Dạy học giải toán có lời văn là một trong những con đường hình thành vàphát triển trình độ tư duy của học sinh phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự nhậnxét, so sánh, phân tích, tổng hợp,
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN THANH OAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH MAI
====***====
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SƠ YẾU LÝ LỊCH
Họ và tên : Nguyễn Thị Duyên
Ngày tháng năm sinh: 06 - 08 -1980
Năm vào ngành: 2009
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Mai - Thanh Oai Trình độ chuyên môn: Cao đẳng sư phạm Tiểu học
Hệ đào tạo: Chính quy
Bộ môn giảng dạy: Giáo viên chủ nhiệm lớp 3D
Trình độ ngoại ngữ: Anh văn
Trang 2Không những thế, bậc học Tiểu học còn là bậc học nền tảng mang tính toàndiện ở cả 9 môn học Cùng với các môn học khác, môn Toán có vị trí đặc biệtquan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Vì thế nóchiếm khoảng thời gian đáng kể trong nội dung giảng dạy ở tất cả các trườngphổ thông Các kiến thức, kĩ năng môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trongđời sống thực tế Nó là chìa khóa mở ra cho các ngành học khác Kiến thức, kĩnăng môn Toán ở bậc tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyệntập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập vàtrong đời sống Các kiến thức Toán được sắp xếp đồng tâm mang tính chất kếthừa; mỗi nội dung được sắp xếp theo trình tự hợp lý, phù hợp với tâm lí lứa tuổihọc sinh tiểu học Ở lớp 3, các em được học các kiến thức, kĩ năng ở thời điểmkết thúc của giai đoạn một, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phảinắm chắc được tất cả các cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng và các kĩ năng
Trang 3khác nói chung Thông qua môn toán, học sinh được trang bị một hệ thống kiếnthức cơ bản về nhận thức đồng thời cũng tích lũy được những kinh nghiệm để
tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh, tạo đà cho hoạt động học tập ở các cấphọc tiếp theo
Mặt khác, môn Toán giúp học sinh nhận biết được số lượng và hình dạngkhông gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp,
kĩ năng nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh Môn Toán còn góp phầnrèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, gópphần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho họcsinh Đặc biệt là giải toán có lời văn, nó thể hiện rõ ràng năng lực vận dụng trithức toán học và khả năng phát triển ngôn ngữ của học sinh Đồng thời qua giảitoán, giáo viên cũng rễ phát hiện những ưu điểm và khắc phục thiếu sót
Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp tiểu học, đặc biệt nhiều năm liền đứnglớp ở khối 3, tôi thấy: Toán có lời văn chiếm một vị trí rất quan trọng trongchương trình toán ở trường Tiểu học Các em được làm quen với toán có lời vănngay từ lớp một, đặc biệt là học kỳ II lớp 1, các em đã viết câu lời giải cho phéptính Toán có lời văn ở lớp 3 là kế thừa toán có lời văn ở các lớp 1, 2; mở rộng,phát triển nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinhlớp 3 Dạy học giải toán có lời văn là một trong những con đường hình thành vàphát triển trình độ tư duy của học sinh (phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự nhậnxét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định ).Vậy làm thế nào để học sinh hiểu được đề toán, biết phân tích, thiết lập các mốiquan hệ giữa các dữ liệu đã cho với yêu cầu của bài toán, viết được tóm tắt, nêuđược câu lời giải hay, phép tính đúng Điều đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự
nỗ lực không biết mệt mỏi của người giáo viên đứng lớp
Là một giáo viên đã có nhiều năm trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khốilớp 3, qua kinh nghiệm của bản thân, qua trao đổi kinh nghiệm cùng đồng
nghiệp, tôi đã rút ra được: “Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 giải toán
Trang 4có lời văn” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói
chung và đối với học sinh lớp 3 nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu:
Đối với học sinh lớp 3 nói riêng hay học sinh tiểu học nói chung chủ yếu các
em tư duy trực quan, cụ thể; vốn ngôn ngữ của các em còn nghèo, khả năng phân tích tổng hợp chưa cao Mà chương trình toán có lời văn ở lớp 3 lại đòi hỏi học sinh phải biết giải và trình bày bài giải các bài toán Chính vì vậy tôi đã tập trung nghiên cứu việc dạy và học giải toán có lời văn lớp 3 cho cả thầy và trò
4 Đối tượng nghiên cứu:
- Giải toán có lời văn lớp 3.
5 Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
- Học sinh lớp 3D trường Tiểu học Thanh Mai.
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Quan sát.
- Hỏi đáp.
- Luyện tập thực hành.
7 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Thời gian thực hiện: 1 năm học.
- Từ tháng 9 - 2012 đến tháng 4 – 2013.
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
- Như chúng ta đã biết, toán có lời văn chiếm một vị trí rất quan trọng trong môn
Toán lớp 3 Việc giải toán có lời văn ở tiểu học trước hết là giúp các em luyệntập, vận dụng kiến thức, các thao tác thực hành vào thực tiễn Qua đó, từng bướcgiúp các em phát triển năng lực tư duy (so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp,
Trang 5trừu tượng hóa, khái quát hóa); phát triển trí tưởng tượng không gian, tập nhậnxét các số lượng thu thập được; rèn luyện phương pháp suy luận l«gÝc; diễn đạtgọn, rõ, đúng các thông tin Thông qua giải toán có lời văn, học sinh sẽ được rènluyện phong cách của người lao động mới: Làm việc có ý thức, có kế hoạch,
sáng tạo, hăng say và miệt mài trong công việc, vượt khó khăn, cẩn thận, kiêntrì, tự tin Vì mỗi bài toán có lời văn thường là một tình huống có vấn đề cần giảiquyết Tình huống đó có thể phản ánh các vấn đề của thực tiễn Nội dung bàitoán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụthuộc có liên quan đến cuộc sống thường xảy ra hàng ngày
Trong những năm gần đây, sở giáo dục luôn quan tâm mở nhiều chuyên đề vềphương pháp dạy học mới ở các môn học Đặc biệt là môn Toán nhằm phát huytính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong quá trình đi tìm tri thức và đạtđược mục tiêu toàn diện của quá trình giáo dục
Cái khó của giải bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏđược những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nóimột cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toánhọc chứa đựng trong bài toán và tìm được những câu lời giải, phép tính thíchhợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán Vậy để giải được những bài toán cólời văn ở lớp 3, đòi hỏi mỗi học sinh phải biết suy luận, biết phân tích, biết sosánh, tổng hợp Nhưng ở lứa tuổi này, đặc điểm tư duy của học sinh chưa pháttriển chủ yếu là tư duy trực quan, đơn giản, cụ thể; vốn ngôn ngữ của các emcòn nghèo, khả năng phân tích tổng hợp còn chưa cao Mà chương trình toán cólời văn ở lớp 3 lại đòi hỏi học sinh phải biết giải và trình bày bài giải các bàitoán đơn (có một phép tính) và các bài toán hợp (có đến hai bước tính) với cácdạng cơ bản như: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số; gấp một số lênnhiều lần; giảm đi một số lần; so sánh số lớn gấp mấy lần số bé; so sánh số bébằng một phần mấy số lớn; bài toán liên quan đến rút về đơn vị; bài toán có nộidung hình học …
Trang 6Làm thế nào để học sinh hiểu và giải được theo yêu cầu của chương trình mới
hiện nay, đó là điều cần trao đổi giữa chúng ta - những người trực tiếp giảng dạy
cho các em Đây quả là bước nhảy vọt khá lớn trong chương trình toán học nóichung và chương trình toán lớp 3 nói riêng Nhưng nếu như ngay lớp hai, lớp 3các em đã nắm bắt được cách giải toán có lời văn và giải một cách thành thạo thì
khi lên lớp 4, 5 các em sẽ dễ dàng tiếp thu, nắm bắt và gọt giũa, tôi luyện trang
bị thêm vào hành trang kiến thức của mình để tiếp tục học tốt các lớp trung học
cơ sở
- Trong mỗi nhà trường hiện nay, lượng kiến thức cung cấp cho học sinh là có
hạn mà mong muốn hiểu biết của con người khi vào đời là vô hạn Điều đó đòihỏi mỗi thầy cô phải giúp học sinh có phương pháp học và lòng ham học
Qua thực tế nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, tôi nhận thấy:
* Về phía giáo viên:
Khi dạy học sinh giải toán có lời văn, một số giáo viên còn nói nhiều, làmmẫu nhiều mà không chú ý đến việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạocủa học sinh Mỗi giáo viên dạy còn áp dụng các phương pháp dạy học một cáchmáy móc, áp đặt, do trình độ nhận thức, do khâu chuẩn bị bài chưa tốt hay doviệc nắm bắt các phương pháp dạy học mới còn nhiều hạn chế nên phần nào ảnhhưởng đến kết quả học tập của học sinh
* Về phía học sinh:
Khi giải các bài toán có lời văn, các em thường làm rất chậm so với các dạngtoán khác Nhiều em còn lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính, có em làmphép tính chính xác, nhanh chóng nhưng không tìm được câu lời giải đúng hoặckhông tìm được câu lời giải phù hợp với phép tính Thậm chí có một số em cònđọc chưa đúng các ngôn từ trong bài toán Vì vậy nhiều khi dạy học sinh đặt câulời giải phù hợp còn vất vả hơn nhiều so với dạy các em thực hiện các phép tính
đó để tìm ra đáp số
Việc đặt lời giải cho phép tính là một khó khăn lớn đối với một số em họcsinh, nhất là đối với học sinh trung bình và học sinh yếu Các em mới chỉ đọc
Trang 7được đề toán chứ chưa hiểu được đề toán, chưa trả lời được các câu hỏi thầy(cô) nêu: Bài toán cho biết cái gì? Bài toán yêu cầu tìm gì? Nên đến khi giảibài toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải.Những nguyên nhân trên một phần là do kỹ năng nghe, đọc, nói, viết của các emcòn yếu; một phần là do các phương pháp áp dụng, truyền đạt của người thầy
chưa đúng hoặc chưa phù hợp Đây cũng chính là lý do khiến tôi chọn đề tài nàyvới mong muốn tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giảitoán có lời văn cho học sinh lớp Ba nói riêng và trong môn toán nói chung Để
từ đó, các em có thể giải thành thạo những bài toán có lời văn khó và phức tạphơn, tạo đà tốt cho các em có kĩ năng giải toán cho các lớp trên
1 Tình hình thực tế khi chưa thực hiện đề tài.
a Đặc điểm tình hình chung của lớp 3D như sau :
- Năm học 2012 – 2013, tôi được phân công giảng dạy lớp 3D, trường Tiểuhọc Thanh Mai – huyện Thanh Oai Lớp 3D do tôi giảng dạy có 25 học sinhtrong đó:
+ Nữ: 16 em; nam: 9 em
Trang 8- Học sinh có hoàn cảnh khó khăn là 4 em đều có hoàn cảnh vô cùng khókhăn, kinh tế gia đình chỉ trông chờ vào việc làm hương của mẹ , việc học củacác em không hề được quan tâm Cụ thể đó là em Lê Thanh Hiền, Bố mẹ bỏnhau ở với bà ngoại Em Chu Hải Yến, Phạm Thị Giang, Nguyễn Bảo Tuấn, giađình thuộc hộ đói nghèo Bên cạnh đó cũng có một số rất ít các em được gia
đình quan tâm chu đáo như em Trọng Cường, em Ly, Song cũng có một số giađình kinh tế khá giả nhưng mải làm ăn buôn bán nên việc học của các em cũngkhông được quan tâm đầy đủ như em Tài Lộc, Minh Ánh …
* Về đạo đức : 24 em thực hiện đầy đủ 5 nhiệm vụ , đạt 96 %
* Về học tập : Khảo sát hai môn Toán và Tiếng Việt kết quả như sau:
b Đặc điểm và thực trạng dạy học toán có lời văn của lớp.
Qua thực tế giảng dạy cũng như qua việc tham khảo các bài kiểm tra, tôi nhậnthấy:
Khi giải các bài toán có lời văn:
- Học sinh thường đọc bài qua loa không biết phân tích đề toán để hiểu nội dung, yêu cầu của đề bài
- Việc tóm tắt, tìm hiểu đề toán có nhiều khó khăn đối với một số học sinhtrung bình và học sinh yếu Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em còn chưa tốtnên các em đọc được đề toán và hiểu được đề còn thụ động và chậm chạp
Trang 9- Nhiều em chưa biết tìm câu lời giải cho phép tính hoặc tìm câu lời giảikhông phù hợp với phép tính.
- Một số học sinh yếu đọc đề toán còn sai nhất nhiều về ngôn từ trong bàitoán như: Em Tuấn, em Cường, em Yến
2 Số liệu điều tra trước khi thực hiện.
Sau khi nhận lớp, tôi đã khảo sát kĩ năng giải toán của 25 học sinh lớp 3D vàthu được kết quả ban đầu sau:
Sĩ số Giải thành tạo Kĩ năng giải chậm Đọc đề toán chậm và chưa
nắm được cách giải
Từ thực trạng trên, để công tác giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn, giúp các emhọc sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giải toán nói riêng vàchất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung, tôi đã mạnh dạn cải tiến nộidung, phương pháp trong giảng dạy như sau:
III NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Giải toán là một dạng hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp Hình thành kĩnăng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ năng tính toán, vì các bài toán là sự kếthợp đa dạng nhiều kĩ năng, nhiều quan hệ toán học Giải toán không chỉ nhớmẫu rồi áp dụng mà đòi hỏi phải nắm chắc kỹ năng phân tích các dữ kiện cótrong đề toán Có tư duy khái quát hóa, phân tích tổng hợp các kiến thức đã học,đồng thời còn đòi hỏi ở các em khả năng độc lập suy luận Mặt khác do đặc thùcủa mỗi vùng miền, mỗi địa phương cũng tác động trực tiếp đến sự phát triển tưduy của mỗi học sinh Vì vậy, người thầy phải có định hướng cho thật phù hợp
để các em giải toán một cách sáng tạo Tóm lại, để giúp các em thực hiện cáchoạt động trên có hiệu quả, tôi tiến hành như sau:
Trang 101- Kết hợp với cha mẹ học sinh thống nhất biện pháp giảng dạy.
Chúng ta đều biết, học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêngđến trường còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ vàthầy cô Các em chưa có ý thức tự giác học tập Chính vì vậy, giáo dục ý thức
tích cực trong học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng đểgiúp các em học tốt hơn
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học tập của
nhiều em còn chưa cao Để thực hiện tốt cuộc vận động “ hai không” của ngành
giáo dục và đào tạo; đồng thời giúp phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việcgiáo dục con cái, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh các chỉ tiêuphấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết để giúp các em học tập tốt hơnnhư: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, cách hướng dẫn các em tự học ởnhà: Đặc biệt là vào buổi tối phụ huynh cần bớt đi một chút thời gian trò truyệnvới bạn bè, công việc khác giành thời gian nhắc nhở quan tâm đến học tập củacác em Và rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt hoan nghênh biện pháptrên Với phần bài tập của sách giáo khoa toán, tôi hướng dẫn phụ huynh dạy các
em luyện đọc nhiều lần đề toán để hiểu đề, để biết bài toán cho biết gì, hỏi gì rồimới tìm hướng giải Cần cho các em luyện nêu miệng các đề toán, luyện nói vàtrả lời nhiều lần
Tuy nhiên, trong các buổi họp phụ huynh vẫn còn một số phụ huynh vắngmặt do có một số việc đột xuất, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việchọc và còn do điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học hànhcủa con em cho giáo viên, nhà trường Đối với phụ huynh vắng mặt này, tôi tìmcách gặp gỡ tại nhà hoặc trao đổi qua điện thoại Các gia đình này phần lớn dotrình độ văn hóa còn thấp nên không có phương pháp dạy con hoặc dạy con
không đúng cách, chỉ biết nhắc nhở con “học bài đi” mà không quan tâm xem
con học gì, học như thế nào, làm bài đã đúng chưa, có gì cần sửa chữa haykhông, hoặc các em làm bài xong rồi nhưng không có sự nhận xét đúng đắn chonhững chỗ sai, cần sửa chữa như thế nào Đối với những em này tôi phải hướng
Trang 11dẫn nhiều hơn ở lớp để các em có thể tự mình làm bài, kiểm tra lại kết quả màmình đã làm khi tự học ở nhà Với một số học sinh thiếu sách giáo khoa, tôi traođổi với phụ huynh, động viên phụ huynh mua sách giáo khoa đầy đủ cho con
em Nếu gia đình đó không đủ điều kiện mua sách cho con em mình thì tôi đề
xuất với Nhà trường mua hỗ chợ cho các em bộ sách hay mượn sách dùng chungtrong tủ sách dùng chung của Nhà trường
2 – Kết hợp rèn các kĩ năng đọc, nghe, nói, viết, phân tích và tóm tắt đầu bài trong giải toán.
Như chúng ta đã biết, việc đọc thành thạo, lưu loát là điều kiện rất cần thiếtcho việc giải toán có lời văn Các em có đọc thành thạo, lưu loát thì mới hiểuđược bài toán cho biết gì và yêu cầu tìm gì?
Để giúp học sinh có được kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì giáo viênkhông chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà còn cần luyện cho học sinh kĩnăng nghe, đọc, nói, viết trong các giờ học khác
Đối với học sinh lớp 3, đặc biệt là một số em có học lực trung bình, yếu cònrất thụ động, rụt rè trong giao tiếp Chính vì vậy, để các em tự tin mạnh dạn khiphát biểu, trả lời thì giáo viên cần phải luôn gần gũi, khuyến khích các em mạnhdạn giao tiếp, tổ chức các trò chơi toán học để học tập Cho các em được traođổi nhiều trong giờ Tiếng việt hay các môn học khác Từ đó giúp các em tíchlũy thêm vốn từ vựng và sử dụng vốn từ có hiệu quả hơn Trong các tiết học các
em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti Bêncạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý rèn kĩ năng đọc và nghe cho học sinh.Đọc nhanh, đọc đúng tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ, biết nhấn giọng ở những từngữ quan trọng sẽ giúp học sinh có kĩ năng nghe để hiểu được những nội dungyêu cầu của bài toán nêu ra
Song song với việc rèn cho học sinh kĩ năng đọc, nghe thì giáo viên cần chú ýrèn cho học sinh kĩ năng nói, viết Vì khi các em diễn đạt được những điều màmình hiểu nghĩa là các em đã lắm bắt được bài toán và trình bầy được bài giải
Trang 12theo ý của mình mà không hoàn toàn bị thụ động vào ý kiến của bạn bè hay thầycô.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy khả năng suy luận của các em còn kém Vìvậy ngoài việc rèn kĩ năng đọc, nghe, nói, viết tôi còn rèn cho học sinh kĩ năngphân tích, tổng hợp trước một đề toán Vì khả năng chuyển một bài toán đơn
sang việc hình thành các bước giải một bài toán hợp của học sinh còn yếu và cónhiều hạn chế Khi giải các em chưa tập hợp được kiến thức, nhiều em còn lúngtúng kể cả một số em có lực học khá Điều đáng chú ý ở đây là cách đặt lời giảiphù hợp cho phép tính, rất nhiều em chưa biết đặt lời giải hoặc lời giải đưa rachưa hợp lý do các em chưa được uốn nắn nhiều trong quá trình học tập
*Tóm lại, để giúp học sinh giải được toán có lời văn thành thạo, tôi luôn chú
ý rèn luyện kĩ năng đọc, nghe, nói, viết; kĩ năng phân tích, tổng hợp cho họcsinh trong các giờ học, bởi vì học sinh đọc thông, viết thạo, phân tích tổng hợp
tốt là yếu tố “đòn bẩy” giúp các em hiểu rõ được vấn đề và tìm cách giải quyết
vấn đề một cách thành thạo
Ví dụ: Sau khi đọc đề toán ở sách giáo khoa toán 3 – trang 50 “Thùng thứ
nhất đựng 18ℓ dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6ℓ dầu Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu?”
Tôi yêu cầu học sinh đọc nhiều lần bài toán, tập nêu bằng lời để tóm tắt bàitoán:
Thùng 1 có: 18ℓ
Thùng 2 có: nhiều hơn 6ℓ
Hỏi cả hai thùng: ?lít dầu?
Sau khi học sinh nêu được bằng lời để tóm tắt bài toán, tôi tiếp tục hướng dẫnhọc sinh tập tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
Thùng 1 Thùng 2
18ℓ
6ℓ
?ℓ
Trang 13Sau khi hướng dẫn học sinh tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng tôi tiếp tục hướng dẫn học sinh tìm lời giải cho bài toán:
+ Nhìn vào sơ đồ ta thấy: muốn tìm số lít dầu ở cả hai thùng trước hết ta phải
tìm gì? (Tìm số lít dầu ở thùng thứ hai)
+ Yêu cầu học sinh nêu miệng lời giải cho phép tính thứ nhất:
Thùng thứ hai đựng số lít dầu là:
Học sinh nêu phép tính: 18 + 6 = 24 (ℓ)
+ Yêu cầu học sinh nêu miệng tiếp lời giải và phép tính thứ hai:
Cả hai thùng đựng được số lít dầu là:
Ở dạng bài này, giáo viên cần cho học sinh luyện nêu miệng đề toán và tậptóm tắt đề toán bằng sơ đồ đoạn thẳng nhiều lần để các em ghi nhớ được bàitoán
Ví dụ: Với bài tập số 3 (trang 50 – SGK Toán 3)
Trang 14Học sinh nêu: Bao gạo nặng 27kg, bao ngô nặng hơn bao gạo 5kg Hỏi cả
hai bao gạo và ngô nặng tất cả bao nhiêu ki – lô – gam?
Sau đó tôi cho các em luyện cách trả lời miệng
Bao ngô nặng số kg là: 27 + 5 = 32(kg)
Cả hai bao gạo và ngô nặng số kg là: 32 + 27 = 59 (kg)
Rồi các em tự trình bày bài giải:
Bài giải Bao ngô nặng số ki – lô – gam là:
27 + 5 = 32(kg)
Cả hai bao gạo và ngô nặng số ki – lô - gam là:
32 + 27 = 59 (kg)Đáp số: 59 kgVới bài toán này tôi có thể gợi ý cho học sinh khá giỏi đặt được đề toán khác
như: Bao gạo nặng 27 kg và nhẹ hơn bao ngô 5kg Hỏi cả hai bao gạo và ngô
nặng bao nhiêu ki – lô – gam?
3 – Hình thành kĩ năng giải toán.
Khác với lớp 3 của chương trình cải cách giáo dục, chương trình Toán lớp 3 mới, các bài toán có lời văn thường được cho dưới các dạng sau:
+ Các bài toán về nhiều hơn, ít hơn
+ Các bài toán về ý nghĩa phép nhân, phép chia
+ Các bài toán về gấp một số lên nhiều lần hoặc giảm đi một số lần
+ Các bài toán về tìm một phần mấy của một số
+ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
+ Các bài toán có nội dung hình học
Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinhcác kĩ năng giải toán theo các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Ở bước này, giáo viên cần cho học sinh đọc kĩ đề toán, gạch chân dưới những
từ cần lưu ý để giúp các em hiểu một số từ ngữ, thuật ngữ quan trọng nói nên
Trang 15những tình huống toán học bị che lấp dưới cái vỏ ngôn từ thông thường như
“Gấp đôi”, “Bằng nửa”, “31, 41 …”, “Tất cả”…từ đó các em sẽ hiểu nội
dung, nắm bắt được bài toán cho biết gì, yêu cầu phải tìm cái gì? Nếu trong bàitoán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì giáo viên cần hướng dẫn cho họcsinh hiểu
được ý nghĩa và nội dung của các từ ngữ đó ở trong bài toán đang làm, sau đógiúp học sinh tóm tắt đề toán bằng lời, hình vẽ hoặc bằng sơ đồ
Đối với những học sinh có kĩ năng đọc, nghe, nói, viết chậm tôi yêu cầu các
em đó đọc nhiều lần và kết hợp dùng phương pháp giảng giải kèm theo các đồvật, tranh minh họa để các em tìm hiểu, nhận xét nội dung, yêu cầu của đề toán.Qua đó, học sinh có thể hiểu được yêu cầu của đề toán và dựa vào các câu hỏicủa đề toán để nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài toán rồi các em
tự trình bày bài giải vào vở
Ví dụ: Thu hoạch ở thửa ruộng thứ nhất được 127 kg cà chua, ở thửa ruộng
thứ hai gấp 3 lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất Hỏi cả hai thửa ruộng thu hoạch được bao nhiêu ki – lô – gam cà chua?
Với bài toán này, tôi cho học sinh tìm hiểu thuật ngữ “thu hoạch” nghĩa là gì? (Đồng nghĩa với việc hái cà chua để sử dụng); thuật ngữ “số cà chua ở thửa ruộng thứ hai gấp 3 lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất” và gạch chân dưới các từ ngữ “gấp 3 lần” “cả hai thửa ruộng” rồi hướng dẫn học sinh nắm bắt
nội dung của bài toán bằng các câu hỏi:
+ Bài toán cho biết gì ? (Biết số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất là 127 kg) + Bài còn cho biết gì nữa ? (Biết số cà chua ở thửa ruộng thứ hai gấp 3 lần số
cà chua ở thửa ruộng thứ nhất)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? (Tìm số cà chua ở cả hai thửa ruộng)
Bước 2: Tìm cách giải bài toán
Ở bước này, giáo viên hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa các dữliệu đã cho (giả thiết) với yêu cầu của đề bài (kết luận) để tóm tắt bài toán bằng
Trang 16ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ, hình vẽ từ đó tìm ra phép tínhtương ứng.
+ Bài toán cho biết gì? (phải sửa quãng đường dài 1215m)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (dã sửa được13 quãng đường)
+ Bài toán hỏi gì? (đội công nhân còn phải sửa tiếp bao nhiêu mét đường
nữa?)
+ Muốn biết đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường nữa thì
trước hết ta phải tìm được gì? Học sinh nêu cách tìm? (tìm số mét đường đã sửa
được tức là tìm 31 của 1215m là bao nhiêu mét ta làm phép chia lấy 1215 : 3)
+ Sau khi đã tìm được số mét đường đã sửa ta tiếp tục tìm gì? (tìm số mét
đường còn phải sửa) Học sinh nêu cách tìm? (tìm phần còn lại tức là làm phép tính trừ lấy số mét đường phải sửa trừ đi số mét đường đã sửa)
Trang 17Tuy nhiên tôi cũng lưu ý học sinh cách lựa chọn phép tính tùy theo từng bài
không nên áp dụng một cách máy móc Bởi vì có một số bài toán cho “nhiều hơn” nhưng không phải là chọn phép cộng.
Ví dụ: Lớp 3A có 19 bạn nữ và 16 bạn nam Hỏi số bạn nữ nhiều hơn số bạn
nam là bao nhiêu bạn?
Với bài toán này thì khi tìm số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam là bao nhiêu,học sinh phải làm phép tính trừ chứ không phải là phép tính cộng
b Đặt câu lời giải thích hợp
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp với phép tính là vôcùng quan trọng và khó khăn, nhất là đối với một số học sinh trung bình, họcsinh yếu ở lớp 3 Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lờigiải hay cũng là một khó khăn lớn đối với người dạy Đối với học sinh mà kĩnăng nói còn chậm tôi kiên trì kết hợp rèn kĩ năng nói cho các em để các em tựdiễn đạt câu trả lời bằng miệng trước khi viết câu lời giải Có thể chấp nhận cách
diễn đạt tuy “vụng về”nhưng đúng, rồi uốn nắn sửa dần Tùy từng đối tượng học
sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:
- Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất)
Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và thay từ cuối “mấy” hoặc “bao nhiêu” bằng từ “số” rồi thêm từ “là” vào cuối cùng để có câu lời
giải đúng ( Tìm câu lời giải đối với bài toán đơn và câu lời giải của phép tính thứ hai đối với bài toán hợp )
Ví dụ: Một cửa hàng có 4238m vải, đã bán được 1635m vải Hỏi cửa hàng
còn lại bao nhiêu mét vải?
Với bài toán này, giáo viên hướng dẫn học sinh bỏ bớt từ “hỏi” và thay từ
“bao nhiêu” bằng từ “số” rồi thêm từ “là” vào cuối để được câu lời giải: Cửa hàng còn lại số mét vải là
- Cách 2: Nêu miệng câu hỏi: “Muốn biết đội công nhân đó còn phải sửa
bao nhiêu mét đường nữa trước hết ta cần tìm gì trước?” để học sinh trả lời
miệng: “tìm số mét đường đã sửa” rồi hướng dẫn học sinh chỉ cần bỏ chữ đầu