Điều tra khả năng, sử dụng trạng từ, trẻ mẫu giáo lớn
Trang 1Mục lục Phần I: Mở đầu
I Lý do chọn đề tài 3
II Mục đích nghiên cứu 3
III Nhiệm vụ nghiên cứu 4
IV Nhiệm vụ nghiên cứu 4
V Phơng pháp nghiên cứu 4
Phần II: Nội dung nghiên cứu Chơng I: Cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài I Cơ sở tâm lý 5
II Cơ sở giáo dục 9
III Cơ sở sinh lý 10
IV Cơ sở ngôn ngữ 11
Chơng II: Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn I Địa bàn điều tra 13
II Kỹ thuật điều tra 15
III Cách thức điều tra 15
IV Kết quả điều tra 15
V Nhận xét – phân tích kết quả điều tra phân tích kết quả điều tra .17
VI Kết luận 19
Chơng III: Đề xuất một số biện pháp tích cực nhằm phát triển trạng từ cho trẻ mẫu giáo lớn. I Nguyên tắc xây dựng biện pháp 20
II Các biện pháp 21
Trang 2Lời cảm ơnQua một thời gian học tập và nghiên cứu thực tiễn về việc phát triển trí tuệ trẻ thơthông qua những nhận thức trong cuộc sống cũng nh trong sinh hoạt học tập hàng ngày củacác cháu, tôi mạnh dạn đa ra nội dung mà tôi đã thực hiện dới dạng đề tài nghiên cứu với nộidung Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn.
Đề tài của tôi nghiên cứu là vấn đề mới do đó sẽ không thể tránh khỏi những sai sót,kính mong đợc sự thông cảm và chỉ bảo, hớng dẫn thêm của đơn vị, cá nhân có chức năngthẩm quyền và của ngời đọc để công trình của tôi đợc hoàn thiện hơn nữa
Để viết công trình khoa học đầu tay này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáokhoa Giáo dục Mầm non – phân tích kết quả điều tra Trờng Đại học S phạm Hà Nội
Xin chân thành cảm ơn Cô giáo TS Lã Thị Bắc Lý – phân tích kết quả điều tra ngời đã giúp đỡ tôi tận tìnhtrong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện để tôi hoàn thành công trình khoa học này đạt kếtquả tốt
Xin cảm ơn các giáo viên và các cháu ở trờng mầm non Thị trấn Thọ Xuân – TỉnhThanh Hoá đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm công trình nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Trang 3Phần I: mở đầu
I Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang đứng trên đà phát triển của thế kỷ XXI-một thế kỷ của khoahọc hiện đại vì vậy việc giáo dục con ngời hoàn thiện để sánh kịp thời đại là mộtvấn đề cần thiết Để đạt đợc điều đó chúng ta không thể bỏ qua việc chăm sóc vàgiáo dục con ngời từ thuở ấu thơ
Trẻ em phải đợc chăm sóc và giáo dục từ bé Trẻ thơ có một tâm hồn rấtnhạy cảm với cái đẹp, dễ xúc động hơn nữa ở trẻ t duy hình tợng phát triển rấtmạnh mẽ.Trờng Mầm Non thuộc hệ thống giáo dục với nhiệm vụ hình thành cơ sởnhân cách toàn diện cho trẻ.Nhiệm vụ của nhà trờng, xã hội là phải đào tạo thế hệtrẻ trở thành những ngời có nhân cách phù hợp với yêu cầu xa hội đặt ra, dò là conngời phải có tình cảm ,đạo dức,trí tuệ,thẩm mĩ,sức khoẻ,lao động sáng tạo -Đó lànhân cách con ngời Việt Nam Một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện làphát triển ngôn ngữ
Trờng Mầm Non việc chăm sóc và giáo dục đợc thực hiện ở nhiều chơngtrình khác nhau ,một trong những chơng trình vô cùng quan trọng đó là phát triểnngôn ngữ để chuẩn bị cho trẻ vào trờng phổ thông Ngôn ngữ là cánh cửa mở ra chotrẻ vô vàn những điều mới lạ kì diệu của cuộc sống nh Vgôtki dánh giá:”Ngôn ngữ
nh nền tảng cho tất cả các quá trình t duy bậc cao nh điều khiển ,chú ý ,ghi nhớ cóchủ định và ghi nhớ, phân loại, kế hoạch hoá hoạt động và giải quyết vấn đề” Việcphát triển vốn từ cho trẻ đã đợc thực hiện ở trờng Mầm Non nhng cha có công trìnhnghiên cứu nào điều tra về vấn đề: Khả năng sử dụng trạng từ của trẻ lứa tuổi mầmnon (một trong những tiêu điểm của trẻ mẫu giáo là phát triển vốn từ cho bé đặcbiêt là trạng từ) Chính vì vậy
mà tôi lựa chọn đề tài: Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ Mẫu giáo lớn
II.Mục đích nghiên cứu :
Đề tài nghiên cứu đợc xuất phát điểm với mục đích: Có những biện pháp tíchcực hoá sử dụng trạng từ cho trẻ mẫu giáo lớn
III Đối tợng nghiên cứu :
Khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn
IV.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đọc và su tầm tài liệu có liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẫu giáo lớn ở trờng Mầm Nonthị trấn Thọ Xuân- Thanh Hoá
- Đề xuất một số biện pháp tích cực để giúp trẻ sử dụng trạng từ đúng và tốt
Trang 4V.Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu:
1 Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu lÝ luËn.
2 Ph¬ng ph¸p lÊy ý kiÕn chuyªn gia.
Trang 5PhÇn II: Néi dung nghiªn cøu Chương I: Cơ sở lý luận có liên quan tới đề tài.
I Cơ sở tâm lý.
Nhu cầu giao tiếp với người lớn là một nhu cầu không thể thiếu của trẻ Đây là nhu cầu có xu hướng ngày càng tăng, thông qua đó làm nãy sinh khảnăng nói của trẻ Khi giao tiếp trẻ bắt chước những âm tiết trong lời nói củangười xung quanh Đứa trẻ thường thích thú lắng nghe lừoi người lớn nói vớimình Sau ba tháng trẻ có thể phát ra những âm tiết nhỏ “gừ gừ ” Những âmtiết trở nên mạnh mẻ hơn khi được người lớn cúi xuống “trò chuyện” Trongkhi giao tiếp với người lớn đứa trẻ thường bắt chước được những âm tiết màngười lớn ru hay nựng nó Chẳng hạn thỉnh thoảng bắt gặp những âm tiết “ô, a ” trong mồm đứa trẻ theo nhịp điệu “à ơi”
Cuộc “chuyện trò ” giữa người lớn người trẻ tuổi hài nhi tưởng chừng vônghĩa, nhưng thực sự nó đã khêu gợi cho trẻ trạng thái cảm xúc tích cực, sựthích thú được giao tiếp với người lớn và bắt đầu có những phản ứng lại vớisắc thái tình cảm khác nhau trong lời nói của người lớn Trẻ thường nhoẻnmiệng cười khi thấy những âm tiết vui vẻ và thường mếu máo khi nge âm tiết
dữ tợn Càng về cuối năm trẻ càng thích giao tiếp với người lớn, thông quanhững âm bập bẹ của mình Âm bập bẹ này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với
sự phát triển sau này Trong tiếng bập bẹ trẻ học cách sử dụng môi, lưỡi vàhơi thở để chuẩn bị cho việc học nói
Lúc đầu , trẻ hài nhi nghê ngôn ngữ như những âm tiết nào đó Ngữ âm
là yếu tố đầu tiên quyết định sự hiểu ngôn ngữ của trẻ Sự thông hiểu lời nóicủa trẻ trên có sở của sự phối hợp của tri giác nhìn và nghe Lúc đầu người lớncần chỉ ra đối tượng cho trẻ nhìn thấy, sau đó cần lặp đi lặp lại, kết quả làhoàn thành được mối liên hệ giữa các âm tiết trong câu hỏi và đối tượng màngười lớn chỉ cho
Như vậy trong quá trình tiếp xúc đầu tiên với người lớn, sự thông hiểungôn ngữ của bé dần dần mang tính chất tích cực hơn và trở thanh phươngtiện quan trọng để mở rộng giao tiếp của trẻ với những người xung quanh Sang đến lứa tuổi ấu nhi , nhữg hình thức “chỉ đạo câm ” (tức là sự chỉ đạocủa người lớn đối với trẻ bằng cử chỉ, điệu bộ , nét mặt ) đã tỏa ra lỗi thời ,không đáp ứng được nhu cầu chiếm lĩnh, phương thức sử dụng đồ vật của trẻ.Hứng thú ngày càng tăng của trẻ đối với hoạt động với đồ vật, càng kích thíchtrẻ hướng tới người lớn, mở rộng giao tiếp với họ để được họ giúp đỡ trongviệc nắm vững cách thức sử dụng đồ vật xung quanh Đó chính là yếu tố làmnãy sinh ở trẻ nhu cầu giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ
Trang 6Sự xuất hiện ngôn ngữ nói là sự kiện quan trọng Ngôn ngữ vừa là thaythế cho đồ vật thật, vừa là phương tiện giao tiếp.
Theo Piaget , ngôn ngữ có ba ưu thế so với hành động vật chất:
1- Hành động bằng tay diễn ra với tốc độ chậm so với lờinói mô tả
2- Hành động bằng tay bị hạn chế bởi không gian chật hẹp
và thời gian trực tiếp, trong khi đó nhờ ngôn ngữ, tưduy dễ dàng vượt ra khỏi giới hạn đó
3- Hoạt động bằng tay diễn ra trình tự, từng tí một, cònngôn ngữ thì cho biểu tượng về toàn bộ
Việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở thời điểm này phần lớn tùy thuộcvào sự dạy bảo của người lớn Những đứa trẻ mà người lớn ít giao tiếphay ít được thỏa mãn nhu cầu giao tiếp thì thường nói rất chậm Để kíchthích trẻ nói người lớn cần đòi hỏi trẻ phô bày tỏ nguyện vọng của mìnhbằng lời nói mới đáp ứng được nguyện vọng đó
Sự phát triển ngôn ngữ trẻ ấu nhi theo hai hướng chính: hoàn thiện
sự thông hiểu lời nói của người lớn và hợp thành ngôn ngữ của đứa trẻ
a Nghe hiểu lời nói.
Trong khi hoạt động với đồ vật trẻ em thường gặp tình hướng cụ thể,trong đó các đồ vật và hoạt động vói các đồ vật chưa thể tách rời lẫn nhauthành một tình huống trọn vẹn, khiến cho trẻ chưa lĩnh hội các từ biểu đạt
đồ vật riêng, hành động riêng mà trẻ có thể lĩnh hội ngôn ngữ biểu đạt cảtình huống trọn vẹn ấy Chẳng hạn trẻ hiểu lời nói “đánh trống ” khi trẻnhìn thấy một người đang đánh trống hay chính trẻ đang cầm rùi đánhvào trống Lời nói “đánh trống ” là biể đạt cho toàn bộ tình huống này
Để trẻ em lứa tuổi này chưa hiểu được các từ riêng lẻ “đánh” và từ “trống” và cũng không thể hiểu nổi lời nói “đánh trống” khi tách rời tìnhhuống này cụ thể Bởi vậy để trẻ nhanh chóng hiểu được lời nói chúng tacần phải kết hợp lời nói với một tình huống cụ thể, trong đó các hànhđộng với đồ vật được thực hiện, vì lúc này trẻ chưa phản ứng trực tiếpvới lời nói mà phản ứng toàn bộ tình huống Lời nói kết hợp với tìnhhuống cụ thể mới tạo thành tín hiệu hành động đối với trẻ lên 2
Sau 1,5 tuổi và sớm hơn việc hiểu lời nói tách khỏi tình huống cụ thểđược tiến bộ rõ rệt Nhờ đó mà người lớn có thể chỉ dẫn những hànhđộng của trẻ và sự phục lòng của trẻ dưới chỉ dẫn của người lớn vữngchắc hơn Đối với trẻ 2 tuổi lời nói có tác dụng khởi động sớm hơn sovới lời nói có tác dụng kiềm hãm, có nghĩa là : đứa trẻ bắt đầu thực hiện
Trang 7hành động nào đó theo lời chỉ dẫn dễ dàng hơn là so với việc ngưng lạihành động mà người lớn cấm đoán.
Việc nghe và hiểu lời nói vượt ra khỏi tình huống cụ thể là thnàh tựurất quan trọng của trẻ ấu nhi Nó giúp trẻ biết sử dụng ngôn ngữ nh làphương tiện cơ bản để nhận thức thế giới
b Hình thành ngôn ngữ tích cực.
Trẻ lên 2 hành động với các đồ vật ngày càng phong phúthì giao tiếpvới người xung quanh ngày càng mở rộng, đặc biệt từ tháng 20 trở đi đứatrẻ trở nên mạnh dạn hơn , có nhiều sáng kiến hơn, điều đó không chỉthúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ, thông hiểu lời nói của những người xungquanh mà còn kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ tích cực Đay chỉ là phátcảm ngôn ngữ Trẻ không chỉ luôn đòi hỏi biết tên các đồ vật mà còn cốgắng phát ra tên các đồ vạt đó
Trong cư sử và hành động trẻ thường bắt gặp những sự vật và hiệntượng lạ lùng , đầy hấp dẫn khiến trẻ muốn nói lại những điều thích thú
và ngạc nhiên cho người xung quanh Để mong sự đồng cảm với mình trẻphải tìm cách diễn đạt ý nghĩa của mình sao cho người khác hiểu được,điều đó đòi hỏi trẻ phải nắm được về mặt ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ Banđầu trẻ dùng câu một tiếng, sau đó trẻ dùng câu 2 tiếng theo mô hình Chủ
- Vị, Vị ngữ + Bổ ngữ
“Trẻ lên 3 cả nhà học nói ” Đúng vậy, lên 3 ngôn ngữ tích cực củatrẻ phát triển mạnh mẻ , trẻ rất thích và hỏi luôn mồm suốt ngày Nhờ đóviệc sử dụng các hình thức ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ đạt tới tiến bộ nhấtđịnh, lời nói của trẻ thường gắn liền với quá trình tri giác và như là mộtloại hình thức cú pháp riêng khác với người lớn Có thể coi đây là mộtloại hình cú pháp chuyển tiếp đến cú pháp chuẩn mực
Nói đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ là một thể hiện trẻ đã đạt tới một trình
độ cao trong sự phát triển ngôn ngữ Về thực chất thì ngôn ngữ đã trởthành một phương tiện để giao tiếp, để tiếp thu kinh nghiệm Xã hội, để tưduy, tìm hiểu thế giới xung quanh và là một phương tiện để phát triển cácchức năng tâm lý khác Những quá trình tâm lý của trẻ như tri giác, tưduy, trí nhớ được cải tổ dưới hình ảnh ngôn ngữ Đồng thời sự phát triểnngôn ngữ của trẻ chịu ảnh hưởng của các quá trình tâm lý đó Nhờ trí tuệphát triển việc lĩnh hội ý nghĩa của các từ cũng biến đổi
Sang đến lứa tuổi Mẫu giáo ngôn ngữ của trẻ ngày càng được hoànthiện và phát triển đến một mức tối đa đó là ngôn ngữ mạch lạc, lứa tuổiMẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hình tượngngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá
Trang 8nhanh và đến cuối tuổi Mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụngtiếng mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày.
Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những năm trởlại đây , tại âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âmkhi nghe người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đếnmức trẻ có thể phát ra những âm tương đối chuẩn, kể cả những âm khócủa tiếng mẹ đẻ Chỉ những trẻ bị tổn thương bộ máy phát âm hay dochịu ảnh hưởng của lời nói ngọng của người lớn xung quanh thì trẻ mớimắc ỗi về tiếng mẹ đẻ
Vốn từ của trẻ Mẫu giáo khá phong phú, không những về danh từ màcon có cả động từ , tính từ , liên từ Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng mẹ
đẻ là đã đủ đẻ diễn đạt các mặt trong đời sống hàng nagỳ Tất nhiên làviệc tăng các thành phần từ ngữ sẽ không có ý nghĩa to lớn nếu như trẻkhông đồng thời nắm được các kỷ năng kết hợp các từ trong câu theo cácquy tắc ngữ pháp Điều đó trẻ có thực hioện tốt hay không là tùy thuộctrực tiếp vào điều kiện đời sống và giáo dục Sự lĩnh hội ngôn ngữ cònđược quy định bởi tính tích cực của bản thân trẻ đối với ngôn ngữ
Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển tương đối cao , khôngnhững về phương diện ngôn ngữ mà còn cả về phương tiện tư duy Trước đâytrẻ sử dụng ngôn ngữ tình hướng là chủ yếu Khi giao tiếp với những ngườixung quanhtrẻ sử dụng những yếu tố trong tình huống giao tiếp để hổ trợ chongôn ngữ của mình Như vậy chỉ có những người đang giao tiếp với trẻ mớihiểu được trẻ muốn nói gì Dần dần cuộc sống đòi hỏi trẻ em cần có một kiểungôn ngữ khác, ít phụ thuộc vào tình huống hơn , ít nhất là trẻ cần phải mô tảlại cho người khác những điều mà mình đã mắt thấy tai nghe, kiểu ngôn ngữnày là ngôn ngữ ngữ cảnh , mang tính rõ ràng , khúc triết Một kiểu ngôn ngữkhác cũng đang phát triển đó là ngôn ngữ giải thích Ở mẫu giáo lớn trẻ cónhu cầu giải thích cho các bạn cùng tuổi về nội dung trò chơi, cách tạo ra tròchơi và những thứ khá Không những thế trẻ còn muốn giải thích cho ngườilớn những điều mà trẻ cần họ hiểu Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi trẻ phải trìnhbày ý kiến của mình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủyếu và những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lý
để người nghe dễ đồng tình – gọi là ngôn ngữ mạch lạc Muốn có ngôn ngữmạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần phải được suy nghỉ rõ ràng, rànhmạch ngay từ đầu, tức là cần được tư duy hổ trợ Mặt khác ngôn ngữ mạch lạc
là phương tiện là cho tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng mới là Tưduy logic , nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ được nâng lên trình độmới, cao hơn
Trang 9II Cơ sở giáo dục
Ngôn ngữ của trẻ được phát triển thông qua các hoạt động khác nhau Trước hết là thông qua hoạt động vui chơi Thông qua vui chơi trẻ vừa học vừa lao động cũng vừa là hình thức, là phương pháp giáo dục tốt nhất Trên cơ
sở đó cô giáo đã sử dụng hoạt động chơi làm phương tiện giáo dục và phát triển cho trẻ Mẫu Giáo Chơi là một hoạt động độc đáo của trẻ, thông qua đó trẻ được nói, ngôn ngữ của trẻ phát triển Vui chơi trẻ phản ánh cuộc sống đã làm cho chơi trở thành phương tiện giáo dục mạnh mẽ Chính bởi vì cô giáo
có thể làm cho trẻ chú ý đến những hiện tượng mà nội dung của nó có giá trị giáo dục Hơn nữa trong khi hướng dẫn trẻ chơi cô giáo thông qua trò chơi giáo dục tất cả mọi mặt cho cá nhân trẻ: ý thức tình cảm, ý chí, hành vi của trẻ
và sử dụng trò chơi nhằm mục đích phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể lực và lao động
Chơi gắn liền với dạy học, với quan sát thường ngày, thường thông qua tròchơi năng lực, nhận thức, óc tưởng tượng, sự chú ý và trí nhớ của trẻ đều đượchuy động tham gia tích cực làm cho chúng phát triển Chẳng hạn khi đóng vai,khi miêu tả hiện tượng này hoặc hiện tượng khác, trẻ thường suy nghĩ về chúng, thiết lập mối quan hệ giữa các hiện tượng khác nhau Trẻ học cách giảiquyết nhiệm vụ, tìm kiếm phương tiện thích hợp nhất để thực hiện dự định đưa ra, trẻ huy động tất cả tri thức của mình và biểu lộ ra bằng lời nói Những cuộc đối thoại của trẻ trong quá trình chơi chính là nhu cầu thiết thân của trẻ, nếu không có sự trao đổi tư tưởng và thỏa thuận, thương lượng cùng nhau thì không thể nào chơi được Cho nên ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong khichơi, nhờ có ngôn ngữ trẻ giao tiếp, trao đổi ý định, suy nghĩ của mình với cácbạn và nghe các bạn trình bày ỳ kiến để đi đến thỏa thuận trong khi chơi Cũng chính trong quá trình này ngôn ngữ của trẻ phát triển nhanh Trong khi chơi ngôn ngữ mạch lạc, phát triển, trẻ học được bạn chơi, trẻ học được cách giao tiếp với mọi người xung quanh
Khi chơi đóng kịch, trẻ nói bằng ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm(đặc biệt là truyện ngụ ngôn, cổ tích, thần thoại ) giúp trẻ nắm được ngôn ngữ dân gian có nội dung phong phú và đầy sức diễn cảm từ đó giúp trẻ cảm thụ được sự giàu có của ngôn ngữ, nắm được phương tiện thể hiện ngôn ngữ, lĩnh hội được sự phong phú của tiếng mẹ đẻ Tất cả những điều này ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Trò chơi “đóng vai có chủ đề” có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, trẻ làm quen với xã hội người lớn, làm cho ngôn ngữ của trẻ phát triển rất mạnh mẽ , đồng thời cũng chính ở đây cái tôi của trẻ được hình thành trẻ phân biệt mình với người khác, biết đóng vai người khác và huy động tương ứng với vai trò mình đảm nhận Trẻ lớn lên cùng bạn bè, có tình cảm với bạn , có tinh thần trách nhiệm trước nhóm chơi,
Trang 10đôi khi biết hy sinh ý muốn cái nhân vì lợi ích chung của cả nhóm và cũng ở nhóm chơi của mình mà trẻ biết nhận xét đánh giá bạn bè và ngay cả bản thân mình.
Dạy học ở trường Mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống , có kế hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức của trẻ , vũ trang cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân cách cho trẻ
Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt động khác nhau như: làm quen với văn học, hình thành biểu tượng toán học, làm quen môi trường xung quanh … tất cả các hoạt động này nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biếtcho trẻ và bên cạnh đó còn có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ Hiện nay ở các trường Mẫu giáo có hai hình thức phát triển lời nó cho trẻ đó là: các tiết học và ngoài tiết học Các tiết học như biết tập nói , làm quen với chữ cái(tiết học chuyên biệt)- làm quen với môi trường xung quanh , làm quen với tác phẩm vưn học (tiết học có ưu thế phát triển lời nói), các tiết học khác như tổ chức hoạt động tạo hình, giáo dục âm nhạc… Tất cả giờ học đều phát triển lời nói cho trẻ Vì vậy trong giờ học các hoạt động khác chúng ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ vì ngôn ngữ là cửa ngõ để trẻ có thể phát triển toàn diện nhân cách
III Cơ sở sinh lý.
Mỗi người sinh ra đả có sẵn bộ máy phát âm , đó là tiền đề vật chất để sản sinh ra âm thanh ngôn ngữ Đó là một trong nhữnng điều kiện vật chất quan trọng nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như trong cấu tạo của nó có một sự khiếm khuyết nào đó chẳng hạn như hở hàm ếch , lưỡi ngắn, sứt môi, thìviệc hình thnàh lời nói cũng hết sức khó khăn
Mỗi con người không phải đả có ngay một hệ thống phát âm hoàn chỉnh,
mà chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần dần bộ máy đó Đó là sựxuất hiện của hai hàm răng, sự vận động của môi , lưỡi…Quá trình đó diễn ra tựnhiên theo quy luật sinh học Tuy nhiên , bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ làtiền đề vật chất Cùng với thời gian , quá trình học tạp, rèn luyện một cách có
hệ thống làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện chuẩn mực ngữ âm, phát triển ngôn ngữ
Con người sinh ra đã có bộ máy phát âm nhưng bộ máy phát âm được phát triển và hoàn thiện cùng với sự lớn lên của trẻ Trong thực tế có những em cùngsinh ra nhưng có em ngôn ngữ phát triển rất tốt, có em không nói ngọng Có sự khác nhaunhư thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm phát triển chưa hoàn thiện Với trẻ dưới 6 tuổi có 20 răng –có những cháu do cắt VA làm ảnh hưởngđến giọng nói của trẻ Vì vậy nếu VA nó không ảnh hưởng đến cơ thể của trẻ thì chúng ta khoong nên cắt bỏ đi Nếu cắt bỏ nó đi thì nó như một cái nhà
Trang 11không của , đó là điều kiện thuận lợi để trẻ dễ mắc các loại bệnh về đường hô hấp sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển tòa diên của trẻ, trí tuệ chậm phát triển , từ
đó sẽ kéo theo sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Vì vậy với trẻ từ 0-6 tuổi chúng ta phải chú ý đến chăm sóc trẻ Nếu để sơ xuất nó sẽ ảnh hưởng rất lớn dến sự phát triển sau này của trẻ, nhất là ngôn ngữ
vì ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập và vui chơi
IV Cơ sở ngôn ngữ.
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội (Max) “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất”(Lênin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì một mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triễn xã hội
Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được thậm trí không thể tồn tạiđược, nhất là trẻ em, một sinh thể yéu ớt rất cần sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn
Ngôn ngữ chíng là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ
có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ
Ngôn ngữ là công cụ phát triển trí tuệ Ngôn ngữ là hiện thực của tư duy Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không được diễn ra được Ngôn ngữ làm cho các kết quả của tư duy được cố định lại, do đó
có thể khách quan hóa nó cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy
Ngoài ra ngôn ngữ còn là công cụ để trẻ học tập, vui chơi: Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mọi lúc, mọi nơi Như vậy ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt kkộng tạo điều kiện cho ngôn ngữ trẻ phát triển
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được các nhà tâm lý- ngôn ngữ học nhìn nhận từ những góc độ khác nhau L.S.Vưgôtxky xuất phát từ mục đích mà nhìn nhận: “Bản chất sự phát triển ngôn ngữ nhằm mục đích giao tiếp, nhận thức, tất nhiên sự phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ thuần túy dựa trên sự phát triển khả nằng nhận thức của trẻ”- A.A.Lêonchieplại cho rằng: “ Sự phát triển của ngôn ngữ của trẻ em trước hết là sự phát triển của phương thức giao tiếp”-K.Hai-nơ cho rằng: Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trải qua các giai đoạn từ thấpđến cao, phù hợp với các giai đoạn nhất định của lứa tuổi có thể lấy được nguồngốc của sự phát triển ngôn ngữ ở các giai đoạn trước
Chúng ta thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 0-6 tuổi vô cùng quan trọng Nhất là việc phát triển ngôn ngữ để trẻ chuẩn bị vào trường phổ
Trang 12thụng Với trẻ 5-6 tuổi vốn từ của trẻ cú khoảng 1033 từ Ở lứa tuổi này tớnh từ
và cỏc từ loại khỏc chiếm tỷ lệ cao- trong đú cú trạng từ Trạng từ là một từ loại khú đối với trẻ Hiện nay ở cỏc Trường mầm non chưa chỳ ý nhiều đến việc dạytrẻ định hướng thời gian Vỡ vậy phải chỳ ý đến việc dạy trẻ định hướng thời gian Vỡ vậy phải chỳ ý đến việc dạy trạng từ chỉ thời gian cho trẻ, thụng qua đútrẻ sẽ học tốt cỏc mụn như Toỏn về định lượng thời gian, tạo hỡnh… nhất là đối với trẻ từ 5-6 tuổi
Trạng từ cú thể làm thành phần phụ cho kết cấu chủ vị, đú là trạng ngữ Trạng ngữ cú thể chia làm nhiều loại:
I.địa bàn điều tra.
Tôi thực hiện điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ mẩu giáo lớn tại ờng mầm non thị trấn thọ xuân-huyện tho xuân tỉnh thanh hoá đây là trờng mầm
Trang 13tr-non duy nhất nằm trên địa bàn thị trấn thọ xuân trờng đợc thành lập năm 1990-ban
đầu chỉ có 32 cháu với 3 lớp, 8 cán bộ giáo viên tới nay trờng đã thành lập đợc 16năm, hiện nay có 250 cháu với 8 lớp(một lớp nhà trẻ-7 lớp mẩu giáo) có 25 cán bộgiáo viên
Đội ngũ cán bộ giáo viên trong trờng có trình độ thấp nhất là trung học-caonhất là đại học: 2-đại học, 14-cao đẳng,4 trung cấp
Diện tích của trờng là 1300m2-phòng nhóm trẻ rộng 45m2 chia làm 3
phòng(phòng ăn, phòng chơi-ngủ, phòng vệ sinh)
Năm 2005-2006 trờng vừa đợc đón nhận là trờng chuẩn quốc gia Trong cáccuộc thi cấp huyện, cấp tỉnh trờng đạt rất nhiều thành tích cao nh: giải nhất cuộcthi” đồ dùng dạy học sáng tạo cho môn toán”, giải nhì cuộc thi” tiếng hát giáo viênmầm non toàn tỉnh”, giải ba cuộc thi”an toàn giao thông”
Tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này tại lớp mẫu giáo lớn A1 Với 25 cháu tôithực hiện nghiên cứu ở các cháu có cùng lứa tuổi, các cháu hoàn toàn bình th -ờng(về sức khoẻ, trạng thái tâm lý, hoạt động thần kinh…),các cháu xuất thân từ),các cháu xuất thân từcác hoàn cảnh khác nhau
Trang 1419 TrÇn Thanh Tó N÷ Bè-MÑ lµm n«ng th«n
Trang 15II kỹ thuật điều tra:
Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ bằng cách: điều tra trực tiếp trêntrẻ bằng cách dùng bảng từ cho sẵn với 29 trạng từ khác nhau, chủ yếu là trạng từchỉ thời gian: Buổi sáng, buổi tra, buổi chiều, buổi tối, buổi đêm, hôm nay, ngàymai, ngày kia, hôm qua, tuần này, tuần trớc, tuần sau, tháng trớc, tháng này, thángsau, năm nay, năm ngoái, năm sau, thứ 2, thứ 3, thứ 4, thứ 5, thứ 6, thứ 7, chủ nhật,mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông
III Cách thức điều tra.
Dạy trẻ nắm đợc trạng từ đặc biệt là trạng từ chỉ thời gian cần phải đợc tiếnhành ngay từ nhỏ, khi trẻ bắt đầu nhận biết, phân biệt đợc thời gian thông quanhững dấu hiệu đặc trng của nó, khi trẻ biết sử dụng các từ chỉ thời gian để nhậnthức, thể hiện và thực hiện những định hớng thời gian của mình việc dạy trẻ nắm
đợc, hiểu và sử dụng trạng từ trong câu phải thực hiện trong quá trình đứa trẻ nắmnhững kiến thức trong cuộc sống hàng ngày(trớc tiên là kết quả của hoạt động vàgiao lu) và bằng con đờng dạy học có mục đích học tập tại trờng mầm non
Điều tra khả năng sử dụng trạng từ của trẻ bằng cách:
- Đặt câu hỏi-trẻ trả lời
- Dùng tranh minh hoạ
- Dùng màn hình vi tính
1 Đặt câu hỏi:
Trong 29 trạng từ trên có những trạng từ không thể kiểm tra bằng cách đặtcâu hỏi đợc mà phải dùng cách khác, chỉ có một số trạng từ là ta có thể hỏi đợcbằng cách đặt câu hỏi nh:
- Vào buổi sáng các cháu thấy ông mặt trời nh thế nào?
- Buổi sáng các cháu làm gì ở trờng mầm non?
- Sau buổi tra là buổi nào?
- Hôm nay là thứ 2 thì ngày mai là thứ mấy?
- Hôm qua là thứ mấy?
- Ngày tiếp theo của thứ 7 là thứ mấy?
- Cháu hãy kể các buổi trong ngày theo thứ tự?
Để biết đợc khả năng hiểu nghĩa và khả năng sử dụng từ trong câu chúng ta cũng
có thể đặt ra câu hỏi và quan sát khi trẻ tham gia các hoạt động
Ví dụ: tại sao con biết hôm nay là thứ 2?
2 Dùng tranh minh họa
Để tổ chức hoạt động nhằm giúp trẻ hiểu và sử dụng trạng từ chúng ta có thể
sử dụng những tranh sau:
- Tranh 1: Cảnh bé tập thể dục buổi sáng ở trờng mầm non
Trang 16- Tranh 2: Cảnh bé ngủ tra ở trờng mầm non
- Tranh 3: Cảnh phụ huynh đón bé từ trờng mầm non về nhà
- Tranh 4: Cảnh bé xem hoạt hình buổi tối
- Tranh 5: Cảnh cả nhà ngủ đêm
- Tranh 6:Quang cảnh bình minh buổi sáng
- Tranh 7: Quang cảnh hoàng hôn buổi chiều
- Tranh 8: Quang cảnh không gian vào ban đêm
Khi dùng tranh minh họa giáo viên phải đặt câu hỏi để trẻ phát hiện ra nét
đặc trng của tranh-trạng từ hàm chứa trong bức tranh
VD: Bức tranh này là gì?
Ai biết gì về bức tranh này?
.3 Sử dụng màn hình vi tính, phim video, truyện tranh.
Trong quá trình tổ chức cho trẻ xem phim, xem phong cảnh trên màn hình vitính, giáo viên cần để trẻ xem nhiều lần, cũng nh những chi tiết riêng biệt củaphong cảnh, bằng các câu hỏi giáo viên hớng trẻ tri giác toàn bộ tranh, phân tíchnhững dấu hiệu nhằm thiết lập mối liên hệ giữa các hình tợng Chúng ta có thểdùng những tranh phong cảnh nh
- Cảnh mùa đông: Mọi ngời đều mặc quần áo ấm
- Cảnh mùa hè: Mọi ngời đi tắm biển
- Cảnh mùa thu: Cây có nhiều lá rụng, có rằm trung thu
- Cảnh mùa xuân: Tết cổ truyền, hoa đào, hoa mai, bánh trng
cây cối đâm trồi nảy lộc
IV Kết quả điều tra.
sử dụng từ trong cầu
Trang 1715 Nguyễn Linh Chi 21 73 21 73 18
V Nhận xét-phân tích kết quả điều tra
Sau khi thu đợc kêt quả điều tra tôi cho điểm nh sau:
Qua điều tra tôi thấy với những trạng từ gắn với tranh thì trẻ nhận biết, hiểu
và sử dụng từ trong câu dễ dàng hơn so với việc dùng phim video, màn hình vi tính
Từ kết quả ta thấy đợc kết quả đạt đợc cha cao Qua đó ta thấy đợc sự khác nhau về
số lợng trạng từ của các cháu-có những cháu số lợng trạng từ đạt đợc rất cao TrầnThanh Tú(27 Từ), Nguyễn Diễm Quỳnh(26 từ), Nguyễn Hải Long(26 từ)…),các cháu xuất thân từ ng cónhcháu số lợng trạng từ thấp nh Nguyễn Minh Anh(14 từ), Ngô Hải Nam(15 t) Có sựkhác nhau về số lợng trạng từ giữa các cháu là do:
- Hoàn cảnh gia đình: những cháu có gia đình khá giả, Bố me có trình độ họcvấn, có hiểu biết xã hội thì số lợng trạng từ nhiều hơn những cháu có những hoàncảnh gia đình khó khăn, Bố mẹ làm nghề thuần nông cháu Thanh Tú, Hải Long,Diễm Quỳnh là ba gia đình có điều kiện kinh tế khá giả, Bố mẹ là giáo viên vì thếcác cháu có điều kiện rất thuận lợi để phát triển ngôn ngữ đặc biệt là trạng từ Với 2cháu Minh Anh và Hải Nam lại thiệt thòi hơn các bạn rất nhiều về kinh tế và tìnhcảm Cháu Minh Anh chỉ có mẹ ma không có cha là điều kiện làm cho ngôn ngữ
Trang 18của trẻ kém phát triển.Còn hầu hết các cháu có kết quả gần nh nhau bởi cuộc sốnggia đình ở mức trung bình
- Khả năng chú ý – phân tích kết quả điều tra ghi nhớ có chủ định: Đây là yếu tố quan trọng sự khácnhau giữa trẻ này với trẻ khác Những trẻ có khả năng ghi nhớ và chú ý tốt thì vốn
từ trẻ thu dợc nhiều đặc biệt là số lợng trạng từ hơn những trẻ co khả năng chú ý vàghi nhớ kém - vì hoạt động của trẻ thờng gắn với các sự vật hiện tợng cụ thể Trong
hoạt động trẻ không chú ý – phân tích kết quả điều tra ghi nhớ thì trẻ sẽ không có biểu tợng về sự vật đó đi
kèm theo nó là ngôn ngữ kém phát triển kéo theo nó là số lợng trang từ trong vốn từ
trẻ ít Vì thế mà nhìn vào bảng ta thấy có cháu có số lợng trạng từ 27 từ (Trần
Thanh Tú), Nguyễn Diễm Quỳnh(26 từ) nhng có cháu chỉ có 14 từ Nguyễn MinhAnh, Ngô Hải Nam(15 từ) Minh Anh và Hải Anh là hai cháu khả năng tập trungnói kém ít hoạt động với bạn bè, cháu Minh Anh mãi 4 tuổi cháu mới đi trờng mầmnon
- Đặc điểm tâm sinh lý: Các cháu trong lớp hoàn toàn bình thờng song vẫn
có sự khác nhau về đặc điểm tâm sinh lý của các bé Nhng cháu Lê Văn Tiến, LêHồng Ngọc, Quang Linh, Diễm Quỳnh, Hữu Nghĩa…),các cháu xuất thân từlà những cháu năng nỗ a hoạt
động Trong mọi hoạt động trẻ luôn tham gia tích cực trẻ nói rất nhiều, hay nóikhông bị nói ngọng Trong đó có cháu Hồng Ngọc là biết nói khi cháu 11 tháng
Hoạt động của Não bộ quyết định mọi hoạt động của cháu Nhng cháu có sốlợng trạng từ cao là những cháu không có chấn thơng hay khó khăn gì thì khi mẹsinh ra đến quá trình lớn lên đi học của trẻ Cháu Hải Nam là cháu bị đẻ non vàphải mỗ đẻ, mặt khác cháu lại là bé mất cha từ bé Điều đó đã ảnh hởng rất lớn đếntâm lý Sinh lý của trẻ kéo theo nó là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đặc biệt là số l-ợng trạng từ khả năng hiểu nghĩa và khả năng sử dụng trạng từ trong câ
Qua kết quả điều tra ta thấy: Khả năng hiểu và sử dụng trạng từ của trẻ đạtkết quả cha có không có kết quả tốt trung bình(44%), yếu(56%) Từ kết quả đó tathấy đợc rằng trẻ có số lợng trạng từ cao nhng việc hiểu và sử dụng từ trong câu đạtkết quả cha cao còn kém Vì vậy trong các hoạt động vật chất, các hoạt động cómục đích học tập: Môi trờng xung quanh,Toán, Văn học, Tạo hình…),các cháu xuất thân từchúng ta phảităng cờng cho trẻ sử dụng trạng từ
VI, Kết luận chung:
Trạng từ là một từ loại khó với trẻ.Trớc lứa tuổi mẫu giáo trẻ học chủ yếu là
thômg qua con đợc bắt chớc Vì vậy mà việc hiểu và sử dụng từ trong câu của trẻcòn bị hạn chế Song số lợng trạng từ hay khả năng hiểu và sử dụng từ trong câu
của mỗi trẻ lại có sự khác do: Hoàn cảnh gia đỡnh , khả năng chú ý ghi nhớ có chủ
Trang 19định và đặc điểm tâm sinh lý của mỗi cháu là khác nhau Vì vậy tuỳ vào từng trẻ
mà chúng ta có những tác động phù hợp để làm giàu vốn từ về trạng từ cho trẻ
Chơng III: Đề xuất một số biện pháp tích cực nhằm phát
triển trạng từ cho trẻ mẫu giáo.
I/Nguyên tắc xây dựng biện pháp.
Xuất pháp từ đặc điểm:Trạng từ là từ loại xuất hiện ở trẻ tơng đối muộn nhất
là các trạng từ chỉ thời gian,sự hình thành chúng là một quá trình lâu dài và phứctạp.Ban đầu các trạng từ chỉ thời gian đợc hình thành trên cơ sơ cảm nhận và gắnliền với tính chu kì của các quá trình sống diễn ra trong cơ thể con ngời nhờ sự giúp
đỡ của phức hợp các giác quan khác nhau nh: thị giác,thính giác…),các cháu xuất thân từsau đó nhữngtrạng từ chỉ thời gian dần dần đợc tái tạo lại và ngày càng mang tính khái quát cao
nh nhà tâm lý học X.L.Rubinxtein, A.A.Liublinxkaia, đã chỉ ra rằng sự phát triểncác biểu tợng thời gian của trẻ diễn ra tơng đối muộn và rất khó khăn Điều nàyxuất phát từ tính luân chuyển của thời gian-thời gian luôn gắn liền với sự chuyển
động,vì thế ta không thể tri giác cùng lúc toàn bộ đơn vị đo thời gian bất kì.Mặtkhác do tính không đảo ngợc của thời gian cũng nh quá khứ ,hiện tại, tơng laikhông thể đổi chỗ cho nhau,hơn nữa thời gian lại không có hình dạng trc quan, conngời không thể nhìn thấy và nghe thấy thời gian.Tuy nhiên những trạng từ chỉ thờigian có thể hình thành ở trẻ nếu có sự tác động đúng lúc và đúng hớng của ngờilớn
Xuất phát từ đặc thù, từ hoạt động nhận biết của trẻ mầm non, trong quátrình tổ chức các hoạt động có mục đích học tập cho trẻ mầm non,giáo viên cần chútrọng tới việc dạy trẻ quan sát, xem xét, khám phá bằng các giác quan, dạy trẻ tựphát hiện, tự lĩnh hội và giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ,hớng dẫn đúng lúc của côgiáo.Trong quá trình đó giáo viên phải là ngời tổ chức môi trờng học tập cho trẻ,tạocơ hội tình huống, hớng dẫn,gợi mở các hoạt động có tính tìm tòi, khám phá, tổchức cho trẻ trải nghiệm các tình huống cuộc sống để tích luỹ và làm phong phúhơn vốn khái niệm của trẻ.Cùng với tích luỹ khái niệm cho trẻ,còn cần mở rộngchính xác hoá,hệ thống hoá những kiến thức của trẻ và dạy cho trẻ ứng dụng nhữngkiến thức đó vào quá trình sử dụng trạng từ chỉ thời gian cho phù hợp với văn cảnh
Trẻ mẫu giáo lớn t duy trực quan sơ đồ đang đợc phát triển nhờ đó mà khảnăng khái quát biểu tợng ở trẻ càng phát triển mạnh.Chính vì vậy mà khi dạytrẻnắm đợc những trạng từ đặc biệt là những trạng từ chỉ thời gian không chỉ dừng
Trang 20lại ở việc chính xác hoá và hệ thống hoá biểu tợng thời gian của trẻ mà cần hớng tớiviệc khái quát hoá chúng.
II Các biện pháp.
1 Hình thành biểu tợng thời gian cho trẻ:
Việc hình thành biểu tợng thời gian cho trẻ là biện pháp quan trọng giúp trẻkhông chỉ nắm đợc những trạng từ chỉ thời gian mà còn giúp trẻ hiểu và biết sửdụng trạng từ đó trong câu
Để tích luỹ trạng từ chỉ biểu tợng về ngày, các buổi trong ngày thì cô giáophải tổ chức các hoạt động nh:dạo chơi,thăm quan…),các cháu xuất thân từđể trẻ quan sát,nhận biếtnhững dấu hiệu dặc trng cho các buổi trong ngày nh vị trí, màu sắc mặt trời, bầutrời, không gian…),các cháu xuất thân từ vào các buổi khác nhau trong ngày.Hoặc quan sát dấu hiệu vềcuộc sống con ngời nh:hoạt động của trẻ em và ngời lớn vào các buổi khác nhau:
Sáng tập thể dục
Tra: ăn – phân tích kết quả điều tra ngủ
Chiều bố mẹ đón về
Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi để hớng trẻ tới dấu hiệu đặc trng
VD:Vào buổi sáng các cháu thấy ông mặt trời nh thế nào?
Buổi sáng các cháu làm gì ở trờng mầm non?
Để mở rộng biểu tợng về ngày Giáo viên có thể tổ chức cho trẻ xemphim,tranh, ảnh mà trong dó dấu hiệu về ngày đợc thể hiện một cách rõ nét vàphong phú
VD: Phong cảnh về thiên nhiên.
Hoạt động của con ngời
Để trẻ nhận biết đợc trạng từ chỉ thời gian chỉ tuần lễ thì trẻ phải nắm đợccác ngày trong tuần.Trẻ cần phân biệt,nhận biết,nắm đợc tên gọi,số lợng và trình tựcác ngày trong tuần,chính xác đơc hôm nay là thứ mấy,ngày mai là thứ mấy-bằngcách Giáo viên đặt ra câu hỏi để trẻ trả lời
VD:Hôm nay là thứ mấy?
Ngày mai là thứ mấy?
Để nhận biết một tuần lễ ta có thể cho trẻ chơi “xếp tuần lễ” gồm bảy hìnhtròn-có bảy màu sắc khác nhau.Mỗi hình tròn gắn một chữ số từ 1-7.Sau đó cô chotrẻ giơ các thứ trong tuần theo hiệu lệnh của cô
Trang 21Với biểu tợng các mùa trong năm cô có thể cho trẻ xem tranh ảnh, băng hình
về các mùa thông qua các hoạt động đặc biệt là thông qua giờ học môi trờng xungquanh.Qua việc nhận biết các mùa ta cho trẻ biết các tháng
VD: Tháng 9,10,11 là mùa thu
Tháng 4,5,6,7 là mùa hè…),các cháu xuất thân từ
2 Tăng cờng việc sử dụng đồ dùng trực quan.
Trong quá trình vui chơi và học tập Giáo viên tăng cờng sử dụng đồ dùngtrực quan để trẻ nhận biết và đợc sử dụng các trạng từ, nhất là trong hoạt độngngoài trời,tiết học môi trờng xung quanh,toán,tạo hình…),các cháu xuất thân từTrong các hoạt động nàykhông chỉ tạo điều kiện cho trẻ nhận biết một cách chính xác mà cần giúp trẻ sửdụng trạng từ cho đúng với ngữ cảnh Để đạt đợc điều đó chung ta phải sử dụng đồdùng tổng quan đi kèm nh tranh ảnh, mô hình,băng hình, cho trẻ trải nghiệm vềthời gian
3 Cung cấp các trạng từ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, các giờ tham quan.
Cung cấp cho trẻ các trạng từ dới hình thức cô giới thiệu môi trờng xungquanh hoăc qua đọc thơ, kể chuyện.Những kiến thức ấy sẽ giúp cho trẻ sử dụngtrạng từ sao cho dúng và hợp lý Do đó chúng ta cần sử dụng triệt để các phơngpháp trực quan một cách linh hoạt sáng tạo giúp cho các quá trình nhận thức của trẻ
và rèn luyện phát triển vốn từ đặc biệt là trạng từ cho trẻ Điều này có thể khẳng
định rằng điều kiện sống cũng có ảnh hởng tới sự phát triển vốn từ đặc biệt là vốn
từ cho trẻ.Vì vậy Giáo viên cần phải quan tâm đến cuộc sống riêng của trẻ và đặc
điểm tâm lý của trẻ thì kết quả giáo dục trẻ mới đạt kết quả tốt.Cô cần chú ý tới trẻ
mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là trong hoạt dộng học tập và hoạt động vui chơi.Việc tổ
chức tốt các hoạt động không những giúp trẻ phát triển cân đối khoẻ mạnh tạo điềukiện tốt cho quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ đặc biệt là phát triển trạng từ
Trang 22PhiÕu ®iÒu tra
Họ và Tên: Thân Hải Long Lớp: Mẫu giáo lớn
STT Bảng từ Vốn
từ
Khả năng hiểu biết
Khả năng sử dụng
Trang 23PhiÕu ®iÒu tra