Một số vấn đề , định hướng XHCN, nước ta
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Định hớng XHCN là một vấn đề đợc Đảng ta chính thức nêu ra từ Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đây là một chủ đề lý luận và thực tiễn rấtcơ bản, trọng yếu, giữ vai trò chỉ dẫn và chi phối các hoạt động t tởng, lý luận
và thực tiễn, đợc toàn Đảng, toàn dân ta hết sức quan tâm Đặc biệt, trongtình hình hiện nay, khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong bốicảnh quốc tế và trong nớc hết sức phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tốkhác nhau, thậm chí trái ngợc nhau, đang đứng trớc những thời cơ và vận hội
to lớn cũng những thách thức và nguy cơ không thể xem thờng thì vấn đề
định hớng XHCN ngày càng giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đốivới thực tiễn hôm nay và tơng lai mai sau của đất nớc
Giữ vững định hớng XHCN là một nguyên tắc của công cuộc đổi mới
Sự thành công hay thất bại của công cuộc đổi mới đó ở Việt Nam hiện nayphụ thuộc vào việc giữ vững định hớng đó hay không Do vậy, làm rõ thựcchất của định hớng XHCN, tính đúng đắn của nó, những điều kiện và vai tròcác nhân tố thực hiện định hớng để từ đó tạo cơ sở khoa học cho hoạch địnhcác đờng lối, chủ trơng, chính sách trong công cuộc đổi mới, nhằm thực hiệnthắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là điều quan trọng và cầnthiết
Vì thế việc nghiên cứu “vai trò định hớng XHCN của Nhà nớc đối với
sự phát triển nền kinh tế Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vừa cơbản, vừa cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu:
Vấn đề định hớng XHCN nói chung, vai trò của Nhà nớc nói riêngtrong thực hiện định hớng đợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở nhiềucấp, nhiều ngành Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu độc lậpcủa các nhà khoa học cũng nh công trình nghiên cứu tập thể các vấn đề nóitrên dới nhiều góc độ khác nhau Ví dụ:
+ Một số chơng trình, đề tài thuộc các chơng trình khoa học công nghệcấp Nhà nớc
- Chơng trình KX01 “Những vấn đề lý luận về CNXH và về con đờng
đi lên CNXH ở nớc ta” do GS.TS Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm
- Đề tài KX05-04 “Đặc trng cơ bản của hệ thống chính trị nớc ta tronggiai đoạn quá độ lên CNXH” do GS PTS Nguyễn Ngọc Long chủ nhiệm
Trang 2- Đề tài KX03-04 “Cơ chế thị trờng và vai trò của Nhà nớc trong quản
lý nền kinh tế nớc ta hiện nay” do GS TS Lơng Xuân Quỳ làm chủ nhiệm
+ Một số cuốn sách chuyên khảo:
- Định hớng XHCN ở Việt Nam, Một số vấn đề lý luận cấp bách, của
Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu đợc công bố trên nhiều tạpchí, thông tin chuyên đề:
- Hội thảo “Một số vấn đề về định hớng XHCN ở nớc ta” đăng trênTạp chí Cộng sản từ số 4 tháng 2/1996 đến số 7 tháng 4/1996
- Kinh tế thị trờng và định hớng XHCN của Bùi Ngọc Chởng - Tạp chíCộng sản tháng 6/1995
- Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý kinh tế củaNhà nớc trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay của NguyễnTiến Phồn, Tạp chí Triết học số 3/1995
- Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mớichính sách xã hội của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học số 3/1996
Mặc dù các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết đã đề cập khánhiều đến các khía cạnh khác nhau có liên quan trực tiếp đến đề tài: quá độlên CNXH bỏ qua chế độ chính trị TBCN, bớc chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng, vai trò của các nhân tố chủ quantrong việc lựa chọn và thực hiện định hớng XHCN Song cha có một côngtrình nào nghiên cứu một cách có hệ thống dới góc độ triết học về “Vai trò
Trang 3định hớng XHCN của Nhà nớc đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Namhiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án:
b Nhiệm vụ của luận án:
Để đạt đợc mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
- Phân tích một cách có hệ thống lý luận Mác - Xít về quan hệ giữaNhà nớc và kinh tế với t cách là phơng pháp luận nền tảng cho việc xem xétvai trò của Nhà nớc trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị tr-ờng định hớng XHCN ở Việt Nam
- Phân tích một số các học thuyết kinh tế, một số mô hình kinh tế thịtrờng hiện đại nhằm khẳng định vai trò ngày càng tăng của Nhà nớc trongnền kinh tế thị trờng
- Phân tích và chứng minh việc xây dựng nền kinh tế thị trờng định ớng XHCN ở Việt Nam là con đờng tất yếu, hợp quy luật vận động của lịch
h-sử trong thời đại ngày nay
- Làm rõ nội dung và phơng thức định hớng XHCN của Nhà nớc đốivới sự phát triển nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam
- Trên cơ sở phân tích thực tiễn hơn 10 năm đổi mới, luận án làm rõthực trạng, những vấn đề phát sinh và một số phơng hớng nhằm tiếp tục nângcao vai trò của Nhà nớc trong định hớng XHCN sự phát triển nền kinh tế
4 Phơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận án lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t ởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận, phơng pháp luận; luận án sử dụng các đ-ờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc, kết quả các công trình nghiên cứu
t-có liên quan
Luận án sử dụng chủ yếu các phơng pháp của CNDVBC và CNDVLS
đặc biệt là các phơng pháp phân tích và tổng hợp, phơng pháp thống nhấtlôgíc và lịch sử, phơng pháp thống nhất lý luận và thực tiễn
5 Cái mới của luận án:
Trang 4- Góp phần nghiên cứu tơng đối có hệ thống mối quan hệ giữa Nhà nớc
và kinh tế
- Góp phần vạch cơ sở khoa học của định hớng xã hội chủ nghĩa trong
sự phát triển kinh tế và vai trò của Nhà nớc trong định hớng đó
- Góp phần nêu ra một số phơng hớng nhằm nâng cao vai trò của Nhànớc đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam theo định hớng XHCN
6 ý nghĩa thực tiễn:
Những kết quả đạt đợc trong luận án sẽ góp phần vào thực tiễn nghiêncứu và giảng dạy môn triết học Mác - Lênin, có thể dùng làm tài liệu thamkhảo cho môn kinh tế chính trị học và một số môn khác trong phạm vi liênquan đến đề tài
7 Kết cấu của luận án.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 3 chơng, 7 tiết
Trang 5Chơng 1 vai trò của Nhà nớc đối với sự phát triển kinh tế
1.1 Nhà nớc với kinh tế.
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời có giai cấp cho thấy mối quan
hệ giữa Nhà nớc và kinh tế là một tất yếu khách quan Theo quan niệm củachủ nghĩa Mác - Lênin, mối quan hệ kinh tế - Nhà nớc, về thực chất, là biểuhiện tập trung nhất mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thợngtầng (KTTT) của xã hội, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
Khi nghiên cứu đời sống xã hội, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ ra rằng con ngời "muốn sống đợc thì trớc hết cần phải có thức
-ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Nh vậy hành vi lịch
sử đầu tiên là việc sản xuất ra những t liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy,việc sản xuất ra đời sống vật chất và đó là một hành vi lịch sử, điều kiện cơbản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng nh hàng ngàn năm về trớc, ngời ta phảithực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ để nhằm duy trì đời sống con ngời " 1
Nh vậy, sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên và cũng là hành vimang tính chất vĩnh cửu của con ngời Và "trong sự sản xuất ra đời sống củamình, con ngời ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ýchí của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với mộttrình độ phát triển nhất định của các lực lợng sản xuất vật chất của họ Toàn
bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội - tức là cáicơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một KTTT pháp lý và chính trị "2
Cái cơ sở hiện thực Mác chỉ ra ở đây chính là cơ sở hạ tầng của một xãhội ở một giai đoạn lịch sử nhất định, chính là sự tổng hợp của toàn bộ nhữngquan hệ sản xuất cùng tồn tại trong giai đoạn lịch sử đó: Những quan hệ sảnxuất thống trị, những quan hệ sản xuất tàn d của xã hội trớc và những quan
hệ sản xuất mầm mống của xã hội tơng lai Đặc trng của CSHT ở mỗi xã hội
cụ thể là do kiểu quan hệ sản xuất thống trị quyết định, còn các kiểu quan hệsản xuất khác - kiểu quan hệ sản xuất tàn d, kiểu quan hệ sản xuất mầmmống cũng có những vai trò vị trí nhất định Các kiểu quan hệ sản xuất đó(thống trị, tàn d, mầm mống) trong CSHT vừa thống nhất lại vừa đấu tranhvới nhau tạo nên sự phong phú đa dạng và phức tạp của CSHT
1 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, t1, NXB Sự thật H 1980, tr 286-287.
2 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập2 NXB S H 1981 tr 637.
Trang 6CSHT của mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau là khác nhau Sự khác nhau
đó là do tính chất của kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định Trong xã hội
có đối kháng giai cấp, CSHT của xã hội cũng có tính chất đối kháng Do địa
vị kinh tế, do mối quan hệ đối với t liệu sản xuất (TLSX) của các giai cấpkhác nhau, đối kháng nhau, nên sự tồn tại của mâu thuẫn và đấu tranh trongCSHT là điều không thể tránh khỏi
Cơ sở hạ tầng của xã hội đang trong thời kỳ quá độ, trong điều kiệntồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhauthì tính chất của nó phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế ,phụ thuộc vào tỷ trọng của chúng Đặc trng chung của CSHT quá độ là kếtcấu kinh tế đa thành phần, tính chất đan xen, quá độ Kết cấu đó làm cho nềnkinh tế vừa sống động, vừa phong phú lại vừa phức tạp, vừa đấu tranh lại vừahợp tác giữa các thành phần kinh tế Tuy nhiên, trong điều kiện đó thànhphần kinh tế đóng vai trò chủ đạo sẽ chi phối các thành phần kinh tế khác,tác động trực tiếp đến xu hớng chung của toàn bộ đời sống xã hội, thực hiện
sự định hớng cho nền kinh tế
Nh vậy, CSHT là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấukinh tế của một xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng bao giờ cũng có cấu trúcphức tạp, nhất là trong điều kiện mang tính chất quá độ, đan xen nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau Và bao giờ, trong mỗi giai
đoạn lịch sử - xã hội nhất định luôn có một thành phần kinh tế đóng vai tròchủ đạo chi phối, quy định đặc trng cho CSHT của giai đoạn đó
KTTT là toàn bộ những quan điểm, t tởng của xã hội (chính trị, phápquyền, triết học, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật ), những thiết chế tơng ứng
và những quan hệ nội tại của chúng đợc hình thành trên một CSHT nhất định.Tức là các yếu tố của KTTT đều hình thành trên cơ sở của cơ cấu kinh tế củaxã hội, do cơ cấu kinh tế ấy quy định và là sản phẩm của cơ cấu ấy “Cơ cấukinh tế của xã hội lúc nào cũng là cái cơ sở hiện thực là cái xét đến cùng, giảithích toàn bộ thợng tầng kiến trúc là những thể chế pháp luật và chính trịcũng nh những quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệm khác của mỗithời kỳ lịch sử nhất định”3
Mỗi yếu tố của KTTT đều có những đặc điểm riêng, quy luật phát triểnriêng nhng không tách rời nhau, mà liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùngliên hệ với CSHT bởi lẽ chúng đều đợc nảy sinh từ CSHT, phản ánh CSHT.Những bộ phận của KTTT nh Nhà nớc và pháp luật, các đảng phái chính trị
3 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập5 NXB S H 1983, tr 43.
Trang 7và các hệ t tởng chính trị có liên hệ trực tiếp với CSHT, còn các yếu tố khác
nh triết học, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật thì ở xa CSHT và phản ánhCSHT một cách gián tiếp
Cũng nh CSHT, KTTT của xã hội có giai cấp đối kháng là một hệthống có kết cấu hết sức phức tạp, không thuần nhất: bao gồm những quan
điểm, t tởng cùng những thiết chế của giai cấp thống trị, những quan điểmcủa giai cấp bị trị, những quan niệm tồn tại dới dạng tàn d do KTTT của xãhội ở giai đoạn trớc để lại, những quan điểm, tổ chức của các tầng lớp trunggian và cả những quan điểm, những tổ chức của những giai cấp mới đangtrong quá trình hình thành Trong cơ cấu đó, bộ phận chủ yếu chi phối, cótính quyết định tính chất của KTTT ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định chính là
hệ t tởng, quan điểm chính trị và thể chế của giai cấp đang giữ địa vị thốngtrị Giai cấp nào chiếm giữ địa vị thống trị về kinh tế, tức nắm đợc nhữngTLSX chủ yếu của xã hội, thì tất nhiên trong đời sống chính trị và tinh thầngiai cấp ấy cũng chiếm địa vị thống trị Và do đó, tính chất của hệ t tởng củagiai cấp ấy cũng quy định luôn cả tính chất của KTTT trong giai đoạn lịch sử
đó
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, do trong CSHT tồn tại những quan
hệ đối kháng nên KTTT cũng mang tính chất đối kháng Các giai cấp trongxã hội do địa vị của họ trong hệ thống sản xuất của xã hội khác nhau, đốikháng nhau mà cách nhìn nhận của họ đối với đời sống xã hội, những quan
điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, triết học của họ cũng rấtkhác nhau Sự đối kháng đó đợc biểu hiện ở sự xung đột về quan điểm ở cuộc
đấu tranh t tởng của các giai cấp
Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của KTTT của xã hội có đối khánggiai cấp là Nhà nớc - cơ quan quyền lực đặc biệt của xã hội, công cụ sắc béncủa giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý.Chính nhờ có Nhà nớc mà những quan niệm, quan điểm, hệ t tởng của giaicấp thống trị mới trở thành cái thống trị trong toàn bộ đời sống xã hội
CSHT và KTTT là hai mặt cơ bản của đời sống xã hội Giữa chúng cómối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó CSHTgiữ vai trò quyết định
CSHT với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực sản sinh ra KTTT tơngứng, quy định tính chất của KTTT Sự đa dạng, phong phú, phức tạp và sống
động của KTTT chính là sự phản ánh tính đa dạng, phong phú, phức tạp củaCSHT đã sản sinh ra nó Trong tác phẩm "Ngày 18 tháng Sơng mù của Lui
Trang 8Bônapác" C Mác đã viết: "Cả một KTTT, những cảm giác, những ảo tởng,những lối suy nghĩ và quan niệm sống khác nhau và độc đáo đã mọc lên trênnhững hình thức sở hữu khác nhau, trên các điều kiện sinh hoạt xã hội Toànthể giai cấp tạo ra và hình thành nên tất cả những cái đó trên cơ sở những
điều kiện vật chất của mình và trên những quan niệm xã hội tơng ứng" 4 Khi
có những biến đổi căn bản trong CSHT thì sớm muộn cũng dẫn đến nhữngthay đổi căn bản trong KTTT Khi CSHT có thay đổi nhng cha phải là nhữngthay đổi căn bản thì ở KTTT chỉ có những biến đổi mang tính điều chỉnh nhất
định Ta có thể thấy rõ điều này trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa t bảntrong hơn năm thế kỷ qua Hình thức đầu tiên của CNTB là CNTB tự do cạnhtranh Trong hình thức này, TLSX của xã hội đợc "phân chia" cho nhiều chủ
sở hữu với qui mô nhỏ và vừa Các nhà máy xí nghiệp, các quá trình sản xuất
đợc tổ chức theo qui mô phù hợp với hình thức sở hữu đó Khi CNTB tự docạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền, khi CNTB phát triển lên giai
đoạn chủ nghĩa đế quốc với nét đặc trng là sự thống trị của các tổ chức độcquyền thì nền sản xuất xã hội có nhiều biến đổi to lớn: quy mô sản xuất xãhội không còn bó hẹp trong các quy mô nhỏ và vừa Nhờ vào sự tích tụ tậptrung t bản mà các công ty cổ phần, các xí nghiệp khổng lồ ra đời và tiếp sau
đó là những công ty độc quyền quốc gia và xuyên quốc gia Những hình thứcmới của sản xuất xã hội trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa cho thấy tính chấtxã hội hoá của nền sản xuất xã hội đã phát triển đến cao độ và tơng ứng với
nó là hình thức mới của sở hữu t bản - hình thức tập thể Từ những biến đổitrong cơ cấu kinh tế - xã hội đã dẫn đến những biến đổi trong KTTT, đặc biệttrong Nhà nớc - yếu tố cơ bản và quan trọng của KTTT của xã hội có giaicấp Sự thay đổi của Nhà nớc đợc thể hiện từ cách thức tổ chức đến nội dung,tính chất, phơng thức hoạt động trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vựckinh tế Nếu trong giai đoạn tự do cạnh tranh Nhà nớc chỉ tồn tại với t cách
"ngời lính" canh gác cho nền sản xuất TBCN, cho chế độ t hữu t bản chủnghĩa nhỏ và vừa thì chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, do nhữngbiến đổi trong nền sản xuất xã hội, do những biến đổi trong chế độ sở hữu và
do đó trong sự phân công lao động xã hội cũng nh phân phối những sản phẩm
do xã hội tạo ra mà Nhà nớc ngày càng can thiệp sâu hơn vào kinh tế ở giai
đoạn này t bản tài chính đã cấu kết với bộ máy Nhà nớc, biến Nhà nớc thànhcông cụ riêng của các tập đoàn t bản tài chính và làm cho Nhà nớc trở thànhNhà nớc độc quyền Nh vậy, các yếu tố của KTTT, đặc biệt là Nhà nớc, với t
4 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, Tập2 NXB S H 1981 tr 424
Trang 9cách là cơ quan quyền lực đặc biệt của tổ chức chính trị xã hội, là yếu tố cơbản của KTTT của xã hội có giai cấp, đã có những biến đổi to lớn Nhà nớc
từ chỗ đứng ngoài nền sản xuất xã hội đã trở thành một chủ sở hữu, một nhàsản xuất kinh doanh Dù có những biến đổi to lớn nh vậy, nhng xét về bảnchất giai cấp, chức năng cơ bản thì Nhà nớc ấy vẫn là Nhà nớc của giai cấp tsản, là ngời bảo vệ cho quyền sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa
KTTT ra đời từ CSHT, bị quy định bởi CSHT tơng ứng nhng nó khôngphải là sản phẩm hoàn toàn thụ động Trong đời sống xã hội, KTTT luôn tác
động mạnh mẽ đến CSHT Trong th gửi Joseph Bloch ở Komigsbog, Ph
Ăngghen viết: "Theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định lịch sử,xét đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Chúng ta
tự làm nên lịch sử của chúng ta, nhng trớc hết là với những tiền đề và trongnhững tiền đề và điều kiện ấy thì chính những điều kiện kinh tế giữ vai tròcuối cùng Nhng những tiền đề và điều kiện chính trị và tất cả cái truyềnthống đang ám ảnh đầu óc con ngời cũng đóng một vai trò, tuy không phảiquyết định "5 Bốn năm sau đó, năm 1894, Ăngghen đã nhắc lại một cách cụthể hơn luận điểm trên trong th ông viết cho W Borgius ở Breslau: "Sự pháttriển về mặt chính trị, pháp luật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật dựa vào sựphát triển kinh tế Nhng tất cả những sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau
và cùng tác động đến cơ sở kinh tế Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế
là nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ
động"6
Sự tác động mạnh mẽ của KTTT đến CSHT thể hiện rõ nét nhất ở sựtác động của chính trị, của Nhà nớc đối với kinh tế
Theo Ăngghen, với t cách là một cơ quan quyền lực của xã hội, Nhà
n-ớc có trong tay một loạt các công cụ thuế khoá, chính sách buôn bán để tác
động vào kinh tế Bằng những thứ đó, "tác động ngợc lại của quyền lực Nhànớc đối với sự phát triển của kinh tế có thể có ba loại: nó có thể tác động theocùng một hớng với sự phát triển kinh tế, lúc đó sự phát triển kinh tế sẽ nhanhhơn; nó có thể đi ngợc lại hớng phát triển kinh tế, và trong trờng hợp này, ởcác dân tộc lớn, nó sẽ tan vỡ sau một thời gian nhất định, hay là nó có thểngăn cản một vài xu hớng phát triển nào đấy của nền kinh tế và quy địnhnhững hớng phát triển khác Trong trờng hợp này rốt cuộc rồi cũng dẫn đếnmột trong hai trờng hợp trên"7
5 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S H 1981 tr 726-727.
6 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S H 1981 tr 788
7 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S H 1981 tr 734
Trang 10Vì sao Nhà nớc lại có thể tác động đến sự phát triển của kinh tế theonhiều chiều hớng khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau nh vậy?
Hiện tợng đó có nhiều nguyên nhân mà trớc hết là từ nguồn gốc xuấthiện của Nhà nớc Cũng nh các yếu tố khác của KTTT, Nhà nớc xuất hiện từnhững nguyên nhân kinh tế Khác với một số yếu tố khác nh đạo đức, tôngiáo, nghệ thuật Nhà nớc chỉ xuất hiện trong một giai đoạn phát triển lịch
sử nhất định của nền sản xuất xã hội Trong "Nguồn gốc của gia đình, củachế độ t hữu và của Nhà nớc" Ph Ăngghen đã khẳng định rằng Nhà nớc làmột hiện tợng lịch sử Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có Nhà nớc,lúc đó các quan hệ xã hội và ngay cả xã hội nữa, kỷ luật, tổ chức lao động
đều duy trì đợc là nhờ có sức mạnh của phong tục, tập quán, nhờ có uy tín và
sự kính trọng đối với những bộ não của thị tộc, hoặc đối với phụ nữ - địa vịcủa phụ nữ không chỉ ngang với nam giới mà còn cao hơn nữa và lúc đókhông có một hạng ngời riêng biệt, hạng ngời chuyên môn thống trị Sở dĩ ở
đây cha có Nhà nớc là vì nền sản xuất của xã hội còn rất thấp kém Vớinhững công cụ lao động hết sức thô sơ: cái que, cái gậy, viên đá , với chế độcông hữu, đất đai là tài sản của toàn thể bộ lạc, tất cả mọi thành viên của toànthể bộ lạc phải tham gia vào quá trình lao động sản xuất, làm chung, ănchung, không có của cải d thừa để tích luỹ, để dành
Tuy nhiên, cũng nh mọi sự vật, hiện tợng trong thế giới, xã hội không
đứng im, ngng trệ mà nó luôn trong quá trình vận động, biến đổi và pháttriển Sự vận động, biến đổi, phát triển của xã hội bắt nguồn từ trong quátrình sản xuất vật chất Xã hội loài ngời từ chỗ sử dụng những công cụ có sẵntrong tự nhiên hoặc qua sơ chế đến chỗ biết sử dụng những công cụ bằng kimloại Chính việc sử dụng những công cụ lao động mới này đã làm cho nền sảnxuất xã hội phát triển, của cải đợc tạo ra ngày một nhiều hơn, phong phú hơn,kinh nghiệm lao động đợc tích luỹ nhiều hơn, phân công lao động xã hội đợcthực hiện: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Nhờ vậy khả năng phát triển kinh tế
độc lập của mỗi gia đình trong bộ lạc hình thành và trên thực tế đã xuất hiệngia đình theo chế độ gia trởng Gia đình là một nhóm làm kinh tế bao gồmnhiều thế hệ con cháu của ông tổ Họ sống chung với nhau và cùng lao động,cùng sử dụng của cải chung dới sự quản lý của ngời chủ gia đình Sự xuấthiện gia đình theo chế độ gia trởng đã làm rạn nứt chế độ thị tộc và gia đìnhriêng lẻ đã trở thành lực lợng đối lập với thị tộc Về vấn đề này, sau khinghiên cứu về chế độ thị tộc Hi Lạp, Ph Ăngghen đã viết: "Nh vậy, trong chế
độ Hy Lạp ở thời đại anh hùng, chúng ta thấy tổ chức thị tộc cổ đang còn tồn
Trang 11tại hoàn toàn sung sức, nhng đồng thời chúng ta cũng thấy chế độ ấy đã bắt
đầu suy sụp Chế độ phụ quyền, với việc để lại tài sản cho con cái đã tạo
điều kiện thuận lợi cho sự tích luỹ của cải trong gia đình và biến gia
đình thành một thế lực đối lập với thị tộc"8
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, lao động của một ngời
đã tạo ra lợng của cải nhiều hơn mức cần thiết để duy trì cuộc sống của chínhbản thân họ Do vậy, xuất hiện những điều kiện vật chất cho sự chiếm đoạt ra
đời Một nhóm ngời trong thị tộc đã sử dụng quyền lực của mình - quyền lực
mà thị tộc đã giao cho họ một cách tự nguyện trớc đây để điều hành sự hoạt
động của thị tộc làm công cụ để chiếm đoạt những đất đai mầu mỡ, những
đàn gia súc đông đúc, những chiến lợi phẩm thu đợc trong chiến tranh làmcủa riêng, để bảo vệ những lợi ích riêng của mình và đồng thời để bắt nhữngngời khác trong cộng đồng phaỉ phục tùng họ Thứ quyền lực ấy, lúc này trởthành vật cha truyền con nối và ngày càng mạnh lên sau những cuộc chiếntranh Các cơ quan quyền lực xã hội của thị tộc trớc đây nh Hội đồng bộ lạc
và các thủ lĩnh quân sự dần dần tách khỏi dân c, biến thành các cơ quanthống trị bộ lạc mình và các bộ lạc khác Một nhóm ngời thân cận, tin cậy đ-
ợc hình thành bên cạnh ngời cầm đầu thị tộc bộ lạc Lúc đầu họ chỉ là những
vệ binh, dần về sau họ đợc hởng những đặc quyền đặc lợi và đó chính là mầmmống của đội quân thờng trực của Nhà nớc sau này
Nh vậy là trong đời sống kinh tế - xã hội đã xảy ra những biến đổi vôcùng to lớn Tổ chức xã hội thị tộc đã tỏ ra bất lực trớc những thay đổi đó
Tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn nội tại và
nó chỉ có thể thích hợp với kiểu xã hội ấy mà thôi Trong xã hội đó, ngoài dluận xã hội ra không có bất kỳ một phơng tiện cỡng chế nào cả, mọi quyềnlực đợc thực thi một cách tự nguyện, tự giác Nhng cho đến đây "một xã hộimới đã ra đời, một xã hội do toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tạicủa nó mà phải chia ra thành những ngời tự do và nô lệ, thành những kẻ giàu
có đi bóc lột và những ngời nghèo khổ bị bóc lột, một xã hội không nhữngkhông thể điều hoà lại một lần nữa những mặt đối lập đó, mà còn buộc phải
đẩy chúng đi đến chỗ ngày càng găy gắt Tổ chức thị tộc đã không còn tồntại nữa Nó đã bị sự phân công ấy tức là sự phân chia của xã hội thành giaicấp, phá tan Nó đã bị Nhà nớc thay thế"9
Và thế là Nhà nớc đã xuất hiện từ ngay chính trong lòng xã hội do sựphát triển của bản thân xã hội, do nhu cầu cần thiết phải ổn định xã hội để
8 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S H 1984 tr 168
9 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S H 1984 tr 258-259.
Trang 12tồn tại và phát triển Tuy nhiên, sự xuất hiện của Nhà nớc ở các nớc khácnhau trên thế giới là khác nhau do những điều kiện kinh tế, xã hội và môi tr-ờng khác nhau Trong "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và của Nhànớc" Ăngghen phân tích sự ra đời của Nhà nớc chiếm hữu nô lệ ở ba trungtâm lớn: Aten, Rôma và của ngời Giécmanh Theo đó, ở mỗi trung tâm, sựhình thành Nhà nớc có những nét đặc trng riêng ở Aten, theo Ăngghen, nơi
đã hình thành Nhà nớc dới hình thức thuần tuý nhất, cổ điển nhất, Nhà nớc
"nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp đã phát triển ngay trongnội bộ thị tộc" ở Rôma sự thắng lợi của giới bình dân trong cuộc đấu tranhchống tầng lớp quý trộc của thị tộc đã dẫn đến sự hình thành Nhà nớc Còn
đối với ngời Giécmanh "Nhà nớc nảy sinh trực tiếp từ việc chinh phục những
đất đai rộng lớn của ngời khác"
Sự hình thành Nhà nớc ở phơng Đông và phơng Tây cũng có những nétcơ bản khác nhau Nếu nh ở phơng Tây Nhà nớc thờng hình thành trực tiếp từnhu cầu điều chỉnh xung đột giai cấp đã trở nên gay gắt không thể điều hoà
đợc bằng các tổ chức thị tộc, thì ở phơng Đông, bên cạnh cơ sở phân hoá xãhội là tiền đề vật chất không thể thiếu đợc, "nhân tố thuỷ lợi và bảo vệ, bảnthân nó không thể sản sinh ra Nhà nớc, nhng nó có thể thúc đẩy quá trìnhhình thành Nhà nớc và quy định thêm tính chất, chức năng của Nhà nớc
đó."10 Đặc điểm chung đó trong sự hình thành Nhà nớc ở phơng Đông cũng
có ở Việt Nam, hơn nữa ở Việt Nam đặc điểm đó còn để lại dấu ấn sâu đậmtrong quá trình lịch sử về sau Các nhà sử học Việt Nam đã khẳng định: "yêucầu tự vệ chống giặc ngoại xâm cùng với yêu cầu thuỷ lợi của nền kinh tếnông nghiệp đã có tác động rất mạnh vào quá trình hình thành Nhà nớc đầutiên trong lịch sử Việt Nam Nhà nớc đó ra đời có phần sớm hơn so với điềukiện chín muồi của sự phân hoá xã hội" 11
Nh vậy, dù xuất hiện ở đâu, vào thời điểm nào, dới hình thức nào vàmang những đặc điểm cụ thể gì thì Nhà nớc quyết không phải là một quyềnlực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội Nhà nớc là sản phẩm của một xã hội đãphát triển tới một giai đoạn nhất định và tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cảmọi bạo lực chính trị đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phơng thứcsản xuất và trao đổi của xã hội nhất định trong lịch sử 12 Nhà nớc ra đời từ sựphát triển của kinh tế, do sự phát triển của kinh tế quy định Đó là nguyên lýbất di bất dịch Vì vậy, chính ở đây, khi phân tích nguồn gốc của Nhà nớc
10 Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà nội 1991, tr.87.
11 Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà nội 1991, tr.93.
12 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S H 1984 tr 260.
Trang 13chúng ta đã thấy ngay rằng trong bản thân nó đã chứa đựng chức năng điềutiết kinh tế, đã bao hàm khả năng tác động đến kinh tế Theo nghĩa đó V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế" 13, "là kinh tếcô đọng lại"14 và "bạo lực (nghĩa là quyền lực Nhà nớc) cũng là một tiềm lựckinh tế"15.
Thứ hai: Bất kỳ Nhà nớc nào trong lịch sử cũng mang bản chất giaicấp Mọi hành vi hoạt động của Nhà nớc đều do bản chất giai cấp quy định
Trên đây chúng ta đã rút ra kết luận cơ bản là Nhà nớc ra đời từnguyên nhân kinh tế, nó là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp không thể điềuhoà đợc trong xã hội có đối kháng giai cấp Ra đời trong xã hội đó, Nhà nớc
là bộ máy bạo lực dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với cácgiai cấp khác, là công cụ để bảo vệ quyền lợi mà trớc hết là quyền lợi kinh tếcủa giai cấp thống trị "Nhà nớc là Nhà nớc của giai cấp có thế lực nhất, củacái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có Nhà nớc, mà cũng trở thànhgiai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm đợc những phơng tiệnmới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức"16
Xuất hiện trong xã hội có đối kháng giai cấp, với t cách là "một lực ợng tựa hồ nh đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữcho sự xung đột đó nằm trong vòng "trật tự"17 nhng Nhà nớc cha bao giờ vàkhông bao giờ trong lịch sử xã hội có giai cấp lại không mang bản chất giaicấp Nhà nớc điều hoà xung đột giai cấp, đảm bảo cho xã hội loài ngời có thểtồn tại đợc, nhng sự điều hoà đó diễn ra trong khuôn khổ lợi ích và phù hợpvới ý chí của giai cấp thống trị Điều đó đúng với xã hội chiếm hữu nô lệ,phong kiến và cả xã hội t sản Trong "Vấn đề về nhà ở", khi đề cập tới Nhànớc t sản, Ăngghen đã viết: "Nhà nớc không phải là cái gì khác hơn là quyềnlực tổng hợp có tổ chức của những giai cấp hữu sản, những địa chủ và nhữngnhà t bản, đối lập với những giai cấp bị bóc lột, những nông dân và côngnhân Điều gì mà cá nhân những nhà t bản không muốn thì Nhà nớc của họcũng không muốn"18
l-Nhà nớc mang bản chất giai cấp, l-Nhà nớc là bộ máy thống trị của giaicấp thống trị về kinh tế, là công cụ dùng để bảo vệ lợi ích của giai cấp thốngtrị Cho nên, trong mọi trờng hợp, nếu bất kỳ một lực lợng xã hội nào, một xuthế phát triển nào của lịch sử, bất luận xu thế đó có phù hợp với tiến trình
13 V.I Lênin, Toàn tập, tập42, NXB tr 349.
14 V.I Lênin, Toàn tập, tập45, NXB tr.147.
15 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S H 1984 tr.739.
16 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S H 1984 tr
17 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI NXB S H 1984 tr.260-261.
18 C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập18, NXB CTQG- S H 1995 tr.352.
Trang 14phát triển khách quan của lịch sử đi chăng nữa thì giai cấp thống trị vẫn sửdụng Nhà nớc để chống lại chúng, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp mình.Chính điều đó lý giải vì sao khi tác động vào kinh tế Nhà nớc lại có thể làmcho nó vận động tiến lên theo hớng này hay hớng khác, thậm chí thụt lùi.
Thứ ba: Sau khi ra đời Nhà nớc đã thực hiện những chức năng nhất
định- chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Chức năng đối nội của Nhà nớc là sự thể hiện quyền lực của nó trongmọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Trong đó Nhà nớc có hai chức năng sau:Một là, chức năng chuyên chính, trấn áp, bảo vệ sự tồn tại của Nhà nớc, bảo
vệ lợi ích căn bản của giai cấp thống trị khỏi mọi sự tấn công từ phía giai cấp
bị thống trị và các tầng lớp khác trong xã hội Hai là, chức năng tổ chức xâydựng xã hội tạo nên một trật tự xã hội nhất định để xã hội có thể tồn tại vàphát triển đợc: duy trì trật tự xã hội, quản lý về kinh tế, giáo dục, văn hoá
Chức năng đối ngoại, thể hiện ở quan hệ của Nhà nớc đối với các quốcgia khác trên trờng quốc tế Trong chức năng này, tuỳ thuộc vào điều kiệnlịch sử cụ thể mà Nhà nớc có thể:
+ Bảo vệ đất nớc, chống mọi sự tấn công và xâm lợc từ bên ngoài;+ Mở rộng lãnh thổ bằng cách phát động chiến tranh xâm lợc;
+Thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác trên nguyên tắc các bên tham giacùng có lợi đồng thời bảo đảm đợc an ninh, chủ quyền của mỗi quốc gia
Các chức năng đối nội và đối ngoại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
và cùng bị chi phối bởi lợi ích cuả giai cấp cầm quyền Nghĩa là các hoạt
động diễn ra trên hai lĩnh vực đó đều là những hoạt động có định hớng, phản
ánh ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị Tuy nhiên, khẳng định nh vậy không
có nghĩa là trong mọi Nhà nớc đều không có sự kết hợp giữa những hoạt
động thể hiện lợi ích giai cấp với những hoạt động thể hiện lợi ích chung củatoàn xã hội Khi nghiên cứu lịch sử, ngời ta thấy bất kỳ Nhà nớc nào cũng
đều phải thực hiện những chức năng chung - những chức năng đảm bảo lợiích chung cho toàn xã hội Những chức năng này xuất hiện do sự phát triểncủa sản xuất, do yêu cầu của phân công lao động xã hội Tính chất giai cấp
và tính chất xã hội hoà quện vào nhau và cùng tham gia quy định hoạt độngcủa Nhà nớc Vì "ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chínhtrị; và sự thống trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xãhội của nó"19
19 C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập20, NXB CTQG H 1984 tr.253.
Trang 15Nhấn mạnh mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nớcthể hiện qua các chức năng nh trên không có nghĩa là đi đến xoá bỏ tính giaicấp của nó Nhà nớc đã, đang và sẽ mang tính giai cấp Mọi hoạt động củaNhà nớc, xét đến cùng đều do lợi ích giai cấp chi phối Nếu sự khác biệt lợiích trong xã hội mất đi, nếu "Nhà nớc thực sự trở thành đại biểu của toàn thểxã hội thì bản thân nó trở thành thừa"20, thì Nhà nớc cũng sẽ không tồn tại với
t cách là Nhà nớc nữa Điều đó một lần nữa giải thích vì sao sự tác động củaNhà nớc đến kinh tế, đến CSHT lại phong phú, đa dạng, phức tạp đến nh vậy
đồng thời giải thích vì sao Nhà nớc lại có thể hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm
sự phát triển của kinh tế
Sự tác động của Nhà nớc đến CSHT kinh tế đã diễn ra trong suốt chiềudài lịch sử kể từ khi nó xuất hiện đến nay
Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, do những nguyên nhân kinh tế mà Nhànớc chiếm hữu nô lệ đã ra đời Ngay sau khi ra đời, Nhà nớc chiếm hữu nô lệ,dới sự cầm quyền của Sôlông, Cli-xten chẳng hạn, đã dùng quyền lực thực thinhiều biện pháp khác nhau nhằm một mặt xoá bỏ tàn tích của xã hội cộngsản nguyên thuỷ, mặt khác tạo dựng củng cố và phát triển xã hội chiếm hữunô lệ
Sôlông (khoảng 638 - 558 trớc công nguyên) đợc coi là một nhà cảicách vĩ đại Theo sự đánh giá của các nhà sử học, cải cách của ông đã làmthay đổi hẳn chế độ chính trị và xã hội cũ của Aten, đánh đòn nặng nề vàotàn tích của chế độ thị tộc và sự thống trị của giai cấp quý tộc, tạo điều kiệncho sự phát triển của chế độ t hữu, đặt cơ sở cho nền dân chủ chủ nô Aten21.Sôlông đã làm những gì? Trớc tiên ông "xâm phạm chế độ sở hữu" bằng cáchtuyên bố xoá bỏ mọi nợ nần, giải phóng cho những ngời bị buộc phải làm nô
lệ vì nợ nần, quy định mức sở hữu ruộng đất, tức là đem lại quyền sở hữucho những ngời nông dân Liền sau đó ông thực hành một loạt những biệnpháp kinh tế và tác động khác nhằm khuyến khích và thúc đẩy sự phát triểncủa thủ công nghiệp, thơng nghiệp nh cải cách chế độ tiền tệ, thừa nhậnquyền tự do di sản cho bất kỳ ai theo ý muốn (trớc đó tài sản của ngời quá cốthuộc quyền sở hữu của thị tộc của ngời đó) Cải cách quan trọng nhất củaSôlông là nhằm vào thủ tiêu những đặc quyền đặc lợi của quý tộc, xác định
địa vị của mỗi công dân theo mức tài sản của họ Với những nội dung đó, cảicách của Sôlông đã giáng đòn chí tử vào chế độ cộng sản nguyên thuỷ, vào
20 C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập20, NXB CTQG H 1984 tr.389.
21 Chiêm Tế, lịch sử thế giới cổ đại, T2, NXB GD, H 1971, tr.40.
Trang 16cái xã hội đã sinh ra nó tức chế độ công hữu, đa chế độ t hữu - cơ sở kinh tếcủa xã hội chiếm hữu nô lệ vào cuộc sống, tạo điều kiện cho sự hình thành
và phát triển vững chắc của xã hội chiếm hữu nô lệ
Tuy vậy, những cải cách của Sôlông đã không thủ tiêu đợc hoàn toànnhững tàn tích của chế độ thị tộc: chế độ sở hữu lớn cũng nh những ảnh hởngchính trị của tầng lớp quý tộc vẫn còn chiếm u thế; việc chia lại ruộng đấtcho nông dân cũng đã không thực hiện đợc Cuộc cải cách của Sôlông khôngtriệt để Sự xoá bỏ hoàn toàn những cơ sở, điều kiện của xã hội thị tộc, củaphơng thức sản xuất cũ phải chờ đến cải cách của Cli-xten
Vừa lên cầm quyền, Cli-xten liền thực hành ngay một loạt cải cách màtính chất của nó, theo Ăngghen, là cách mạng Trong "Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ t hữu và của Nhà nớc" Ăngghen viết: "Cuộc cách mạng củaCli-xten (509 trớc công nguyên) lật đổ hẳn họ [tầng lớp quý tộc] đồng thờilại lật đổ cả tàn tích cuối cùng của chế độ thị tộc nữa"22 Sở dĩ đợc đánh giácao nh vậy là vì Cli-xten đã phân chia tất cả công dân Aten theo những khuvực hành chính Bằng cách đó, ông đã xoá bỏ đợc sợi dây cuối cùng níu kéo
sự tồn tại của xã hội thị tộc: sợi dây huyết thống - sợi dây vốn đã không bềnchặt, vì cái cơ sở kinh tế của nó - một cơ sở kinh tế mang tính thuần nhất chỉdựa trên chế độ công hữu, đã bị xâm phạm bởi các cải cách của Sôlông trớc
đó Cuộc cải cách của Cli-xten đã làm thay đổi toàn bộ xã hội Aten từ cơ cấucủa bản thân chính quyền Nhà nớc cho đến đời sống kinh tế xã hội, đã làmtạo ra một xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình
Nh vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà nớc chiếm hữu nô lệ đã bằng quyềnlực để thực hiện cải cách nhằm một mặt xoá bỏ mối quan hệ, các tàn tích củaxã hội cộng sản nguyên thuỷ, mặt khác thiết lập nên cơ sở kinh tế cho xã hộimới - xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ t hữu
Sau khi đã thiết lập đợc cơ sở kinh tế vững chắc cho sự tồn tại của xãhội chiếm hữu nô lệ, Nhà nớc chủ nô lại tiếp tục sử dụng quyền lực của mìnhcan thiệp vào đời sống kinh tế xã hội Pháp luật quy định nô lệ phải làm việc,không đợc phản đối (pháp luật cổ đại Trung quốc), nếu nô lệ không vâng lời
có thể bị cắt tai, nô lệ bỏ trốn thì bản thân và những ngời che dấu cho họ bị
xử tử hình (luật Hăm Murabi), nô lệ ốm đau thì chủ nô đợc phép bỏ cho chếtdần, nô lệ bỏ chốn thì những ngời trong gia đình bị xử tử hình (luật La mã)
Đồng thời pháp luật cũng đảm bảo cho tính tuyệt đối của quyền t hữu đối vớinô lệ và mọi tài sản khác của chủ nô, quyền cha truyền con nối nô lệ và
22 C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, TậpVI, NXB S H 1984 tr.182.
Trang 17những tài sản đó (luật La Mã) chống lại mọi sự xâm phạm quyền t hữu đóbằng các hình phạt nh tử hình đối với tôị ăn cắp hoa quả (luật Paracông thế
kỷ thứ VII trớc công nguyên) bị đối xử nh nô lệ đối với những ngời tự dophạm tội ăn cắp và bị giết chết sau khi bị hành hạ đối với nô lệ phạm cùng tội
ăn cắp (luật La mã) Và do vậy, đơng nhiên là ở đó luật pháp cũng đảm bảocho tính tuyệt đối của quyền chiếm hữu toàn bộ của caỉ vật chất do sức lao
động của nô lệ tạo ra
Sự can thiệp của Nhà nớc trong xã hội CHNL đối với kinh tế nh vậy làmang tính gián tiếp ở đây, Nhà nớc không can thiệp trực tiếp vào quá trìnhsản xuất kinh doanh, không tham gia vào việc quy định sản xuất cái gì, sảnxuất nh thế nào, cần tạo ra bao nhiêu sản phẩm và sản xuất cho ai; Nhà nớc,bằng cách ban bố pháp luật, kiểm tra giám sát việc thi hành luật pháp mà tạo
ra môi trờng cho quá trình sản xuất Đơng nhiên, để đảm bảo cho các hoạt
động của mình đợc diễn ra, Nhà nớc cũng buộc các chủ nô phải có những
đóng góp nhất định
Trong xã hội CHNL, vào thời kỳ hình thành và phát triển sự tác độngcủa Nhà nớc đối với kinh tế bằng hình thức trên đã tạo điều kiện cho nền sảnxuất xã hội Nhng càng về sau, nhất là vào khoảng thế kỷ thứ II, thứ III, cũngchính sự can thiệp của của Nhà nớc, cũng chính môi trờng pháp lý mà Nhà n-
ớc đã tạo ra cho nền kinh tế lại trói buộc sự phát triển của lực lợng sản xuất,
đã tạo ra một lực lợng sản xuất với tính chất và trình độ hết sức đơn giản, vớinhững ngời lao động chây ì, chậm chạp, lời biếng và những công cụ lao độngnặng nề thô kệch (để đối phó với sự phá hoại của nô lệ) Những ngời chủ nô
sử dụng nô lệ để tiến hành lao động sản xuất nhng không hề quan tâm đếnviệc cải tiến phơng pháp canh tác Chủ nô chiếm đoạt toàn bộ thành quả lao
động của nô lệ nhng không đảm bảo việc cung cấp những t liệu sinh hoạt tốithiểu cho họ Tình trạng ngợc đãi nô lệ, xem họ nh những công cụ biết nói,
nh trâu ngựa, dùng roi vọt cỡng bức họ làm việc đã không thể làm cho năngsuất lao động nâng lên "Nô lệ đãlàm cho năng suất ruộng đất giảm sútnghiêm trọng Họ bị cỡng bách làm việc nh trâu ngựa và sống một cuộc đờikhổ ải không khác gì loài vật Họ cày cấy bừa bãi, khi gieo hạt họ cố ý gieolung tung, làm lãng phí rất nhiều hạt giống; họ gặt lúa đem về sân nhà chủ
mà không chú ý xem lúa đã chín cha Thậm chí trong khi gánh lúa về nhàchủ, họ tìm cách thu giấu lúa đi hoặc cố ý làm làm rơi vãi lúa ở dọc đờng"23
Để cứu vãn tình thế đảm bảo cho sự tồn tại của mình, dần dần các chủ nô đã
23 Chiêm Tế, LSTG cổ đại, t2, tr 220.
Trang 18cấp nhà, giao đất, nông cụ, súc vật kéo, giống má cho nô lệ và sau mỗi vụ
họ lại thu một phần lớn hoa lợi cho chủ Bằng cách đó nô lệ đã biến thành lệnông
Tuy nhiên, sự ra đời của chế độ lệ nông cũng không làm cho PTSXchiếm hữu nô lệ phục sinh, không làm cho lực lợng sản xuất phát triển Sovới những ngời nô lệ, lệ nông có một chút tự do hơn và do đó có tinh thần tựnguyện sản xuất hơn Nhng những ngời lệ nông, về mặt pháp lý vẫn là nô lệ,
về kinh tế họ bị trói chặt vào mảnh đất mà chủ nô giao cho, và "nói đúng ra,
họ không phải là ngời nô lệ, nhng cũng không phải là ngời tự do" Hơn nữa,
dù có thay đổi trong cách quản lý tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩmcủa quá trình sản xuất để phơng thức sản xuất CHNL có những biểu hiện
"phục sinh", nhng bằng sức mạnh của mình, Nhà nớc lại can thiệp quá thôbạo vào khâu phân phối, bắt lệ nông phải đóng su cao thuế nặng, đóng gópsức ngời sức của phục vụ cho bộ máy quan liêu ngày càng phình to và sự tiêusài hoang phí của nó, cho nên những biểu hiện "phục sinh" đó cũng qua đinhanh chóng để lại đằng sau nó những cánh đồng hoang hoá, những thành thịtiêu điều, nền kinh tế xác xơ Xã hội CHNL lâm vào khủng hoảng Xã hộiphong kiến ra đời thay thế nó
Sự tan rã một cách mau chóng của xã hội CHNL và sự hình thành xãhội phong kiến diễn ra chủ yếu nhờ những biến đổi to lớn xảy ra trong đờisống kinh tế, chủ yếu biểu hiện ở ba mặt sau:
- Lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội
- Nông nô hoá giai cấp nông dân
- Trang viên hoá nền kinh tế
Những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội châu Âu thời kỳ
đó sở dĩ diễn ra nhanh chóng là vì Nhà nớc đã ban hành và thực hiện một loạtnhững chính sách khác nhau mà tiêu biểu là chính sách phân phong ruộng đất
từ thời Saclơ Mácten thế kỷ VII đến Saclơmanhơ thế kỷ IX ở xứ Gôlơ Khácvới chế độ phong tặng ruộng đất trớc kia, chính sách phân phong ruộng đấtcủa Saclơ Mácten là chính sách ban cấp ruộng đất có điều kiện Ruộng đấtban cấp chỉ đợc sử dụng hết đời chứ không đợc truyền cho con cháu Nhngsang đến thế kỷ IX, dới thời Saclơmanhơ, do kết quả của chiến tranh chinhphục mà chính sách ban cấp ruộng đất có phần lới rộng hơn Ngời đợc nhận
đất ban cấp với diện tích rộng hơn, đợc phép truyền cho con cháu Nhờ vậy
mà giai cấp phong kiến đợc hình thành ngày một đông đảo hơn
Trang 19Sự tác động của Nhà nớc vào kinh tế không chỉ thấy ở La mã, Gôlơ thờ
cổ, trung đại mà còn thấy phổ biến ở các nơi khác ở phơng Đông, ngay từthời cổ đại, sự can thiệp, tác động của Nhà nớc vào kinh tế có phần sâu sắchơn Do phải chịu nhiều tác động của thiên tai, chiến tranh xâm lợc, các cộng
đồng ngời ở phơng Đông phải thờng xuyên tập hợp, đoàn kết lực lợng đểchống thiên tai, ngoại xâm Lực lợng đảm nhiệm công việc tổ chức cộng
ở Việt Nam, sự can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế diễn ra rất sớm Từthời Hùng Vơng dựng nớc, thời kỳ mà theo các nhà sử học, Nhà nớc còn
đang trong hình thức phôi thai, sự can thiệp của Nhà nớc Việt Nam vào kinh
tế đã rõ nét Nhà nớc giữ vai trò chỉ huy xây dựng các công trình công cộng
nh đắp đê chống lũ, xây dựng hệ thống kênh ngòi, làm đờng sá Từ sau khinhân dân ta giành đợc độc lập và bắt tay vào xây dựng quốc gia phong kiến
độc lập, sự can thiệp của Nhà nớc vào quá trình kinh tế đã góp phần giảiphóng sức sản xuất (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp), tạo điều kiện choquan hệ sản xuất phong kiến ra đời
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần
và Lê sơ đều tập trung sự chú ý của mình vào vấn đề ruộng đất, cơ sở quantrọng nhất của phơng thức sản xuất phong kiến Trớc đó, ruộng đất ở ViệtNam tồn tại dới hai hình thức chủ yếu: đất công thuộc quyền sở hữu của Nhànớc và đất t thuộc quyền sở hữu của t nhân Các triều đại phong kiến nói trên
đã đa ra những chính sách làm thay đổi mối quan hệ của hai hình thức sở hữunày
Nhà Đinh đã thực hiện chế độ phong cấp ruộng đất-chế độ ban thởngruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nớc cho các quan lại, quý tộc, ngời có
Trang 20công với triều đình Sang thời Lý, Lê chính sách này có những thay đổi cănbản Thời Lý, ruộng phong cấp đợc chia làm hai loại: ruộng thực ấp và thựcphong Ruộng thực phong ràng buộc ngời dân ở đó với quý tộc, còn ruộngthực ấp không chỉ ràng buộc dân với quý tộc mà còn ràng buộc họ với Nhà n-
ớc Do vậy, thời Lý ruộng thực ấp đợc chú ý hơn Thời Trần, chính sáchphong cấp ruộng đất phát triển theo hớng có lợi cho sự ra đời chế độ t hữuruộng đất Ruộng đất phân phong không còn chia làm hai loại nh trớc mà đợchiểu nh chế độ thực phong thời Lý Chính vì vậy mà nhiều thái ấp của quýtộc Trần ra đời Bên cạnh việc phong thái ấp, nhà Trần còn cho phép vơnghầu, quý tộc chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập điền trang Khác với cácthái ấp, các điền trang thuộc quyền sở hữu của quý tộc
Cuối thời Trần, điền trang, thái ấp đều đợc mở rộng, nhiều nông dânbiến thành nông nô, nô tỳ chịu sự áp bức bóc lột nặng nề Quan hệ nông nô,nô tỳ lúc đó đã đi ngợc lại xu thế phát triển của sản xuất xã hội do vậy đãkìm hãm sức sản xuất, đẩy nhà Trần lâm vào khủng hoảng kinh tế chính trị
và đi đến sụp đổ Sự sụp đổ của nhà Trần là một bằng chứng lịch sử cho thấyvai trò quyết định của kinh tế trong mối quan hệ với Nhà nớc, đồng thời chothấy khi Nhà nớc tác động ngợc với xu thế phát triển khách quan của kinh tế
- xã hội thì sớm hay muộn nó cũng sẽ bị diệt vong
Nhà Hồ thay thế nhà Trần, Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách "hạn
điền" và "hạn nô" Với chính sách này chế độ điền trang thái ấp, nông nô, nô
tỳ vẫn đợc thừa nhận nhng số điền trang, thái ấp, nông nô, nô tỳ của quý tộcTrần đã chuyển sang tay Nhà nớc Bằng cách đó nhà Hồ mong muốn tăngquyền lực kinh tế, chính trị của mình lên Tuy nhiên, về thực chất, chính sách
"hạn điền", "hạn nô" không góp phần giải phóng sức sản xuất đang bị kìmhãm mà ngợc lại còn làm cho tình trạng này trầm trọng thêm Chính vì vậy,nhà Hồ cũng giống nh nhà Trần đã bị tớc bỏ quyền thống trị trong xã hội
Dới thời Lê sơ, năm 1477 nhà nớc ban hành chính sách "lộc điền".Theo chính sách này chỉ có vua và quan tứ phẩm trở lên mới đợc hởng "lộc
điền" "Lộc điền" có một phần ruộng đất đợc cấp vĩnh viễn còn phần lớn chỉ
đợc cấp cho sử dụng Chính sách "lộc điền" đã đánh dấu một bớc phát triểntrong kinh tế Việt Nam Nhờ có chính sách này quan hệ địa chủ tá điền ra đờithay thế cho quan hệ nông nô, nô tỳ, chế độ t hữu phát triển một bớc đáng kể,sức sản xuất đợc giải phóng, năng suất lao động xã hội tăng lên
Trang 21Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu của Nhà nớc còn có ruộng đất thuộc
sở hữu t nhân Đó là số ruộng đất của địa chủ và nông dân tự canh, trong đóruộng đất của địa chủ là chủ yếu
Có nhiều ý kiến cho rằng ruộng t ở Việt Nam xuất hiện khá sớm, ngay
từ thời Bắc thuộc Nhng dới chế độ phong kiến thời Lý ruộng t mới đợc côngnhận về pháp lý
Sang thời Trần, Nhà nớc đã ban hành nhiều chính sách tạo điều kiệncho sự phát triển của ruộng t Nhà nớc đánh thuế ruộng t nhẹ hơn so vớiruộng công, bán ruộng công làm ruộng t, bồi thờng cho chủ ruộng nếu Nhànớc lấy ruộng của họ sử dụng
Đến thế kỷ XV, thời Lê sơ, ruộng t có điều kiện phát triển mạnh mẽhơn Nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách phát triển ruộng t Nhà nớc tạo
điều kiện, ủng hộ tình trạng "chiếm công vi t" Luật Hồng Đức cho phép biếnquyền chiếm giữ lâu năm thành quyền sở hữu, quy định các hình thức bán đợ,bán vĩnh viễn ruộng đất trong nhân dân
Nh vậy, từ thế kỷ X đến thế kỷ XV ruộng công và ruộng t luôn trongtình trạng biến động Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, nhng nguyênnhân cơ bản và quan trọng nhất là những chính sách cụ thể của các triều đạiphong kiến từ Ngô đến Lê đã ban hành Tình trạng đó ảnh hởng nhiều đến sựphát triển của kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Bên cạnh nhữngchính sách ruộng đất kể trên, các triều đại phong kiến còn quan tâm đến một
số việc khác liên quan đến phát triển nông nghiệp
Thời Lý - Trần, Nhà nớc cho xây dựng các công trình thuỷ lợi lớn nh
đê Cơ Xá (thời Lý), đê Quai Vạc (thời Trần) Nhà vua trực tiếp hoặc giántiếp thông qua các quan chức chuyên trách trông coi hệ thống đê điều Nhà n-
ớc rất chú ý bảo vệ sức lao động nông nghiệp Năm 1010, vua Lý ra chiếu bắtnhững ngời dân lu vong phải trở về quê cũ làm ăn Các vua thời Lý - Trầnthực hiện chính sách "ngụ binh nông", "sử dân dĩ thời" nhằm sử dụng tốtmọi lực lợng vào sản xuất nông nghiệp
Từ việc xem xét một số chính sách của các triều đại phong kiến ViệtNam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV trên đây ta thấy khi Nhà nớc đề ra đợc cácchính sách phù hợp với xu thế phát triển chung của sản xuất (thời Lý - Trần,
lê sơ) thì sản xuất phát triển mạnh, xã hội ổn định và phát triển, ngợc lại, nếuchính sách đề ra không giải quyết đợc mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển sảnxuất và các lực lợng đang kìm hãm nó (thời kỳ cuối của các triều đại và nhất
Trang 22là thời nhà Hồ) thì sản xuất xã hội đình trệ và sớm hay muộn dẫn đến sự tanrã của các triều đại ấy.
Nh vậy, trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội kể từ khi Nhà nớcxuất hiện cho đến thời phong kiến, bằng các chính sách, bằng ý chí, quyềnlực của mình Nhà nớc đã luôn tác động vào kinh tế và sự tác động của Nhà n-
ớc đã có thể làm kinh tế phát triển lúc nhanh, lúc chậm, thậm chí có lúc cònthụt lùi Nhà nớc đã dùng bạo lực để cỡng bức kinh tế, chiếm đoạt đa sốnhững sản phẩm do nhân dân lao động tạo nên Nhng, bên cạnh việc cỡngbức kinh tế Nhà nớc mà đặc biệt Nhà nớc phơng Đông đã có công tập hợp lựclợng nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất, khuyến khích việc didân, khai khẩn đất hoang để mở rộng diện tích canh tác Tuy nhiên, xét trongtổng thể, cùng với sự phát triển của xã hội, của chế độ t hữu, trong quá trìnhtác động vào kinh tế của Nhà nớc tính nhân loại, dân tộc của nó dần dần bịchìm xuống, bị che lấp bởi tính giai cấp Mọi sự thăng trầm, phát triển hayngng trệ của nền kinh tế đều bị chi phối trực tiếp bởi lợi ích của các thế lựccầm quyền, và do đó nó thờng gắn với sự thăng trầm của các triều đại Điều
đó diễn ra trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội và trong cả thời kỳ mangtính quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ t bản và trong thời kỳ đầu củaxã hội t bản
ở phơng Tây, vào thế kỷ XV - XVIII, thời kỳ quá độ từ xã hội phongkiến sang xã hội t bản, sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội đặt ra yêucầu tất yếu phá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, phá bỏ mô hình điền trangthái ấp khép kín Tính tất yếu kinh tế này đợc biểu hiện về mặt xã hội bằngtất yếu ra đời Nhà nớc t sản Thông qua các cuộc cách mạng t sản, giai cấp tsản đã lật đổ chính quyền phong kiến thiết lập nên chính quyền của mình,một công cụ bạo lực mạnh mẽ cho phép tiếp tục xoá bỏ mọi tàn tích phongkiến cả trong sản xuất cũng nh trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo
điều kiện cho PTSX t bản chủ nghĩa ra đời nhanh chóng
Để PTSX t bản chủ nghĩa ra đời đợc cần có hai điều kiện: Một là, phải
có số đông những ngời bị tớc đoạt hết TLSX, buộc phải bán sức lao động củamình để kiếm sống, trở thành ngời làm thuê, một thứ hàng hóa đặc biệt; Hai
là, phải tích luỹ đợc một số tiền lớn vào tay giai cấp t sản để tiến hành sảnxuất kinh doanh theo phơng thức sản xuất TBCN Hai điều kiện đó đã hìnhthành, theo ý kiến của C Mác, nhờ bàn tay "bà đỡ" của Nhà nớc Điều đó thểhiện rõ trong lịch sử nớc Anh - một hình mẫu điển hình của quá trình hìnhthành PTSX t bản theo kiểu cổ điển
Trang 23ở Anh, vào thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản đã diễn ra quá trình
"cừu ăn thịt ngời" Đó là quá trình đẩy ngời nông dân ra khỏi ruộng đất của
họ bằng vũ lực, biến họ thành những ngời lang thang, và rồi cũng bằng vũlực, bằng những "đạo luật kỳ quái" Nhà nớc Anh đã ghép họ vào một kỷ luậtcần thiết cho chế độ làm thuê, biến họ thành những ngời vô sản Đi đôi vớiquá trình "vô sản hoá" ngời nông dân, Nhà nớc cũng đã đa ra chính sách tiền
tệ hết sức nghiêm ngặt nhằm tăng tích luỹ t bản: thu hút, cớp bóc vàng từ nớcngoài đem về, đề ra các chính sách không cho thơng nhân trong và ngoài nớcmang tiền ra khỏi nớc Anh Nhờ các biện pháp tích cực và hà khắc đó màquá trình tích luỹ t bản đợc đẩy nhanh, chủ nghĩa t bản Anh ra đời và pháttriển nhanh hơn
Nh vậy, kể từ khi ra đời cho đến giai đoạn lịch sử này, Nhà nớc đãkhông ngừng tác động đến kinh tế, hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự pháttriển kinh tế Công cụ tác động chủ yếu của Nhà nớc là các chính sách, đạoluật phù hớp với lợi ích của lực lợng thống trị Sự tác động đó cho thấy cơ chếtác động là Nhà nớc chủ yếu nằm trên guồng máy kinh tế của xã hội, tác
động gián tiếp vào guồng máy ấy
Sang thế kỷ XVIII, sự phát triển chóng mặt của PTSX t bản chủ nghĩasau khi đã cởi bỏ đợc những khuôn khổ chật hẹp của PTSX phong kiến, củachế độ phong kiến, đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển củavăn minh nhân loại Sự thay thế QHSX phong kiến - đại diện lợi ích của bọnvua chúa phong kiến bằng QHSX t bản chủ nghĩa - đại diện cho lợi ích củagiai cấp t sản đã làm đảo lộn tính chất của những quan hệ xã hội, trong đó cơbản nhất là quan hệ kinh tế - chính trị, kinh tế - Nhà nớc Thực tế đó còn đòihỏi phải có những học thuyết chỉ đạo sản xuất kinh doanh của nhà t bản, làmcơ sở cho chính sách của Nhà nớc t sản Chính vì vậy, giai đoạn này đã nảysinh nhiều học thuyết kinh tế t sản Mở đầu cho hàng loạt học thuyết bàn vềvai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế TBCN là học thuyết của trờng phái cổ
điển với đại biểu xuất sắc nh Ađam Xmith (1723 - 1790) Ađam Xmith đãdựa trên thực tiễn sinh động của PTSX t bản chủ nghĩa thế kỷ XVIII đa ra lýthuyết "bàn tay vô hình" và nguyên lý "Nhà nớc không can thiệp vào hoạt
động kinh tế" Ađam Xmith cho rằng tổ chức nền sản xuất hàng hoá cần diễn
ra theo nguyên tắc tự do, vì hoạt động của nền kinh tế do chính hệ thống cácquy luật kinh tế khách quan (ông gọi là "trật tự tự nhiên") chi phối Theo ông,cái chi phối quan hệ giữa con ngời với con ngời trong quá trình sản xuất vàtrao đổi là lợi ích Mỗi ngời khi theo đuổi những lợi ích của mình cũng đồng
Trang 24thời hành động theo các quy luật kinh tế khách quan đang chi phối hành
động của họ Từ đó, ông cho rằng Nhà nớc không nên can thiệp vào kinh tế,không nên phá vỡ cái "trật tự tự nhiên" của kinh tế Theo ông, Nhà nớc cóchức năng cơ bản là bảo vệ quyền sở hữu t bản, thông qua luật pháp đảm bảohoạt động cho các nhà kinh doanh, đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chốngcác phần tử trong nớc nhằm đảm bảo môi trờng ổn định cho nền kinh tế pháttriển nhanh Nói cách khác, ông coi Nhà nớc là "ngời bảo vệ", "lính canhgác cho nền kinh tế"
Mặc dù gạt bỏ vai trò kinh tế của Nhà nớc nhng Ađam Xmít cũng phảithừa nhận rằng đôi khi Nhà nớc cũng cần đảm nhiệm những nhiệm vụ kinh tếnhất định nh chăm lo tới việc đào sông, đắp đờng, duy trì ngọn hải đăng trênbiển tức là tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, giải quyếtcác công việc mà tự mỗi cá nhân các nhà sản xuất kinh doanh không thể đảm
đơng đợc
Lý thuyết "bàn tay vô hình" của Ađam Xmít là sự tổng kết thực tiễncủa ông Sau khi ra đời, nó đã đợc ủng hộ nhiệt liệt của giới sản xuất kinhdoanh t bản Nền kinh tế thị trờng t bản đợc "tự do " vận động Nhng sự vận
động "tự do" đó đã dẫn đến một kết quả mang tính hai mặt: một mặt, đã làmcho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá ngàycàng cao, kích thích cải tiến kỹ thuật, công nghệ, làm tăng năng suất lao
động, thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, mặt khác, do tính tự phát nềnkinh tế đã lâm vào tình trạng khủng hoảng, suy thoái
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng kinh tế 1900
-1903, đặc biệt là cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 đãchứng tỏ học thuyết "tự điều tiết" của trờng phái cổ điển có nhiều điểm thiếuchính xác Lý thuyết "bàn tay vô hình" của Ađam Xmít không thể đảm bảocho nền kinh tế phát triển lành mạnh Trong khi đó, trình độ xã hội hoá củalực lợng sản xuất phát triển ngày càng cao đã đặt ra nhu cầu cần thiết phải có
sự can thiệp ngày càng tăng của Nhà nớc vào kinh tế Trong bối cảnh đó, lýthuyết kinh tế TBCN có những điều chỉnh mới Học thuyết kinh tế của JohnMaynard Keynes (1884 - 1946) ra đời
Theo J.M Keynes tính chất không ổn định của nền kinh tế, khối lợngthất nghiệp ngày càng tăng trong xã hội t bản không phải là vốn có mà do cácchính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ, nhất là không có sự can thiệp của Nhà n-
ớc vào kinh tế Vì vậy, để định hớng nền kinh tế phát triển cân đối hài hoà,Nhà nớc cần phải can thiệp vào thị trờng, phải trực tiếp đứng trong guồng
Trang 25máy kinh tế và phải điều tiết từ bên trong bằng các công cụ tài chính - tíndụng, lu thông tiền tệ cả ở tầm vĩ mô và vi mô ở tầm vĩ mô, Nhà nớc sửdụng các công cụ nh lãi suất, tín dụng, điều tiết lu thông tiền tệ, chống lạmphát, thuế bảo hiểm, trợ cấp, đầu t phát triển ở tầm vi mô, Nhà nớc trực tiếpphát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng để giảiquyết việc làm và góp phần ổn định nền kinh tế
Trong bối cảnh bất ổn định của nền kinh tế t nhân t bản chủ nghĩa lúcbấy giờ, học thuyết của Keynes đợc xem nh một cứu cánh Các nớc t bản đãvận dụng học thuyết này vào thực tiễn kinh tế của mình với hy vọng bằng sựcan thiệp của Nhà nớc sẽ khắc phục đợc khủng hoảng, thất nghiệp, tạo ra sự
ổn định cho phát triển kinh tế xã hội
Song những chấn động lớn trong nền kinh tế t bản vẫn xảy ra Khủnghoảng, thất nghiệp, lạm phát ngày càng gia tăng Nền kinh tế t bản chủ nghĩalại lâm vào khủng hoảng, bế tắc Tình trạng đó khiến cho ngời ta phê phánKeynes một cách găy gắt, từ bỏ học thuyết của ông để đi tìm một lối thoátmới Kết qủa là một loạt học thuyết kinh tế khác nhau đã ra đời Các họcthuyết đó đều bàn về vai trò của Nhà nớc trong kinh tế, mong muốn tìm raphơng thức để Nhà nớc tác động vào kinh tế một cách có hiệu quả Mộttrong số những học thuyết đó là "Chủ nghĩa tự do mới" T tởng cơ bản củahọc thuyết này là thực hiện cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc ởmức độ nhất định
Những ngời tự do mới đã nhìn thấy những khiếm khuyết trong họcthuyết của Keynes Họ phê phán Keynes, từ bỏ học thuyết của ông nhng họcũng không quay trở lại với Ađam Xmít Bởi lẽ họ thừa nhận cả quy luật kinh
tế khách quan và tính tất yếu phải có sự can thiệp của Nhà nớc vào kinh tế.Theo họ, việc Nhà nớc đã can thiệp sâu rộng vào kinh tế, cả ở tầm vĩ mô lẫn
vi mô đã khiến cho nền kinh tế không thể vận hành theo các quy luật kinh tếvốn có của nó Để nền kinh tế có thể phát triển bình thờng, những ngời tự domới yêu cầu "Nhà nớc ít hơn và thị trờng nhiều hơn" Chủ nghĩa tự do mớiphát triển mạnh mẽ ở Mỹ, Pháp với khuynh hớng và nội dung cơ bản sau:
- Những ngời tự do mới thuộc phái trọng tiền ở Mỹ (còn gọi là trờngphái Chicagô) với những ngơì đứng đầu nh Miltoh Friedman, Henry Simons,Geogrye Stigler cho rằng nền kinh tế TBCN là nền kinh tế thờng xuyên ởtrạng thái cân bằng động Đó chính là hệ thống tự điều chỉnh, hoạt động dựatrên các quy luật vốn có của nó Do vậy, về cơ bản các hoạt động kinh tế phải
đợc "tự do" vận hành theo quy luật của thị trờng Tuy nhiên, nền kinh tế thị
Trang 26trờng TBCN cũng gặp nhiều căn bệnh nan giải, và trong số các căn bệnh đóthì lạm phát là căn bệnh nguy hiểm, nan giải nhất Để tránh và hạn chế phầnnào những căn bệnh đó, để hớng nền kinh tế theo những mục tiêu định sẵncần có sự tác động của Nhà nớc thông qua chính sách tiền tệ Nhà nớc thôngqua việc điều tiết mức cung tiền tệ mà điều chỉnh tốc độ thay đổi của lợngsản phẩm quốc gia, từ đó đa đất nớc phát triển theo định hớng của mình.
Những ngời theo phái trọng cung ở Mỹ nh Arthus Laffter, JedeWinniski, Norman Ture, Paul Craig Roberto, khác với những ngời trọng tiền
Họ cho rằng, nhiệm vụ chính của Nhà nớc là chống lạm phát, đã khẳng địnhvai trò của Nhà nớc là ở chỗ điều tiết mặt cung của nền kinh tế Theo họ,khối lợng sản xuất là kết quả của chi phí, mà những chi phí này lại đem lạicho nền kinh tế tính kích thích Do vậy, nhiệm vụ của Nhà nớc là xây dựngcác điều kiện để các yếu tố kích thích kinh tế xuất hiện, qua đó thúc đẩy kinh
tế phát triển Trong số các chính sách góp phần tạo ra yếu tố kích thích kinh
tế thì chính sách khuyến khích dân c tiết kiệm thu nhập hiện tại để tăng thunhập tơng lai và chính sách thuế hợp lý nhằm kích thích tăng thu nhập toànxã hội là quan trọng nhất
Các nhà tự do mới ở Pháp mà tiêu biểu là Jark Leon Ruyeffer lại chorằng sự điều tiết của Nhà nớc đối với nền kinh tế chỉ có hiệu quả thông qua
kế họach hoá định hớng cho sự phát triển Các kế hoạch này không thể lànhững "kế hoạch cứng nhắc về kinh tế vì mọi quyết định kinh tế đợc tạothành không chỉ từ những nhân tố bên trong mà cả nhân tố bên ngoài đất n-ớc" 24, mà phải là các kế hoạch tổng thể, kế hoạch dự báo về kinh tế vĩmô
Nếu nh các nhà tự do mới tìm kiếm vai trò của Nhà nớc ngay trong cáchoạt động của nền sản xuất thì các nhà kinh tế học Bắc Âu lại tìm thấy sự tác
động của Nhà nớc đối với kinh tế thông qua việc xây dựng mô hình kinh tếthị trờng xã hội, việc đảm bảo những phúc lợi chung cho xã hội Theo họ,nguồn gốc động lực của sự phát triển xã hội chính là ở sự đảm bảo nhữngphúc lợi chung Muốn tạo đợc động lực đó Nhà nớc phải nắm đợc mọi nguồnthu nhập và điều tiết các nguồn thu nhập đó tạo ra "ngôi nhà chung" cho tấtcả mọi ngời
Những ngời theo trờng phái thể chế, nhất là trờng phái thể chế mới nhJ.K Galbraeth, D Bell, G Myrdal, A Gable, D Perrouse lại cho rằng độnglực phát triển xã hội nằm ngay trong các thể chế Đó là các hiện tợng xã hội
24 Hoạt động của kinh tế thị trờng và vai trò của Nhà nớc, NXB CTQG, H 1993, tr.20.
Trang 27nh gia đình, nhà nớc, tổ chức độc quyền, các nghiệp đoàn Đó cũng lànhững biểu hiện của tâm lý xã hội, phơng thức xử sự và t duy đã trở thànhthói quen, phong tục tập quán của một nhóm ngời hay cả một dân tộc Đócũng chính là biểu hiện về luật pháp, luân lý và để cho các thể chế đó cóthể phát huy đợc tác dụng của mình cần có vai trò của Nhà nớc trong việcthiết lập và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các thể chế đó hoạt động
Quan điểm đợc xem là khá toàn diện trong việc xác định vai trò củaNhà nớc đối với sự phát triển kinh tế là quan điểm của trờng phái chính hiện
đại - một trờng phái đợc hình thành trên cơ sở của hai trờng phái Keyneschính thống và "cổ điển mới" Quan điểm này đợc trình bày khá rõ trongcuốn "Kinh tế học" của Paul A Samuenlson Trong tác phẩm này Samuelson
đã nêu ba loại hình kinh tế: kinh tế tập quán, kinh tế chỉ huy, kinh tế thị ờng Sau khi phân tích đặc trng của từng loại hình kinh tế ông đi đến kếtluận: "không một nền kinh tế hiện đại nào của con ngời là một trong nhữnghình thức thuần tuý nh trên" "các xã hội là những nền kinh tế hỗn hợp vớinhững nhân tố thị trờng, chỉ huy và truyền thống Do đó, khi điều chỉnh mộtnền kinh tế hỗn hợp mà không cần cả chính phủ lẫn cơ chế thị trờng cũnggiống nh vỗ tay bằng một bàn tay"25 Nếu để cho cơ chế thị trờng tự vận
tr-động thì "bàn tay vô hình sẽ đa nền kinh tế tới những sai lầm, những khuyếttật, khủng hoảng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trờng, bất bình đẳng xã hội Do
đó, cần có bàn tay của nhà nớc, nhà nớc phải can thiệp vào kinh tế để ngănchặn khủng hoảng, thất nghiệp, tạo việc làm đầy đủ nhng đồng thời phải giữtrong khuôn khổ khôn ngoan của cạnh tranh"26 Để thực hiện vai trò đó, theo
ông, Nhà nớc cần thực hiện tốt các chức năng sau đây:
Thứ nhất: Nhà nớc thiết lập khuôn khổ pháp luật, hành lang pháp lýcho nền kinh tế thị trờng hoạt động Nói theo cách khác, Nhà nớc đề ra cácquy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp và ngời tiêu dùng và cả bảnthân chính phủ cũng phải tuân thủ một cách nghiêm túc
Thứ hai: Nhà nớc sửa chữa những thất bại của thị trờng để thị trờnghoạt động có hiệu quả: chống độc quyền, chống ô nhiễm môi trờng, chống sựtàn phá tài nguyên thiên nhiên, sản xuất ra các hàng hoá công cộng
Thứ ba: Nhà nớc đảm bảo sự công bằng của xã hội thông qua cácchính sách thuế (mà quan trọng nhất là thuế luỹ tiến đợc áp dụng cho thuếthu nhập và thuế kế thừa), hệ thống hỗ trợ thu nhập cho ngời già cả, ốm đau,thất nghiệp
25 Paul Samuelson và William D Nordhans, Kinh tế học, tập 1, tr.63.
26 Paul Samuelson và William D Nordhans, Kinh tế học, tập 1, tr.63.
Trang 28Thứ t: Nhà nớc ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát, suy thoái bằngcác công cụ thuế, các khâu chi tiêu, lãi suất, thanh toán chuyển nhợng, khốilợng tiền tệ và những quy định hay kiểm soát27.
Tóm lại, từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nớc và kinh tế ta cóthể rút ra một số vấn đề có ý nghĩa phơng pháp luận quan trọng sau đây:
Một là, trong mối quan hệ giữa Nhà nớc và kinh tế, giữa chính trị vàkinh tế "chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế" Song
vị trí hàng đầu đó của chính trị so với kinh tế phải dựa trên tiền đề về vai tròquyết định của kinh tế đối với chính trị
Hai là, giữa kinh tế và chính trị có tính độc lập tơng đối Chính tính
độc lập tơng đối này đã tạo điều kiện cho chính trị, cho Nhà nớc có thể tác
động thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nhng mặt khác, cũng chính điều đó cóthể làm xuất hiện sự kìm hãm của Nhà nớc đối với sự phát triển của kinh tế 1.2 vai trò định hớng sự phát triển nền kinh tế thị tr-ờng của Nhà nớc
Lịch sử kinh tế thế giới đã trải qua hàng ngàn năm hình thành, biến đổi
và phát triển Lịch sử đó cho thấy kể từ khi Nhà nớc ra đời, bất kỳ một hoạt
động nào của nó cũng đều trực tiếp hay gián tiếp tác động đến kinh tế, có khảnăng điều khiển, định hớng kinh tế phát triển theo những mục tiêu nhất định.Lịch sử đó cũng cho thấy, nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của Nhà nớc
đối với phát triển kinh tế càng tăng Sang thế kỷ XX, do những biến đổi củabản thân nền kinh tế thế giới, nhất là của nền kinh tế TBCN, các nhà kinh tếhọc đã đa ra nhiều học thuyết về vai trò của Nhà nớc đối với kinh tế Các giaicấp cầm quyền ở các quốc gia khác nhau đã vận dụng các học thuyết đó vàoquá trình phát triển kinh tế xã hội ở quốc gia mình Trong từng giai đoạn pháttriển lịch sử cụ thể các học thuyết đó đã giúp các quốc gia vận dụng nó đạt đ-
ợc những kết quả nhất định
ở Mỹ, lịch sử hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trờng đã gắnliền với vai trò định hớng của Nhà nớc liên bang Nhà nớc liên bang đã canthiệp, kiểm soát nền kinh tế từ nhiều góc độ, trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Điều đó biểu hiện ở chỗ:
- Chính phủ tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển nền kinh tếthị trờng Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trờng Mỹ cho thấy khôngphải ai khác mà chính là chính phủ liên bang đã tạo điều kiện cho việc hình
27 Lịch sử các học thuyết kinh tế NXB Thống kê, H 1996, tr.271-277.
Trang 29thành một thị trờng nội địa thống nhất bằng một loạt hoạt động kinh tế củamình.
Hành vi đầu tiên của Nhà nớc Hoa Kỳ, hành vi đợc coi là có ấn tợngnhất trong sự phát triển kinh tế thị trờng ở Mỹ là việc ban hành các đạo luật
có liên quan tới kinh doanh đất và bất động sản Hành vi này đã đem lại kếtquả mang tính hai mặt: thứ nhất, về pháp lý, đất đai và các bất động sản khác
đợc công nhận là hàng hoá giống nh các loại hàng hoá khác trên thị trờng.Thứ hai, Nhà nớc qua đó tạo đợc cho ngân sách một khoản tiền lợi từ thuthuế
Hành vi lịch sử thứ hai để khẳng định vai trò của Nhà nớc trong địnhhớng phát triển kinh tế trớc thế kỷ XX là việc xây dựng hệ thống đờng sắtxuyên lục địa sau nội chiến Nhờ hệ thống đờng sắt này mà thị trờng nội địathống nhất của Mỹ đợc thiết lập, đa kinh tế Mỹ vào một giai đoạn phát triểnmới với nhịp điệu nhanh và mạnh hơn
- Sang thế kỷ XX, vai trò của Nhà nớc Mỹ trong định hớng phát triểnnền kinh tế càng tỏ ra sâu rộng hơn:
Thứ nhất, Nhà nớc liên bang chịu trách nhiệm xây dựng và khống chếhoạt động của kết cấu hạ tầng nền kinh tế nh đờng giao thông, phơng tiện vậnchuyển, thông tin liên lạc và năng lợng
Thứ hai, Nhà nớc liên bang tạo ra môi trờng tự do cạnh tranh, xâydựng các đạo luật chống độc quyền Theo nhiều tác giả thì "Mỹ là nớc có sốlợng các công ty độc quyền lớn nhất thế giới và cũng có số lợng các đạo luậtchống độc quyền nhiều nhất thế giới"28 Tuy nhiên, xuất phát từ chỗ lợi íchcủa các nhà chính trị và lợi ích của các nhà kinh doanh lớn, của các công tykhổng lồ gắn bó chặt chẽ với nhau (nếu không muốn nói chính là một - là lợiích của giai cấp cầm quyền) mà "dù trong các đạo luật chống độc quyền cóhạn chế hoạt động của các công ty này đến đâu đi nữa kể cả việc cấm cáccông ty bàn bạc và thống nhất giá cả với nhau trớc khi đem bán, thì kẽ hở củacác đạo luật cứ lộ ra một cách ngẫu nhiên hoặc cố ý"29 có lợi cho giới doanhnghiệp
Thứ ba, Nhà nớc lên bang kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng cáccông cụ tài chính, tiền tệ, hệ thống tổ chức ngân hàng hai cấp - ngân hàngtrung ơng và ngân hàng thơng mại, trong đó ngân hàng trung ơng vừa thực
28 Các mô hình kinh tế thị trờng trên thế giới, NXB Thống kê, H 1994, tr,94.
29 Các mô hình kinh tế thị trờng trên thế giới, NXB Thống kê, H 1994, tr,94.
Trang 30hiện chức năng dự trữ, vừa điều tiết và kiểm soát tiền tệ đợc cung ứng thôngqua hệ thống ngân hàng thơng mại
Nh vậy, cả trong lý thuyết (phái trọng tiền, trọng cung ) và trên thựctiễn, ta thấy ở Mỹ, lúc này hay lúc khác, dù thừa nhận (từ thế kỷ XX đến nay)hay không thừa nhận (từ khi Nhà nớc Liên bang đợc thành lập), Nhà nớc Mỹ
đã bằng luật pháp, trợ giúp, bằng các công cụ kinh tế vĩ mô nh tài chính, tiềntệ tác động vào kinh tế, hớng nền kinh tế đó phát triển theo mô hình kinh tếthị trờng kiểu Mỹ - một mô hình kinh doanh tiêu dùng với với sự điều tiết củaNhà nớc - một mô hình kinh tế mà một mặt đã tạo ra lợng sản phẩm khổng lồ
có khả năng đáp ứng đợc những nhu cầu phong phú, đa dạng của ngời tiêudùng, mặt khác lại tạo ra những tiêu cực, những "mặt trái của cơ chế thị tr-ờng" nh làm giàu bất chính, trộm cớp, băng hoại đạo đức
Trong khi ngời Mỹ, bằng sức mạnh của Nhà nớc, đã tạo dựng mô hìnhkinh tế thị trờng kiểu Mỹ thì ở Bắc Âu những ngời Thuỵ Điển đã xây dựngnền kinh tế của mình theo mô hình "phúc lợi xã hội" (còn gọi là mô hìnhThuỵ Điển)
Mô hình Thuỵ Điển, về mặt lý luận đợc bắt nguồn từ t tởng "ngôi nhàcho mọi ngời" của P.A Hansson, cựu thủ tớng Thuỵ Điển, Chủ tịch Đảng xãhội - dân chủ Thuỵ Điển vào những năm 1932 - 1946 Cơ sở của "mô hìnhThuỵ Điển" là thừa nhận sự thống trị của sở hữu t nhân và thị trờng tự do có
điều tiết trong lĩnh vực sản xuất, là thực hiện những nguyên tắc bình đẳngchung đảm bảo xã hội cho nhân dân ở mức độ cao và có việc làm đầy đủ Nóicách khác, "mô hình Thuỵ Điển là sự cố gắng kết hợp nền sản xuất vật chấtTBCN với những nguyên tắc phân phối chung mang tính chất XHCN"30
Để thực hiện đợc mục đích đã đề ra, để xây dựng đợc mô hình "phúclợi xã hội" trong thực tiễn Đảng xã hội - dân chủ Thuỵ Điển đã sử dụng Nhànớc nh một công cụ chính yếu Bằng tất cả quyền lực của mình, Nhà nớc cóthể can thiệp vào tất cả các khâu hoặc vào một trong những khâu nào đó củanền sản xuất mà Nhà nớc cho là có lợi nhất để đạt đợc mục đích của mình ở
đây, Nhà nớc Thuỵ Điển đã can thiệp vào khâu phân phối lại thu nhập xã hộithông qua và bằng công cụ thuế Thông qua việc điều chỉnh cơ cấu thuế vàchi tiêu, Nhà nớc Thuỵ Điển hớng nền kinh tế vào việc thực hiện các mụctiêu xã hội: thu hẹp khoảng cách ngời giàu và ngời nghèo bằng cách đem lạicho mọi thành viên trong xã hội một phúc lợi nh nhau đợc tạo ra từ nguồn thunhập chủ yếu là thuế Phải thà nhận mục tiêu mà các nhà lãnh đạo Đảng cầm
30 Các mô hình kinh tế trên thế giới, SDD, tr.146.
Trang 31quyền Thuỵ Điển - Đảng dân chủ - xã hội lúc bấy giờ là hết sức tiến bộ Tuynhiên, những biện pháp mà họ sử dụng để đạt đợc mục tiêu lại chứa đựngnhiều yếu tố bất hợp lý, mang tính chất duy tâm, duy ý chí Lợi dụng sứcmạnh của chính trị, của chính quyền Nhà nớc trong xã hội, Nhà nớc Thuỵ
Điển đã dùng pháp luật, dùng công cụ thuế để can thiệp vào khâu phân phốivới ý định thực hiện nguyên tắc phân phối mang tính chất XHCN Với sứcmạnh quyền lực của mình, Nhà nớc đã ban hành một chế độ thuế khoá vớimức thuế so với các tiêu chuẩn ở châu Âu là quá cao Năm 1989 khoản thu từthuế bằng 56% GNP, mức cao nhất trong trế giới các nớc công nghiệp ởchâu Âu mức trung bình là 41% Đối với mỗi ngời dân của Thuỵ Điển, nếutính trung bình thì gánh nặng thuế là 73% (tính cả thuế giá trị bổ sung và tiềnlơng)
Phải nói rằng cái đặc trng nhất của "mô hình Thuỵ Điển" khiến nókhác hẳn các mô hình kinh tế khác, trớc hết là ở mức độ đảm bảo xã hội cao
Hệ thống bảo trợ xã hội ở Thuỵ Điển đợc coi là một trong những hệ thốngrộng rãi và hào phóng nhất thế giới Khi sinh con, bố hoặc mẹ đợc nghỉ 450ngày vẫn hởng lơng Mỗi gia đình, không phụ thuộc vào thu nhập, đợc nhận5820curon trong một năm cho một đứa con dới 16 tuổi Những gia đình
đông con sẽ đợc nhận thêm các khoản trợ cấp khác
Hệ thống y tế và bảo vệ sức khoẻ của Thuỵ Điển rất thuận tiện vàkhông mất tiền Hàng năm, Nhà nớc chi cho lĩnh vực này chiếm 9,2% GNP.Hàng năm Nhà nớc chi hơn 70 tỷ curon cho công tác bảo trợ đối với nhữngngời già, chi phí liên quan đến đấu tranh chống thất nghiệp chiếm trên 2%GNP và 7% ngân sách Nhà nớc Các chi phí công cộng với mức độ phúc lợixã hội đặc biệt cao, khoảng 31,6%GNP, trong khi đó ở Cộng hoà liên bang
Đức, một quốc gia xây dựng nền kinh tế thị trờng theo mô hình "kinh tế thịtrờng xã hội", cũng nhằm đáp ứng những yếu tố xã hội, chỉ xấp xỉ 25%, ởAnh là 20%31
Trong thời đại ngày nay, khi mà thế giới t bản vẫn coi mục tiêu lợinhuận là mục tiêu số một và thực hiện điều đó bằng bất cứ biện pháp nào cóthể thì việc đảm bảo xã hội ở mức cao nh Thuỵ Điển là một việc làm đángkhâm phục Tuy nhiên, nh trên đã trình bày, để đạt đợc mục đích của mình,chính quyền Nhà nớc Thuỵ Điển đã không dựa trên cơ sở nền sản xuất pháttriển cao, mà bằng việc đánh thuế nặng, thực thi phân phối không theonguyên tắc lao động mà theo nguyên tắc "cỡng bức" bằng sức mạnh quyền
31 Các mô hình kinh tế thị trờng trên thế giới, sdd, tr 147-148.
Trang 32lực của mình Chính sự "cỡng bức" đó đã đụng chạm đến lợi ích của các nhàsản xuất kinh doanh, làm thui chột tính tích cực, sáng tạo trong lao động, làmgiảm động lực phát triển kinh tế Ngời lao động trở thành chây lời, thíchnghỉ hơn thích làm việc, thích ốm hơn thích khoẻ, a hởng lơng thất nghiệphơn là bỏ công đi tìm việc làm Họ đua nhau che dấu thu nhập, trốn thuế,phát triển "kinh tế ngầm" Các nhà t bản không muốn đầu t vào sản xuấttrong nớc mà chuyển vốn đầu t ra nớc ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao và
ít chuyển các khoản tiền lời về nớc để tránh bị đánh thuế,
Việc duy trì một nền kinh tế dựa trên chế độ thuế khoá năng nề, mứcchi dùng công cộng cao đã triệt tiêu dần các động lực phát triển kinh tế, đẩynền kinh tế vào khủng hoảng, lạm phát Sự bất ổn trong lĩnh vực kinh tế này
đã tác động mạnh mẽ đến KTTT, đến đời sống chính trị của xã hội Thuỵ
Điển, làm cho những ngời dân chủ - xã hội, những ngời khởi xớng mô hìnhnày bị bật ra khỏi các chức vụ chủ chốt của chính phủ, nhờng chỗ cho pháibảo thủ Trên thực tế, hiện nay chính phủ Thuỵ Điển cũng đang điều chỉnhlại mô hình kinh tế của mình
Khảo sát quá trình xây dựng mô hình kinh tế thị trờng xã hội củaThuỵ Điển ta thấy:
Thứ nhất: Trong đời sống xã hội, Nhà nớc có vai trò hết sức to lớn.Bằng sức mạnh quyền lực của mình, bằng luật pháp, bằng các công cụ kinh
tế vĩ mô, Nhà nớc có thể hớng nền kinh tế phát triển theo mục đích nhất định,
có thể xây dựng đợc những mô hình kinh tế phù hợp với ý chí, nguyện vọngcủa mình
Thứ hai: Một mô hình kinh tế đợc xây dựng nên bằng ý chí, nguyệnvọng, sức mạnh quyền lực của giai cấp cầm quyền nhng nó có thể tồn tại đợchay không? Nếu có, nó tồn tại nh thế nào, có tiếp tục phát triển đợc haykhông? lại là vấn đề không phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền mà phụthuộc vào chính bản thân nền kinh tế Việc Nhà nớc Thuỵ Điển cố gắng xâydựng nền kinh tế theo "mô hình phúc lợi xã hội" với mục đích đảm bảo sựcông bằng, bình đẳng cho các thành viên của nó, xoá bỏ khoảng cách giàunghèo tức là cố gắng xây dựng một xã hội vì con ngời trong khuôn khổ củaCNTB là việc làm hết sức đáng trân trọng, mang tính nhân bản sâu sắc Song,
từ góc độ mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ta lại thấy đây là mô hìnhmang nặng tính không tởng Những khủng hoảng trì trệ trong sự phát triểnkinh tế của mô hình đó cho phép kết luận nh vậy Để có thể thực hiện những
đảm bảo xã hội ở mức độ cao, các nhà lãnh đạo của chính phủ Thuỵ Điển đã
Trang 33không dựa trên một nền sản xuất ở trình độ phát triển cao mà dùng biện pháp
"nhanh" và "dễ" nhất (nhanh và dễ vì nó đợc thực hiện bằng sức mạnh quyềnlực, bằng ý chí của giai cấp cầm quyền) Thực chất của biện pháp này là sửdụng chế độ thuế khoá và phơng pháp phân phối mà họ cho rằng mang tínhxã hội chủ nghĩa - lấy bớt của ngời giàu để san sẻ cho ngời nghèo Tuy nhiên,cách đảm bảo xã hội này, cách tạo ra sự công bằng xã hội này lại không gắnvới sự bình đẳng xã hội Về thực chất đó là sự cào bằng, san đều Chính vìvậy phơng pháp này đã hạn chế, triệt tiêu tác dụng của động lực lợi ích
Thứ ba: "Mô hình Thuỵ Điển", về thực chất vẫn là mô hình đợc xâydựng dựa trên và phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, mặc dù nó cótính nhân đạo cao Nói cách khác, trong quá trình thực hiện chức năng củamình mặc dù chính phủ Thuỵ Điển đã rất chú trọng giải quyết các vấn đềmang tính nhân loại, nhng cái chi phối quá trình đó xét đến cùng vẫn là tínhgiai cấp Trong khi cố gắng tạo ra sự bình đẳng, công bằng xã hội bằng cáchdùng quyền lực can thiệp vào khâu phân phối, họ vẫn duy trì chế độ chiếmhữu t nhân t bản chủ nghĩa Việc duy trì chế độ t hữu mâu thuẫn với nguyêntắc phân phối của Thuỵ Điển đã làm nảy sinh mâu thuẫn không thể điều hoà
đợc giữa lợi ích cá nhân nhà t bản và lợi ích xã hội Từ đó đã dẫn đến khủnghoảng trong sự phát triển kinh tế, buộc các nhà lãnh đạo phải có những cảicách, sửa đổi theo hớng có lợi cho giai cấp cầm quyền, giai cấp t sản
Từ đó, bài học sâu sắc mà chúng ta thu nhận đợc lại chính là ý nghĩarút ra từ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là, trong hoạt độngthực tiễn muốn đạt hiệu quả cao, muốn thúc đẩy nền kinh tế phát triển thìmọi vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị, mọi hoạt động của Nhà nớc phải xuấtphát từ cơ sở kinh tế và vì sự phát triển của kinh tế, nếu không nắm vữngnguyên lý này thì hoạt động của Nhà nớc sẽ kém hiệu quả, sự bất ổn về mọimặt của đời sống xã hội tất yếu sẽ xảy ra
Vào những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, thế giới đặcbiệt chú ý đến hiện tợng "thần kỳ" trong phát triển kinh tế của một số nớcchâu á nh Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapo, Malaysia Các nớc này đã
đạt đợc tốc độ phát triển cao và tơng đối ổn định sau một thời gian ngắn
Điều gì giúp họ đạt đợc sự thần kỳ đó? Các nhà nghiên cứu đã khẳng định
"nguyên nhân của thành công về kinh tế của các quốc gia trớc hết phải nóitới vai trò của Nhà nớc với t cách là ngời lãnh đạo nền kinh tế quốc dân"32
trong đó vai trò quan trọng nhất là vai trò định hớng nền kinh tế thông qua
32 Vai trò của Nhà nớc trong phát triển kinh tế, NXB KHXH, H 1993, tr 24.
Trang 34việc hoạch định các chiến lợc, chính sách, luật pháp.33 Vai trò to lớn đó củaNhà nớc ở các nớc trong khu vực Đông Nam á đợc quy định bởi chínhnhững điều kiện lịch sử cụ thể ở đây, bởi những điều kiện kinh tế, văn hoá xãhội, bởi những thói quen, phong tục, tập quán của ngời Đông Nam á.
ở các nớc Đông Nam á và đối với cả những nớc đang phát triển ở cáckhu vực khác, để phát triển bắt kịp xu thế chung của thời đại, các quốc gianày trong một khoảng thời gian ngắn phải làm quá nhiều việc: từ những nớcnông nghiệp với điểm chủ yếu của nền kinh tế là tự nhiên, tự cấp tự túc, khépkín chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các quốc gia này phải tạo ra đợc kếtcấu hạ tầng, cơ sở vật chất ở một trình độ cao, phải tích luỹ đợc một lợng vốnlớn, tạo ra đợc một hệ thống thị trờng đồng bộ, thống nhất trong phạm vi toànquốc, phải xây dựng, lựa chọn đợc những chiến lợc phát triển đúng đắn vàphải hiện thực hoá đợc chiến lợc đó Để làm đợc điều đó chỉ có Nhà nớc với
t cách là cơ quan quyền lực đặc biệt của hệ thống chính trị xã hội, với những
đặc trng, chức năng riêng của mình mới có thể đảm đơng đợc
điều dễ nhận thấy nhất trong vai trò của Nhà nớc đối với sự phát triểnkinh tế ở các nớc Đông Nam á trong vài thập kỷ qua là ở sự sáng suốt củaNhà nớc trong việc lựa chọn chiến lợc phát triển kinh tế đúng đắn, đồng thơì
đề ra và đôn đốc thực hiện các chính sách phù hợp với hoàn cảnh cụ thể củamỗi quốc gia
Vào thập kỷ 70, khi chiến lợc "phát triển thay thế nhập khẩu" đẩy một
số nớc ở khu vực Đông Nam á vào tình trạng bế tắc: lạm phát và giá cả tăngnhanh không kiểm soát đợc, nợ nớc ngoài chồng chất, thị trờng không nhữngkhông mở rộng đợc mà ngày càng bị thu hẹp, hàng loạt các xí nghiệp lâmvào tình trạng phá sản Từ sự bất ổn về kinh tế đã dẫn đến những khủnghoảng về chính trị xã hội Để thoát ra khỏi tình trạng đó các nhà nớc của cácnớc ở khu vực này đã quyết định thay đổi thay đổi chiến lợc phát triển kinh
tế, chuyển từ chiến lợc "phát triển thay thế nhập khẩu" sang chiến lợc "pháttriển theo hớng xuất khẩu" Có thể nói, việc lựa chọn chiến lợc mới này là
đúng đắn vì một mặt nó phù hợp với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao củanền kinh tế thế giới, mặt khác tạo điều kiện phát huy, lợi dụng những lợi thế
so sánh vốn có trong phạm vi mỗi quốc gia Bằng chiến lợc "phát triển theohớng xuất khẩu" các nớc Đông Nam á có khả năng tận dụng tối đa cácnguồn vốn và công nghệ tiên tiến từ bên ngoài vào việc khai thác các tiềmnăng của mỗi nớc, tập trung phát triển những ngành công nghiệp có thể xuất
33 Vai trò của Nhà nớc trong phát triển kinh tế, NXB KHXH, H 1993, tr 25.
Trang 35khẩu đợc, từng bớc cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trờng thế giới Chiến lợc pháttriển này vừa phù hợp với nhu cầu bản thân các nớc đang phát triển cần cónhiều vốn và công nghệ hiện đại, vừa phù hợp với nhu cầu đầu t và chuyểngiao công nghệ hiện đại đến các nớc đang phát triển của các nớc phát triển.
Sau khi đã lựa chọn đợc chiến lợc phát triển đúng đắn, các nớc đều đề
ra các chơng trình, kế hoạch phát triển kinh tế, sử dụng các công cụ kinh tế vĩmô để thực hiện các kế hoạch đề ra
Để có thể hoàn thành việc thực hiện chức năng kinh tế của mình mộtcách có hiệu quả, hớng sự phát triển của nền kinh tế vào những mục tiêu đã
định sẵn, các Nhà nớc ở Đông Nam á đã cố gắng xây dựng thực lực kinh tếcủa mình
ở các nớc này, để tạo thực lực kinh tế mạnh, đủ sức chi phối, điềuchỉnh sự phát triển của kinh tế, Nhà nớc đã nắm giữ các doanh nghiệp lớn,tăng cờng tích luỹ và đầu t tạo dự trữ chiến lợc Phải thừa nhận rằng, ở tất cảcác nớc này, các doanh nghiệp Nhà nớc đã đóng vai trò hết sức quan trọngtrong giai đoạn đầu phát triển trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị của
đời sống xã hội
Trớc hết, ở hầu hết các nớc Đông Nam á, Nhà nớc tập trung phát triểncác doanh nghiệp Nhà nớc trong các lĩnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở nh điện,vận tải, giao thông, thông tin liên lạc nhằm tạo điều kiện thuận lợi, ổn địnhcho toàn bộ nền kinh tế hoạt động thông suốt Nhiều nớc trong khu vực còndùng các doanh nghiệp Nhà nớc làm các mũi nhọn tiên phong trong việcchuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nớc, làm các công cụ quan trọng để khắcphục các thiếu sót của thị trờng và trực tiếp tham gia chi phối thị trờng nhằmlàm ổn định tình hình, tạo hiệu quả tăng trởng kinh tế theo định hớng chiến l-
ợc đã xác định Ngoài ra, các nớc còn sử dụng thực lực kinh tế của mình để
đầu t phát triển các ngành, các lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế cao đỏi hỏivốn đầu t lớn, hiệu quả đầu t thấp, t nhân không có đủ điều kiện hoặc khôngmuốn đầu t Từ đó bằng thực lực kinh tế của mình, Nhà nớc tạo ra một nềnkinh tế cân bằng trong tổng thể, hớng dẫn, lôi kéo các thành phần kinh tếkhác đi theo các chiến lợc kinh tế, các định hớng đã lựa chọn
Song song với quá trình đó, các Nhà nớc ở khu vực này đã khôngngừng tìm kiếm những giải pháp gắn bó các doanh nghiệp Nhà nớc với khuvực kinh tế t nhân Nhà nớc cho rằng việc tạo lập đợc các mối quan hệ ổn
định vững chắc với kinh tế t nhân một mặt để qua đó lôi kéo, hớng dẫn bộ
Trang 36phận kinh tế này phát triển theo chiến lợc kinh tế đã lựa chọn, mặt khác tạo
ra đợc thị trờng thống nhất, ổn định và vững chắc
Để tạo dựng đợc môi trờng kinh tế lành mạnh, ổn định cho các hoạt
động kinh tế của các chủ sản xuất kinh doanh không chỉ trong nớc mà còncho các chủ đầu t nớc ngoài, các nhà nớc ở Đông Nam á đã chú trọng xâydựng một khung pháp luật hoàn chỉnh, một hệ thống pháp lý toàn diện vớicác nguyên tắc chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh
Nh đã nêu trên, để xây dựng đợc nền kinh tế phát triển cao, các nhà
n-ớc của các nn-ớc Đông Nam á cần tích tụ đợc một lợng vốn không nhỏ Đểlàm đợc điều đó các nhà nớc ở đây đã thực hiện nhiều chính sách khác nhaunhằm một mặt huy động đợc nguồn vốn trong nớc, mặt khác, thu hút nguồnvốn đầu t từ bên ngoài Trớc hết, dạ trên cơ sở nắm vững đặc điểm tâm lý củangời dân, Nhà nớc đã đề ra những chính sách thích hợp khuyến khích tiếtkiệm cũng nh sử dụng vốn vay có hiệu quả Do vậy, ở các nớc này nguồn vốn
đầu t trong nớc từ nguồn tiết kiệm khá cao (tính trung bình hàng năm từ 1971
- 1980 tỷ lệ tiết kiệm so với GDP của Inđônexia là 22%, Singapo: 26%, TháiLan: 22%, Philipin: 23%, Malaisia: 28%)34 Bên cạnh việc khuyến khích tiếtkiệm các nhà nớc ở đây đều khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển,
động viên phát triển sản xuất không chỉ các xí nghiệp lớn mà cả các xínghiệp vừa và nhỏ để có thể huy động đợc mọi nguồn vốn trong dân c Trongtổng số vốn đầu t cơ bản ở các nớc này, vốn của t nhân thờng chiếm tỷ trọnglớn Tỷ lệ đó ở Philipin năm 1965 là 92,6%; năm 1970: 90,9%; năm 1988:82,9%
Bên cạnh đó, Nhà nớc còn can thiệp sâu vào việc quyết định các dự án
đầu t, trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ xây dựng những công trình kinh tếquan trọng thông qua quỹ của Nhà nớc Nhà nớc còn trực tiếp phê chuẩn cácnguồn tài chính thông qua các ngân hàng ký thác tiền tệ hoặc "quỹ đầu tquốc gia" với những cách thức u tiên nh lãi suất u đãi, miễn hoặc giảm thuế nếu các dự án đầu t của t nhân nhằm vào khu vực các ngành sản xuất kinhdoanh chiến lợc đợc Nhà nớc bảo trợ
Song song vơí việc huy động vốn trong nớc, nguồn vốn của t bản nớcngoài đợc coi là yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế trong nớc Nguồn vay baogồm các khoản viện trợ, vốn vay để tự đầu t và đầu t trực tiếp từ nớc ngoài.Việc thu hút nguồn vốn của t bản nớc ngoài là rất quan trọng và cần thiết để
34 Nguyễn Trí Dũng (chủ biên), Vai trò Nhà nớc trong phát triển kinh tế cáca nớc ASEAN, NXB Thống kê,
H 1993, tr.32.
Trang 37xây dựng hạ tầng cơ sở, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao công nghệ,tiếp thu trình độ quản lý tiên tiến
Vì vậy, các nớc Đông Nam á đều có các chính sách mở cửa rộng rãi
để thu hút vốn đầu t nớc ngoài Nội dung cơ bản của các chính sách này là:
+ Khuyến khích t bản nớc ngoài đầu t bằng các chính sách u đãi, đảmbảo và tạo điều kiện thuận lợi cho t bản nớc ngoài đầu t và nhanh chóng pháthuy vốn đầu t (Ví dụ: ra luật đầu t nớc ngoài; bảo hiểm đối với đầu t nớcngoài, cho hởng u đãi về tài chính ), nghĩa là tạo ra sự hấp dẫn lợi ích kinhtế
+ Tạo không khí ổn định chính trị, môi trờng kinh doanh thuận lợi chohoạt động của các công ty t bản nớc ngoài, khiến cho các nhà đầu t yên tâm
+ Xây dựng trớc hết các kết cấu hạ tầng thuận lợi: hệ thống giao thông,nhà kho, bến bãi, hệ thống thông tin liên lạc, điện nớc đầy đủ với giá rẻ hợp
lý nhằm giúp các nhà đầu t nhanh chóng tiến hành hoạt động sản xuất
+ Lập ra các khu mậu dịch tự do hoặc các khu công nghiệp chế biếnxuất khẩu, "khu công nghiệp tự do"
vĩ mô, trong đó chính sách tài chính - tiền tệ đợc chú trọng
Trong nền kinh tế thị trờng tài chính là tổng thể các mối quan hệ kinh
tế dới hình thái tiền tệ của các chủ thể tài chính (Nhà nớc, các doanh nghiệp,các tổ chức kinh tế xã hội của Nhà nớc và dân c) nảy sinh trong quá trìnhhình thành, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thựchiện mục tiêu nhất định Vì thế, việc tạo dựng một thị trờng tài chính tiền tệthông suốt, với các chính sách tài chính - tiền tệ mềm dẻo, uyển chuyển đợcxem nh là vấn đề then chốt của mỗi quốc gia khi bớc vào xây dựng kinh tếthị trờng Để làm đợc điều đó, không ai khác ngoài Nhà nớc - "trọng tài" củanền kinh tế quốc dân
Trang 38ở hầu hết các nớc Đông Nam á, vào thời kỳ đầu của sự phát triển đềulâm vào tình trạng lạm phát cao Để thoát ra khỏi tình trạng đó, Nhà nớc củacác nớc đã dùng một loạt biện pháp nh nhau:
Thứ nhất, Nhà nớc nắm giữ độc quyền hệ thống tài chính - tiền tệ, sởhữu đại bộ phận các ngân hàng thơng mại lớn cùng với ngân hàng trung ơng
Điều này cho phép chính phủ can thiệp trực tiếp và nhanh chóng về mặt tàichính, qua đó kiểm soát sâu rộng đối với các khu vực kinh tế khác
Thứ hai, Nhà nớc thực hiện chính sách tăng thu giảm chi, hạn chế tối
đa phát hành giấy bạc
Để tăng nguồn thu, Nhà nớc cũng đã đề ra và thực hiện một loạt cácchính sách thuế và tín dụng mềm dẻo, linh hoạt: lới lỏng hàng rào thuế quan,miễn giảm thuế và thực hiện lãi suất u đãi đối với hàng suất khẩu; giám sátchặt chẽ, điều chỉnh kịp thời lãi suất tiết kiệm, tín dụng, hối đoái (ví dụ, khilạm phát tăng quá cao dẫn đến nguy cơ khủng hoảng, Nhà nớc tăng lãi suấttiết kiệm, hạn chế gia tăng tín dụng và giảm bội chi ngân sách), kiện toàn lại
hệ thống thuế
Song song với việc tăng nguồn thu từ tiết kiệm, thuế, từ xuất khẩu các Nhà nớc đều tập trung vào việc giảm chi bằng các biện pháp kiểm soátchi tiêu, hạn chế tới mức tối đa các khoản chi thờng xuyên của chính phủ,tinh giảm bộ máy hành chính, giảm số viên chức tơí mức thích hợp
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh
tế thị trờng, các nớc Đông Nam á đã xuất phát từ quan niệm coi kinh tế thịtrờng nh một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội chứ không thuần tuý là tổ chứckinh tế Bên cạnh các biện pháp tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất kinhdoanh Nhà nớc còn điều tiết thu nhập, qua đó điều chỉnh các mối quan hệ xãhội, đảm bảo công bằng xã hội
Thực tế ở các nớc Đông Nam á cho thấy, giữa tăng trởng kinh tế vàphân phối thu nhập có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.Tăng trởng kinh tế không chỉ dẫn tới sự giàu có chung của đất nớc mà còntạo điều kiện thuận lợi cho một bộ phận không nhỏ dân c thực hiện giảm vàxoá bỏ nghèo đói Mặt khác, thực hiện chính sách phân phối hợp lý, côngbằng sẽ làm tăng mức sống của ngời dân, tăng thu nhập của họ và qua đó sẽtạo nên môi trờng tiêu thụ hàng hoá rộng lớn hơn, kích thích sản xuất pháttriển, tạo điều kiện cho tăng trởng kinh tế và ổn định xã hội
Trong quá trình xây dựng và phát triển của các nớc Đông Nam á, vaitrò của Nhà nớc hết sức to lớn Vai trò đó không chỉ thể hiện ở việc xây dựng
Trang 39và thực hiện các chiến lợc phát triển bằng các chính sách kinh tế vĩ mô màcòn ở sự quan tâm phát triển nguồn lực con ngời
Đối với đời sống xã hội, nhất là đối với quá trình sản xuất hàng hoá ởgiai đoạn cao kinh tế thị trờng, vấn đề nguồn nhân lực - ngời lao động luôn làvấn đề quan trọng, bởi chính ngời lao động chứ không phải ai khác đóng vaitrò quyết định trong lực lợng sản xuất Trong giai đoạn hiện nay, trong thời
đại của cuộc sống cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đối với các nớc
Đông Nam á vấn đề con ngời lao động đợc xem nh vấn đề thời sự Sở dĩ vấn
đề con ngời ở đây đợc coi trọng nh vậy là vì lịch sử phát triển của các nớc
ph-ơng Đông nói chung, của các nớc Đông Nam á nói riêng cho thấy lối suynghĩ và hành động theo thói quen, kinh nghiệm là một trong những thuộctính nổi trội Con ngời phơng Đông, xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuấtnhỏ nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc thiên nhiên nên rất chú trọng kinhnghiệm Họ dễ dàng thoả mãn với những tri thức, phơng pháp hoạt động đợctruyền từ những thế hệ trớc và do bản thân tích luỹ đợc Họ cũng dễ dàngbằng lòng với những kết quả đã tạo ra mặc dù đó là những kết quả còn hếtsức hạn chế Trong điều kiện hiện nay, thời đại của cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại, của xu thế quốc tế hoá toàn câù đời sống kinh tế thế giới,khi khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, trí tuệ trở thành yếu tố thenchốt, là sức mạnh, là nguyên nhân của rất nhiều những thành công trong sựtăng trởng và phát triển của mỗi quốc gia, muốn vơn lên không thể khôngxây dựng các chính sách nhằm tạo ra một lớp ngời lao động có trình độ cao,
có khả năng tiếp thu, sử dụng và thậm chí sáng tạo ra những công nghệ mớitiên tiến hiện đại Trong lĩnh vực này, Nhà nớc ở các nớc Đông Nam á thờng
đầu t thích đáng cho giáo dục, coi đây là quốc sách hàng đầu; đào tạo độingũ lao động không những chỉ đủ khả năng sử dụng các công cụ lao độngtrong các ngành nghề hiện có trong nớc mà còn "đón đầu", chuẩn bị chonhững ngành sẽ xuất hiện trong tơng lai; sử dụng có hiệu quả nguồn lao động
đợc đào tạo trên cơ sở phân công lao động hợp lý và trả lơng một cách thoả
đáng, đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động, đồng thời kích thích tínhtích cực lao động
Việc xem xét sự tác động của Nhà nớc đến quá trình phát triển kinh tế
ở các nớc Đông Nam á - những nớc cùng khu vực, có nhiều nét tơng đồng về
điều kiện địa lý, dân c, truyền thống đã giúp chúng ta một mặt hiểu rõ hơnnhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ kinh tế -chính trị và chính trị - kinh tế Mặt khác, giúp chúng ta có những kinh
Trang 40nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng ở nớc ta Tuynhiên, ông Kinôshita Tôshihico, một nhà nghiên cứu kinh tế ngời Nhật Bảncho rằng cần phải học tập cả những kinh nghiệm thành công và những kinhnghiệm không thành công Trong bài "Phát triển kinh tế và vai trò cuả chínhphủ: kinh nghiệm của các nớc ASEAN" tác giả này còn thậm chí cho rằng
"những trờng hợp thất bại có khi cho ta nhiều bài học lớn hơn, hay hơn nhữngtrờng hợp thành công"35
Trong quá trình phát triển thất bại lớn nhất để lại nhiều hậu quả nhấtkhông chỉ cho nền kinh tế trong mỗi nớc, trong khu vực mà còn cho cả nềnkinh tế thế giới mà một số nớc Đông Nam á gặp phải chính là cuộc khủnghoảng tài chính - tiền tệ vào cuối năm 1997 đầu năm 1998
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở một số nớc trong khu vực nổ rabắt đầu từ Thái Lan vào ngày 2/7/1997 khi ngân hàng trung ơng Thái Lantuyên bố thả nổi đồng Baht - tiền Thái Lan, sau đó lan sang Philipin,Malayxia, Inđônêxia ở các mức độ nhẹ hơn, cuộc khủng hoảng ảnh hởng
đến kinh tế Singapore, Hồng Kông, Đài Loan Tới tháng 11/1997, khủnghoảng lan tới Hàn Quốc, ảnh hởng tới nền kinh tế Nhật Bản, Tây Âu và toàncầu Theo nhiều nhà nghiên cứu, cuộc khủng hoảng này do nhiều nguyênnhân gây ra Nhng đứng dới góc độ quan hệ chính trị - kinh tế, Nhà nớc -kinh tế có thể chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất: Sự yếu kém của các tổ chức Nhà nớc Trong các tổ chức Nhànớc của các nớc đó thờng xuyên chứa đựng những yếu tố bất ổn định, tiêucực Các đảng phái chính trị cạnh tranh về quyền lực, một số quan chức chínhphủ không trong sạch, tham nhũng đã dẫn đến chỗ không có Nhà nớc mạnh,không có đủ các điều kiện quản lý và điều hành một nền kinh tế vốn đã chứa
đựng nhiều tiềm ẩn mất cân đối Những yếu kém bất cập trong tổ chức Nhànớc đã tạo ra những bất ổn trong chính trị, làm cho các nhà đầu t trong vàngoài nớc, đặc biệt là các nhà đầu t nớc ngoài không yên tâm, thiếu tin tởng
và do vậy, hoặc không tiếp tục đầu t hoặc rút vốn lại, đẩy nền kinh tế lâm vàokhủng hoảng Thực tế này có thể thấy ở Inđônêxia - một quốc gia có cơ chếchính trị tồn tại gắn liền với chế độ gia đình trị, đồng tiền bị sụt giá mạnh,khủng hoảng kéo dài và khó khôi phục do các nhà đầu t đã rút vốn vì thấy uytín của chế độ gia đình trị bị lung lay dẫn đến bất ổn định về chính trị ở HànQuốc, sự đổ vỡ của các doanh nghiệp lớn, sự bùng nổ của những khủng
35 Vai trò của Nhà nớc trong phát triển kinh tế Kinh nghiệm Nhật Bản, ASEAN và Việt Nam, H 1993, tr.74-75.