chế định kiểm soát viên - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
quan của chuyên chính vô sản, trách nhiệm của ngành kiểm sát, ngời cán bộ kiểm sát là hết sức quan trọng, trong đó có đội ngũ kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân, "ngời cán bộ kiểm sát viên phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình, luôn luôn tôn trọng sự thật, phân rõ đúng sai, hết sức giữ thái độ khách quan, thận trọng, công minh, chính trực".( Lê Duẩn)
Ngay từ khi nớc nhà giành độc lập, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà
đã chú ý tới những cán bộ làm nhiệm vụ công tố, những vấn đề pháp lý về chức danh này bớc đầu đợc điều chỉnh trong những văn bản pháp luật do nhà nớc ban hành Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đánh dấu sự hình thành chức danh kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát sự tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Vị trí, vai trò của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống cơ quan Viện kiểm sát và bộ máy nhà nớc nói chung đã và đang đợc khẳng
định Với cơ quan viện kiểm sát, kiểm sát viên là ngời trực tiếp thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, trong bộ máy nhà nớc, kiểm sát viên là một chức danh t pháp, có nhiệm vụ thực hiện chức năng của viện kiểm sát, bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự thực thi pháp luật nghiêm minh, công bằng
Pháp luật điều chỉnh đối với chức danh kiểm sát viên đang dần hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng đội ngũ kiểm sát viên đáp ứng yêu cầu của cải cách t pháp theo tinh thần của Nghị quyết Trung ơng 08/NQ-TW của Bộ chính trị, đáp ứng yêu cầu của đất nớc trên con đờng hội nhập Có một thực tế là khi các bài viết, các đề tài, các công trình nghiên cứu về Viện kiểm sát có một số luợng không nhỏ, thì sự quan tâm tới kiểm sát viên về lĩnh vực này lại quá ít, đặc biệt là về chế định kiểm sát viên Với mong muốn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định kiểm sát viên, góp phần mình xây dựng một số giải pháp hoàn thiện chế định, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của kiểm sát viên trong công
Trang 2kiểm sát viên - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ” “làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp
Đề tài chủ yếu đi vào nghiên cứu chế định kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân, tìm hiểu trong quá trình hình thành và phát triển chế định này đã đề cập tới những vấn đề gì? Thực tế đã đáp ứng ra sao? Những tồn tại và vớng mắc? Đặc biệt chất lợng kiểm sát viên hiện nay có thực sự đảm bảo hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân? Từ đó có những kiến nghị giải pháp cho việc hoàn thiện chế
định kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân, góp phần xây dựng và nâng cao chất ợng đội ngũ kiểm sát viên hiện nay, củng cố và phát huy vai trò của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
l-động t pháp
Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng
Hồ Chí Minh về nhà nớc và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về
vị trí vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nớc, vị trí vai trò của kiểm sát viên trong cơ quan viện kiểm sát và trong hệ thống cơ quan t pháp Trong quá trình nghiên cứu, trên cơ sở tìm hiểu hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, đặc biệt là của Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân tác giả luận văn đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cơ bản nh: phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp phân tích, so sánh, kết hợp với khảo sát thực tiễn để luận giải các vấn đề đặt ra trong khoá luận
Khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận đợc chia làm ba phần:
- Chơng 1: Những vấn đề mang tính lý luận của chế định kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
- Chơng 2: Thực trạng và hớng hoàn thiện chế định kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
Chơng i Những vấn đề mang tính lý luận
Trang 3về chế định kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
1 Vị trí vai trò của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
1.1 Khái niệm kiểm sát viên và chế định kiểm sát viên
1.1.1 Kiểm sát viên
Theo từ điển Bách khoa toàn th (tr.563 - NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội) kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan kiểm sát đợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nớc, tổ chức xã hội và công dân
Theo từ điển Luật học, kiểm sát viên là ngời đợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
t pháp
Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng; kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Các kiểm sát viên viện kiểm sát quân sự các cấp không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài)
Nh vậy, công dân Việt Nam có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật (vấn đề này sẽ đợc nghiên cứu cụ thể trong luận văn) thì có thể đợc tuyển chọn và bổ nhiệm làm kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2 Chế định kiểm sát viên
Là tổng thể các quy định của pháp luật điều chỉnh các vấn đề pháp lý đối với chức danh kiểm sát viên
1.2 Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Trong bộ máy nhà nớc, Viện kiểm sát nhân dân có một vị trí đặc biệt Hệ thống cơ quan viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các viện kiểm sát nhân dân địa phơng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật
Trang 4các viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong phạm vi luật định (Điều 137- Hiến pháp 1992 và Điều 1 luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002)
Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan quản lý, các chủ thể tham gia tố tụng trong lĩnh vực: hình sự, dân sự, lao động, kinh tế thơng mại và hành chính; các nhân viên nhà nớc và công dân Khi tiến hành các công tác kiểm sát viện kiểm sát không có quyền năng về hành chính mà chỉ có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị đối với các đối tợng chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhằm đề ra các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật, khôi phục lại hiệu lực của pháp luật mà viện kiểm sát đã lấy làm căn cứ để tiến hành kiểm sát Bên cạnh chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp, Viện kiểm sát còn có chức năng thực hành quyền công tố của nhà nớc, truy tố kẻ phạm tội ra trớc tòa án và nhân danh nhà nớc buộc tội kẻ phạm tội tại phiên tòa Bằng hoạt động của mình Viện kiểm sát bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nớc, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của công dân Đồng thời, thông qua hoạt động kiểm sát các hoạt động tpháp và thực hành quyền công tố nhà nớc viện kiểm sát nhân dân góp phần giáo dục công dân ý thức pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của xã hội, tham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích nhà nớc và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật
Nh vậy, pháp luật hiện hành đã bỏ chức năng kiểm sát hoạt động của các cơ quan từ bộ trở xuống để đảm bảo sự phân cấp thẩm quyền giám sát của các cơ quan trong bộ máy nhà nớc và bảo đảm cho hoạt động giám sát lĩnh vực hoạt động
t pháp là một trong hai chức năng của viện kiểm sát nhân dân đợc hiệu quả hơn
Trong hoạt động kiểm sát các hoạt động t pháp và thực hành quyền công tố nhà nớc của Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên là nhân tố cơ bản Hoạt động nghề nghiệp của kiểm sát viên mang tính đặc thù cao Nghề nghiệp đó có ảnh h-ởng lớn tới tính công minh của pháp luật, tới uy tín nền công lý của một quốc gia
Trang 5Khác với những lao động khác, lao động của kiểm sát viên dựa trên cơ sở quy định của pháp luật, từ khi đợc phân công giải quyết một vụ án tới khi hồ sơ vụ
án khép lại ngời kiểm sát phải t duy, xem xét đánh giá trên cơ sở kết luận của cơ quan tiến hành điều tra, để truy tố kẻ phạm tội ra trớc tòa, bảo đảm thấu tình đạt
lý Là hoạt động chịu nhiều áp lực, áp lực từ phía các phần tử tội phạm, từ xã hội, công luận Do đó hoạt động của kiểm sát viên phải đảm bảo việc nghiên cứu độc lập hồ sơ để truy tố kẻ có tội trớc phiên tòa hình sự, hợp lẽ công bằng, bảo đảm pháp chế, không trái với các quy tắc đạo đức xã hội
Kiểm sát viên là ngời đại diện cho nhà nớc trực tiếp bảo vệ nền công lý, vì vậy sự công bằng vô t khách quan, nhân đạo là những phẩm chất không thể thiếu
đối với ngời kiểm sát viên Điều đó có nghĩa là, trong quá trình thực hiện chức năng của mình, kiểm sát viên phải đảm bảo sự công bằng không thiên lệch, không
có sự phân biệt về thành phần xuất thân, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế giữa các
đơng sự hay bị cáo Chẳng hạn, trong hoạt động thực hiện quyền công tố, tính công bằng thể hiện ở sự đánh giá tơng xứng giữa hành vi phạm tội và trách nhiệm của ngời phạm tội Truy tố đúng tội danh là tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt chính xác, công bằng, không làm oan ngời vô tội Hoạt động thực hành quyền công tố của kiểm sát viên khi đợc giao nhiệm vụ, đợc hiểu là quyền của nhà nớc, quyền nhân danh nhà nớc truy tố kẻ phạm tội ra trớc tòa án và đại diện cho công lý buộc tội kẻ phạm tội trớc phiên tòa Đây là một chức năng tố tụng nhằm chống lại một ngời cụ thể và thực chất đó là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với kẻ có tội Quyền này tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Do đó nó phải đợc thực hiện theo một trình tự tố tụng chặt chẽ theo luật định Cụ thể tại phiên tòa hình sự, kiểm sát viên đợc phân công có quyền nhân danh nhà nớc đọc cáo trạng truy luận tội, có quyền tranh luận, xét hỏi
để chứng minh lỗi của bị cáo, giúp Tòa án ra bản án đúng ngời đúng tội, đúng pháp luật Với những yêu cầu khắt khe đặt ra đối với nghề kiểm sát viên, để trở thành kiểm sát viên phải đáp ứng đợc những điều kiện về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, đồng thời phải qua một thủ tục tuyển chọn bổ nhiệm chặt chẽ theo luật định
Trang 62 Sự hình thành và phát triển của chế định kiểm sát viên
Bộ máy nhà nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đợc tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp Quyền t pháp theo quan điểm của các nhà nghiên cứu chủ yếu là quyền xét
xử thuộc tòa án nhân dân và quyền kiểm sát, thực hành quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân Hoạt động của các cơ quan t pháp đặt dới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nớc Ngay từ khi giành đợc độc lập tới nay, trong lịch
sử phát triển của mình, nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa trớc đây và bây giờ là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống
tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát nhân dân Điều này đợc quy định có tính nguyên tắc thể hiện trong các hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 Trên cơ sở Hiến pháp, các văn bản pháp luật quy định về viện kiểm sát, kiểm sát viên thuộc viện kiểm sát nhân dân đợc thể chế hóa để đáp ứng nhiệm vụ cụ thể của nhà nớc ta trong từng giai đoạn
Kiểm sát viên là một chức danh trong hệ thống cơ quan viện kiểm sát nhân dân, có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và giữ vai trò ủy viên công tố tại phiên tòa nói riêng Do vậy, việc tiêu chuẩn hoá chức danh kiểm sát viên phải đợc xem xét và cân nhắc trên cơ
sở luận cứ khoa học, bảo đảm t cách, năng lực thực hiện các nhiệm vụ của công chức trong cơ quan bảo vệ pháp luật, phù hợp với bản chất của nhà nớc trong những bối cảnh lịch sử cụ thể
Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn, chúng ta nghiên cứu chế định kiểm sát viên qua các giai đoạn phát triển sau:
Trang 7quan công an, tòa án trấn áp bọn tội phạm phản cách mạng, chống lại những hành
vi đi ngợc lại lợi ích của chính quyền nhân dân, bảo vệ tài sản nhà nớc, của tập thể ngời lao động, đảm bảo việc thực hiện các chính sách trật tự trị an của xã hội Để thực hiện nhiệm vụ đó, cơ quan công tố ngoài chức năng buộc tội còn thực hiện chức năng giám sát các họat động tố tụng t pháp (trình tự tố tụng tại tòa án) Những quy định về cơ quan công tố xuất hiện rất sớm trong các văn bản pháp luật của nhà nớc Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ quan công tố nói chung, chức danh thực hiện quyền công tố nói riêng gắn liền với quá trình thiết lập, phát triển bộ máy nhà nớc ta
Lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan công tố giai đoạn từ năm 1945
đến năm 1959 trải qua ba giai đoạn chủ yếu sau:
- Giai đoạn 1945 - 1950:
Theo các sắc lệnh số 13/SL ngày 24 tháng 01 năm 1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17 tháng 04 năm 1946, Sắc lệnh số 131/SL ngày 20 tháng 07 năm 1946, thì các viên chức công tố nằm trong hệ thống cơ quan t pháp: ở Tòa án đệ nhị cấp ( cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng) có Thẩm phán xử án và Thẩm phán buộc tội Nh vậy, ở Tòa án đệ nhị cấp mặc dù cha có cơ quan công tố nhng lại có các cán bộ làm nhiệm vụ công tố, đó là: Biện lý, Tham lý ở Tòa thợng thẩm (tổ chức ở ba miền Bắc, Trung, Nam) có các công tố viên do Chởng lý đứng đầu và hoạt động của các cán bộ chuyên trách nh Biện lý, phó Biện lý chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo của Bộ trởng Bộ t pháp Các cán bộ của công tố viện đợc quyền làm các nhiệm vụ t pháp cảnh sát, thực hiện việc buộc tội của nhà nớc và thực hiện việc giám sát công tác điều tra của t pháp cảnh sát cũng nh hoạt động xét xử các vụ án hình sự (tiểu hình và đại hình) của Tòa án Nh vậy, có thể thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập cơ quan t pháp, nhà nớc ta đã trao cho các viên chức công tố thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập để vừa thực hiện chức năng buộc tội vừa thực hiện chức năng giám sát trong lĩnh vực hoạt động tố tụng, điều tra và xét xử
- Giai đoạn 1950 - 1958:
Theo sắc lệnh số 85/SL ngày 25 tháng 05 năm 1950, Thông t số 11/TT-TTg của Thủ tớng chính phủ ngày 07 tháng 06 năm 1950 và Thông t liên tịch số 18
Trang 8ngày 08 tháng 06 năm 1950 thì cơ quan công tố thời kỳ này vẫn nằm trong hệ thống cơ quan t pháp và chịu sự quản lý của Bộ t pháp Tuy nhiên, trong cuộc cải cách t pháp lần thứ nhất tiến hành năm 1950, nhà nớc đã tăng thẩm quyền chỉ đạo của ủy ban hành chính đối với cơ quan công tố, bao gồm cả việc ra mệnh lệnh về
đờng lối công tố cũng nh điều khiển các vụ việc cụ thể Đặc biệt, nhà nớc đã mở rộng thẩm quyền cho Công tố viện đợc kháng cáo các vụ án dân sự Quy định này
đã tạo thuận lợi cho Công tố viện không chỉ với t cách đại diện cho toàn xã hội trong việc bảo vệ lợi ích của nhà nớc, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn là điều kiện quan trọng để công tố viện thực hiện có hiệu quả hơn chức năng giám sát việc tuân thủ pháp luật của các đối tợng trong xã hội
- Giai đoạn 1958- 1960:
Theo nghị quyết của Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ VIII ngày 29 tháng 04 năm 1958, Nghị định số 256 ngày 01 tháng 07 năm 1959 và Nghị định số 321 ngày 27 tháng 08 năm 1959, Viện công tố trung ơng đợc thành lập, tách khỏi Toà
án nhân dân và Bộ t pháp, hình thành một hệ thống cơ quan nhà nớc độc lập từ trung ơng tới địa phơng, chỉ trực thuộc Phủ Thủ tớng Theo Thông t số 556 ngày
24 tháng 12 năm 1958 của Thủ tớng chính phủ, quy định rõ mối quan hệ giữa Công an, Tòa án và Viện công tố trong việc trấn áp bọn phản cách mạng Là cơ quan thực hiện quyền lực t pháp, Viện công tố trong thời kỳ này có quyền điều tra, truy tố những vụ án hình sự, giám sát việc chấp hành pháp luật của cơ quan điều tra, hoạt động xét xử của tòa án và việc giam giữ, cải tạo của cơ quan, ngời đợc trao quyền
Theo đó, thẩm quyền của Viện công tố đợc mở rộng hơn Cùng với việc thực hành quyền công tố nhà nớc, Viện công tố còn thực hiện chức năng giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra, xét xử các vụ án hình sự, thi hành
án, giam giữ cải tạo và tham gia giải quyết các vụ án dân sự quan trọng có liên quan tới lợi ích của nhà nớc và xã hội Có thể nói, Viện Công tố thời kỳ này đã đ-
ợc nhà nớc giao những nhiệm vụ, quyền hạn mới so với trớc đây Đặc biệt là việc thực hiên chức năng giám sát các hoạt động tố tụng t pháp Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân sau này
Trang 92.2 Giai đoạn từ 1959 đến năm 1980
Thể chế hóa Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân đợc Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 07 năm 1960 và Chủ tịch nớc công bố ngày 26 tháng 07 năm 1960 đã quy định cụ thể việc thành lập hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định của luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960, hệ thống viện kiểm sát nhân dân bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và tơng đơng, và các viện kiểm sát quân sự Hệ thống viện kiểm sát nhân dân đợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nớc nào ở địa phơng
và thực hiện chế độ thủ trởng Cùng với việc thành lập, luật tổ chức đã quy định rõ chức năng của viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhà nớc, bảo đảm cho pháp luật đợc thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế đợc giữ vững Sự ra đời của viện kiểm sát nhân dân với vị trí, chức năng, nhiệm vụ và đợc tổ chức dựa trên nguyên tắc đặc thù là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nớc xã hội chủ nghĩa
Trong mỗi cấp viện kiểm sát nhân dân thời kỳ này có các chức danh: Viện trởng, các phó viện trởng, các kiểm sát viên và điều tra viên Trong đó, Viện trởng viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra và bãi miễn, các phó viện trởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do ủy ban Thờng vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch ủy ban Thờng vụ Quốc hội Viện trởng, các phó viện trởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp địa phơng
do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức (Điều 23, 24 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960) Nh vậy, chức danh kiểm sát viên đã đợc quy định cụ thể về tên gọi và trật tự hình thành Nếu nh trớc
đó, những cán bộ làm nhiệm vụ công tố, tức là những Biện lý, Tham lý, Chởng lý
do Chủ tịch nớc bổ nhiệm theo danh sách của Bộ trởng T pháp ấn định (Điều 56,
Trang 10cao do ủy ban thờng vụ Quốc hội cử, kiểm sát viên viện kiểm sát địa phơng do viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Hoạt động của viện kiểm sát nhân dân mỗi cấp đặt dới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Viện trởng viện kiểm sát nhân dân cấp đó Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dới chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm về lĩnh vực hoạt
động của toàn ngành trớc Quốc hội Trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trớc Uỷ ban thờng vụ Quốc hội và Chủ tịch nớc Với quy định này, nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành đã đợc cụ thể hóa, dù mới ở bớc đầu
2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến 1992
Hiến pháp 1980 ra đời đã tiếp nhận và nâng cao thêm một bớc những chế
định thực hiện quyền lực của nhân dân với cơ chế: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nớc quản lý Cùng với việc ban hành Hiến pháp, luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 13 tháng 06 năm 1981 đã thể chế hoá chức năng nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân Trong điều kiện Cách mạng dân chủ nhân dân đã hoàn thành, cả nớc đang bắt tay vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội theo đờng lối Đại hội
Đảng lần th IV, vai trò trách nhiệm của hệ thống viện kiểm sát nói chung, công tác kiểm sát chung và thực hành quyền công tố nhà nớc nói riêng cũng có những bớc phát triển mới, phù hợp với tình hình thực tế của đất nớc Trong giai đoạn này, cùng với việc ghi nhận nội dung quyền dân tộc cơ bản phù hợp hơn với nhiệm vụ cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong phạm
vi cả nớc, và từ chỗ đi lên từ một nền sản xuất nhỏ lại trải qua chiến tranh tàn khốc kéo dài, cả nớc bắt tay vào xây dựng từ đầu cả cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thợng tầng Vì vậy, công tác kiểm sát chung và thực hành quyền công tố của cơ quan viện kiểm sát nói chung, chức danh kiểm sát viên nói riêng, không thuần tuý chỉ dừng lại ở các lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình mà còn mở rộng sang phạm vi các lĩnh vực kinh tế, lao động và hành chính
Trang 11Nh vậy, theo quy định của hiến pháp 1980 và luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhà nớc Thông qua quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật bảo đảm cho pháp luật đợc thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế đợc giữ vững Quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đợc thực hiện trên hai lĩnh vực: Thứ nhất, là việc chấp hành pháp luật trong quản lý nhà nớc về hành chính, kinh tế, hình sự, dân sự Thứ hai, là việc chấp hành pháp luật trong tố tụng
t pháp
Cùng với việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các đối tợng chủ thể
là các Bộ, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trởng, cơ quan chính quyền địa phơng,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nớc và công dân (Điều 6 - Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981) Viện kiểm sát nhân dân còn thực hành quyền công tố nhà nớc, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử, giam giữ, cải tạo và thi hành các bản án có căn cứ, đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời Đặc biệt, trong các năm từ 1987 đến 1991, ngành kiểm sát đã tập trung đẩy mạnh các hoạt động kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật phục vụ ba chơng trình kinh tế lớn của Đảng và nhà nớc góp phần thực hiện công cuộc đổi mới đất nớc theo tinh thần nghị quyết các Đại hội Đảng lần thứ VI, VII Các cấp kiểm sát đã chú trọng tăng cờng quyền kiểm sát đối với các cơ quan ngang cấp trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế quan trọng nh Nông nghiệp, Công nghiệp nhẹ, năng lợng, dự trữ quốc gia phát huy tính sáng tạo, làm chủ trong sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phơng Đồng thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi lợi dụng danh nghĩa đổi mới để làm trái pháp luật Năm 1989, trên cơ sở Hiến pháp 1980 đợc Quốc hội sửa đổi một số điều cho phù hợp với tình hình mới, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi, đã mở rộng phạm vi thẩm quyền cho Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, Viện trởng viện kiểm sát nhân dân tối cao
có quyền ra quyết định đình chỉ và buộc phải sửa chữa những hành vi vi phạm pháp luật có thể gây hậu quả nghiêm trọng" (điểm 5, Điều 10, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981) Đây là quyền hạn đặc biệt mang tính chất hành chính
Trang 12nhằm tăng cờng hiệu quả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đồng thời
đề cao trách nhiệm của cá nhân Viện trởng - ngời đứng đầu hệ thống cơ quan viện kiểm sát nhân dân Đồng thời, cùng với việc quy định chức năng kiểm sát chung các lĩnh vực hoạt động và thực hành quyền công tố nhà nớc, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân ngày càng đợc đề cao Việc thực hiện các quyền thông qua chức năng pháp luật quy định của kiểm sát viên bao hàm cả vấn đề đạo đức, phẩm chất và trình độ chuyên môn trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Điều này đòi hỏi kiểm sát viên khi thực hiện thẩm quyền của mình để truy tố, kiểm sát một vụ án hay vụ việc cụ thể phải có sự xem xét, cân nhắc kỹ lỡng, phải gắn lơng tâm và trách nhiệm của mình với công việc để “không
bỏ sót kẻ gian, không làm oan ngời ngay” Thông qua hoạt động của mình, kiểm sát viên phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trớc pháp luật Hoạt động của kiểm sát viên thể hiện rõ là ngời thay mặt nhà nớc, nhân danh pháp luật để thực hiện quyền lực đợc giao Đặc biệt cùng với sự ra đời của bộ luật Tố tụng hình sự 1988, đã bổ sung một số điểm vào luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên trong vụ án hình sự, củng cố thêm cơ sở pháp lý cho hoạt
động kiểm sát và thực hành quyền công tố của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Tiếp tục kế thừa nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo chế độ tập trung lãnh
đạo trong ngành, Viện trởng viện kiểm sát cấp dới chịu sự lãnh đạo của Viện trởng viện kiểm sát cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội và có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Hội đồng nhà nớc cử và bãi nhiệm theo đề nghị của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phơng do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức Vấn đề nhiệm kỳ công tác của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân tới thời kỳ này vẫn cha đợc quy định Điều này tuy góp phần ổn định cơ cấu tổ chức của cơ quan viện kiểm sát, nhng sẽ tạo ra tâm lý
ỷ lại đối với mỗi cán bộ kiểm sát, hạn chế việc phấn đấu, rèn luyện để hoàn thiện
Trang 13chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ kiểm sát viên không theo đuổi kịp những yêu cầu
về khả năng đánh giá thực tế, về nắm bắt những kiến thức ở lĩnh vực khác liên quan đây là một trong những vấn đề cần đợc pháp luật sửa đổi, bổ sung ở thời kỳ sau
2.4 Giai đoạn từ 1992 đến nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu sự đổi mới nhận thức của
Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiến pháp 1992 sửa đổi đợc Quốc hội thông qua khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của toàn Đảng, toàn dân, khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, xác định rõ vị trí vai trò của hệ thống cơ quan t pháp trong công cuộc xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó có cơ quan Viện kiểm sát nhân dân
Cụ thể hoá quy định của hiến pháp, Quốc hội đã thông qua luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân ngày 07 tháng 10 năm 1992 và ngày 12 tháng 05 ủy ban Thờng vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh kiểm sát viên Những văn bản pháp luật này đã khẳng định vị trí, chức năng nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức hoạt động của viện kiểm sát nói chung và kiểm sát viên nói riêng, đáp ứng yêu cầu đổi mới của
đất nớc Với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công
tố nhà nớc, viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên các cấp tiếp tục nhiệm vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ và quyền làm chủ của nhân dân, bảo
vệ tài sản của nhà nớc, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nớc, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải đợc xử lý theo pháp luật đảm bảo cho pháp luật đợc thực thi nghiêm minh, công bằng Theo quy định của luật Tổ chức Viện kiểm sát và Pháp lệnh kiểm sát viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nớc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân địa ph-
ơng do Viện trởng Viện kiểm sát tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tuy nhiên, vấn đề nhiệm kỳ hoạt động của kiểm sát viên vẫn cha đợc đề cập tới
Trang 14Nh vậy, ở thời kỳ này chức danh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do đích danh ngời có thẩm quyền là Chủ tịch nớc bổ nhiệm theo đề nghị của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, khác với trớc đó là do cơ quan có thẩm quyền, cụ thể là Hội đồng nhà nớc hay Uỷ ban thờng vụ Quốc hội cử.
Hiến pháp 1992 sửa đổi đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ mới Đảng và Nhà nớc ta đã và đang tiến hành cải cách bộ máy nhà nớc nói chung và cải cách t pháp nói riêng Nhiều nội dung cải cách t pháp đợc thể hiện cụ thể trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai và lần thứ tám Ban chấp hành trung ơng Đảng khóa VIII, liên quan trực tiếp tới vấn đề tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Sự ra đời của Luật phá sản doanh nghiệp, luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và qua thực tiễn thực hiện, luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992 và Pháp lệnh kiểm sát viên 1993 đã bộc lộ một số điểm cha hợp
lý về nội dung, phạm vi của từng lĩnh vực công tác kiểm sát cụ thể, mối quan hệ phối hợp công tác giữa các cơ quan kiểm sát và cơ quan Thanh tra, những vấn đề liên quan nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên, vấn đề nhiệm kỳ công tác cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Cần bỏ chức năng kiểm sát chung, tập trung vào việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, bảo đảm pháp luật đợc thực hiện thống nhất, tạo
điều kiện để kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ của mình
Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2002 đợc Quốc hội thông qua ngày 2 tháng 4 năm 2002 và Uỷ ban thờng vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh kiểm sát viên 2002 đã quy định cụ thể nội dung, phạm vi của từng lĩnh vực thực hiện công tác kiểm sát, mối quan hệ giữa cơ quan kiểm sát với các cơ quan tiến hành tố tụng khác, xác định rõ nhiệm vụ quyền hạn cũng nh nhiệm kỳ hoạt động của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân thời kỳ này không còn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phơng, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân nữa mà thực hiện chức năng thực hành quyền
Trang 15công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp (gồm 5 lĩnh vực cụ thể) Cùng với sự thu hẹp quyền hạn của kiểm sát viên trong lĩnh vực kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh thơng mại, lao động, dân sự, hành chính trong Bộ luật Tố tụng dân sự, pháp luật hiện hành về kiểm sát viên đã giải quyết tình trạng “thừa mà thiếu” trong công tác kiểm sát, nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm sát viên cũng nh của viện kiểm sát nhân dân Với những quy định rất cụ thể về tiêu chuẩn, trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức (mà trớc đây cha có) kiểm sát viên đợc hình thành theo một thủ tục chặt chẽ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nớc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát tối cao và Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và tơng đơng do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Uỷ ban kiểm sát cấp tỉnh, sau khi có sự lựa chọn của Hội đồng tuyển chọn đối với ng-
ời có đủ điều kiện tiêu chuẩn Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Hội luật gia Việt Nam làm uỷ viên; Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên cấp tỉnh do Chủ tịch hoặc phó chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh làm Chủ tịch, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, đại diện lãnh đạo Ban tổ chức chính quyền (hiện nay là Sở Nội vụ), Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh làm uỷ viên.Việc quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên là một sự tiến bộ thực sự,
đảm bảo việc lựa chọn ngời đủ tiêu chuẩn bổ nhiệm vào chức danh kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Về nhiệm kỳ công tác, Pháp lệnh kiểm sát viên 2002 quy định rõ: “nhiệm
kỳ của kiểm sát viên là năm năm” Thông qua quy định này, bảo đảm việc nâng cao tinh thần trách nhiệm và lơng tâm nghề nghiệp của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân, và sự cần thiết phải thực hiện quyền miễn nhiệm, cách chức đối với kiểm sát viên khi không hoàn thành nhiệm vụ đợc giao hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo luật định
Trang 163 Nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của hầu hết các cơ quan quản lý, các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, dân sự, các nhân viên nhà nớc và công dân Khi tiến hành các công tác kiểm sát, Viện kiểm sát không có quyền năng về hành chính mà chỉ có quyền yêu cầu kiến nghị, kháng nghị đối với các đối tợng chịu sự kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân, nhằm đề ra các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật, khôi phục lại hiệu lực pháp luật
mà viện kiểm sát đã lấy làm căn cứ để tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật Ngoài chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát còn chức năng thực hành quyền công tố của nhà nớc - truy tố kẻ phạm tội ra trớc tòa bằng bản cáo trạng Đây là chức năng riêng có của Viện kiểm sát nhân dân đợc Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất giao cho mà các cơ quan khác của nhà nớc không thể thay thế
Là chức danh chuyên môn thuộc ngành kiểm sát, kiểm sát viên đã giúp viện kiểm sát các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh vực sau:
3.1 Trong lĩnh vực kiểm sát các hoạt động t pháp
Kiểm sát hoạt động t pháp đợc hiểu là kiểm tra giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm bảo đảm cho pháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Kiểm sát các hoạt động t pháp là một công việc quan trọng trong thực tiễn
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc ở nớc ta, luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân quy định cụ thể thẩm quyền, phạm vi và thủ tục kiểm sát các hoạt động
t pháp Theo đó, Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động
t pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát các hoạt động t pháp, góp phần
đảm bảo cho pháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất; Viện kiểm sát nhân dân địa phơng kiểm sát các hoạt động t pháp ở địa phơng mình theo quy định của pháp luật
Trang 17Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân quy định chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, kiểm sát viên nói riêng đối với kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong các hoạt động t pháp; tiếp nhận, giải quyết khiếu nại tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo về hoạt động t pháp Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của cơ quan điều tra và các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ điều tra; điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động t pháp
mà ngời phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan t pháp; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử vụ án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và hôn nhân gia đình; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục ngời chấp hành án phạt tù; tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về các hoạt động t pháp của các cơ quan t pháp theo luật định Khi thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp, Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết định kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Các quyết định này phải đợc các cơ quan tổ chức, đơn vị, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật Cụ thể là:
- Đối với công tác kiểm sát hoạt động điều tra
Trong lĩnh vực hoạt động này, Viện kiểm sát nói chung và kiểm sát viên nói riêng, khi đợc phân công nhiệm vụ, có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra, các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội
đều phải đợc điều tra, khởi tố và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và kẻ phạm tội, không làm oan ngời vô tội, không để ngời nào bị khởi tố, bị bắt, giam giữ, bị hạn chế quyền công dân trái pháp luật Đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy dủ, chính xác và đúng pháp luật Những vi phạm trong quá trình
điều tra phải đợc phát hiện, khắc phục và xử lý kịp thời Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật
Trong thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động điều tra, theo sự phân công của Viện trởng, kiểm sát viên có quyền khởi tố vụ án, yêu cầu cơ quan
Trang 18điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật; có quyền yêu cầu thay đổi điều tra viên; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp (bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác); phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định hoặc huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra; kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ của cơ quan điều tra; kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của những ngời tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra,
đồng thời yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt
động điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật
- Đối với công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân nói chung và kiểm sát viên nói riêng khi đợc Viện trởng phân công có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của tòa án, đảm bảo xét xử đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật, vụ án đợc xét xử nghiêm minh và kịp thời Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử vụ án hình
sự, kiểm sát viên thực hiện quyền nhân danh nhà nớc (ủy viên công tố) kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những ngời tham gia tố tụng; kiểm sát các bản án; yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét quyết định việc kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của tòa án theo luật định
- Về kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao động
Khi thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, kiểm sát viên có quyền kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án, yêu cầu tòa án hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Khởi tố các vụ án dân sự theo quy dịnh của pháp luật, tham gia phiên tòa xét xử và phát biểu quan
điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của những ngời tham gia tố tụng; yêu cầu tòa án áp dụng
Trang 19các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật quy định; thực hiện quyền kháng nghị, đồng thời có quyền kiến nghị Tòa án khắc phục những vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án Sự tham gia của kiểm sát viên tại phiên tòa là
điều kiện để phiên tòa đợc diễn ra hợp pháp, đúng luật định
- Đối với công tác kiểm sát thi hành án
Sự tham gia của kiểm sát viên từ giai đoạn điều tra tới khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định là cha đủ Thực tế đã có rất nhiều vụ án cha thật sự đảm bảo đợc tính giáo dục và phòng ngừa chung, vì án không đợc thi hành hoặc thi hành không
đúng luật định Do đó, công tác kiểm sát thi hành án là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và kiểm sát viên nói riêng
Kiểm sát thi hành án là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án, chấp hành viên và những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đảm bảo bản án, quyết định đó đợc thi hành đúng pháp luật, đầy đủ và kịp thời trên thực tế Theo đó, viện kiểm sát nói chung và kiểm sát viên nói riêng có quyền yêu cầu tòa
án, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dới, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định đúng quy định; cung cấp tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án; trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dới; của chấp hành viên trong việc thi hành bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; giải quyết việc kháng cáo khiếu nại, tố cáo việc thi hành án, đồng thời thực hiện quyền kháng nghị về những sai sót, vi phạm trong công tác thi hành án theo quy định của pháp luật Khi phát hiện có vi phạm pháp luật trong thi hành án, kiểm sát viên trình lên viện kiểm sát cùng cấp, để trong thời gian ngắn nhất Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu đình chỉ thi hành
án, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định vi phạm pháp luật trong thi hành án, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật, khởi tố hình sự hoặc dân sự khi có căn cứ
- Đối với công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục ngời chấp hành án phạt tù
Viện kiểm sát có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, đơn
vị và ngời có trách nhiệm trong tạm giam, tạm giữ, quản lý ngời chấp hành án phạt
Trang 20tù nhằm đảm bảo đúng pháp luật, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự nhân phẩm của ngời bị giam giữ, cải tạo cũng nh tôn trọng các quyền khác của họ không bị pháp luật tớc bỏ Thực hiện quyền hạn này, theo sự phân công của Viện trởng, kiểm sát viên có thể thờng kỳ hoặc bất thờng trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giam, tạm giữ và trại giam; kiểm tra tài liệu của cơ quan cùng cấp và cấp dới có trách nhiệm tạm giữ, tạm giam, quản lý ngời chấp hành án phạt tù; có quyền gặp, hỏi ngời bị tạm giam, tạm giữ và ngời chấp hành án phạt tù về việc giam, giữ; yêu cầu cơ quan cùng cấp và cấp dới quản lý nơi tạm giam, giữ, ngời chấp hành án phạt tù cũng nh ngời có trách nhiệm tiến hành kiểm tra, thông báo trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong công tác tạm giam, tạm giữ, quản
lý ngời chấp hành án tù; phát hiện và xử lý kịp thời các trờng hợp oan sai và quyết
định trả tự do ngay cho ngời bị tạm giam, tạm giữ, chấp hành án tù không có căn
cứ và trái pháp luật Đồng thời khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố về hình sự
Nh vậy, kiểm sát các lĩnh vực hoạt động t pháp là một trong những chức năng quan trọng của viện kiểm sát nhân dân, bắt nguồn từ thực tiễn hoạt động t pháp, việc bảo đảm thực hiện tốt quyền giám sát của Viện kiểm sát đối với hoạt
động t pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nớc, của tập thể, bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân Bảo đảm mọi hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân của nhà nớc đều phải bị xử lý theo pháp luật, phù hợp với thực tiễn trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
Có một vấn đề cần nói thêm rằng, trong bộ máy nhà nớc có nhiều cơ quan thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra, giám sát Do đó việc phân định rõ ràng chức năng của các cơ quan nhà nớc này, đặc biệt là việc phân định ranh giới giữa chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của viện kiểm sát với chức năng thanh tra của cơ quan Thanh tra nhà nớc có ý nghĩa rất quan trọng, bảo đảm không có sự trùng chéo, mâu thuẫn giữa hai cơ quan, nhất là trong lĩnh vực hành chính, kinh tế
Trang 21Đồng thời việc phân định này cũng làm rõ sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân với hoạt động thanh tra của thanh tra viên thuộc cơ quan thanh tra.
Là ngời thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, chịu sự lãnh đạo, phân công của Viện trởng, kiểm sát viên thực hiện hoạt động kiểm sát khi phát hiện có
sự vi phạm pháp luật (theo nhiều nguồn khác nhau), tiến hành kháng nghị, kiến nghị theo luật định lên cấp có thẩm quyền mà không có quyền áp dụng biện pháp
xử lý, trong khi thanh tra viên là ngời thực hiện hoạt động thanh tra định kỳ hoặc thờng xuyên theo quy định của Luật Thanh tra dới sự chỉ đạo của Thủ trởng ngành
và cơ quan Hành chính nhà nớc ngay cả khi không có vi phạm và có quyền áp dụng các biện pháp xử lý khi phát hiện vi phạm trong phạm vi thẩm quyền
3.2 Trong lĩnh vực thực hành quyền công tố
Công tố là quyền của nhà nớc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội ở nớc ta, quyền công tố đợc nhà nớc giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, viện kiểm sát có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ để xác định tội phạm và ngời phạm tội, trên cơ sở đó truy tố bị can ra trớc Tòa án và thực hiện quyền buộc tội tại phiên tòa
Nh vậy, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nớc đối với ngời phạm tội,
do đó đối tợng tác động của quyền công tố là tội phạm và ngời phạm tội Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với ngời có hành vi phạm tội
Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Lịch sử phát triển của Bộ máy nhà nớc ta cho thấy, từ năm 1945 đến năm
1950, quyền công tố đợc giao cho một bộ phận Tòa án Đệ nhị cấp với chức danh
đứng đầu là Biện lý, ở Tòa Thợng thẩm là chức danh Chởng lý Từ năm 1950 đến năm1960 ở Tòa án tỉnh, thành phố và liên khu, quyền công tố do các công tố ủy
Trang 22viên đảm nhiệm Từ năm 1960 đến nay, quyền công tố đợc thực hiện bởi hệ thống cơ quan viện kiểm sát nhân dân, mà trực tiếp thực hiện là các kiểm sát viên.
Theo quy định của luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002, công tố
là một trong những chức năng cơ bản của Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố theo quy định của pháp luật Trong giai đoạn
điều tra, Viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; quyết định truy tố bị can; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ
án tại phiên tòa Phúc thẩm, Giám đốc thẩm, Tái thẩm
Là chức danh chuyên môn của viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên khi
đ-ợc Viện trởng phân công tham gia xét xử tại phiên tòa có quyền nhân danh nhà
n-ớc buộc tội bị cáo và giữ vai trò ủy viên công tố Nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên trong lĩnh vực thực hành quyền công tố thể hiện rất rõ tại phiên tòa hình
sự và khi giải quyết các vụ án dân sự, lao động, kinh tế, hành chính Cụ thể là:
3.2.1 Trong phiên tòa xét xử hình sự
Tại phiên tòa hình sự, trớc khi tiến hành xét hỏi kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung nếu có Bản cáo trạng là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra, nó kết thúc giai đoạn điều tra và mở đầu một giai đoạn tố tụng mới
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa với nhiệm vụ chứng minh tính có lỗi của bị cáo và đa ra lời buộc tội Hoạt động chứng minh của kiểm sát viên đợc thực hiện theo các giai đoạn khác nhau, với các hình thức khác nhau Trong phần xét hỏi, kiểm sát viên đựoc hỏi bị cáo về các tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội, hỏi ngời tham gia tố tụng (ngời bị hại, nguyên đơn
bị đơn ), đợc xem xét trực tiếp, kiểm tra các chứng cứ, làm rõ các tình tiết của vụ
án Nếu tại phiên tòa, ngời tham gia tố tụng xuất trình thêm những tài liệu mới thì kiểm sát viên cần làm rõ nguồn gốc xuất xứ và nội dung tài liệu đó để đề xuất việc chấp nhận hay bác bỏ trong phần luận tội Nhiệm vụ của kiểm sát viên trong giai
đoạn này là xác định các tình tiết đã xảy ra nh thế nào? Có hay không có hành vi
Trang 23phạm tội? Là cơ sở khẳng định sự đúng đắn trong kết luận của mình ở phần tranh luận mà cha đa ra một nhận định hay một kết luận nào.
Kết thúc phần xét hỏi, bớc sang phần tranh luận, hoạt động chứng minh của kiểm sát viên đợc thông qua việc trình bày lời luận tội, buộc tội bị cáo trớc tòa, gồm hai bớc luận chứng và luận tội
Sau khi đã buộc tội bị cáo với tội danh cụ thể, kiểm sát viên sẽ tiến hành luận tội bằng việc làm rõ tính chất hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, hậu quả, nguyên nhân điều kiện phạm tội cũng nh vai trò trách nhiệm nhân thân ngời phạm tội để có sự “tâm phục, khẩu phục” của bị cáo cũng nh những ngời tham gia tố tụng khác đối với tội danh và hình phạt mà kiểm sát viên đề xuất
Tranh luận tại phiên tòa là tiếp tục thực hành quyền công tố nhà nớc để bảo
vệ cáo trạng, bảo vệ quan điểm của viện kiểm sát Vì vậy khi tiến hành tranh luận kiểm sát viên phải phân tích, chứng minh, chứng cứ làm rõ nội dung truy tố của cáo trạng, nội dung tranh luận phải đạt tính chính xác và thuyết phục, bảo vệ quan
điểm của viện kiểm sát, không để xảy ra oan sai, lọt tội
3.2.2 Trong giải quyết các vụ án Dân sự, Kinh tế, Lao động, Hành chính
án dân sự, lao động, thơng mại, hành chính, hôn nhân gia đình bằng quyền khởi
tố vụ án theo quy định của pháp luật, giữ vai trò đảm bảo việc giải quyết các vụ án
đúng pháp luật và kịp thời
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 so với luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên có sự thu
Trang 24hẹp lại, theo đó là ngời trực tiếp thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, nhng kiểm sát viên không còn thực hiện một số quyền nh: quyền khởi tố vụ án, quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền tự mình điều tra xác
thập chứng cứ trên cơ sở khiếu nại của đơng sự, quyền kiến nghị tòa án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm sát việc thụ lý lập hồ sơ thông qua việc tòa án gửi văn bản thông báo và các quyết định, bản án của tòa án cho viện kiểm sát, quyền tham gia phiên tòa khi có đơng sự khiếu nại về việc thu thập chứng cứ
Sự tham gia của kiểm sát viên tại phiên tòa giải quyết các vụ án dân sự,
th-ơng mại, lao động, hành chính, hôn nhân gia đình thể hiện rõ vai trò của kiểm sát viên trong giải quyết đúng dắn vụ án, đặc biệt là quyền phát biểu quan điểm của viện kiểm sát về giải quyết vụ án, quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các quyết định, bản án của tòa, quyền khởi tố về hình sự nếu có dấu hiệu vi phạm
Theo tinh thần Nghị quyết 48/NQ-TW, 49/NQ-TW của Bộ chính trị về chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010 và định hớng đến 2020 và chiến lợc cải cách t pháp đã định hớng chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố (vấn đề chỉ phụ thuộc vào thời gian nào và lộ trình nào cho phù hợp), khi ấy chức năng của viện kiểm sát sẽ thay đổi cơ bản, sẽ không có chức năng giám sát các hoạt động t pháp nữa, các biện pháp công tác nh kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, thơng mại, lao động, hôn nhân gia đình
và thi hành án sẽ không thuộc phạm vi chức năng thực hành quyền công tố Nhng
đó là câu chuyện của tơng lai, pháp luật hiện hành vẫn quy định vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên trong lĩnh vực này, và họ vẫn đã và đang đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
4 Tiêu chuẩn, trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Với nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nớc, của tập thể, bảo vệ tính
Trang 25mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp và thực hành quyền công tố Chức năng, nhiệm vụ này đợc trực tiếp thực hiện bởi các kiểm sát viên, do
đó cần một đội ngũ kiểm sát viên trong sạch vững mạnh, đủ năng lực thực hiện tốt những nhiệm vụ quyền hạn mà Viện kiểm sát giao phó Đặc biệt, hoạt động truy tố của kiểm sát viên liên quan trực tiếp đến tính mạng, danh dự nhân phẩm tài sản của con ngời, rất cần một bản lĩnh một sự sáng suốt cho một quyết định đúng đắn, hợp lòng ngời Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi đất nớc đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành t pháp nói chung và đội ngũ kiểm sát viên nói riêng tinh thông nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có bản lĩnh và lơng tâm nghề nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu của công cuộc cải cách t pháp
4.1 Các quy định về tiêu chuẩn kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là những cán bộ của ngành kiểm sát
đợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có nhiệm vụ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, bảo đảm cho pháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa đợc giữ vững
Theo quy định của pháp luật hiện hành, ngành kiểm sát đợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, đứng đầu là Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trớc Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trớc ủy ban thờng vụ Quốc hội và Chủ tịch nớc Nhng Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không thể tự mình thực hiện hết mọi quyền năng theo luật định mà phải thông qua hoạt động của các thành viên khác, đặc biệt
là đội ngũ kiểm sát viên Để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các lĩnh vực hoạt động t pháp, phát huy tính hiệu quả trong hoạt động,
đòi hỏi các kiểm sát viên phải nắm vững pháp luật và kiến thức của nhiều ngành khoa học liên quan, không ngừng nâng cao hiểu biết về chính trị - xã hội và nhiệm
vụ cách mạng trong từng giai đoạn Công tác kiểm sát và thực hành quyền công tố
là một nhiệm vụ chính trị, mọi hoạt động của kiểm sát viên đều nhằm phục vụ nhiệm vụ trọng tâm, chiến lợc mà Đảng và Nhà nớc định ra trong từng thời kỳ
Trang 26(từng giai đoạn Cách mạng) Vì lẽ đó, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ thôi cha
đủ, ngời kiểm sát viên phải có đạo đức chính trị, phải trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có ý thức pháp luật cao, đấu tranh không khoan nhợng với bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào Kiểm sát viên phải là ngời “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng” nh lời Bác Hồ dạy Là lực lợng chủ yếu của Viện kiểm sát nhân dân, những công dân đợc bổ nhiệm làm kiểm sát viên phải đáp ứng đợc các
điều kiện, tiêu chuẩn theo pháp luật quy định, đó là những tiêu chuẩn chung và riêng đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
* Về tiêu chuẩn chung
Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh kiểm sát viên 2002 quy
định về tiêu chuẩn chung của kiểm sát viên nh sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có trình độ cử nhân luật, đã đợc
đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, điều tra, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có sức khỏe để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ đợc giao, thì có thể đợc bổ nhiệm làm kiểm sát viên” (Điều 43 - Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 và điều 2 Pháp lệnh Kiểm sát viên 2002) Nh vậy, tiêu chuẩn chung của ngời đợc tuyển chọn
bổ nhiệm làm kiểm sát viên gồm có tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thời gian công tác thực tiễn và sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ Những tiêu chuẩn này đợc hớng dẫn cụ thể tại Thông t liên tịch số 01/TTLT- VKSNDTC- BQP- BNV- UBTVQH Tiêu chuẩn này đã đợc đề cập tới tại điều 53, Sắc lệnh số 13/SL ngày 26 tháng 01 năm 1946 với quy định: “Vào ngạch thẩm phán phải có đủ ba điều kiện chung: Có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông đàn bà; Có hạnh kiểm tốt; Cha can án bao giờ”(theo sắc lệnh này thẩm phán gồm thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội, thẩm phán buộc tội
là ngời thực hiện chức năng công tố), sau đó đợc cụ thể hơn trong luật Tổ chức viện kiểm sát 1981, 1992, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 1993 và hiện nay là Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 và Pháp lệnh kiểm sát viên 2002
* Tiêu chuẩn cụ thể đối với kiểm sát viên viện kiểm sát các cấp
Trang 27Trên cơ sở tiêu chuẩn chung trên, Pháp lệnh về kiểm sát viên 2002 đã xác
định tiêu chuẩn cụ thể của kiểm sát viên viện kiểm sát các cấp
Đối với kiểm sát viên cấp huyện, phải đáp ứng tiêu chuẩn “công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn trên, có trình độ cử nhân luật, có thời gian công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thực hiện chức năng thực hành quyền công tố nhà nớc và kiểm sát các hoạt động t pháp thì có thể đợc bổ nhiệm làm kiểm sát viên cấp huyện” (Điều 18 pháp lệnh kiểm sát viên 2002)
Đối với kiểm sát viên cấp tỉnh, phải là “công dân Việt Nam có đủ điều kiện tiêu chuẩn theo điều 2 pháp lệnh, đã là kiểm sát viên cấp huyện ít nhất là 5 năm,
có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp,( ) có khả năng hớng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với kiểm sát viên cấp dới, thì có thể đợc tuyển chọn bổ nhiệm làm kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh”, trờng hợp do nhu cầu cán bộ của ngành, ngời có đủ tiêu chuẩn theo điều 2 và có thời gian làm công tác pháp luật từ 10 năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, có khả năng hớng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với viện kiểm sát cấp dới cũng có thể đợc tuyển chọn, bổ nhiệm làm kiểm sát viên cấp tỉnh (Điều 19 Pháp lệnh kiểm sát viên 2002)
Đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nguời đợc bổ nhiệm phải là ngời "có đủ tiêu chuẩn quy định tại điều 2 của Pháp lệnh và đã là kiểm sát viên nhân dân cấp tỉnh( ) ít nhất là 5 năm, có năng lực thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động t pháp thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân tối cao,( ) có khả năng hớng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với Viện kiểm sát cấp d-ới"(Điều 20 - Pháp lệnh kiểm sát viên 2002)
Nh vậy, điểm mới của Pháp lệnh kiểm sát viên 2002 so với pháp lệnh 1993
là có sự điều chỉnh về thời gian thực tế hoạt động của kiểm sát viên trớc khi bổ nhiệm Đó là đối với kiểm sát viên cấp tỉnh, trớc đây quy định phải có 6 năm công tác trong lĩnh vực pháp luật thì nay tăng lên 10 năm, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao trớc đây quy định phải có 8 năm công tác trong lĩnh vực pháp luật thì nay là 15 năm Ngoài việc điều chỉnh về thời gian công tác thực tế, pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002 còn bổ sung quy định: để trở thành kiểm sát viên
Trang 28Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng, thì ngời đó phải
đã từng là kiểm sát viên cấp huyện ít nhất 5 năm trở lên; để trở thành kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì phải là kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng ít nhất 5 năm trở lên Trong trờng hợp cần thiết, có thể bổ nhiệm những ngời đủ thời gian làm kiểm sát viên cấp dới trực tiếp theo quy định của pháp luật Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc
đảm bảo năng lực thực tiễn và quá trình phấn đấu rèn luyện đối với ngời đợc tuyển chọn, bổ nhiệm làm kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp
4.2 Trình tự và thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và thuyên chuyển kiểm sát viên
4.2.1 Quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm kiểm sát viên
Tuyển chọn kiểm sát viên là một nội dung quan trọng gắn với hoạt động quản lý hành chính đối với kiểm sát viên Việc tuyển chọn kiểm sát viên phải đạt
đợc mục đích: tuyển chọn đợc những ngời có đủ tiêu chuẩn làm kiểm sát viên, bảo
đảm tính khách quan, công bằng trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp Đặc biệt là nhằm chuẩn hoá đội ngũ kiểm sát viên chuyên nghiệp Vì vậy, trong công tác tuyển chọn, phơng thức tuyển chọn, thủ tục tuyển chọn và nhiệm kỳ hoạt động của kiểm sát viên là những vấn đề cơ bản, cấp thiết
Nếu nh trớc đây, những cán bộ đảm nhận nhiệm vụ công tố thời kỳ
1946-1959 do cử thì chức danh kiểm sát viên từ năm 1960 tới nay việc tuyển chọn thờng
đợc tiến hành theo thủ tục bổ nhiệm Theo đó, ngời đợc tuyển chọn làm kiểm sát viên do ngời hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm, riêng đối với Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu Theo quy định của pháp luật hiện hành, để giúp Chủ tịch nớc và Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc bổ nhiệm kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở mỗi cấp đều có Hội
đồng tuyển chọn kiểm sát viên Thành phần, nhiệm vụ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng tuyển chọn đợc quy định tại các điều 22, 23, 24, 25 Pháp lệnh kiểm sát viên 2002
Trang 29- Thành phần của Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm: Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, ủy ban Trung ơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành (BCH) Hội luật gia Việt Nam, trong đó Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, các thành viên khác là uỷ viên
- Thành phần Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên cấp tỉnh, huyện gồm: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm chủ tịch, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đại diện Ban tổ chức chính quyền (Sở nội vụ), ủy ban mặt trận Tổ quốc, BCH Hội luật gia Việt Nam làm ủy viên
Việc quy định thành phần nh trên thể hiện tính dân chủ, khách quan của các cơ quan, tổ chức xã hội, các đoàn thể và nhân dân thông qua ngời đại diện trong việc tuyển chọn ngời xứng đáng giữ cán cân công lý Mặt khác, quy định này cũng thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tham gia Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Quy trình bổ nhiệm kiểm sát viên theo pháp luật hiện hành gồm các bớc sau:
- Chuẩn bị và gửi hồ sơ đề nghị bổ nhiệm theo quy định tại Thông t liên tịch
số 01/TTLT-VKSNDTC-BQP-BNV-UBMTTQVN Việc chuẩn bị hồ sơ của ngời
đợc đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm kiểm sát viên cấp tỉnh, cấp huyện do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đảm nhiệm
- Tuyển chọn ngời để bổ nhiệm làm kiểm sát viên: việc tuyển chọn ngời để
bổ nhiệm làm kiểm sát viên đợc tiến hành với từng ngời một và theo một trình tự nhất định: Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc cấp tỉnh báo cáo với Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên các tài liệu có trong hồ sơ của ngời đợc đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm kiểm sát viên, trình bày ý kiến đề nghị việc tuyển chọn và bổ nhiệm đối với ngời đó Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tiêu chuẩn kiểm sát viên, các thành viên trong Hội đồng tuyển chọn thảo luận, trao
đổi xem ngời đó có đủ tiêu chuẩn để làm kiểm sát viên không Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn kết luận và lấy biểu quyết công khai bằng hình thức giơ
Trang 30tay của các thành viên trong hội đồng Quyết định của Hội đồng tuyển chọn phải
đợc quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành mới có giá trị
- Trình Chủ tịch nớc hoặc Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm: danh sách những ngời đợc Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Chủ tịch nớc, danh sách những ngời đợc Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trình Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Kèm theo tờ trình là hồ sơ của ngời đợc Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên các cấp đã tuyển chọn, biên bản phiên họp tuyển chọn Trên cơ sở đó, Chủ tịch nớc xem xét đề nghị bổ nhiệm của
Uỷ ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao và tờ trình của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét đề nghị bổ nhiệm do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gửi đến, và ra quyết
định bổ nhiệm
4.2.2.Miễn nhiệm, cách chức kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân các cấp
Việc miễn nhiệm, cách chức kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân tối cao
do Chủ tịch nớc quyết định; đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định và cũng phải trải qua trình tự thủ tục nh trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm kiểm sát viên
Theo quy định của Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002 thì Chủ tịch nớc ra quyết định miễn nhiệm, cách chức đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo đề nghị của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định miễn nhiệm, cách chức đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo đề nghị của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng
Trình tự, thủ tục xem xét đề nghị miễn nhiệm, cách chức chức danh kiểm sát viêb đợc tiến hành theo trình tự sau: Chủ tịch nớc, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo với Hội đồng tuyển chọn về hồ sơ đề nghị miễn nhiệm hoặc cách chức đối với chức danh kiểm sát viên và trình bày ý kiến đề nghị miễn
Trang 31nhiệm, cách chức Các thành viên trong Hội đồng căn cứ vào quy định của Pháp lệnh và hồ sơ đề nghị, tiến hành thảo luận, trao đổi về miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch Hội đồng kết luận, các thành viên Hội đồng có mặt biểu quyết công khai bằng hình thức giơ tay Sau đó, Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm văn bản
đề nghị Chủ tịch nớc quyết định miễn nhiệm hoặc cách chức chức danh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh làm văn bản đề nghị Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm hoặc cách chức chức danh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
4.2.3 Thuyên chuyển công tác đối với kiểm sát viên
Việc thuyên chuyển công tác đối với kiểm sát viên các cấp đợc pháp luật quy định nhằm mục đích điều động, phân bổ cán bộ một cách hợp lý theo địa giới hành chính hoặc theo nhiệm vụ công tác của địa phơng Do đó, thuyên chuyển công tác đối với kiểm sát viên phải đáp ứng đợc yêu cầu của công tác kiểm sát các hoạt động t pháp và thực hành quyền công tố nhà nớc, đồng thời phải đảm bảo đời sống của kiểm sát viên Việc điều động, biệt phái kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân địa phơng này tới Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ở địa phơng khác do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định
5 Mối quan hệ giữa kiểm sát viên và các cơ quan tố tụng khác
5.1 Mối quan hệ giữa kiểm sát viên với cơ quan điều tra
Cơ quan điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thông qua các điều tra viên để xác định sự thật của vụ việc đã xảy ra một cách khách quan, chính xác và toàn diện
Trong hệ thống t pháp, điều tra và công tố luôn là mắt xích quan trọng, phục vụ đắc lực cho mục đích phát hiện chính xác kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan ngời vô tội Hoạt
động kiểm sát của kiểm sát viên có quan hệ mật thiết với cơ quan điều tra, đặc biệt trong t pháp hình sự Pháp luật đã quy định mối quan hệ chặt chẽ giữa các khâu phát hiện, điều tra tội phạm và luận tội (công tố) nhằm mục đích truy tố chính xác tội phạm và kẻ phạm tội ra trớc tòa
Trang 32Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát viên thực hiện quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố theo ủy quyền của viện trởng viện kiểm sát nhân dân cấp mình Kiểm sát viên có quyền yêu cầu hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt
động điều tra theo luật định Khi kiểm sát việc điều tra của cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra đúng pháp luật, kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các họat động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, có quyền yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục vi phạm trong quá trình điều tra, cung cấp tài liệu khi cần và khi điều tra viên vi phạm pháp luật Đồng thời báo cáo viện trởng viện kiểm sát cấp mình khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra để Viện tr-ởng có quyết định kịp thời, đảm bảo điều tra đúng tiến độ
Nh vậy, kiểm sát viên là ngời trực tiếp kiểm tra giám sát cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của kiểm sát viên (trờng hợp không đồng ý, cơ quan điều tra có quyền kiến nghị lên viện kiểm sát cấp trên) Để hoạt động điều tra của cơ quan điều tra
đảm bảo tính khách quan, toàn diện và chính xác, rất cần hoạt động kiểm sát của kiểm sát viên viên kiểm sát nhân dân - ngời thực hiện chức năng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
5.2 Mối quan hệ giữa kiểm sát viên với Tòa án
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng xét xử Về nguyên tắc Tòa
án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh trong cáo trạng và tòa
án quyết định đa ra xét xử Thực hiện chức năng công tố - chức năng riêng có của viện kiểm sát - theo ủy quyền của Viện trởng, tại phiên tòa xét xử hình sự, kiểm sát viên đọc cáo trạng, phát biểu quan điểm của viện kiểm sát và tham gia tranh tụng Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự thì sự tham gia của kiểm sát viên tại phiên tòa là điều kiện để phiên tòa diễn ra hợp pháp, nếu kiểm sát viên vắng mặt mà không có kiểm sát viên dự khuyết thay thế, phiên tòa phải hoãn lại Tại phiên toà, chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của ngời bào chữa và ngời tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó cha đợc kiểm sát viên tranh luận Với những
Trang 33quy định này, Toà án đã góp phần nâng cao chất lợng tranh luận của kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo những lập luận đầy đủ, thuyết phục của kiểm sát viên khi bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát.
Ngoài chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát viên còn thực hiện kiểm sát việc xét xử của tòa án, đảm bảo tòa án xét xử đúng ngời, đúng tội Khác với mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và kiểm sát viên mối quan hệ này thể hiện
rõ nhất trong giai đoạn xét xử Giai đoạn này, Tòa án thực hiện chức năng xét xử còn kiểm sát viên tiến hành kiểm sát việc thực hiện chức năng ấy, đồng thời duy trì quyền công tố, cùng với Tòa án xác định và trừng phạt kẻ phạm tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
5.3 Mối quan hệ giữa kiểm sát viên với cơ quan thi hành án
Trong chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp của viện kiểm sát nhân dân
có công tác kiểm sát thi hành án và tại điều 9 Pháp lệnh thi hành án năm 1993 cũng quy định “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đ-
ơng sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên ” Có nghĩa giữa cơ quan thi hành án
và kiểm sát viên tồn tại một quan hệ chặt chẽ Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật phải đợc thi hành, và cơ quan thi hành án là ngời chịu trách nhiệm chính Việc bản án, quyết định của tòa án đợc thi hành trên thực tế mới đảm bảo đợc tính giáo dục phòng ngừa đối với cộng đồng, mới khẳng định đợc sự nghiêm minh của pháp luật Thời điểm án đợc thi hành cũng là thời điểm kiểm sát viên hoàn thành nhiệm vụ đợc giao đối với một vụ án cụ thể Thực hiện công tác kiểm sát thi hành án kiểm sát viên có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết
định thi hành án đúng quy định, tự kiểm tra việc thi hành, trực tiếp kiểm sát việc thi hành án của cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dới, quyền kháng nghị và yêu cầu khi có căn cứ đối với cơ quan thi hành án Pháp luật hiện hành quy định cơ quan thi hành án không phải là cơ quan độc lập mà chịu sự quản lý nhà nớc của cơ quan hành chính nhà nớc, và sự quản lý về chuyên môn của Cục Thi hành án trực thuộc Bộ t pháp, điều này đã ảnh hởng không ít tới chất lợng thi hành án, vấn đề này sẽ đợc sửa đổi khi luật thi hành án ra đời Khi cơ quan thi hành án là một cơ quan độc lập, mối quan hệ với kiểm sát viên sẽ có sự thay đổi