1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào

51 640 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Quy Định Pháp Luật Về Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại CHDCND Lào
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 300 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế hiện nay, nhiềuliên kết kinh tế khu vực ở các cấp độ khác nhau đã được hình thành giữa cácquốc gia nhằm tăng cường phát triển kinh tế trong khuôn khổ của khối nóichung và tạo điều kiện thuận hơn cho các nước thành viên trong khu vực pháttriển kinh tế của mình nói riêng

Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), từ khi ra đời cho đến nay đãdần dần khẳng định được tiếng nói của mình trên trường quốc tế và đang đượcđánh gía là một trong những khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới hiệnnay Tuy nhiên, đang đứng trước nhiều thách thức do sự phát triển nền kinh tếthế giới và nội bộ ASEAN đặt ra, vì vậy các nước ASEAN vẫn tiếp tục thựchiện tích cực tiến trình liên kết khu vực, đặc biệt là hợp nhất kinh tế khu vựcgiữa các nước thành viên và coi đó là việc cấp thiết trước những thách thức toàncầu hiện nay

Cùng với khu vực mậu dịch tư do ASEAN (AFTA), sự ra đời của khu vựcđầu tư ASEAN (AIA) sẽ thúc đẩy hơn nữa tiến trình hợp nhất kinh tế giữa cácquốc gia thành viên bằng cách đẩy mạnh đầu tư trực tiếp, tạo thuận lợi choluồng vốn đầu tư, công nghệ và chuyên gia trong khu vực Hơn nữa sự hìnhthành khu vực đầu tư ASEAN còn có vai trò giúp các nước trong khu vực trongviệc tăng cường cạnh tranh thu hút FDI với các nền kinh tế mới nổi lên, đặc biệt

là Trung Quốc và Ấn Độ Bởi mục tiêu chủ yếu của Hiệp định khung về khu vựcđầu tư ASEAN (AIA) là hợp tác để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoASEAN từ các nguồn trong và ngoài khu vực Vì vậy mà việc tăng tốc xây dựngkhu vực đầu tư ASEAN cũng như việc đẩy nhanh thời gian thực hiện AIA làmột điều hết sức cần thiết và quan trọng đối với các nước ASEAN trong giaiđoạn phát triển kinh tế hiện nay

Mục đích của bài luận văn nay là xem xét và đánh giá tầm quan trọng củakhu vực đầu tư ASEAN (AIA) trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài đối với các nước ASEAN và quá trình thực hiện AIA của các nước này,

Trang 2

đồng thời đưa ra những thách thức mà các quốc gia này cần phải đối mặt cũngnhư những giải pháp nhằm thúc đẩy sự hình thành AIA, tạo điều kiện thuận lợitrong việc thu hút FDI trong thời gian tới của các quốc gia này trong khuôn khổAIA

Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận vănđược chia làm ba chương:

Chương 1: Khái quát sự hình thành đầu tư trong khuôn khổ ASEAN

Chương 2: Những nội dung chính của Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN và lộ trình thực hiện Hiệp định

Chương 3: Một số quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH ĐẦU TƯ TRONG KHUÔN KHỔ

ASEAN

1 Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Bởi do mỗi cách tiếp cận khác nhau, chúng ta lại có những khái niệm khác nhau về FDI

Theo như giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam, năm 2005 NXB Chínhtrị Quốc gia, Hà Nội FDI được định nghĩa là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

là loại hình di chuyển vốn giữa các nước trong đó người chủ sở hữu vốn đồngthời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn

Còn trong sách Quan hệ kinh tế quốc tế, năm 2003, NXB Thống kê FDIlại được định nghĩa là: hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đónggóp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếptham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư

Trong bách khoa toàn thư Wikipedia, FDI là hình thức đầu tư dài hạn của

cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuấtkinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sảnxuất kinh doanh này

Tổ chức Thương mại thế giới WTO đưa định nghĩa về FDI như sau: Đầu

tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)

có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản

lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tàichính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đóquản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh, Trong những trường hợp đó, nhàđầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công tycon” hay “chi nhánh công ty”

Và theo như định nghĩa của quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), thì đầu tư trực tiếpnước ngoài lại là hoạt động đầu tư của một doanh nghiệp để thu hút một lợi ích

Trang 4

lâu dài, quản lý tại một doanh nghiệp khác ở một nền kinh tế khác với nền kinh

tế của doanh nghiệp đầu tư

Mỗi định nghĩa là một cách hiểu khác nhau và ở góc độ tiếp cận khácnhau Tuy nhiên, định nghĩa nào cũng cho chúng ta thấy đầu tư trực tiếp là sự dichuyển vốn giữa các quốc gia, và là một dạng quan hệ kinh tế có yếu tố nướcngoài

1.2 Các hình thức của FDI

Căn cứ vào mục đích của FDI

FDI tìm kiếm nguồn tài nguyên: là hình thức đầu tư nguyên thủy của cáccông ty xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển Hình thức này có tác dụngthúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ nước đầu tư đếnnước nhận đầu tư và xuất khẩu thành phẩm, bán thành phẩm từ nước nhận đầu

tư ra nước ngoài

FDI tìm kiếm thị trường: là hình thức đầu tư sản xuất cùng loại sản phẩmvới nước đầu tư và tiêu thụ sản phẩm tại nước nhận đầu tư, được gọi là FDI theochiều ngang Hình thức này xuất hiện do các rào cản thương mại và chi phí vậnchuyển cao

FDI tìm kiếm hiệu quả: là hình thức trong đó nhà đầu tư phân bổ một sốcông đoạn sản xuất ở nước ngoài để tận dụng chi phí thấp nhằm tối ưu hóa quátrình sản xuất, được gọi là FDI theo chiều dọc, chủ yếu áp dụng cho các ngànhcông nghiệp hướng vào xuất khẩu Hình thức cổ điển nhất của nó là đầu tư sangcác nước đang phát triển nhằm tìm kiếm các nguồn lao động chi phí thấp

FDI tìm kiếm tài sản chiến lược: là hình thức xuất hiện ở giai đoạn pháttriển cao của toàn cầu hóa sản xuất, khi các công ty đầu tư ra nước ngoài để tìmkiếm khả năng hợp tác nghiên cứu và triển khai (R&D)

Căn cứ vào hình thức góp vốn, FDI được chia thành:

Dự án 100% vốn nước ngoài

Xí nghiệp liên doanh do các doanh nghiệp của cả nước nhận đầu tư vànước đi đầu tư góp vốn

Trang 5

Hợp đồng hợp tác kinh doanh do nhà đầu tư nước ngoài thuê gia công linhkiện, tạo ra luồng thương mại hướng vào các sản phẩm có giá trị gia tăng caohơn

Hợp đồng BOT (xây dựng, hoạt động và chuyển giao), BTO (xây dựng,chuyển giao và hoạt động), BT (xây dựng, chuyển giao)

2 Vai trò của FDI đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các nước ASEAN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng một vai trò hết sức quan trọng đốivới sự phát triển kinh tế, đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa củamột quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Nhìn lại quá trìnhcông nghiệp hóa thành công của các nước ASEAN đều thấy, nguồn vốn đầu tưnói chung và FDI nói riêng là một trong những nhân tố quyết định sự thành bạicủa quá trình công nghiệp hóa Bởi vì đi cùng với FDI là kỹ thuật, công nghệ,kinh nghiệm quản lý, kỹ năng lao động, thị trường, v.v Và nếu các nước đisau có một chính sách thu hút và sử dụng FDI một cách hợp lý, có thể sẽ tậndụng được thành quả to lớn của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đi tắt vàrút ngắn quá trình công nghiệp hóa Đối với từng quốc gia cụ thể có những lợithế và điều kiện riêng trong việc thu hút và sử dụng FDI

Với các nước đang phát triển đặc biệt là các nước trong khuôn khổASEAN, thì FDI có vai trò quan trọng trong việc:

- Đáp ứng nhu cầu về vốn:

Giải quyết vấn đề thiếu vốn là một trong những tác động tích cực nhất màFDI mang lại cho nước nhận đầu tư Vốn cho đầu tư phát triển kinh tế bao gồmvốn trong nước và nước ngoài Đối với các nước lạc hậu, sản xuất còn ở trình độthấp, nguồn vối tích lũy trong nước là rất hạn chế, không thể đáp ứng đủ nhu cầuphát triển đất nước Một khi thiếu vốn, các nước này sẽ không thể đầu tư mởrộng và hiện đại hóa sản xuất, từ đó dẫn đến năng suất thấp, sức cạnh tranh kém,lợi nhuận thấp và dẫn đến tỷ lệ tích lũy thấp Đó chính là cái vòng luẩn quẩn Đểthoát ra được, cần phải có “cú huých từ bên ngoài”, đó chính là FDI Trong điềukiện hiện nay, khi mà trên thế giới có nhiều nước có trong tay một khối lượng

Trang 6

vốn khổng lồ và có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì đó là cơ hội để các nướcđang phát triển có thể tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào việc phát triểnkinh tế.

Tại nhiều nước đang phát triển, vốn FDI chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổngvốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, trong đó có một số nước hoàn toàn dựa vàovốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế Đểđánh giá vai trò của vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta có thể xem xét kỹ tỷ lệ vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc dân (FDI/GDP) ở một sốnước thực hiện khá thành công chiến lược thu hút FDI trung bình trên 10% như:Indonexia 10,9%, Malaysia 26,6% và đặc biệt là Singapore 65,3% Ở các nướcnày FDI đã thực sự đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế và nếu chỉcăn cứ vào tình hình thực tại về số lượng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế thì

có thể đánh giá rằng FDI có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng kinh tế của cácnước này

Bên cạnh đó, điều quan trọng của FDI đối với việc phát triển kinh tế là vaitrò của nó đối với nguồn tiết kiệm Về cơ bản FDI có thể khuyến khích tăngnguồn tiết kiệm đặc biệt đối với những nước nhận đầu tư Quá trình này có thể

dễ dàng xảy ra vì FDI có thể tạo thêm việc làm trong nước và tạo ra thu nhập, do

đó nó có thể làm cho nguồn tiết kiệm tăng lên ở nước sở tại Ngoài tiền lương

mà các nhà đầu tư nước ngoài trả và những khoản thu nhập mà những nhà cungcấp địa phương kiếm được vì các nhà đầu tư nước ngoài cũng có ảnh hưởng tíchcực đến tiết kiệm Cùng với quá trình các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể làmtăng tiết kiệm trong nước bằng những cách khác nhau như xây dựng các kếhoạch trả lương, chi trả vào các khoản tiết kiệm

Ngoài ra, FDI còn đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhucầu về ngoại tệ của nước nhận Điều này có nghĩa là việc thiếu hụt thương mại

có thể được bổ xung bằng nguồn vốn FDI Khi FDI chảy vào một nước, nó cóthể làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai Nó cũng có thể triệt tiêu khoản thâm hụt

đó qua thời gian khi các Công ty nước ngoài thu được những khoản xuất khẩuròng Thêm nữa khi những lợi thế của nền sản xuất nước ngoài được đưa vào

Trang 7

nước chủ nhà như công nghệ, kỹ năng sản xuất , chúng làm nâng cao sức cạnhtranh quốc tế của các hãng trong nước, do đó có thể làm tăng xuất khẩu, gópphần tạo ra ngoại tệ cải thiện cán cân thương mại.

- Đáp ứng nhu cầu về chuyển giao công nghệ

Đối với những nước đang phát triến nơi mà trình độ công nghệ còn lạchậu thì đáp ứng nhu cầu về vốn vẫn là chưa đủ Cho dù chúng ta có tiền để nhậpnhững máy móc, công nghệ hiện đại nhất nhưng nếu chúng ta chưa biết khaithác sử dụng và quản lý nó một cách hiệu quả thì đó chỉ là sự lãng phí Khi đầu

tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó số vốn bằngtiền mà còn chuyển cả vốn bằng hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vậtliệu (hay còn gọi là công nghệ cứng) và cả vốn vô hình như chuyên gia kỹthuật, công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thịtrường (hay còn gọi là công nghệ mềm) Thông qua hoạt động FDI, quá trìnhchuyển giao công nghệ được thực hiện tương đối nhanh chóng và thuận tiện cho

cả bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư Một trở ngại lớn nhất trên con đườngphát triển kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển là trình độ kỹ thuật, côngnghệ còn lạc hậu Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển tự nghiên cứu đểphát triển khoa học công nghệ cho kịp với trình độ của các nước phát triển làviệc làm khó khăn và tốn kém Con đường nhanh nhất để phát triển khoa hoc kỹthuật công nghệ và trình độ sản xuất của các nước đang phát triển hiện nay làphải biết tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoàithông qua chuyển giao công nghệ Tiếp nhận FDI là một phương thức cho phépcác nước đang phát triển tiếp thu được trình độ khoa học công nghệ hiện đại trênthế giới, tuy nhiên mức độ hiện đại đến đâu còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố.Nhưng dù thế nào thì đây cũng là lợi ích căn bản của các nước khi tiếp nhậnFDI Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc giakhác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công nghệcho nước nào tiếp nhận đầu tư Đây là cơ hội cho các nước đang phát triển được

“đi xe miễn phí”, mà cũng không phải trả một khoản nào cho việc tiếp nhậnchuyển giao công nghệ này

Trang 8

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:

Các dự án FDI góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh là động lực kíchthích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất nhờ tranh thủ vốn và kỹthuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn sử dụng nó để thực hiệnmục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Đây cũng là chìakhóa để các nước đang phát triển thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự đóinghèo Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, quốc gia nào thựchiện chiến lược kinh tế mở cửa với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy tácdụng của các nhân tố bên ngoài, biến nó thành các nhân tố bên trong thì quốc gia

đó tạo ra được tốc độ phát triển kinh tế cao Hoạt động FDI đã góp phần tích cựcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở những nước đang phát triển Nó là tiền đề, là chỗdựa để khai thác những tiềm năng to lớn ở trong nước nhằm phát triển nền kinh

tế Mức tăng trưởng kinh tế ở những nước đang phát triển thường do nhân tốtăng đầu tư là chủ yếu, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sửdụng, năng suất lao động cũng tăng lên theo Vì vậy, có thể thông qua đầu tư đểđánh giá một cách tương đối sự tăng trưởng của một nước

- Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Yêu cầu dịch chuyển cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sựphát triển nội tại nền kinh tế, mà nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đờisống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay FDI là một bộ phận quan trọng củahoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càngnhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế thếgiới và tham gia tích cực vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thếgiới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp.Với sự phân công lao động quốc tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốcgia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động FDI Ngược lại thì chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quátrình dịch chuyển cơ cấu kinh tế

- Tăng thu ngân sách nhà nước:

Trang 9

FDI góp phần đáng kể vào nguồn thu của ngân sách Nhà nước thông quaviệc nộp thuế của các đơn vị đầu tư nước ngoài và tiền thu từ việc cho thuê đất Cùng với tăng khả năng sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, FDI còn giúp mở rộngthị trưởng cả trong nước và quốc tế Đa số các dự án FDI đều có bao tiêu sảnphẩm Đây gọi là hiện tượng “hai chiều” đang trở nên khá phổ biến ở nhiềunước đang phát triển hiện nay.

- Giải quyết công ăn việc làm:

Về mặt xã hội FDI đã tạo được nhiều chỗ làm việc mới, thu hút được một

số lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vào làm việc trong các đơn

vị của đầu tư nước ngoài Điều này góp phần đáng kể vào việc giảm bớt nạn thấtnghiệp, vốn là tình trạng nan giải của nhiều quốc gia Đặc biệt đối với nhiềunước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong phú nhưng không cóđiều kiện khai thác và sử dụng thì FDI được coi là một chiếc chìa khóa quantrọng để giải quyết vấn đề trên, vì FDI tạo ra các điều kiện về vốn và kỹ thuậtcho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng của nền kinh tế trong đó có tiềmnăng về lao động

3 Cơ sở thực hiện của khu vực đầu tư ASEAN

3.1 Sự cần thiết của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước ASEAN sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998

Trong suốt hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn

từ đầu thập kỷ 90 đến trước khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á bùng

nổ, ASEAN được các nhà đầu tư đánh giá cao về mức hấp dẫn đầu tư Đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào ASEAN trước khủng hoảng vào năm 1996 đạt đến gần

30 tỉ USD Nhưng khi cuộc khủng hoảng 1997-1998 nổ ra, lượng FDI vào khuvực này giảm xuống một cách đáng kể, chỉ còn 4,4 tỷ USD trong năm 1998, đếnnăm 1999 chỉ còn 1,7 tỉ USD Đây là điều hoàn toàn không tốt đối với các nướcASEAN khi mà các nước này vốn là những nước có nền kinh tế lạc hậu, thiếuvốn trầm trọng việc phát triển đất nước Trong khi chịu ảnh hưởng nặng nề củacuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, thì Trung Quốc lại nổi lên như một điểmnóng về thu hút FDI trong khu vực Châu Á với nguồn tài nguyên phong phú cả

Trang 10

về nhân lực lẫn vật lực Nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng tạo ramối lo ngại đối với các nước ASEAN, đặc biệt là sự chuyển hướng FDI từ cácnước này sang Trung Quốc do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính 1997.

Để có thể hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và đuổi kịp trình độ của các nướcphát triển, các nước ASEAN cần phải thu hút được nhiều FDI hơn nữa, vì FDIđóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các nước này trong việc tạo ra cũng như

là bổ sung thêm nguồn vốn cho các nước này trong quá trình thực hiện côngnghiệp hóa Bản thân các nước ASEAN cũng rất nỗ lực trong việc làm thế nào

để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, để tăng cường cạnh tranhthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài với các nước và khu vực khác trên thế giới,đặc biệt là với Trung Quốc, nhằm hướng dòng FDI quay trở lại khu vực

Xét về thực trạng chung của dòng FDI vào trong khuôn khổ ASEAN từsau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, có thể nói nền kinh tế các nướcASEAN trở nên bất ổn định và tốc độ tăng trưởng thất thường, tuy vậy các nướcnày cũng đã đạt được một số thành tựu trong việc thu hút FDI, lượng FDI vàokhu vực đã có xu hướng tăng dần lên so với giai đoạn khủng hoảng, mặc dù sựtăng trưởng này có phần không ổn định Năm 2000, nền kinh tế của các nướcASEAN đã có thể phục hồi và đạt mức tăng trưởng cao Tuy nhiên, sang năm

2001, do sự suy giảm kinh tế của Mỹ và Nhật Bản, hầu hết các nước ASEAN 5(không kể Brunay) tốc độ tăng trưởng đều giảm sút: Indonesia 3,4% Malaysia0,5%, Thái Lan 2,0%, Singapore (-2%), Philipin 4,5% Dòng FDI vào khu vựcASEAN giảm xuống 26%, từ 19 tỷ USD năm 2001 xuống còn 14 tỷ USD năm

2002 Còn đầu tư trong nội khối ASEAN lại tăng khoảng 50%, từ 2,4 tỷ USDtrong năm 2001 lên 3,6 tỷ USD năm 2002, Năm 2002 đến 2003, FDI vào khuvực ASEAN tăng 27%, từ 15 tỷ USD lên 19 tỷ USD do tăng trưởng kinh tế caotrong khu vực và môi trường đầu tư được cải thiện

Từ năm 2003, tình hình trong nước và thị trường quốc tế thuận lợi hơn đãlàm cho mức tăng trưởng kinh tế của các nước có nhiều khả quan hơn, tạo đàcho năm 2004 đạt mức tăng trưởng khá cao Mặt khác, khối lượng FDI hồi phục

và tăng liên tiếp trong hai năm liền Dòng FDI vào khu vực tăng lên 43%, từ 14

Trang 11

tỷ USD năm 2002 lên 20 tỷ USD năm 2003, và kết quả là ASEAN trở thành mộttrong những khu vực tăng trưởng FDI cao nhất Sự tăng lên mạnh mẽ của FDItrong năm 2003, sự tăng trưởng cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính1997-1998 và triển vọng trong các năm sau cho thấy rằng cuộc khủng hoảng này

sẽ không còn ảnh hưởng đến sự cân nhắc về vấn đề đầu tư của các công ty đaquốc gia nữa Sự cải thiện cơ cấu cũng góp phần làm tăng FDI trong khuôn khổASEAN

Trong năm 2005, FDI vào khuôn khổ ASEAN đã tăng 48%, đạt mức kỷlục 38 tỷ USD kể từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998.Đến quí I năm 2006, FDI vào khuôn khổ ASEAN, tăng 90% so với cùng kỳ nămtrước, đạt 14 tỷ USD và vẫn tiếp tục tăng Tuy nhiên đầu tư vào ASEAN chỉchiếm 6-7% tổng FDI trên thế giới và vẫn là khu vực thu hút đầu tư lớn sauTrung Quốc và Ấn Độ

Bảng 1: Dòng FDI vào các nước ASEAN từ 2000 đến quý I năm 2004

Nguồn: ASEAN Secretariat, ASEAN FDI Database

Nhìn chung, FDI vào khu vực ASEAN có tăng trường qua các năm, songmức độ tăng trưởng chậm lại do nhiều nguyên nhân khác nhau và do chịu tácđộng của nhiều yếu tố khác như sự tăng trưởng chậm của nền kinh tế trên thếgiới, hoặc do sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế mới nổi đang cạnh tranhmạnh mẽ trong việc thu hút FDI với khu vực v.v Tuy nhiên, Hội đồng đầu tưASEAN lạc quan rằng FDI vào ASEAN sẽ đạt kỷ lục mới trong những năm tới

Trang 12

Về nguồn FDI từ các nhà đầu tư chính trên thế giới vào ASEAN, ta có thểthấy các nhà đầu tư chính vào ASEAN vẫn đầu tư vào khu vực trong cả giaiđoạn suy thoái của nền kinh tế và họ vẫn chiếm phần lớn dòng vốn FDI chảyvào khu vực Tuy nhiên chỉ có thứ hạng của các nhà đầu tư là thay đổi Mườinhà đầu tư hàng đầu chiếm khoảng 85% tổng số vốn FDI vào khu vực ASEANtrong những năm từ 1999-2002 ( Bảng 1.2).

Bảng 2: Mười nhà đầu tư vào khu vực ASEAN trong giai đoạn bùng nổ và

suy thoái của nền kinh tế toàn cầu Giai đoạn bùng nổ 1999-2000 Giai đoạn suy thoái 2001-2002

ASEANAnhMỹNhật Bản

Hà LanÝĐứcĐài LoanPhần LanThụy Điển

5.9495.2543.8633.1812.1301.4691.1551.021930812

(Nguồn: ASEAN Secretariat, ASEAN FDI Database)

Giai đoạn 1990-2002, khoảng 22% FDI vào khối ASEAN (trừ Singapore)

là từ Nhật Bản, 18% từ EU và 16% từ Mỹ Tuy nhiên dòng FDI từ EU toàn bộvào ASEAN trong năm 2002 đã giảm xuống hơn một nửa so với mức của năm

2001 (8,5 tỷ USD)

Sang đến giai đoạn 2002-2003, Thụy Điển cũng đứng trong hàng ngũmười nhà đầu tư lớn nhất vào Đông Nam Á Năm 2002, bản thân ASEAN đứngđầu trong số mười nhà đầu tư này với số vốn là 3.557 Triệu USD

So với giai đoạn suy thoái, thì tổng số vốn FDI vào khu vực năm 2003 đãgiảm đi rất nhiều, chỉ còn 3/5 so với giai đoạn 2001-2002, tức chỉ 15.816 triệuUSD Trong cả giai đoạn 1995-2003, FDI từ tam cường (Nhật Bản, Mỹ, EU),ASEAN và ANIEs chiếm khoảng 4/5 dòng vốn chảy vào khu vực

Trang 13

Mười nhà đầu tư quốc tế (Anh, Hàlan, Mỹ, ASEAN, Nhật, đảo Cayman,Thụy Điển, Ái Nhĩ Lan, Hồng Kông, ROK) chiếm 82% (15.816 Triệu USD), tức4/5 tổng số vốn FDI vào khu vực trong năm 2003.

Hiện nay, theo UNCTAD, nhóm các nước đang phát triển cũng là nhữngnhà đầu tư quốc tế quan trọng Tiêu biểu là Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc giađang nổi lên Những nhà đầu tư Trung Quốc sang các nước ASEAN đang ngàymột tăng, chỉ riêng năm 2004, tổng kim ngạch đầu tư tăng 238.86% so với năm

2003, chiếm 10% tổng kim ngạch đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của TrungQuốc

Theo thống kê của Hội đồng đầu tư ASEAN, Mỹ, Anh, Nhật, Pháp vàPhần Lan chiếm gần một nửa tổng FDI vào khu vực ASEAN năm 2005 Trong

đó Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất ở ASEAN Mỹ là khách hàng lớn nhất, nhàcung cấp FDI lớn nhất của ASEAN

Về phía các nước ASEAN, hiện nay các nước này không chỉ đóng vai trò

là các nước nhận đầu tư, mà còn là các nước đi đầu tư, chủ yếu là các nướcthành viên cũ Nguồn FDI từ các nhà đầu tư ASEAN cũng giữ một vị trí quantrọng trong tổng số FDI vào trong khu vực

Năm 2002, đầu tư trong các nước ASEAN đã tăng 50% từ 2,4 tỷ USDnăm 2001 đến 3,6 tỷ USD Điều này cho thấy rằng đầu tư trong nội khối hiệnnay đang trở thành một nguồn FDI quan trọng và sẽ tiếp tục đóng vai trò chủyếu trong việc góp phần thúc đẩy hội nhập khu vực

Trong năm 2001-2003, đầu tư trong nội khối ASEAN chiếm khoảng 16%tổng dòng vốn FDI vào trong khu vực Mặc dù đầu tư trong khuôn khổ ASEANgiảm 42% trong năm 2003, nhưng vẫn duy trì ở mức 2 tỷ USD Các công ty củaSingapore và Malaysia vẫn là những nhà đầu tư năng động nhất trong khu vực.Dòng FDI trong nội khối ASEAN của các nước thành viên năm 2004 là:Brunei:19,7 triệu USD; Campuchia: 31,9 triệu USD; Indonesia: 204.2 triệu USD;Lào:7.8 triệu USD; Malaysia: 980.2 triệu USD; Myanma: 9.3 triệu USD;Philippin: 71.1 triệu USD; Singapore: 727,3 triệu USD; TháiLan: 336.0 triệuUSD; Việt Nam: 242.9 triệu USD; Tổng FDI toàn ASEAN là 2630.3 triệu USD

Trang 14

Sang đến năm 2005, đầu tư nội khối ASEAN cũng đã tăng lên 2.2 tỷ USD, trong

đó Malaysia và Singapore chiếm tới 1,5 tỷ USD, tức 68% tổng đầu tư bên trongASEAN

Các khu vực đầu tư chính mà các nhà đầu tư vẫn quan tâm khi đầu tư vàoASEAN, chủ yếu vẫn là các ngành phục vụ nhiều cho quá trình công nghiệp hóacủa các nước này

Công nghiệp dịch vụ vẫn là khu vực nhận đầu tư lớn nhất trong dòng FDIvào ASEAN, sau khu vực sản xuất và các khu vực ưu tiên, khu vực dịch vụchiếm khoảng 50% tổng số FDI vào khu vực năm 2002-2003 Sự phân bổ FDIgiữa 3 khu vực kinh tế là khác nhau giữa các nước

Bảng 3: Dòng FDI vào ASEAN theo khu vực, 1999-2003

0,65,033,4-0,68,627,83,06,016,3

Neg10,934,07,87,1-42,87,01,774,7

3,613,140,3-6,717,649,62,410,8-30,7

0,921,123,90,511,627,93,6-1,411,8

(Nguồn: ASEAN Secretariat, ASEAN FDI Database)

Các nền kinh tế tiến bộ hơn có xu hướng nhận nhiều FDI hơn trong lĩnhvực dịch vụ, trong khi những nước thành viên mới lại nhận nhiều đầu tư hơntrong lĩnh vực chế tạo Điều này phản ánh tình hình phát triển công nghiệp củacác nước thành viên và sự lớn mạnh hơn của khu vực sản xuất Đồng thời cũngnhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực dịch vụ đối với nền kinh tế là lĩnh vựcthu hút nhiều nhất FDI với khoảng 27,8 tỷ USD năm 2005, tăng 33% so với năm

2004 Kế tiếp là tài chính và dịch vụ liên quan, bao gồm cả bảo hiểm (30%),25% còn lại bao gồm các lĩnh vực khác như thương mại, bất động sản, nôngnghiệp, khai khoáng và xây dựng Năm ngành thu hút nhiều FDI nhất trong lĩnh

Trang 15

vực sản xuất là điện và điện tử, hóa chất và các sản phẩm hóa chất, chế tạo cácsản phẩm kim loại, máy móc thiết bị.

Trước thực trạng chung về dòng FDI vào ASEAN từ sau cuộc khủnghoảng tài chính 1997-1998, để hợp tác đầu tư có hiệu quả, và hơn nữa là giúpcác nước ASEAN có vị thế hơn trong việc cạnh tranh thu hút FDI, cũng nhưviệc tạo ra môi trường đầu tư có tính hấp dẫn hơn, các nước ASEAN đã quyếttâm tiến tới thành lập khu vực đầu tư ASEAN nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhấtcho các nước này

Thực chất của AIA là hợp tác để thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào ASEAN

từ các nguồn trong ngoài khối Trong tình hình nguồn vốn FDI có xu hướng dichuyển sang các nước đang phát triển khác và các nền kinh tế mới nổi nhưTrung Quốc, Ấn Độ và NIEs, thì việc tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài đối với các nước ASEAN là rất quan trọng Hiện nay các nướckhông chỉ tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ bên ngoài mà còn đẩy mạnh thuhút vốn ngay giữa các nước thành viên Vì vậy các nước ASEAN đang thúc đẩytăng tốc xây dựng đầu tư trong khuôn khổ ASEAN với mong muốn tạo ra mộtmôi trường đầu tư thông thoáng hơn, hấp dẫn hơn, minh bạch hơn để thu nhiềuđầu tư trực tiếp nước ngoài hơn nữa, đồng thời có thể cạnh tranh được với cácnền kinh tế mới nổi khác trong việc thu hút FDI Đầu tư trong khuôn khổASEAN hứa hẹn một môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn không chỉgiữa các quốc gia trong khuôn khổ ASEAN mà còn tạo ra những điều kiện thuậnlợi hấp dẫn các nhà đầu tư bên ngoài khối Môi trường đầu tư là yếu tố vô cùngquan trọng đối với các nhà đầu tư Để có thể thu hút được nhiều nguồn vốn FDI,bản thân các quốc gia cũng phải không ngừng nâng cao và tìm cách cải thiệnmôi trường đầu tư của mình bằng việc đưa ra các chính sách phù hợp, rõ ràngcho đầu tư, đơn giản hóa các thủ tục về đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nhất đểthu hút đầu tư

Thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệ giữa cácnước thành viên ASEAN cũng là một điều rất cần thiết mà việc đầu tư trongkhuôn khổ ASEAN có thể đem lại cho các nước này Tuy các nước ASEAN

Trang 16

trước đây gần như là có cùng xuất phát điểm, nhưng hiện nay, do nhiều nguyênnhân khác nhau mà sự tăng trường kinh tế ở mỗi nước là khác nhau Trong nội

bộ các nước ASEAN vẫn chia ra thành các nước ASEAN 6 (gồm Singapore,TháiLan, Indonesia, Philippin, Malaysia, Brunei) và ASEAN 4 (gồmCampuchia, Myanma, Lào, Việt Nam) Có thể nhận thấy sự chênh lệch về trình

độ phát triển giữa các nước này là khá rõ nét Trong đó Singapore hầu như luôn

là nước đứng đầu trong khu vực về thu hút FDI, với lượng FDI lên đến 20 tỷUSD trong tổng số FDI trong năm 2005 Do vậy, để các nước ASEAN có thểphát triển đồng đều hơn thì cần có sự chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau cũng như hỗtrợ nhau về mặt kỹ thuật công nghệ Thông qua đầu tư trong khuôn khổASEAN, các nước thành viên sẽ dễ dàng chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm vớinhau hơn, qua đó thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệgiữa các nước này, giúp các nước thu hẹp dần khoảng cách phát triển

Có thể nói sự hình thành AIA là điều kiện cần để dòng vốn FDI hướngvào khu vực, giúp cho các nước có sự thống nhất về định hướng, tạo ra nhữngràng buộc mang tính chung nhất, đồng thời tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để

có thể tăng cường thu hút đầu tư và cũng để cạnh tranh trong việc thu hút vốnđầu tư với các nền kinh tế đang phát triển khác trên thế giới trong giai đoạn hiệnnay, nhất là trước sự nổi lên đang lo ngại của nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ

3.2 Quá trình hợp tác đầu tư ASEAN và sự hình thành AIA

Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa ngày càng cao, quan hệ hợp táctrong ASEAN đã ngày một phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Qua 35năm tồn tại và phát triển, ASEAN đang tự khẳng định là tổ chức kinh tế khu vựcthành công nhất trong các khu vực thuộc nhóm nước đang phát triển Tiềm lựckinh tế của ASEAN đang mạnh lên rõ rệt

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã, đang và sẽ có vị trí ngày càng quan trọngtrong nền kinh tế của hầu hết các Quốc gia trong khuôn khổ Cùng với việc đẩymạnh thu hút FDI từ bên ngoài, nhiều nước ASEAN cũng đã mở rộng đầu tư ranước ngoài, trước hết là giữa các nước thành viên trong khuôn khổ Do vậy, hợptác đầu tư ASEAN mang ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là trong bối cảnh sau cuộc

Trang 17

khủng hoảng kinh tế (1997-1998) Trước năm 1987, các nước ASEAN chưa cócuộc thảo luận chung về đầu tư trực tiếp, nên quan hệ hợp tác đầu tư giữa cácnước ASEAN chủ yếu dừng lại ở quan hệ song phương theo các Hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư tay đôi.

Đồng thời, theo báo cáo đầu tư thế giới năm 1997 của Hội nghị Thươngmại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD), tỷ trọng FDI vào các nướcĐông Nam Á trong tổng lượng FDI vào khu vực Châu Á đã giảm từ 61% trongnhững năm 1990-1991 xuống còn 31% trong giai đoạn 1994-1996 Nguyên nhânchủ yếu là do những hạn chế về năng lực trong nước, những trở ngại về cơ sởvật chất còn lạc hậu nghèo nàn, đặc biệt là do sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việcthu hút vốn FDI từ các nền kinh tế mới nổi khác, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ

Trước những yếu tố mang tính lịch sử và do tình hình thu hút FDI khôngmấy sáng sủa, trong khi nhu cầu về vốn để phát triển và tăng trưởng kinh tế để

có thể đuổi kịp nền kinh tế của các nước phát triển lại đang là nhu cầu bức báchcủa các quốc gia ASEAN, chính vì thế mà các Quốc gia thành viên ASEAN đãđưa ra sáng kiến về việc thành lập đầu từ trong khuôn khổ ASEAN, một trongnhững chương trình liên kết và hợp tác về kinh tế của ASEAN

Vào ngày 15/12/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 được tổchức tại Băng Cốc, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đưa ra sáng kiến về việc xâydựng khu vực đầu tư ASEAN nhằm tăng cường hợp tác, tính hấp dẫn và thu húthơn nữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Và ngày 07/10/1998, tại Hội nghị

Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN (AEM), Hiệp định khung đầu tư trongkhuôn khổ ASEAN đã được ký kết tại Philippin, Hiệp định khung này dựa trêncác điều khoản đã được ký kết từ những cuộc họp trước đó là:

Các nước thành viên mong muốn giữ vững sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế ở tất cả các quốc gia thành viên bằng những nỗ lực chung nhằm tự dohóa thương mại, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nước ASEAN đã đượcnêu trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN được ký kếttại Singapore ngày 28/1/1992

Trang 18

Đồng thời, Hội nghị cũng nhắc lại những quyết định của Hội nghị cấp caoASEAN lần thứ V được tổ chức vào ngày 15/12/1995 về việc xây dựng khungđầu tư trong khuôn khổ ASEAN (AIA) nhằm tăng cường tính hấp dẫn và tínhcạnh tranh của ASEAN để thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Và để khẳng định cam kết theo Hiệp định ASEAN năm 1987 về khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư và Nghị định thư năm 1996 bổ sung hiệp định này nhằmcủng cố lòng tin của các nhà đầu tư khi đầu tư vào ASEAN

Cùng với Hiệp định thành lập khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)

và việc thực hiện Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO), việcthành lập khu vực đầu tư (AIA) nhằm khuyến khích đầu tư lớn hơn vào khu vực

Thừa nhận rằng nhu cầu thu hút FDI vào ASEAN với mức độ lớn hơn vàbền vững hơn là điều cần thiết vì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn tàichính quan trọng để giữ vững tốc độ phát triển kinh tế, công nghiệp, cơ sở hạtầng và công nghiệp, mà sự hình thành khu vực đầu tư ASEAN góp phần giúpcác nước thành viên đẩy mạnh cạnh tranh thu hút FDI với các nước trên thế giới,phục vụ cho mục tiêu này

Quyết tâm hoàn thành việc thực hiện tầm nhìn ASEAN xây dựng khu vựcđầu tư ASEAN có tính cạnh tranh với môi trường đầu tư thông thoáng và rõràng hơn vào ngày 1/1/2010

Và những biện pháp được thỏa thuận nhằm hình thành khu vực đầu tưASEAN có tính cạnh tranh vào năm 2010 sẽ góp phần hướng tới tầm nhìnASEAN năm 2010

Góp phần hướng tới tầm nhìn 2020 và thành lập cộng đồng kinh tếASEAN (AEC) vào năm 2020, mà hiện nay các nước đã quyết định đẩy nhanhthời hạn lên năm 2015, là mục tiêu quan trọng nhất mà các nước ASEAN đangquyết tâm thực hiện Và cùng với khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), khuvực đầu tư ASEAN (AIA) góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự thành lậpcộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) thông qua việc loại bỏ hàng rào, đặc biệt làhàng rào phi thuế quan, nhằm biến ASEAN thành một trung tâm sản xuất,thương mại và đầu tư thành một khu vực tự do dịch chuyển lao động có tay nghề

Trang 19

cao để từng bước thực hiện tầm nhìn 2020 trong xu thế toàn cầu hóa khu vựcngày càng gia tăng.

Chính những cơ sở trên đây đã góp phần thúc đẩy các quốc gia thành viênnhanh chóng tiến tới việc thành lập đầu tư trong khuổn khổ ASEAN, nhằm giúpcác nước thành viên tăng cường tính cạnh tranh trong việc thu hút FDI với cáckhu vực khác trên thế giới, đồng thời tạo một môi trường cạnh tranh hấp dẫn,thông thoáng cho khu vực ASEAN, với mục tiêu chung là góp phần thúc đẩy sựtăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi nước thành viên trong khuổn khổASEAN

CHƯƠNG II

Trang 20

NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ KHU VỰC

ĐẦU TƯ ASEAN VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH

1 Những nội dung chính của Hiệp định

Hiệp định gồm có 21 điều khoản với các nội dung chính như sau:

Theo qui định của Hiệp định, nhà đầu tư ASEAN là một công dân củamột Quốc gia thành viên hoặc một pháp nhân của một Quốc gia thành viên, thựchiện đầu tư vào Quốc gia thành viên khác, trong đó vốn ASEAN thực tế củapháp nhân đó cộng gộp với tất cả các vốn ASEAN khác, ít nhất phải bằng tỷ lệtối thiểu cần có để thoả mãn yêu cầu về vốn quốc gia và các yêu cầu về vốnkhác của pháp luật trong nước và các chính sách quốc gia được công bố, nếu có,của nước chủ nhà liên quan đến đầu tư đó

Về phạm vi và mục tiêu của Hiệp định:

Phạm vi áp dụng của Hiệp định chỉ giới hạn đối với hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài, không bao gồm các hoạt động đầu tư gián tiếp cũng như cácvấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nhưng đã được các Hiệp định khác củaASEAN điều chỉnh như Hiệp định khung của ASEAN thành khu vực đầu tư cósức mạnh, hấp dẫn và cạnh tranh cao đối với hoạt động FDI trên cơ sở xây dựngmột môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn giữa các quốc gia thành viên

để thu hút đầu tư các nhà đầu tư cả trong lẫn ngoài ASEAN

Đặc điểm của khu vực đầu tư ASEAN

Có một chương trình hợp tác đầu tư ASEAN nhằm tạo ra đầu tư lớn hơn

từ các nước ASEAN và các nước ngoài ASEAN Tất cả các ngành nghề được

mở cửa và chế độ đối xử quốc gia được dành cho các nhà đầu tư ASEAN vàonăm 2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020, ngoại trừ các ngoại lệđược qui định trong Hiệp định này, tạo ra khu vực kinh doanh có vai trò to lớnhơn trong các nỗ lực hợp tác về đầu tư và các hoạt động có liên quan trongASEAN và có lưu chuyển tự do hơn về vốn, lao động hành nghề và chuyên gia,

và công nghệ giữa các Quốc gia thành viên

Trang 21

Các nghĩa vụ chung: Để thực hiện được các mục tiêu được qui định

trong Điều 3 của Hiệp định, các Quốc gia thành viên sẽ đảm bảo rằng các biệnpháp và các chương trình được thực hiện trên cơ sở công bằng và cùng có lợi;thực hiện các biện pháp tích cực để bảo đảm tính rõ ràng và nhất quán trong việc

áp dụng và giải thích các luật, qui định và thủ tục hành chính liên quan đến đầu

tư của nước mình nhằm tạo ra và duy trì một chế độ đầu tư có thể dự đoán trướcđược trong ASEAN, bắt đầu quá trình hỗ trợ, xúc tiến và tự do hoá để có thểđóng góp một cách liên tục và đáng kể vào việc thực hiện mục tiêu thiết lập môitrường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn;thực hiện các biện pháp thích hợpnhằm tăng cường tính hấp dẫn của môi trường đầu tư của các Quốc gia thànhviên đối với các dòng đầu tư trực tiếp; và thực hiện các biện pháp hợp lý trongkhả năng cho phép để bảo đảm việc tuân thủ các điều khoản của Hiệp định nàycủa chính quyền khu vực, địa phương và các cơ quan có thẩm quyền trong khuvực lãnh thổ của mình

Nguyên tắc, biện pháp, thực hiện AIA:

Mở cửa tất cả các ngành nghề và dành chế độ đối xử quốc gia cho các nhàđầu tư ASEAN Theo qui định tại điều 7, ngoài các biện pháp hoặc lĩnh vựcđược liệt kê trong danh mục loại trừ tạm thời (TEL) và danh mục nhạy cảm (SL)của nước mình, các nước thành viên ASEAN sẽ mở cửa cho tất cả các ngànhnghề và dành chế độ đối xử quốc gia cho các nhà đầu tư ASEAN ngay sau khiHiệp định khung về AIA có hiệu lực vào năm 2010 với 6 nước thành viên cũ,vào năm 2013 đối với Việt Nam và năm 2015 với Lào và Myanma

Danh mục nhạy cảm gồm các lĩnh vực hoặc các biện pháp chưa thể mởcửa hoặc dành chế độ đối xử quốc gia ngay và chưa thể xác định thời hạn loại

bỏ Các danh mục loại trừ tạm thời và danh mục nhạy cảm do các nước thànhviên tự đưa ra phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của nước mình.Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng các nước có thể đưa ra quá nhiều biện phápcho loại trừ, Hiệp định áp dụng nguyên tắc “có đi, có lại”, qui định nếu có mộtnước thành viên chưa sẵn sang dành chế độ đối xử quốc gia đối với một số biệnpháp nào đó hoặc chưa mở cửa ngành nghề cho các nước thành viên khác thì

Trang 22

nước đó cũng không được hưởng các ưu đãi liên quan đến biện pháp hoặc ngànhnghề đó trên lãnh thổ các nước thành viên (với Việt Nam, Lào là sau 3 năm,Myanmar sau 5 năm).

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)

Mỗi nước thành viên ASEAN sẽ dành ngay lập tức và vô điều kiện chocác nhà đầu tư của các nước thành viên sự đối xử không kém thuận lợi hơn sựđối xử dành cho các nhà đầu tư của bất kỷ nước thứ ba nào với tất cả các biệnpháp có tác động đến đầu tư bao gồm việc tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mởrộng, quản lý, vận hành và định đoạt đầu tư Trên cơ sở nguyên tắc này, mọi đối

xử ưu đãi theo các Hiệp định hoặc theo các thoả thuận hiện tại mà một quốc giathành viên là một bên đều sẽ được dành cho tất cả các thành viên khác trên cơ sởđối xử tối huệ quốc

Hiệp định cũng đưa ra điều khoản về quyền khước từ đối xử tối huệ quốc.Theo đó một quốc gia thành viên tạm thời chưa sẵn sàng đưa ra các nhượng bộtrong khi các thành viên khác đã có những nhượng bộ thì thành viên nêu trênphải từ bỏ quyền được hưởng các nhượng bộ đó (với Việt Nam, Lào, sau 3 năm,Myanmar sau 5 năm)

Nguyên tắc đảm bảo tính rõ ràng, trong sáng:

Điều 11 của Hiệp định qui định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phảicung cấp thông tin, đảm bảo tính rõ ràng, trong sáng của pháp luật và các chínhsách đầu tư của nước mình, ngoại trừ các thông tin làm ảnh hưởng đến việc thựcthi pháp luật, trái với lợi ích công cộng hoặc làm thiệt hại tới quyền lợi thươngmại hợp pháp của các doanh nghiệp Mỗi nước thành viên phải nhanh chóng và

ít nhất mỗi năm một lần thông báo cho Hội đồng AIA các thay đổi về pháp luật

và chính sách ảnh hưởng tới đầu tư hoặc các cam kết theo Hiệp định này

Trang 23

của các nước thành viên Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng giữa các quốc gia,các biện pháp thực thi phải đảm bảo không tạo ra sự phân biệt đối xử hoặc bấthợp lý.

Các biện pháp tự vệ khẩn cấp:

Hiệp định cũng cho phép các thành viên, nếu bị thiệt hại nghiêm trọng,hoặc có nguy cơ dẫn đến tình trạng trên do thực hiện chương trình tự do hoá,được áp dụng các biện pháp khẩn cấp trong chừng mực và thời gian cần thiết đểkhắc phục nhưng phải được tiến hành một cách không phân biệt đối xử và thôngbáo cho Hội đồng AIA trong vòng 14 ngày kể từ ngày tiến hành các biện pháp

đó Ngoài những biện pháp trên, Hiệp định cũng cho phép thực hiện các biệnpháp tiến hành hạn chế đối với đầu tư mà nước đó đã cam kết kể cả việc chuyểntiền trong trường hợp cán cân thanh toán lâm vào tình trạng nguy hiểm Tuynhiên, biện pháp này không vượt quá mức cần thiết và có tính chất tạm thời, phùhợp với qui định của Quĩ tiền tệ (IMF)

Để thực hiện nội dung của Hiệp định AIA, ASEAN đã đề ra 3 chương trình cụ thể:

Chương trình I: Chương trình hợp tác và tạo thuận lợi:

Đối với chưong trình này, các quốc gia thành viên sẽ thực hiện:

Sáng kiến riêng để tăng cường tính rõ ràng, trong sáng của các qui tắc, quiđịnh, chính sách và thủ tục đầu tư của quốc gia thành viên thông qua việc xuấtbản các thông tin đó có thể tiếp cận một cách rộng rãi, đơn giản hoá và làmnhanh chóng các thủ tục xin và phê duyệt các dự án đầu tư ở mọi cấp, và mởrộng số lượng các Hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần giữa cácquốc gia thành viên ASEAN

Sáng kiến tập thể để thiết lập cơ sở dữ liệu về các ngành công nghiệp hỗtrợ của ASEAN và về các nhà cung cấp công nghệ ASEAN, đồng thời thúc đẩyquan hệ giữa khu vực nhà nước và tư nhân thông qua đối thoại thường xuyênvới cộng đồng doanh nghiệp ASEAN và các tổ chức quốc tế khác để xác địnhcác trở ngại đầu tư trong và ngoại ASEAN và kiến nghị các giải pháp cải thiệnmôi trường đầu tư ASEAN

Trang 24

Xác định các lĩnh vực trọng tâm để hợp tác kỹ thuật, như phát triển nguồnnhân lực, cơ sở hạ tầng, các ngành công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp vừa vànhỏ, công nghệ thông tin, công nghệ công nghiệp, nghiên cứu và phát triển, vàphối hợp các nỗ lực trong ASEAN và với các tổ chức quốc tế khác tham gia hợptác kỹ thuật.

Xem xét lại và bổ sung Hiệp định ASEAN về khuyến khích và bảo hộ đầu

tư, nếu có thể, và xem khả năng ký kết Hiệp định ASEAN về tránh đánh thuếhai lần

Chương trình II: Chương trình xúc tiến và tăng cường hiểu biết

Các Quốc gia thành viên sẽ: tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư chung nhưhội thảo, lớp đào tạo, các chuyến khảo sát làm quen cho các nhà đầu tư các nướcxuất vốn, cùng xúc tiến các dự án cụ thể với sự tham gia tích cực của khu vực tưnhân, tham vấn thường xuyên giữa các cơ quan đầu tư ASEAN về các vấn đềxúc tiến đầu tư, đồng thời tổ chức các chương trình đào tạo liên quan đến đầu tưcho các quan chức của các cơ quan đầu tư ASEAN, tiến hành trao đổi các danhmục các ngành lĩnh vực khuyến khích mà các Quốc gia thành viên có thểkhuyến khích đầu tư từ các Quốc gia thành viên khác và đề xuất các hoạt độngxúc tiến đầu tư, và xem xét các giải pháp mà các cơ quan đầu tư của các Quốcgia thành viên có thể hỗ trợ hoạt động xúc tiến của các Quốc gia thành viênkhác

Chương trình III: Chương trình tự do hóa

Các Quốc gia thành viên sẽ:

+ Đơn phương giảm bớt và loại bỏ những biện pháp hạn chế đầu tư vàthường xuyên xem xét lại chế độ đầu tư theo hướng tự do hoá hơn Về vấn đềnày, các Quốc gia thành viên có thể thực hiện các biện pháp để tự do hoá trong

đó có:

- Các qui tắc, qui định và chính sách liên quan đến đầu tư

- Các qui tắc về điều kiện cấp giấy phép

- Các qui tắc liên quan đến việc tiếp cận nguồn vốn trong nước

Trang 25

- Các qui tắc để tạo thuận lợi cho việc thanh toán, tiếp nhận và chuyển lợinhuận của các nhà đầu tư ra nước ngoài

+ Thực hiện các kế hoạch hành động của từng nước để mở cửa tất cả cácngành nghề cho đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và cho tất cảcác nhà đầu tư vào năm 2020 phù hợp với các điều khoản của Hiệp định này vàdành đối xử quốc gia cho tất cả các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và cho tất

cả các nhà đầu tư vào năm 2020 phù hợp với các điều khoản của Hiệp định này

+ Thúc đẩy dòng lưu chuyển tự do hơn về vốn, lao động lành nghề vàchuyên gia, và công nghệ giữa các Quốc gia thành viên ASEAN Mỗi nướcASEAN sẽ tự vạch ra chương trình hành động của mình để cụ thể hoá cácchương trình nói trên Cứ 2 năm 1 lần, các kế hoạch của từng Quốc gia sẽ được

ra soát lại để đảm bảo tiến độ thực hiện AIA

2 Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN

Tại Hội nghị Hội đồng Khu vực Đầu tư lần thứ 14 (AIA 14) diễn ra ngày14/10/2001 tại Hà Nội, trước tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của khu vựcđang gặp phải những thách thức lớn cả từ bên trong lẫn bên ngoài, khả năngtăng trưởng kinh tế chậm lại làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư toàn cầu, sựxuất hiện của nhiều khu vực kinh tế và quốc gia cạnh tranh đáng kể với các nướcASEAN về thu hút đầu tư trực tiếp, đại diện của các Quốc gia ASEAN đã cùngxem xét, đưa ra quyết định quan trọng nhằm cải thiện tình hình đầu tư của khuvực, thúc đẩy thực hiện AIA và các chương trình về đầu tư trong kế hoạch hànhđộng Hà Nội

Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN đãđược các nước ký kết, nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của Hiệp định, và đẩynhanh tiến độ xây dựng khu vực đầu tư ASEAN, trong đó đẩy nhanh thời hạnthực hiện loại bỏ danh mục loại TEL cho khu vực sản xuất chế tạo từ 2010xuống 2003 đối với nhóm nước ASEAN 6 và từ 2013/2015 xuống 2010 đối vớicác nước thành viên mới của ASEAN Nghị định thư cũng mở rộng phạm vi củaHiệp định khung để bao gồm cả các khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và khaikhoáng, cũng như các dịch vụ gắn với các khu vực thuộc phạm vi Hiệp định

Ngày đăng: 04/04/2013, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Tuổi trẻ Online, “Nền kinh tế Trung Quốc thách thức đối với ASEAN” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền kinh tế Trung Quốc thách thức đối với ASEAN
1. Học viện quan hệ quốc tế (2005), Giáo trình kinh tế đối ngoại Việt nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2. Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN Khác
3. Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN Khác
4. Phạm Đức Thành (4/2005), Đông Nam Á : Hiện trạng và vấn đề, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 (73) 2005 Khác
6. Võ Thanh Thu (2003), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống kê.NHÓM TIẾNG NƯỚC NGOÀI Khác
1. ASEAN Secretariat, ASEAN Investment Report 2003 Khác
2. Joint Press Statement of the Fourth Meeting of the ASEAN Investment Area Ministerial Council, Hanoi, 14 September 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Dòng FDI vào các nước ASEAN từ 2000 đến quý I năm 2004 - Một số quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào
Bảng 1 Dòng FDI vào các nước ASEAN từ 2000 đến quý I năm 2004 (Trang 11)
Bảng 2: Mười nhà đầu tư vào khu vực ASEAN trong giai đoạn bùng nổ và  suy thoái của nền kinh tế toàn cầu - Một số quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào
Bảng 2 Mười nhà đầu tư vào khu vực ASEAN trong giai đoạn bùng nổ và suy thoái của nền kinh tế toàn cầu (Trang 12)
Bảng 3: Dòng FDI vào ASEAN theo khu vực, 1999-2003 - Một số quy định pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào
Bảng 3 Dòng FDI vào ASEAN theo khu vực, 1999-2003 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w