chính phủ): " giám định t pháp là sử dụng những kiến thức, phơng pháp khoahọc kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến vụ ánhình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và các tranh chấp lao động theo quyết địnhtừng câu giám định của cơ quan công an, việc kiểm sát nhân dân, Toà án nhândân"

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý, công tác giám định tpháp các chất ma tuý bao gồm có:

Xác định sự hiện diện của các chất ma tuý trong mẫu vật, dấu vết nghivấn

Xác định thành phần, hàm lợng hoặc chất các chất ma tuý trong mẫu vật,dấu vết nghi vấn

Xác định tính độc hại, mức độ nguy hiểm của chất ma tuý

Trang 21

Xác định nguồn gốc , xuất xứ của chất ma tuý.

Ngoài các nội dung chính nêu trên, giám định các chất ma tuý còn giải

đáp các vấn đề có liên quan các chất ma tuý nh:

Các điều chế, chế biến các chất ma tuý để giúp cho công tác kiểm sát chặtchẽ hơn, đặc điểm của từng chất ma tuý và tác hại của chúng

Mặt khác các tội phạm ma tuý thờng có đặc thù riêng so với các loại tộiphạm khác là:

Đối tợng tác động của tội phạm này là các chất ma tuý

Sự không đợc phép hoạt động của tội phạm này và cơ quan pháp luật giámsát rất chặt chẽ

Kết luận giám định về các chất ma tuý trở thành một chứng cứ pháp lýquan trọng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định đó có phải

là vụ án ma tuý hay một vụ án thuộc loại tội phạm khác và đ ợc giải quyết, xử lý

đối với các vụ án ma tuý cụ thể Trong khi phân biệt chính xác từng chất ma tuýkhông phải là việc làm đơn giản đối với tất cả các cán bộ, chiến sĩ trong lực lợngtrực tiếp bắt giữ, xử lý các đối tợng phạm tội và tang vật thu đợc trong các vụ án

về ma tuý Nhu cầu một kết quả giám định khoa học trớc khi phân loại và xử lýcác loại tội phạm ma tuý đã trở thành một nhu cầu bức thiết hiện nay

3.5 Biên bản các hoạt động điều tra

Để xét xử chính xác một vụ án hình sự về ma tuý Đòi hỏi phải có chứng

cứ, khi chứng cứ đợc đa ra thì biên bản điều tra cũng đợc coi là chứng cứ ( đảmbảo tính hợp pháp của biên bản điều tra)

Trang 22

Biên bản hoạt động điều tra là những văn bản nghi nhận những hoạt động

tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, biên bản nghi lại những tình tiết tronghoạt động điều tra nh bắt, khám sét, khám nghiệm hiện trờng, khám nghiệm tửthi trong thực tế quá trình điều tra đã có rất nhiều trờng hợp khi tiến hành lậpbiên bản đã không ghi chép lại đầy đủ chi tiết các trờng hợp dẫn tới biên bản sailệch với thực hiễn thậm trí cũng có những sai lệch nghiêm trọng làm cho quátrình xét xử vụ án hình sự về ma tuý không đợc chính xác, kéo dài thậm chí dừngxét xử

VD: Khi bắt đợc đối tợng đang vận chuyển thuốc phiện và đã tiến hànhlập biên bản, thu dữ tang vật Khi khởi tố vụ án kết quả giám định là không phảithuốc phiện là trong biên bản lại ghi là thuốc phiện, vậy lỗi ở đây là do ai, dotrình độ nhận thức của các kiểm tra viên, cảnh sát ma tuý còn yếu kém, thiếuhiểu biết về các chất ma tuý, có thể do sự thiếu quan tâm của lãnh đạo đơn vị

Do đó biên bản về hoạt động điều tra này thờng là nguồn chứng cứ phổbiến trong vụ án ma tuý phải đảm bảo đợc tính hợp pháp và chính xác

3.6 Các nguồn tai liệu khác do cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp.

Các tài liệu khác là những văn bản hợp pháp khác có những tình tiết liênquan đến vụ án mà cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp cho các cơ quan tốtụng hình sự Các tài liệu khác nh giấy khai sinh, báo cáo của các cơ quan nhà n-

ớc, biên bản xử lý vi phạm hành chính, trích lục tiền án, tiền sự Những tìnhtiết có liên quan đến vụ án đợc ghi trong các tài liệu do cơ quan, tổ chức hoặc cánhân cung cấp có thể coi là chứng cứ Các tài liệu khác thu đợc phải chú ý đếnnguồn cung cấp ( về thẩm quyền cung cấp, nội dung cung cấp, đảm bảo kháchquan) và tính hợp pháp khi thu Nếu tài liệu có dấu vết của tội phạm thì đợc coi

là một vật chứng (hoá đơn, chứng từ, th viết tay )

đợc nhanh chóng nên cần đợc thu thập kịp thời và đầy đủ khi đánh giá chứng cứtrực tiếp thì vấn đề cơ quan là việc đánh giá về tính khách quan và tính hợp pháp.Tuy nhiên vẫn phải kiểm tra tính liên quan

Trang 23

Chứng cứ gián tiếp là chứng cứ không tự nó làm rõ đợc ngay tình tiết nào

đó của đối tợng chứng minh nhng khi kết hợp với các chứng cứ khác thì xác định

đợc tình tiết nào đó của đối tợng chứng minh Chứng cứ gián tiếp thờng tản nạn

dễ bị coi thờng nhng dễ thu thập cần có nhiều chứng cứ gián tiếp, tất cả cácchứng cứ đó phải đợc phối hợp với nhau tạo thành một hệ thống chặt chẽ trongtổng thể các chứng cứ để đi đến một kết luận thống nhất, loại trừ mọi việc đa rakết luận khác

Dựa vào xuất xứ của chứng cứ (lấy từ nguồn nào, do đâu phản ánh) đểphân thành chứng cứ gốc, chứng cứ sao chép lại thuật lại

Chứng cứ gốc là chứng cứ đợc rút ra từ nơi phản ánh đầu tiên của nó màkhông thông qua một khâu trung gian nào Nguyên tắc trực tiếp đòi hỏi các cơquan tiến hành tố tụng hình sự phải thu thập thông tin về tình tiết vụ án từ nguồngốc đầu tiên của nó Vì vậy, chứng cứ gốc có giá trị chứng minh cao hơn Hiệulực chứng minh giảm dần khi khâu trung gian tăng lên Điều này đòi hỏi thuthập chứng cứ càng gần nguồn gốc càng tốt Ví dụ khi trong trờng hợpNguyễnVăn A có hành vi giết ngời ( giết anh Nguyễn Văn B) lúc đó có mặt anh

Lê Văn C, anh C đã theo dõi tất cả các diễn biến của sự việc Nếu C lúc đó trựctiếp đến trình báo cơ quan công an thì lời khai của C lúc này là chứng cứ gốc.Còn nếu C về kể cho anh Nguyễn Văn D anh D đến cơ quan công an trình báothì lời khai của D lúc này là chứng cứ thuật lại

Chứng cứ sao chép lại thuật lại là chứng cứ thu thập không phải là nguồnphản ánh đầu tiên mà thu thập đợc qua khâu trung gian Trong một số trờng hợpchứng cứ sao chép lại, thuật lại là phơng tiện cần thiết cho việc phát hiện cácchứng cứ gốc mà thiếu nó rấ khó khăn trong việc làm rõ vụ án Chứng cứ saochép lại, thuật lại là phơng tiện để kiểm tra chứng cứ gốc Nếu chứng cứ gốc bịmất thì chứng cứ sao chép lại, thuật lại có thể thay thế đợc

Nếu chứng cứ là vật chứng thì không coi chứng cứ sao chép lại hay thuậtlại

Dựa vào mối quan hệ của chứng cứ với đối tợng buộc tội để phân thànhchứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội

Chứng cứ buộc tội là chứng cứ chứng minh trách nhiệm hình sự của bịcan, bị cáo hoặc những tình tiết tăng nặng trách nhiệm của họ

Chứng cứ gỡ tội là chứng cứ xác định không có sự việc phạm tội chứngminh bị can, bị cáo không có tội hoặc xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình sự cho họ

Trang 24

Việc phân thành chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội chỉ mang tính chấttơng đối Về bản chất thì không có chứng cứ buộc tội nào gỡ tội mà tuỳ thuộcvào hớng sử dụng của nó " Việc phân chia thành chứng cứ buộc tội và gỡ tội là

có tính cách giả định cực đoan và nói lên phơng hớng sử dụng hay đánh giáchứng cứ đó thì đúng hơn là nói lên bản chất của chúng

Bản thân một chứng cứ có thể khai thác ở khía cạnh này là buộc tội nhngnhìn ở góc độ khác là gỡ tội Trong quá trình chứng minh lúc đầu là chứng cứbuộc tội sau có thể chuyển hoá thành chứng cứ gỡ tội hoặc ngợc lại Cùng mộtchứng cứ có thể chứng minh buộc tội bị can, bị cáo này nhng lại gỡ tội cho ngờikhác Có chứng cứ không thuộc loại buộc tội và cũng không thuộc loại gỡ tội.Trong một vụ án ma tuý khi cơ quan điều tra thu thập chứng cứ và xác định đó là

ma tuý xác định là có tội, thì không thể chuyển hoá thành vô tội đợc Bởi vậy,khi đánh giá chứng cứ phải đánh giá một cách tổng hợp chứng cứ đã thu thập đ-

Phát hiện, thu thập chứng cứ trong vụ án về ma tuý

Kiểm tra chứng cứ trong vụ án về ma tuý

Đánh giá chứng cứ trong vụ án ma tuý

1 Phát hiện và thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự về ma tuý

Phát hiện chứng cứ là tìm những vật hiện tợng, dấu vết, sự kiện, tài liệu

có thể chứng minh những tình tiết của vụ án Có thể phát hiện thông qua lời tìnhbáo hoặc đơn tố giác của biết việc, tin báo của các cơ quan, các tổ chức xã hội

nh cơ quan y tế, cơ quan quản lý thuốc tân dợc, toà án Viện Kiểm sát và các hồsơ ban đầu của cơ quan hải quan bộ độ biên phòng, từ cơ sở đặc tính, bí mật hồsơ lu trữ, tin báo của cơ quan đơn vị công an nh cảnh sát quản lý hành chính,cảnh sát kinh tế, an ninh kinh tế, cảnh sát giao thông

Đây là một giai đoạn mở đầu có vai trò quan trọng mở ra khả năng giảiquyết nhanh chóng vụ án hình sự ma tuý

Trang 25

Để phát hiện chứng cứ, điều tra viên cần phải nắm vững quy luật của hình

sự, luật tố tụng hình sự và quy định pháp luật có liên quan, nắm vững khoa học

điều tra hình sự, sử dụng đồng bộ các biện pháp phù hợp với tình hình vụ án hìnhsự

Thu thập chứng cứ là bớc đầu tiên quan trọng sau khi phát hiện ra chứng

cứ ma tuý Thu thập chứng cứ phải đợc tiến hành một cách khách quan toàn diệnkhông bỏ sót chứng cứ không thu dữ tràn lan mà phải đúng thẩm quyền, đúngthời hạn và đúng trình tự thủ tục luật định

Thu thập chứng cứ là việc ngời có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theoquy định của pháp luật để ghi nhận và thu giữ chứng cứ làm cho nó có đủ giá trịchứng minh và hiệu lực sử dụng

Công tác thu thập chứng cứ thờng tập trung chủ yếu vào giao đoạn điều tra

vụ án Theo điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định " để thu thập chứng cứ, cơquan điều tra, viện kiểm sát và toà án có quyền triệu tập những ngời biết về vụ án

để hỏi và nghe họ trình baỳ về những vấn đề có liên quan đến vụ án từng câugiám định, tiến hành khám sét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra kháctheo quy định của bộ luật này; yêu cầu các cơ quan tổ chức và các cá nhân cungcấp tài liệu, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án"

Ngoài ra theo quy định tại điều 57 Bộ Luật Tố Tụng hình Sự quy định: "vật chứng cần đợc thu thập kịp thời, đầy đủ, đợc mô tả đúng thực trạng vào biênbản và đa hồ sơ vụ án

Trong trờng hợp vật chứng không thể đa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh

để đa vào hồ sơ và vật chứng đợc niêm phong và bảo quản"

Cơ sở pháp lý để xác định những biện pháp, phơng tiện để có thể áp dụngcác biện pháp thu thập chứng cứ trong vụ án về ma tuý là điều 11, điều 49, điều

57 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự đã nêu trên và điều 21, điều 22, điều 24 pháplệnh tổ chức điều tra hình sự quy định về nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan điềutra, thủ tớng, phó thủ tớng, cơ quan điều tra, điều tra viên Trong đó có quyền ápdụng các biện pháp tố tụng hình sự trong qua trình điều tra

Thông thờng cơ sở để thu thập chứng cứ đợc dựa trên những phát hiện

điều tra mà về tội phạm ma tuý nh phơng thức thủ đoạn hoạt động của bọn tộiphạm ma tuý ( phơng thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm hình sự ma tuý đợcphân tích tại điều 4.2.2 chơng I đề tài này)

2 Kiểm tra chứng cứ trong vụ án hình sự về ma tuý.

Trang 26

Kiểm tra chứng cứ là xác định xem chứng cứ thu đợc có đảm bảo đầy đủcác thuộc tính của chứng cứ hay không Việc kiểm tra chứng cứ đợc tiến hànhtrong các giai đoạn điều tra và xét xử.

Công tác kiểm tra chứng cứ đợc xem nh là một giai đoạn quan trọng trongviệc đánh giá chứng cứ nói riêng và trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nóichung, tránh sự kiểm tra chứng cứ một cách hời hợt, thiếu khách quan làm choviệc đánh giá chứng cứ sai lầm, không phản ánh đúng hiện thực khách quan, ảnhhởng tới quá trình giải quyết vụ án một cách thiếu chính xác, làm oan ngời vô tội

và để lọt kẻ phạm tội, bởi vậy không đợc coi nhẹ công tác này trớc khi đi vào

đánh giá chứng cứ

Kiểm tra chứng cứ xoay quanh việc làm rõ các thuộc tính của chứng cứ.Việc kiểm tra chứng cứ, chú ý đến đặc điểm của từng loại: chứng cứ, nguồnchứng cứ, đặc điểm của từng loại biện pháp thu thập

Tại điều 50 Bộ Luật Tố Tụng hình sự quy định " Điều tra viên, kiểm sátviên, thẩm phán và hội thẩm nhân dân xác định và đánh giá mọi chứng cứ với

đầy đủ tinh thần và trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, kháchquan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án"

Nh Lê nin đã nói " Muốn thực sự hiểu đợc sự vật cần phải nhìn bao quát

và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sựvật đó Chúng ta không thể làm đợc điều đó một cách hoàn toàn và đầy đủ, nhng

sự cần thiết phải xem tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta phạm phải nhữngsai lầm và cứng nhắc

Trang 218; Lênin toàn tập, tập 29 NXB Tiến Bộ 1981

Vấn đề này cố bộ trởng Trần Quốc Hoàn đã nhấn mạnh: " Điều tra kỹcàng, tỉ mỉ nhất là tìm ra đợc những chứng cứ xác thực là cần thiết và quan trọng.Mục đích của chúng ta là làm rõ sự thật Trong khi tìm hiểu sự thật thì khôngnhững phải thu thập tài liệu chứng tỏ có phạm tội mà còn phải thu thập những tàiliệu chứng cứ chứng tỏ không có tội phạm nữa"

Trần Quốc Hoàn: Một số vấn đề về điều tra chống phản cách mạng

Việc Nghiên cứu Khoa học Bộ Công An (Hà Nội, 1975 trang 16)

Về phơng pháp kiểm tra chứng cứ rất phong phú, nhng chứng ta chỉ sửdụng các phơng pháp kiểm tra chứng cứ nh; phơng pháp nghiên cứu từng chứng

cứ, phơng pháp so sánh đối chiếu giữa các chứng cứ đã thu thập, đợc với nhauphát hiện kịp thời những mâu thuẫn, tìm chứng cứ mới để làm sáng tỏ nhữngchứng cứ đã thu thập

Trang 27

3 Đánh giá chứng cứ trong vụ án.

Đánh giá là một khâu vô cùng quan trọng, khi chứng cứ đã đợc kiểm traxem xét thì đánh giá chứng cứ có tác dụng xác minh giá trị chứng minh của cácchứng cứ đã đợc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách khách quan sẽ

là cơ sở cho quá trình giải quyết vụ án đợc thuận lợi, không làm oan ngời vô tội,không để lọt kẻ phạm tội

3.1 Khái niệm đánh giá chứng cứ trong vụ án ma tuý.

Khi xem xét về cách đánh giá chứng cứ thì có rất nhiều quan điểm khácnhau Học thuyết giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét việc đánh giá chứng

cứ là một bộ phận của quá trình nhận thức vì nó phụ thuộc vào mối quan hệ củacon ngời với các hiện tợng, sự vật trong thế giới thực hiện những nhu cầu thực tếcủa con ngời Do đó việc đánh giá các sự vật hiện tợng chính là để xác định ýnghĩa của chúng đối với hoạt động của con ngời trong những điều kiện lịch sử cụthể

Trong quá trình làm sáng tỏ một vụ án hay quá trình chứng minh sự thậtcủa vụ án hình sự nói chung và vụ án ma tuý nói riêng nh là một dạng nhận thức

đặc biệt đó là quá trình nhận thức phạm tội đã xảy ra trong quá khứ Vì vậy đánhgiá chứng cứ cũng đợc xem nh là một bộ phận không thể tách rời của bộ phận

đó, dới tác dụng rất lớn của đánh giá chứng cứ đã giúp cho sự phát triển, nhậnthức của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nhất là điều tra viên, kiểm sátviên và thẩm phán đã thụ lý vụ án đó, các tình tiết của vụ án là hiện thực Cố BộTrởng Trần Quốc Hoàn đã nói " phơng pháp công tác cơ bản của chúng ta là ph-

ơng pháp điều tra nghiên cứu tìm hiểu sự thật thực tế nh thế nào thì nói rõ nh thế,không thêm không bớt, không xuyên tạc sự thật, phải kiên quyết và triệt để,chống thái độ suy nghĩ, xét đoán chủ quan, kết luận bừa bãi, nghiên cứu tỷ mỉ,thận trọng, tuyệt đối không qua loa, đại khái Tài liệu của quần chúng cung cấp,tài liệu của cán bộ cung cấp, phạm nhân khai cung tất cả những tài liệu đó chỉnên coi là tài liệu tham khảo Trách nhiệm của ngời lãnh đạo là phải điều tra xácminh lại, đối chiếu với thực tế xem có đúng hay không

Trần Quốc Hoàn: một số vấn đề điều tra chống phản cách mạng

Viện Nghiên cứu Khoa học Bộ Công An ( Hà Nội 1970 trang 116)

Dới góc độ thông tin khi đánh giá chứng cứ là qúa trình tích tụ thông tin.Thông qua đánh giá chứng cứ thì ngời đánh giá xác định đợc giá trị chứng minhcủa từng chứng cứ và đa vào hồ sơ vụ án và loại bỏ những tài liệu không có giátrị chứng minh và không liên quan đến vụ án đó nh vậy rõ ràng đánh giá chứng

cứ là quá trình xử lý thông tin và chính quá trình xử lý thông tin này dẫn đến quá

Trang 28

trình tích tụ thông tin hay nói cách khác là chứng cứ đã thu thập đợc từ vụ án.Quá trình này diễn ra liên tục trong suốt quá trình chứng minh sự thật của vụ án.

Đánh giá chứng cứ là quá trình lô gíc bởi vì xem xét về bản chất thì đánhgiá chứng cứ là hoạt động suy luận dự trên cơ sở nhận thức và tri thức của ng ời

đánh giá về đối tợng đánh giá ở đây là hoạt động suy luận về giá trị chứng minhcủa chứng cứ Chính vì vậy khi đánh giá chứng cứ phải nhận thức đợc nội dungcủa chứng cứ, nội dung của chứng cứ đợc hiểu là tổng hợp những thông tin cótrong chứng cứ Do đó đánh giá chính xác từng thông tin có trong chứng cứ sẽdẫn đến đánh giá chính xác những chứng cứ đó, có nghĩa là rút ra kết luận và giátrị chứng minh của chứng cứ, đối với việc xác định một sự kiện nào đó hay mộttình tiết nào xảy ra của vụ án Dới góc độ lô gíc không thể nói đến suy đoánchứng cứ, suy đoán chứng cứ có nghĩa là khi một sự kiện đã rõ ràng, đủ để nóilên toàn bộ quá trình gồm nhiều vấn đề khác nhau thì không cần chứng minhnhững vấn đề đó nữa

Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạng rằng nội dung thông tin của chứng cứtrong vụ án ma tuý rất đa dạng và phức tạp Đối với mỗi một vụ án đều có một

hệ thống chứng cứ đặc trng của mình Ví dụ vụ án về tổ chức sử dụng trái phépchất ma tuý và chứng cứ quan trọng nhất là tang vật trong các vụ án nó bao gồmnhững công cụ để hút trích nh, bàn đèn, kim tiêm, sái thuốc, giấy bạc Do đó,

đánh giá chứng cứ phải có tri thức để hiểu biết thông tin có nghĩa của chứng cứ

Ví dụ nh khi đánh giá những thông tin về ma tuý thì đỏi hỏi điều tra viên, kiểmsát viên, khám phá có tri thức về chất ma tuý phơng thức, thủ đoạn hoạt động củatội phạm ma tuý

Mặt khác, đánh giá chứng cứ khác với đánh giá sự vật, hiện tợng thông ờng bởi vì chứng cứ là phơng tiện để chứng minh tội phạm bởi vậy, vai trò củapháp luật có tác động rất lớn đến việc đánh giá chứng cứ, vai trò đó tr ớc hếtthuộc về luật tố tụng hình sự, bởi vì luật tố tụng hình sự đã đề ra nguyên tắc củaviệc đánh giá chứng cứ nh: nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ cùng vớipháp luật thì ý thức pháp luật của ngời đánh giá chứng cứ cũng có ý nghĩa rấtquan trọng đối với quá trình đánh giá chứng cứ ý thức pháp luật là một trongnhững hình thái ý thức t tởng của nó thể hiện sự thống nhất giữa ý thức và thái

th-độ của con ngời đối với pháp luật Do đó ý thức pháp luật là một trong nhữngtiền đề quan trọng hình thành nên t tởng của những ngời tiến hành tố tụng trongquá trình đánh giá chứng cứ

Bên cạnh, những tri thức khoa học, những hiểu biết về ý thức pháp luật vàtuân thủ pháp luật của những ngời tiến hành tố tụng trong quá trình đánh giá

Trang 29

chứng cứ thì niềm tin nội tâm của những ngời tiến hành tố tụng trong đánh giáchứng cứ cũng cần đợc nghiên cứu xem xét với tính cách nh một cơ sở để xác

định tính xác thực của những thôn tin chứng cứ Bởi vì đánh giá chứng cứ là đểxác định một sự kiện đã xảy ra chứ không giống nh sự kiện đang diễn ra Từ xa

đến nay đôi khi vẫn có ngời phủ nhận vai trò của niềm tin nội tâm trong đánh giáchứng cứ Những ngời theo quan điểm này cho rằng " Niềm tin nội tâm về bảnchất đó là cái trừu tợng nên không thể thay thế đợc đặc tính khách quan củachứng cứ" Tất nhiên không phải mọi cái mà chúng ta khẳng định trong quá trình

đi tìm sự thật của vụ án đều đúng đắn, chúng ta có thể mắc sai lầm vì đã chấpnhận cái chân lý nhng thực tế đó lại là giả dối, hoặc cho rằng cái đáng xem xét làgiải dối nhng thực tế đó lại là chân lý Đây là sự bất cập giữa hiện thực và khảnăng nhận thức của chúng ta trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể Song không phảivì vậy mà bác bỏ vai trò của niềm tin nội tâm trong quá trình đánh giá chứng cứcần xem xét niềm tin nội tâm nh là sự tin tởng một cách chắc chắn của nhữngngời tiến hành tố tụng suy cho cùng đợc bắt nguồn từ tài liệu chứng cứ vào sự

đúng đắn, vào kết quả đánh giá mà mình đa ra Việc đánh giá chứng cứ theo nộitâm không phải là việc suy diễn chủ quan, đánh giá một cách tuỳ tiện không cócơ sở mà phải có căn cứ niềm tin nội tâm của những ngời tiến hành tố tụng, suycho cùng đợc bắt nguồn từ tài liệu chứng cứ đã thu thập đợc một sự vật, hiện t-ợng đó mỗi cá nhân đồng thời phải sử dụng những hiểu biết đã tích luỹ đợc (kinhnghiệm) trớc đây đã tích luỹ đợc và hiện thực khách quan của chính mình và sửdụng những tri thức thực tại đã thu thập đợc Những tri thức đó càng nhiều, càngsâu sắc bao nhiêu thì việc đánh giá chứng cứ các sự vật hiện tợng càng chính xácbấy nhiêu

Nh vậy niềm tin nội tâm của những ngời tiến hành tố tụng là mang tính

độc lập, niềm tin đó không phải là sản phẩm chủ quan mà nó trực tiếp bắt nguồn

từ kết quả hoạt động của nhận thức những quy luật thực tiễn, gắn liền với thựctiễn các vụ án xảy ra Do đó niềm tin nội tâm cũng là cơ sở để đánh giá chứngcứ

Trách nhiệm đánh giá chứng cứ đợc quy định tại điều 50 Bộ Luật Tố Tụnghình Sự " Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm Phán, Hội Thẩm nhân dân xác định

và đánh giá mọi chứng cứ với đây đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứumột cách tổng hợp khách quan, toàn diện và đầyđủ tất cả các tình tiết của vụ án"

Việc đánh giá chứng cứ phải dựa trên các quy định của luật hình sự, luật

tố tụng hình sự, phải thật khách quan toàn diện và đầy đủ khi xem xét chứng cứ,phải dựa vào niềm tin nội tâm, lấy pháp luật, ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa

Trang 30

làm cơ sở chỉ đạo Bao gồm tổng hợp: Trình độ, năng lực, kinh nghiệm, sự hiểubiết xã hội cũng nh trách nhiệm lơng chi của ngời tiến hành tố tụng hình sự, đảmbảo về sự thật khách quan.

Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm về đánh giá chứng cứ trong

vụ án hình sự nói chung và vụ án hình sự về ma tuý nói riêng: đánh giá chứng cứtrong vụ án ma tuý là hoạt động t duy lô gíc của điều tra viên, kiểm sát viên,thẩm phán đợc tiến hành trên cơ sở những hiểu biết của mình về những tài liệu

đã thu thập đợc dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật, ý thức pháp luật,niềm tin nội tâm để xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứcũng nh cả hệ thống chứng cứ trong vụ án đợc thực hiện trong suốt quá trìnhkhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đó nhằm làm sáng tỏ toàn bộ sự thật của

vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

3.2 Nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự về ma tuý

Trong bất kỳ một hoạt động nào của tố tụng hình sự đều phải đảm bảonguyên tắc đặc trng của nó thì mới có giá trị pháp lý Quá trình đánh giá chứng

cứ cũng đòi hỏi đảm bảo đợc nguyên tắc đặc trng của nó bởi vì đánh giá chứng

cứ là để xác định độ tin cậy và xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ và

đảm bảo đợc hiệu lực chứng minh của chứng cứ Việc đảm bảo nguyên tắc trongquá trình đánh giá chứng cứ của vụ án hình sự về ma tuý là vô cùng quan trọng

có tác dụng chứng minh sự thật của vụ án Thông thờng khi đánh giá chứng cứphải đảm bảo tuân theo các nguyên tắc sau:

3.2.1 Việc đánh giá chứng cứ phải tuân theo pháp luật.

Đánh giá chứng cứ là hoạt động t duy của ngời tiến hành tố tụng nhằm xác

định giá trị chứng minh của những chứng cứ đã thu thập đợc Các thao tác t duycủa ngời có thẩm quyền trong hoạt động đánh giá chứng cứ đợc thể hiện nh:Nghiên cứu, phân tích - tổng hợp - so sánh - kết luận

Việc đánh giá chứng cứ phải đúng theo quy định của luật tố tụng hình sựv

về thẩm quyền, thủ tục, thời hạn

Trách nhiệm đánh giá chứng cứ đợc quy định tài điều 50 Bộ Luật Tố Tụnghình sự: " Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, nội thẩm nhân dân xác định

và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi đã nghiêncứu một cách tổng hợp khách quan., toàn diện và đẩy đủ tất cả các tình tiết của

vụ án"

3.2.2 Việc đánh giá chứng cứ, phải khách quan, toàn diện và đầy đủ

Trang 31

Quá trình đánh giá chứng cứ phải đảm bảo nguyên tắc, khách quan, toàndiện và đầy đủ Quán triệt nguyên tắc này đòi hỏi điều tra viên, kiểm sát viên vàthẩm phán nghiên cứu xem xét các thông tin trong nội dung chứng cứ một cáchvô t trên cơ sơ tuân thủ các tri thức khoa học, pháp luật và thực tiễn, không đợc

áp đặt ý kiến chủ quan một cách thiếu căn cứ để xác định một tình tiết khi cónghi ngờ phải xem xét các chứng cứ từ các nguồn khác nhau phải xem kỹ mọi lý

lẽ của các bên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án đó nh lời khai ngời làmchứng, lời khai ngời bị hại và đặc biệt là lời bào chữa của bị can Trong những vụ

án về ma tuý ngời làm chứng hầu nh không có, ngời bị hại rất ít (khi cần đền bùthiệt hại) ngời ta chủ yếu căn cứ vào lý lẽ của bị can và những chứng cứ khác thuthập tại vụ án đó để chứng minh tội phạm một cách chính xác Định hớng thuthập chứng cứ, cơ quan điều tra cần phải đặt nhiều giả thiết khác nhau Do đó,khi đánh giá chứng cứ phải quan tâm đến toàn bộ nội dung các giả thiết đó,không nên quá trú trọng giả thiết này mà coi nhẹ giả thiết kia

Việc đánh giá chứng cứ phải tiến hành với từng chứng cứ và tổng hợp cả

hệ thống chứng cứ, phải đặc chứng cứ trong mối liên hệ với các chứng cứ khác,nhất là đối với loại chứng cứ gián tiếp Để thực hiện điều kiện đó phải chú ý đến

điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà trong đó chứng cứ đợc tìm thấy, cơ chế hìnhthành đặc điểm cũng nh thuộc tính của chứng cứ là khía cạnh rất quan trọng chophép khẳng định sự tin cậy là gía trị chứng minh của chứng cứ đến đâu

Trong quá trình đánh giá, cần phải quán triệt một yêu cầu là không mộtchứng cứ nào đợc xác định trớc là có hiệu lực chứng minh nếu chứng cứ đó cha

đợc kiểm tra đối chiếu với chứng cứ khác và thực tế vụ án xảy ra

Mỗi chứng cứ cho phép xác định một hay vài khía cạnh của vấn đề chứngminh nên chỉ có tổng hợp chứng cứ mới có khả năng làm rõ nội dung vụ án Do

đó cần đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ điều đó có nghĩa là phải đánh giáchứng cứ thu thập đợc, đặc biệt là đối với chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội,chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bịcan

3.2.3 Việc đánh giá chứng cứ phải tiến hành đồng thời với việc thu thập chứng cứ và sử dụng chứng cứ

Để đảm bảo đợc yêu cầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý

đầy đủ kịp thời thì đỏi hỏi thu thập, kiểm tra đánh giá và sử dụng chứng cứ phải

đợc tiến hành đồng thời chứng cứ thu thập đến đâu phải đánh giá đến đó vàchuyển tới các cơ quan có thẩm quyền (Viện kiểm sát, Toà án nhân dân) tiếnhành đánh giá tiếp, bởi vì, nên tách rời việc thu thập và đánh giá chứng cứ sẽ dẫn

Trang 32

đến thu thập một cách tràn lan, thu thập cả những dấu vết tài liệu không liênquan đến vụ án.

Mỗi chứng cứ sau khi đợc đánh giá phải đợc sử dụng ngay vào mục đíchchứng minh hoặc mục đích tìm kiếm các chứng cứ khác thực hiện tốt hoạt độngnày sẽ tăng hiệu quả của việc đánh giá chứng cứ, bởi vì việc sử dụng chứng cứ sẽ

có tác dụng củng cố những chứng cứ đã đợc đánh giá sẽ mở ra khả năng thu thậpkịp thời các chứng cứ khác của vụ án

Nh vậy thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình

sự nói chung và vụ án về ma tuý nói riêng là một thể thống nhất trong đó thuthập chứng cứ làm tiền đề cho việc đánh giá và sử dụng chứng cứ Chính việc

đánhgiá và sử dụng chứng cứ sẽ củng cố và thu thập đợc đầy đủ các chứng cứ từ

vụ án

3.3 Phơng pháp đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự về ma tuý

Đánh giá chứng cứ là quá trình nhận thức bản chất của chứng cứ đó và làquá trình phản ánh biện chứng các sự vật hiện tợng từ thế giới khách quan vàotrong ý thức con ngời Do vậy phơng pháp Mác xít là phơng pháp luận chung củaviệc đánh giá chứng cứ Lý luận và thực tiễn nay đã thờng đề cập và thờng sửdụng kịp thời hai phơng pháp để đánh giá chứng cứ và đánh giá toàn bộ tổng hợp

để đi đến kết luận của vụ án Tuy nhiên nội dung và bản chất của từng phơngpháp vẫn cha đợc làm sáng tỏ một cách đầy đủ, cha đề cập đến vai trò lô gíc tâm

lý và các phơng pháp nhận thức đặc thù trong đánh giá chứng cứ đó, việc làmsáng tỏ nội dung bản chất, vai trò của các phơng pháp đánh giá chứng cứ có ýnghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Phơng pháp đánh giá từng chứng cứ: Phơng pháp xem xét từng chứng cứriêng biệt để kết luận về độ tin cậy có giá trị chứng minh của mỗi chứng cứ Cụthể là chứng cứ ấy có phù hợp với thực tế khách quan hay không, chứng minhtình tiết nào của vụ án, mức độ chứng minh đến đâu để đánh giá chính xác từngchứng cứ điều tra viên, kiểm sát viên, và thẩm phán cần nắm vững phơng pháploại của từng chứng cứ cũng nh biện pháp thu thập nguồn của hai loại chứng cứ

đó Cụ thể trong các vụ án hình sự về ma tuý thờng đánh giá chứng cứ nh cácchất ma tuý phơng tiện thuđợc tại các vụ án cụ thể sau đó đánh giá tổng hợptừng chứng cứ trong dẫy chứng cứ phản ánh hành vi nh vận chuyển, tàn trữ, matuý giống nhau

Phơng pháp đánh giá tổng hợp các chứng cứ là phơng pháp đánh giáchứng cứ trong hệ thống ( có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau) nhằm xác định giá

Ngày đăng: 04/04/2013, 16:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Tử hình: 274 bị cáo, chiếm 0,66%. - Vấn đề đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về ma tuý
h ình: 274 bị cáo, chiếm 0,66% (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w