Để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng lựa chọn
Trang 1Trường Đại học Khoa học Khoa Khoa học Môi trường & Trái Đất
Biên soạn: Th.S Phạm Thị Hồng Nhung
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 21 Tên môn học: Qui hoạch lãnh thổ và PTBV
2 Tên môn học bằng tiếng Anh: Territorial planning and Sustainable
Development
3 Số đơn vị học trình của môn hoc: 2
4 Phân bổ thời gian: 24 tiết lý thuyết
6 tiết thực hành, thảo luận
5 Điều kiện tiên quyết: Sinh viên đã học qua các môn cơ bản như Các
khoa học trái đất, Khoa học Môi trường đại cương, Cơ sở Địa lý nhân văn, Cơ sởcảnh quan học
6 Mục tiêu học phần: Gồm 2 mảng kiến thức:
- Về qui hoạch lãnh thổ: Cung cấp các kiến thức lý luận cơ bản về tổ chứclãnh thổ và của qui hoạch vùng, chủ yếu ở cấp vùng KT-XH; những kiến thức vềnội dung, phương pháp tiếp cận qui hoạch, qui hoạch tổng thể ở Việt Nam Nângcao nhận thức về vấn đề quản lý, sử dụng lãnh thổ ở một tỉnh, một vùng trong tổngthể quốc gia Sinh viên có khả năng vận dụng những kiến thức vào thực hiện quihoạch và quản lý việc phát triển KT-XH của một ngành, một lĩnh vực cũng nhưmột lãnh thổ
- Trang bị cho sinh viên những kiến thức về mặt lý luận và thực tiễn về pháttriển bền vững (PTBV) trên thế giới cũng như Việt Nam Qua đó làm thay đổinhận thức, thay đổi nhân sinh quan của người học trong việc vận dụng vào côngviệc sau này để hướng tới sự PTBV
7 Tài liệu học tập
7.1 Tài liệu bắt buộc
1 Nguyễn Văn Phú, Qui hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ, Nxb Chính trị Quốc
gia, 2007
2 Đinh Văn Thanh Quy hoạch vùng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2005
7.2 Tài liệu tham khảo
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư Báo cáo các chương trình tổ chức lãnh thổ Việt Nam, 1994
2 Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, NXB
Sự thật, Hà Nội 1991
3 Nguyễn Thế Chinh và nnk, Bài giảng về PTBV, Trường Đại học Kinh tế
Trang 34 Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, Quản lý môi trường cho sự PTBV, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005
5 Phạm Kim Giao, Qui hoạch vùng, Nxb Xây dựng, Hà Nội.
6 Nguyễn Hiền, Phân tích hệ thống trong địa lý qui hoạch và tổ chức lãnh thổ,
Tập bài giảng Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia HàNội, 2008
7 Nguyễn Văn Phú, Phát triển kinh tế vùng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006.
8 Đinh Văn Thanh, Qui hoạch vùng (Lý luận và phương pháp qui hoạch),
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2005
9 Đặng Như Toàn, Lý thuyết tổ chức không gian Kinh tế - xã hội, ĐH Kinh
tế Quốc dân, Hà Nội 1981
Trang 4PHẦN MỘT: QUI HOẠCH VÙNG VÀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ
MỞ ĐẦUTrong quá trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội người ta nhận thấy nhữnghiện tượng sau:
+ Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng kinh tế, tạo nên sự tương phản
về mức độ, trình độ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội giữa đô thị và nông thôn, giữamiền xuôi và miền núi, giữa các vùng – miền, giữa các địa phương với nhau
+ Trong khi tiến hành kế hoạch hoá đất nước, có những vùng trọng điểm, cónhững vùng ưu tiên, nhưng lại có những vùng không hoặc ít được coi trọng, nên việcđầu tư cho phát triển không được đồng đều Yêu cầu phát triển KT-XH bao giờ cũnglớn hơn khả năng thực hiện nên Nhà nước phải có những phương hướng và biện phápchính xác nhằm làm cho nền kinh tế phát triển có lợi nhất trong mỗi giai đoạn kếhoạch nhất định
+ Trong khi tiến hành công nghiệp hoá, con người đã phí phạm không ít tàinguyên như mất đất canh tác, thu hẹp và huỷ hoại nguồn tài nguyên rừng, phí phạmnguồn tài nguyên nước, huỷ hoại cảnh quan thiên nhiên v.v
Những hiện tượng đó cùng nhiều hiện tượng khác là nguyên nhân của sự lãngphí tài nguyên kỹ thuật, tài chính, nhân lực v.v., đã đòi hỏi phải quy hoạch vùng lãnhthổ để làm cho sản xuất và đời sống xã hội phát triển nhịp nhàng, cân đối Qui hoạchvùng phát triển từ thế kỷ thứ XVII trong các công trình phân vùng kinh tế nước Nga
và phát triển rực rỡ trong thờ kỳ xây dựng CNXH của Liên Xô
Còn Tổ chức lãnh thổ (TCLT) là bộ môn khoa học ra đời từ cuối thế kỷ XIX
và đã trở thành khoa học quản lý lãnh thổ Tổ chức lãnh thổ được hiểu là nghệ thuật
sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và hiệu quả (Jean Pean Paul De Gaudemar,1992); là một hành động địa lý học có chủ trương hướng tới một sự công bằng về mặtkhông gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực và các không gian ảnh hưởng,nhằm giải quyết sự ổn định về công ăn việc làm, cân đối giữa quần cư nông thôn vàquần cư thành thị, bảo vệ môi trường sống Lĩnh vực này đã phát triển mạnh về lýluận và đã đem lại những kết quả tốt đẹp cho quá trình phát triển ở các nước phươngTây, song còn mới mẻ ở Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập phát triểnhiện nay của nước ta, vấn đề quản lý lãnh thổ như thế nào để có sự cân đối trong pháttriển giữa các ngành, các vùng là vấn đề cấp thiết Do vậy, TCLT góp phần giải quyết
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUI HOẠCH VÙNG VÀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ
1.1 Các khái niệm chung về lãnh thổ, vùng
1.1.1 Khái niệm về lãnh thổ
a, Lãnh thổ
Theo nghĩa rộng lãnh thổ là một phần bề mặt của Trái Đất có giới hạn gồm
cả đất liền, nước và không gian Thông thường nó được xem là thuộc sở hữu củamột cá nhân, tổ chức, đoàn thể, quốc gia và có khi kể cả của loài vật Về địa
lí, chính trị và hành chính, lãnh thổ là một phần đất nằm dưới sự quản lí của cơquan chính quyền của một quốc gia Lãnh thổ cũng được dùng theo nghĩa "khônggian hoạt động của một cộng đồng người" Đối với loài vật thì là vùng địa lý sinhsống và tự vệ của một con hay một đàn vật chống lại những con vật khác cùng loàihay khác loài
Là một bộ phận của bề mặt đất thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nhất định bao gồm đất liền và lãnh hải Giới hạn lãnh thổ là đường biên giới quốc gia
(Từ điển bách khoa về các khái niệm địa lý, tiếng Nga, 1968)
Hay theo định nghĩa của Pierre George trong “Dictionnaire de laGéographie”: “Lãnh thổ là một không gian địa lý, được gọi theo pháp luật như
lãnh thổ Quốc gia, hoặc theo các đặc thù về thiên nhiên hoặc văn hóa như lãnh thổ
(vùng, miền) núi, lãnh thổ ngôn ngữ Nó gắn liền với việc xác định các ranh giới.Khái niệm lãnh thổ cũng gắn liền với những ranh giới đó
Người ta cũng có thể quan niệm lãnh thổ như một thể thống nhất, hay nói
chung là một thực thể (Entity) được cấu trúc và tổ chức bởi các cộng đồng xã hội
(Chamusy và nnk, 1977) Đây là một thực thể không gian, nơi sinh sống của mộtcộng đồng xã hội, được cộng đồng này chiếm lĩnh để đảm bảo sự cung cấp các nhucầu thiết yếu của nó và sự tái sinh của chính nó Để đảm bảo được việc này, cộngđồng xã hội phải quyết định một số hành động can thiệp nhằm tổ chức lại khônggian cho phù hợp với đường lối chính trị, kế hoạch phát triển các điều kiện côngnghệ và kỹ thuật, kể cả tâm lý dân tộc, khiếu thẩm mỹ vốn có nữa
* Về mặt hành chính- chính trị:
- Lãnh thổ với ý nghĩa rộng hơn quốc gia: Là toàn bộ bao gồm hết các vùng
Trang 6khoảng không và lòng đất nằm trên, dưới vùng đất và vùng nước đó của một quốcgia, kể cả những vùng đã thực hiện chủ quyền hoặc trong vòng tranh chấp.
- Lãnh thổ trong khái niệm hẹp:
+ Lãnh thổ phụ thuộc một quốc gia: là những vùng đất xa xôi với thường làcác cựu thuộc địa trước đây Mặc dầu có tổ chức chính quyền địa phươngnhưng hiến pháp quốc gia chưa được áp dụng (hoặc nếu có chỉ có một phần nhỏ)tại những phần đất này Ví dụ như Quần đảo Virgin thuộc Mỹ (người dân có quốctịch Mỹ nhưng không được trực tiếp bầu Tổng thống Mỹ)
+ Lãnh thổ bên trong quốc gia
Vùng đất rộng nhưng có quá ít người ở để thành lập nên một đơn
vị hành chính cấp bang (như tỉnh bang của Canada hay tiểu bang của Hoa Kỳ)
và vì vậy được chính quyền trung ương trực tiếp quản lý và điều hành như cáclãnh thổ sau đây: Lãnh thổ Yukon, Lãnh thổ Nunavut và Lãnh thổ Tây Bắc củaCanada; Lãnh thổ miền Bắc của Úc
Những đặc khu kinh tế, chính trị quan trọng, khu vực hành chính củachính phủ trung ương, vùng quanh thủ đô quốc gia như Lãnh thổ Thủ đô
Úc, Lãnh thổ Jervis Bay của Úc
Vùng đất có dân tộc thiểu số chiếm đa số hoặc có tỉ lệ đáng kể,thường được gọi là khu hay lãnh thổ tự trị như Nội Mông, Tân Cương, TâyTạng, Quảng Tây và Ninh Hạ ở Trung quốc
b, Các lãnh thổ khu biệt
Đây là những lãnh thổ có đặc điểm và ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triểnKT-XH của các vùng và của cả nước Các đơn vị này được vận dụng sáng tạo ởnước ta trong một hai thập kỷ đã qua tiêu biểu như các vùng kinh tế trọng điểm,các tam giác tăng trưởng, các đặc khu kinh tế, Các thành phố, thị trấn, các lãnhthổ khu biệt có quan hệ với nhau trong một không gian; có sức hút và có sức lantoả ra xung quanh
* Vùng kinh tế trọng điểm
Trang 7Là lãnh thổ quy mô lớn trong các đơn vị tổ chức lãnh thổ khu biệt, thông
thường có xu hướng phát triển nhất, có ý nghĩa trung tâm, có lợi thế so với các
vùng khác
Khung 1.1 Vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam
Vùng kinh tế trọng điểm là vùng có ranh giới “cứng” và “mềm” Ranh giớicứng bao gồm một số đơn vị hành chính cấp tỉnh và ranh giới mềm là khu nhân,gồm các đô thị và phạm vi ảnh hưởng của nó
Tổng quan về quá trình hình thành các vùng kinh tế trọng điểm
Một trong những nhân tố đột phá then chốt để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là có những chính sách hợp lý nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế Yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế của đất nước là một yêu cầu khách quan cấp thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Từ nghiên cứu các đặc điểm về vị trí địa lý; điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm và thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh/thành phố trong cả nước; các yếu tố tác động từ bên ngoài đến nền kinh tế của đất nước như: bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như xu hướng toàn cầu hoá nhằm rút ra kết luận
về những lợi thế, thời cơ phát triển cũng như những hạn chế, thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi tỉnh/thành phố trong cả nước nhằm giúp cho việc hoạch định những chính sách phát triển mang tính đột phá trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế quốc dân.
Để thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước cũng như tạo mối liên kết và phối hợp trong phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng lựa chọn một số tỉnh/ thành phố để hình thành nên vùng kinh tế trọng điểm quốc gia có khả năng đột phá, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với tốc độ cao và bền vững, tạo điều kiện nâng cao mức sống của toàn dân và nhanh chóng đạt được sự công bằng xã hội trong cả nước Việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm là nhằm đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn nói chung và đỏi hỏi của nền kinh tế nước ta nói riêng.
Theo hướng đó, cuối năm 1997 và đầu năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt phê duyệt các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia đến năm
2010, bao gồm vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Trung bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Trong 3 vùng kinh tế trọng điểm này, có 13 tỉnh/thành phố được xếp vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế trọng điểm.
Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
là:thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau Theo đó, xây dựng Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng đồng bằng sông Cửu Long giàu mạnh, các mặt văn hoá, xã hội tiến kịp mặt bằng chung của cả nước; bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc phòng
vững chắc.
Các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam hiện nay gồm :
Trang 8+ Có tỉ trọng lớn trong tổng GDP của quốc gia và trên cơ sở đó, nếu đượcđầu tư tích cực sẽ có khả năng tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước
+ Hội tụ các điều kiện thuận lợi và ở mức độ nhất định, đã tập trung tiềm lựckinh tế (kết cấu hạ tầng, lao động kỹ thuật, các trung tâm đào tạo và nghiên cứukhoa học cấp quốc gia và vùng, có vị thế hấp đẫn các nhà đầu tư, có tỷ trọng lớntrong GDP của cả nước )
+ Có khả năng tạo tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng: đồng thời, có thểtạo nguồn vốn thu ngân sách lớn Trên cơ sở đó, vùng này không những chỉ tự đảmbảo cho mình, mà còn có khả năng hỗ trợ một phần cho các vùng khác khó khănhơn
+ Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch vụthen chốt để rút kinh nghiệm về mọi mặt cho các vùng khác trong phạm vi cảnước Từ đây, tác động của nó là lan truyền sự phân bố công nghiệp ra các vùngxung quanh với chức năng là trung tâm của một lãnh thổ rộng lớn
Như vậy, vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận lãnh thổ quốc gia, hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát triển, có tiềm lực kinh tế lớn, gữ vai trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước Lãnh thổ được gọi là vùng kinh
tế trọng điểm phải có vị thế hấp dẫn các nhà đầu tư, tập trung tiềm lực kinh tế, cókhả năng cao tạo tích luỹ đầu tư để tái sản xuất mở rộng
* Hành lang kinh tế, vành đai kinh tế:
Là một không gian kinh tế - xã hội, hình thành dựa trên một tuyến trục giao thông huyết mạch và sự tập trung các cơ sở công nghiệp và dịch vụ dọc hai bên
tuyến trục đó
Nó là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài và chiều rộng,liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập một hoặc nhiềutuyến giao thông kết hợp với những chính sách kinh tế nhất định để thúc đẩy pháttriển kinh tế trên toàn không gian đó
Hành lang kinh tế thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh
tế giữa những vùng kém phát triển hơn và thường là vùng sâu vùng xa với nhữngvùng phát triển hơn và thường là vùng duyên hải .Do có sự phát triển tập trung các
cơ sở kinh tế, lợi dụng triệt để việc vận chuyển thuận lợi nên các hoạt động kinh tếđem lại hiệu qua cao hơn Đây là hình thức tổ chức kinh tế theo lãnh thổ có triển
Trang 9Hành lang kinh tế bao gồm các yếu tố sau đây: Tuyến giao thông huyếtmạch kết nối các cực phát triển; Các cơ sở kinh tế, nhất là các doanh nghiệp côngnghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ khác phân bố lân cận hành lang Các doanhnghiệp đó được lợi do có được điều kiện vận tải dễ dàng, các điểm dân cư vànhững khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp bổ trợ Ví dụ: hành lang Đông Tây gồmkhu vực đường 9 của Việt Nam, Lào, qua Thái Lan và Mianma đang góp phần tạo
ra tuyến lực phát triển kinh tế nối khu vực ven biển Thái Bình Dương với duyênhải Ấn Độ Dương
* Khu kinh tế
Là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinhdoanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, đượcthành lập, tổ chức hoạt động theo các điều kiện, trình tự và thủ tục theo luật định
Khu kinh tế được phép tổ chức thành 2 khu chức năng: Khu thuế quan vàkhu phi thuế quan Khu phi thuế quan gồm có khu công nghiệp, khu chế xuất, khugiải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năngkhác phù hợp với đặc điểm từng khu kinh tế Khu thuế quan gồm khu thương mại,khu mậu dịch tự do
- Khu kinh tế cửa khẩu:
Khu vực có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương giữa các quốc gia, nghĩa
là hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩuchính; được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp
lý có tính ưu đãi, mở cửa theo các thông lệ quốc tế Ở đó có môi trường đầu tư,kinh doanh, buôn bán phù hợp với cơ chế thị trường, được hưởng quy chế ưu đãihơn các vùng khác Các quốc gia xây dựng các khu kinh tế như thế đều có chung
mục đích là tạo nên sự giao thương thông thoáng, nơi thu hút mạnh đầu tư nước ngoài và thông qua đó thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển nhanh Ngày nay, các
quốc gia có xu hướng hình thành các khu kinh tế phát triển hơn là các khu kinh tế
tự do
- Khu kinh tế ven biển:
Là một lãnh thổ có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư vàkinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, hìnhthành chủ yếu ở khu vực ven biển, được thành lập theo qui định của Thủ tướng
Trang 10Những điểm phân biệt khu kinh tế ven biển khác với “khu công nghiệp”,
“khu chế xuất”, “khu kinh tế cửa khẩu” ở chỗ được hinhfthanhf ở khu vực venbiển, có chức năng kinh tế tổng hợp, mà trong đó các dự án, công trình nòng cốt có
ý nghĩa quan trọng của quốc gia thuộc một hay nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dulịch, thương mại, khu phi thuế quan, đô thị giữ vai trò động lực thúc đẩy tăngtrưởng, xuất khẩu của các vùng, miền Sự phát triển của khu kinh tế được đảm bảobằng các cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù do Thủ tướng Chính phủ quyết định
Khung 1.2 Một số khu kinh tế của Việt Nam
Ở Trung Quốc, các đặc khu kinh tế đã được xây dựng theo mô hình khukinh tế tự do tổng hợp như Thâm Quyến, Chu Hải, Hạ Môn, Hải Nam Trên lãnhthổ Việt Nam đang nghiên cứu hình thành khu kinh tế phát triển Chu Lai thuộctỉnh Quảng Nam và khu kinh tế mở Dung Quất thuộc tỉnh Quảng Ngãi, khu kinh tế
mở Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang
* Khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao:
- Khu công nghiệp: Là khu chuyên sản xuất hàng hóa công nghiệp và thựchiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thànhlập, tổ chức hoạt động theo các điều kiện, trình tự và thủ tục qui định của Nghịđịnh, không có dân cư sinh sống Xu hướng hiện đại là phát triển các công viêncông nghiệp
- Khu chế xuất: Là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu,thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng hóa xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định,được thành lập, tổ chức hoạt động theo các điều kiện, trình tự và thủ tục qui địnhcủa Nghị định, không có dân cư sinh sống
Khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam) sẽ phát triển theo mô hình "khu trong khu" Đây cũng là khu kinh tế mở duy nhất được xây dựng và phát triển để thử nghiệm thể chế, chính sách mới, tạo môi trường đầu tư phù hợp với các thông lệ quốc tế cho các loại hình kinh doanh của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước
Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) sẽ phát triển thành một khu kinh tế tổng hợp đa ngành với các chính sách ưu đãi, khuyến khích ổn định lâu dài Tại đây sẽ tập trung phát triển công nghiệp lọc dầu-hoá dầu-hoá chất, từng bước phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, đóng sữa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng, sản xuất container…bên cạnh đó sẽ phát triển hệ thống giao thông liên khu với 10 bến cảng dầu khí, khu cảng tổng hợp, đê chắn
Trang 11- Khu công nghệ cao: Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ cao vàcác đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu - triểnkhai khoa học - công nghệ, nhằm ươm tạo các doanh nghiệp công nghệ cao, đàotạo nhân lực công nghệ cao và các dịch vụ liên quan; được thành lập, tổ chức hoạtđộng theo các điều kiện, trình tự và thủ tục qui định của Nghị định; có ranh giớixác định Đối với Việt Nam khu công nghệ cao do Chính phủ thành lập Mục tiêucủa khu công nghệ cao là thu hút công nghệ cao của nước ngoài, tiếp nhận chuyểngiao công nghệ cao, kinh doanh công nghệ cao và phát triển công nghệ cao trongnước để nhân rộng ra Hiện nay, một số khu công nghệ cao đang được xây dựng ởTp.Hồ Chí Minh và ở Hà Nội.
1.1.2 Khái niệm về vùng và vùng kinh tế
a, Khái niệm vùng
Vùng là một không gian lãnh thổ xác định, là một phần của bề mặt Trái Đất
có sự phân biệt với vùng lân cận Nó là một miền, một khu vực rộng, một khoảngđất rộng như vùng đồng bằng, vùng núi, vùng quê, vùng mỏ… hay thậm chí là mộtkhu ruộng lớn gồm nhiều thửa
Là một thực thể hay hệ thống tự nhiên, KT-XH Ranh giới này có ý nghĩapháp lý được xác định bởi một văn bản pháp qui và cũng có thể chỉ là ước lệ Lãnhthổ đó là vùng hữu hạn về phạm vi, ở đó có các yếu tố tự nhiên, nơi sinh sống củacộng đồng xã hội có những tác động tích cực vào tự nhiên, trực tiếp tổ chức KT-
XH cho phù hợp với đường lối chính trị và phát triển KT-XH của đất nước
Trang 12Các ngành khoa học khác nhau có cách hiểu về vùng không đồng nhất:
Hình 1.1 Quan niệm vùng của các ngành khoa học
Trên giác độ quản lý Nhà nước, vùng được quan niệm là cấp trung gian giữaquốc gia và tỉnh, một cấp phân vị cao của lãnh thổ quốc gia có những đặc điểm vềmặt tự nhiên và KT-XH làm cho nó có thể phân biệt với các vùng khác (theo GS
Lê Bá Thảo trong “Việt Nam- Lãnh thổ và vùng địa lý”) Nó là khoảng không gianliên tục nằm trong ranh giới một lãnh thổ xác định Nó là duy nhất, không lặp lại
và được đặc trưng bằng những nét riêng biệt cho phép phân biệt nó với bất kỳvùng nào khác
* Bản chất:
Là một khái niệm không gian, có hình thức kết cấu của vùng đất chiếm mộtkhông gian nhất định trên bề mặt trái đất, dựa vào điều kiện vật chất khác nhaulàm đối tượng Nó phải có những thuộc tính cơ bản sau:
(1) Một phần của bề mặt trái đất, chiếm không gian nhất định (khônggian 3 chiều), có thể là không gian tự nhiên, không gian kinh tế, không gian xãhội…
(2) Có một phạm vi và giới hạn nhất định Phạm vi lớn, hay nhỏ là căn cứvào các yêu cầu khác nhau, hệ thống chỉ tiêu khác nhau để phân chia Ranh giớithường mang tính quá độ, là một “dải đất” biến đổi cả về lượng và về chất, chúng
có khi liên tục (liền khoảnh), có khi không liên tục (không liền khoảnh)
(3) Có hình thức kết cấu hệ thống nhất định có tính phân cấp hoặc tínhnhiều cấp, tính phân tầng nên có mối quan hệ trên và dưới, dọc và ngang
(4) Là một thực tại khách quan Là cái mà mọi người căn cứ theo yêu cầu
và đối tượng khác nhau để phân chia, là phản ánh chủ quan đối với khách quan
Vùng
Chính trị, hành chính Lãnh thổ hành chính
để thực hiện sự quản
lý hành chính
Kinh tế học Một không gian, một lãnh thổ kinh
tế tương đối hoàn chỉnh
có những đặc trưng
xã hội tương đồng của một loại người nào đó (ngôn ngữ, dân tộc )
Trang 13- Các chuyên gia nghiên cứu về qui hoạch quản lý và phát triển vùng đều
thống nhất quan điểm cho rằng vùng là một bộ phận lãnh thổ quốc gia Sự tồn tại
và phát triển của nó gắn bó chặt chẽ với các bộ phận lãnh thổ khác Nó hoạt động như một hệ thống do những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần
cấu tạo nên nó cũng có mối quan hệ chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài
- Đặc điểm cơ bản:
+ Có ranh giới xác định (hoặc mang tính pháp lý hoặc mang tính ước lệ).+ Tồn tại các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mạng lưới giaotông, cơ sở vật chất kỹ thuật mà con người tạo dựng và các điểm dân cư
+ Có qui mô rất khác nhau, có tính khách quan và tính lịch sử
+ Là cơ sở để hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnhthổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển KT-XH trên mỗi vùng của đấtnước
b, Vùng kinh tế- xã hội
* Định nghĩa:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về vùng kinh tế, song hiện nay đa số các nhàkhoa học Liên Xô (cũ) và các nước XHCN trong đó có Việt Nam chấp nhận định
nghĩa của “UB về vấn đề phân vùng kinh tế nước Nga” do Kalinin chỉ đạo, được
coi là những nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ công tác lý thuyết và thực tiễn trong phân
vùng kinh tế Theo đó vùng kinh tế “Là một khu vực đặc thù hoàn chỉnh về kinh tế Khu vực đó nhờ sự kết hợp các tài nguyên thiên nhiên, các di sản văn hóa trước đây, dân cư, văn hóa, có kỹ năng sản xuất trở thành một mắt khâu trong sợi dây chuyền chung của nền kinh tế quốc dân”.
Là một thực thể tồn tại khách quan, nội dung, trình độ và mức độ phát triểncủa vùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định
Vùng kinh tế được coi là một cơ thể kinh tế hoàn chỉnh Hoàn chỉnh không
có nghĩa là tự cấp tự túc, khép kín mà gạt bỏ dứt khoát mọi tư tưởng bế quan tỏacảng Tất cả mọi vùng đều là những bộ phận kinh tế của một cơ thể Nhà nướcthống nhất, thực hiện những nhiệm vụ chung nhất thông qua những ngành chuyênmôn hóa của chúng là sự phù hợp với sự phân công lao động tự nhiên giữa cácvùng
* Về bản chất: Vùng kinh tế là một bộ phận lãnh thổ nguyên vẹn của nền
Trang 14- Chuyên môn hóa những chức năng kinh tế quốc dân cơ bản… Sản xuấtchuyên môn hóa là quá trình tập trung sản xuất một hay một vài sản phẩm có lợinhất, có hiệu quả kinh tế cao nhất, phù hợp với điều kiện khách quan của vùng, tạo
ra nguồn sản phẩm hàng hóa cao nhất không những thỏa mãn nhu cầu nội vùng màcòn cả ngoại vùng (vùng khác, cả nước và xuất khẩu)
- Tính tổng hợp: được hiểu theo nghĩa rộng như là mối quan hệ qua lại giữacác thành phần quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế và cơ cấu lãnh thổ vùng… Vìthế, coi vùng như một hệ thống toàn vẹn, một đơn vị có tổ chức trong bộ máy quản
lý lãnh thổ nền kinh tế quốc dân
Như vậy, phát triển tổng hợp là phát triển tất cả các ngành sản xuất có liênquan, ràng buộc với nhau; khai thác, sử dụng đầy đủ mọi tiềm năng sản xuất trongvùng để phát triển toàn diện, cân đối, hợp lý nền kinh tế vùng trong sự phối hợp tốtnhất giữa các ngành chuyên môn hoá sản xuất, các ngành bổ trợ chuyên môn hóasản xuất và các ngành sản xuất phụ của vùng, tạo cho vùng một cơ cấu sản xuấthợp lý nhất
* Cơ sở hình thành và phát triển vùng
Là các yếu tố tạo vùng, trong đó yếu tố tiền đề là sự phân công lao động Sựphân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo lãnh thổ Yếu
tố phân công lao động theo lãnh thổ là yếu tố lý giải quá trình tạo vùng dưới góc
độ triết học và kinh tế chính trị học, do việc luận chứng và kích thích cơ bản sựphân bố lực lượng sản xuất một cách hợp lý
* Nội dung của vùng kinh tế:
Bao gồm cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ:
- Cơ cấu ngành của vùng là mối quan hệ giữa các ngành chuyên môn hóa,ngành phát triển tổng hợp (gồm các ngành phục vụ, hỗ trợ cho chuyên môn hóa,cấu trúc hạ tầng)
- Cơ cấu lãnh thổ: Là những mối quan hệ giữa hạt nhân với lớp vỏ trong vàlớp vỏ ngoài Đó là quan hệ giữa trung tâm với ngoại vi và ranh giới vùng Sức hútcủa trung tâm tới đâu thì ngoại vi tới đó
* Qui mô: Gồm các cấp
(1) Cấp cao:Vùng KT-XH (vùng lớn):
- Bao gồm nhiều tỉnh hoặc nhiều huyện của nhiều tỉnh, hoặc gồm những dải
Trang 15- Đặc điểm: có tính đồng nhất cao về tự nhiên, có sự hình thành vùng sảnxuất hàng hóa bao quát trên nhiều tỉnh, mạng lưới kết cấu hạ tầng cũng trải rộng.Trên cơ sở đó cần phải có hệ thống chính sách phát triển chung cho nhiều tỉnh, tạo
ra sự thống nhất trên phạm vi lãnh thổ lớn
- Yêu cầu: Xác định về ranh giới, tên gọi và luận chứng trong qui hoạchphát triển KT-XH lãnh thổ Nó là đối tượng để tổ chức lãnh thổ quốc gia và lập quihoạch phát triển
(2)Cấp thứ 2: Vùng là tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là tỉnh) là cấp hànhchính có qui định trong Hiến pháp 1992 Đây là cấp có bộ máy quản lý Nhà nước
+ Nhân dân, các nhà đầu tư hiểu rõ tiềm năng, cơ hội đầu tư và yêu cầu pháttriển KT-XH của tỉnh
- Số lượng cấp vùng phụ thuộc vào sự thay đổi địa giới hành chính cấp tỉnh
Khung 1.3 Sự thay đổi số lượng các tỉnh, thành phố qua các thời kỳ
- Những năm 1975- 1980: có 40 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đã xây dựng qui hoạch phát triển nông, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến của các tỉnh.
- Thời kỳ 1982- 1984: có 44 tỉnh, thành phố; xây dựng Tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất trên phạm vi cả nước.
- Từ năm 1989 đến nay: chia tách 49 tỉnh, 53 tỉnh, 61 tỉnh và nay là 64; đã xây dựng được các qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH và có sự rà soát, điều chỉnh các qui hoạch trên phạm vi các tỉnh.
Trang 16(3) Cấp thứ 3- cấp huyện (hay liên huyện)
Là những đơn vị hành chính KT-XH cấp huyện
c, Vùng ngành
Vùng kinh tế ngành là vùng kinh tế của một ngành mà phân bố sản xuấtphần lớn của một ngành nhất định ví dụ như vùng công nghiệp, vùng nông nghiệp,vùng du lịch… Vùng kinh tế ngành cũng có tính chất tổng hợp và quá trình pháttriển của nó cũng mang tính chất khách quan và bị chi phối bởi sự phân công laođộng theo lãnh thổ
Có hai dạng:
- Vùng kinh tế ngành tổng hợp bao gồm các dạng sản xuất của một loạingành chung như vùng công nghiệp, vùng nông nghiệp…
Trang 17- Vùng kinh tế ngành cụ thể là những loại vùng ngành nhỏ nằm trong vùngkinh tế ngành tổng hợp như vùng trồng cây công nghiệp, vùng trồng cây lươngthực, vùng khai thác khoáng sản…
Khung 1.4 Các vùng công nghiệp Việt Nam
Có sáu vùng công nghiệp tại Việt Nam được quy hoạch từ nay đến năm 2020:
- Vùng 1 gồm 14 tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang,
Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái tập trung phát triển thủy điện, chế biến nông, lâm sản, khai thác và chế biến khoáng sản, hóa chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến.
- Vùng 2 gồm 14 tỉnh, thành Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà
Nam, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc) được định hướng tập trung phát triển ngành cơ khí, nhiệt điện, phát triển ngành điện tử và công nghệ thông tin, hóa chất, luyện kim, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, tiếp tục phát triển nhanh công nghiệp dệt may, da giầy phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
- Vùng 3 gồm 10 tỉnh, thành Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên,
Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, lọc và hóa dầu, cơ khí chế tạo, sản xuất vật liệu xây dựng và dệt may, da giầy, ngành điện tử và công nghệ thông tin.
- Vùng 4 gồm 4 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum tập trung phát triển thủy
điện, công nghiệp chế biến nông, lâm sản và khai thác, chế biến khoáng sản.
- Vùng 5 gồm 8 tỉnh, thành Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận,
Đồng Nai, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh) tập trung phát triển công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, điện, chế biến nông, lâm, hải sản và đặc biệt là công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghiệp phần mềm, hóa chất, hóa dược, phát triển công nghiệp dệt may, da giầy chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, phát triển công nghiệp trên cơ
sở áp dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
- Vùng 6 gồm 13 tỉnh, thành An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu
Giang, Kiên Giang, Long An, Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản hướng vào xuất khẩu, các ngành công nghiệp sử dụng khí thiên nhiên, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sau thu hoạch và bảo quản, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản,
cơ khí đóng tàu.
Trang 18Khung 1.5 Các vùng nông nghiệp của Việt Nam
1.2 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ và qui hoạc vùng
1.2.1 Về tổ chức lãnh thổ và tổ chức lãnh thổ kinh tế- xã hội
a, Những quan niệm cơ bản
Tổ chức lãnh thổ là việc tìm ra mối liên kết không gian, là việc bố trí hợp lý
các cơ sở kinh tế trên một lãnh thổ nhất định, sao cho việc sử dụng lãnh thổ ấy đạthiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Ở các nước phương Tây khái niệm tổ chức lãnh thổ (Territorial organistation)được dùng từ cuối thế kỷ XIX cả trong lý thuyết cũng như ứng dụng trong thựctiễn Song khái niệm này chỉ bắt đầu được nêu ra ở Liên Xô (cũ) từ năm 1972 vàđược coi như là một bước đổi mới trong việc lập tổng sơ đồ phát triển sau 1921
Theo B.S.Kharop (1981) trong “Những vấn đề hiện tại quản lý vùng và qui
Lãnh thổ trên đất liền của Việt Nam có thể chia thành tám vùng theo hệ sinh thái nông nghiệp :
1 Vùng Tây Bắc: gồm 4 tỉnh Lai Châu , Điện Biên , Sơn La , Hoà Bình
2 Vùng Đông Bắc: gồm 11 tỉnh Cao Bằng , Lạng Sơn , Bắc Cạn , Thái Nguyên ,
Quảng Ninh , Bắc Giang , Lào Cai , Yên Bái , Hà Giang , Tuyên Quang , Phú
Thọ
3 Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 11 tỉnh Hải Phòng , Hải Dương , Bắc Ninh ,
Hưng Yên , Hà Nội , Hà Tây , Thái Bình , Nam Định , Hà Nam , Ninh Bình , Vĩnh Phúc
4 Vùng Bắc Trung bộ: gồm 6 tỉnh Thanh Hoá , Nghệ An , Hà Tĩnh , Quảng
Bình , Quảng Trị , Thừa Thiên - Huế
5 Vùng Nam Trung bộ: gồm 5 tỉnh Quảng Nam , Quảng Ngãi , Bình Định , Phú Yên , Khánh Hoà
6 Vùng Tây Nguyên: gồm 5 tỉnh Lâm Đồng , Đắk Nông , Đắc Lắc , Gia Lai ,
Kon Tum
7 Vùng Đông Nam bộ: gồm 6 tỉnh Đồng Nai , Bình Dương , Bình Phước , Tây Ninh , Thành phố Hồ Chí Minh , Ninh Thuận , Bình Thuận
8 Vùng Tây Nam bộ: gồm 13 tỉnh Long An , Bến Tre , Đồng Tháp , Sóc Trăng ,
Vĩnh Long , Cần Thơ , Hậu Giang , Tiền Giang , Bạc Liêu , Cà Mau , Kiên
Giang , An Giang , Trà Vinh
Trang 19có liên quan đến sự phân chia lãnh thổ lao động, phân bố lực lượng sản xuất, liênquan đến sự khác biệt giữa các vùng trong quan hệ sản xuất, về phân bố dân cư, vềquan hệ tương hỗ giữa xã hội và thiên nhiên cũng như các vấn đề chính sách KT-
XH của khu vực (vùng) Với ý nghĩa hẹp hơn, khái niệm này bao gồm những lĩnhvực sau: Tổ chức hành chính lãnh thổ của quốc gia; quản lý sản xuất của khu vực;
sự hình thành của các tổ hợp tổ chức kinh tế lãnh thổ; xác định các đối tượng lãnhthổ quản lý; phân vùng KT-XH được thực hiện không chỉ với mục đích mô tả vàphân tích các hiện tượng và quá trình mà chủ yếu là mục đích quản lý chúng
Các khái niệm thường gặp liên quan đến “Tổ chức lãnh thổ” như “Tổ chức lãnh thổ sản xuất”,“Tổ chức lãnh thổ KT-XH”, “Tổ chức lãnh thổ lực lượng sản xuất”, “Tổ chức lãnh thổ nền kinh tế quốc dân”.
“Tổ chức lãnh thổ KT-XH” theo các khoa học Liên Xô (cũ) cho rằng: Nó
được thực hiện trên các lãnh thổ cụ thể ở các cấp độ khác nhau, phổ biến là trêncác vùng kinh tế cơ bản và vùng kinh tế hành chính tỉnh Coi sự tổ chức lãnh thổKT-XH là sự sắp xếp, bố trí (phân bố) và phối hợp các đối tượng gây ảnh hưởnglẫn nhau, có liên hệ qua lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống tự nhiên và hệthống dân cư nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên, lao động và
vị trí kinh tế- xã hội để đạt hiệu quả kinh tế cao và nâng cao mức sống dân cư củalãnh thổ đó
Tổ chức lãnh thổ KT-XH được xem như việc tổ chức sự phối hợp giữa cácngành sản xuất, các quá trình và các cơ sở sản xuất trong phạm vi lãnh thổ nhất định.Các nhà khoa học phương Tây phát triển theo hướng kinh tế thị trường sửdụng thuật ngữ không gian KT-XH Tổ chức không gian ra đời từ cuối thế kỷ XIX
và trở thành một khoa học kinh tế lãnh thổ Họ cho rằng: Tổ chức không gian đượcxem như là lựa chọn nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệuquả (Jean Pean Paul De Gaudemar, 1992) Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức lãnh thổ
là tìm ra một tỷ lệ và quan hệ hợp lý về phát triển KT-XH giữa các ngành trongmột vùng, giữa các lãnh thổ nhỏ hay các tiểu vùng trong một vùng hay giữa cácvùng trong một quốc gia và trên mức độ nhất định có xét đến mối liên kết giữa cácquốc gia với nhau; tạo ra một giá trị mới nhờ có sự sắp xếp có trật tự và hài hòagiữa các đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một vùng đó Một cách khái quát,
tổ chức lãnh thổ KT-XH là “sự tìm kiếm khung cảnh địa lý quốc gia, sự phân bố
Trang 20nội dung cụ thể của một chính sách kinh tế phát triển theo hướng dài hạn nhằm cảithiện môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người.
Tổ chức lãnh thổ KT-XH ở góc độ địa lý học xem như là một hành động cóchủ ý hướng tới sự công bằng về không gian giữa trung tâm và ngoại vi, giữa cáccực và các không gian ảnh hưởng nhằm giải quyết ổn định công ăn việc làm, cânđối giữa quần cư nông thôn và quần cư thành thị, bảo vệ môi trường sống
Khái niệm “Tổ chức lãnh thổ xã hội” là khái niệm rộng, liên ngành trong lĩnh
vực vùng (hoặc lãnh thổ), các nghiên cứu địa lý, xã hội, kinh tế và các lĩnh vựckhác, bao gồm cả phân bố nền sản xuất, phân bố cơ sở hạ tầng xã hội và các mốiquan hệ tương hỗ trong hệ thống lãnh thổ KT-XH, các quá trình tái sản xuất theokhông gian và vấn đề quản lý chúng Mặt khác, tổ chức lãnh thổ xã hội đồng thời
là một trong hướng hoạt động toàn diện của con người và kết quả hoạt động trước
đó của con người
Với nhiều quan điểm khác nhau, đối tượng khác nhau có thể thể thấy tổ chứclãnh thổ chủ yếu tập trung vào tổ chức lãnh thổ KT-XH Tổ chức lãnh thổ KT-XH
là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối liên hệ đa ngành, đa lĩnh vực và
đa lãnh thổ trong một vùng cụ thể nhằm sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tựnhiên, lao động và vị trí địa lý KT-XH và các CSVCKT đã, sẽ được tạo dựng đểđem lại hiệu quả KT-XH cao và nâng cao mức sống dân cư của vùng đó
Từ quan niệm cơ bản này cần hiểu rõ một số điểm sau:
- Tổ chức: là việc sắp xếp các đối tượng (xí nghiệp, công trình; các ngành,các lĩnh vực; các điểm dân cư và kết cấu hạ tầng )
- Việc tổ chức được tiến hành trên một lãnh thổ xác định theo yêu cầu củaphát triển KT-XH
- Chủ thể tổ chức cũng là chủ thể quản lý phát triển vùng Đó là những cơ quanNhà nước được qui định trong hiến pháp và luật pháp hiện hành của quốc gia
b, Đặc tính của tổ chức lãnh thổ kinh tế- xã hội
Tổ chức lãnh thổ kinh tế- xã hội có 3 đặc tính: tính kết cấu- hệ thống, tínhlãnh thổ, tính đa phương án
* Tính kết cấu- hệ thống: Tổ chức là sự sắp xếp các đối tượng đa dạng, luônluôn vận động và phát triển, chúng độc lập tác động qua lại Hệ thống lãnh thổ cógiới hạn, sức chứa của nó qui định tính chất và trình độ phát triển Tính kết cấu thể
Trang 21hiện ở sự muôn màu muôn vẻ trong việc sắp xếp và định hướng các đối tượng.Tính định hướng làm cho các phần tử phát triển hài hòa, nhịp nhành với nhau.
* Tính lãnh thổ: Nó thể hiện ở sự đa dạng không gian Trong một vùng cónhiều tiểu vùng với nhiều điều kiện không thật giống nhau làm cho việc phân bốcác đối tượng trong vùng có sự đa dạng linh hoạt Khi tiến hành tổ chức lãnh thổKT-XH ở một vùng nào đó thì bao giờ cũng gặp tình trạng do điều tra cơ bản bịhạn chế, không đầy đủ nên tổ chức phải có những xem xét liên lãnh thổ và để một
“biên độ” thay đổi sau đó
* Tính đa phương án: Các phương án được xây dựng dựa theo nhiều mụctiêu, nhiều phương hướng nhằm phát huy lợi thế, tính hợp lý về khai thác, sử dụngtài nguyên lãnh thổ Quyết sách cuối cùng là lựa chọn trên cơ sở so sánh cácphương án để tìm ra phương án tối ưu
1.2.2 Về qui hoạch vùng
a, Về qui hoạch
* Khái niệm: Qui hoạch là một khái niệm rộng được sử dụng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau như qui hoạch sử dụng đất, qui hoạch đô thị, qui hoạch pháttriển kinh tế- xã hội, qui hoạch cán bộ hay qui hoạch nguồn nhân lực, qui hoạchCSHT, qui hoạch môi trường
Qui hoạch có thể được hiểu theo những góc độ sau:
- Là sự tích hợp các kiến thức khoa học và kỹ thuật, tạo nên những sự lựachọn để có thể thực hiện các quyết định về các phương án lựa chọn cho tương lai
- Là công việc chuẩn bị có tổ chức cho các hoạt động có ý nghĩa bao gồmviệc phân tích tình thế, đặt ra các yêu cầu, khai thác và đánh giá các lựa chọn vàphân chia một quá trình hành động
- Là quá trình soạn thảo một tập hợp các chương trình có liên quan, đượcthiết kế để đạt được những mục tiêu nhất định Nó bao gồm việc định ra một haynhiều vấn đề cần được giải quyết, thiết lập các mục tiêu qui hoạch, xác định cácgiả thiết mà qui hoạch cần dựa vào, tìm kiếm và đánh giá các biện pháp hành động
có thể thay thế và lựa chọn hành động cụ thể để thực hiện
Như vậy, qui hoạch là một công cụ có tính chiến lược trong phát triển, đượccoi là phương pháp thích hợp để tiến đến tương lai theo một phương hướng, mụctiêu do ta vạch ra Đồng thời, nó có thể là tất cả những công việc hoặc khả năng
Trang 22kiểm soát tương lai bằng các hoạt động hiện tại nhờ vào việc sử dụng các kiếnthức về mặt nhân quả.
Viện Chiến lược Phát triển: Qui hoạch là việc lựa chọn phương án phát triển
và tổ chức không gian KT- XH cho thời kỳ dài hạn trên lãnh thổ nhất định
Kỹ thuật cơ bản của qui hoạch là viết báo cáo, kèm theo dự báo thống kê,trình bày toán học, đánh giá định lượng và sơ đồ (bản đồ) qui hoạch
* Các loại qui hoạch: Hiện nay ở Việt Nam có các loại hình qui hoạch sau:
- Qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH: bao gồm qui hoạch tổng thể pháttriển KT-XH vùng và các lãnh thổ đặc biệt, tỉnh, huyện Là luận chứng phát triểnKT-XH và tổ chức không gian các hoạt động KT-XH hợp lý trên lãnh thổ trongthời gian xác định
- Qui hoạch phát triển ngành, lĩnh vực là luận chứng, lựa chọn phương ánphát triển và phân bố ngành, lĩnh vực hợp lý trong thời kỳ dài hạn trên phạm vi cảnước và trên các vùng, lãnh thổ Bao gồm: qui hoạch phát triển kết cấu hạ tầngthiết yếu, qui hoạch phát triển kết cấu hạ tầng xã hội, qui hoạch phát triển ngành
- Qui hoạch cụ thể, chi tiết như qui hoạch xây dựng, qui hoạch khu dân cư
b, Qui hoạch vùng
* Khái niệm: Qui hoạch vùng là một hành động tổng hợp với sự tham giacủa nhiều lĩnh vực và bộ môn khoa học chuyên ngành như chính trị, kinh tế, xãhội, địa lý, y học, lịch sử, môi trường
Tùy theo mức độ của lĩnh vực khoa học chuyên môn mà nhìn nhận nội dungcủa định nghĩa:
- Là sự sắp xếp trên mặt đất những cơ sở hoạt động của con người bao gồmcác công trình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, mạng lưới giao thông, rừng cây
và khoảng trống, nhà ở và công trình phục vụ sinh hoạt, nhằm thỏa mãn những nhucầu và sự mong muốn của con người (Le Corbusier)
- Là lý luận và thực tiễn phân bố hợp lý nhất trên các lãnh thổ vùng những
xí nghiệp công nghiệp, giao thông vận tải và các địa điểm dân cư có sự tính toántổng hợp những vấn đề địa lý kinh tế, kiến trúc xây dựng, kỹ thuật Qui hoạchvùng được cụ thể hóa trên lãnh thổ những dự đoán, những chương trình, kế hoạchhành động phát triển tổng thể vùng, đồng thời qui hoạch vùng bổ sung, phát triển
và làm phong phú thêm những điều kiện đó (Pertxik)
Trang 23- Là bộ phận trung gian giữa qui hoạch quốc gia (qui hoạch lãnh thổ) và quihoạch các điểm dân cư (Seifert).
Trên cơ sở thống nhất khái niệm qui hoạch vùng của khối EEC (khối thịtrường chung châu Âu), các nhà khoa học của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nộiđưa ra định nghĩa:
- Qui hoạch vùng là qui hoạch tổng hợp, trên cấp và vượt ra ngoài khuôn khổđiểm dân cư thuộc phạm vi vùng qui hoạch với sự tham gia của nhiều cơ quan quihoạch và quản lý địa phương Qui hoạch vùng cụ thể hóa các qui hoạch lãnh thổ quốcgia, bổ sung và làm phong phú thêm các chương trình, kế hoạch đó; đồng thời cũng
đề xuất các định hướng và kiến nghị quan trọng cho qui hoạch điểm dân cư
- Qui hoạch vùng nhằm thay đổi các điều kiện không gian theo mô hình trật
tự tương lai của vùng Vì thế, nó là những hoạt động, việc làm hướng đích, khôngchỉ là sự miêu tả hiện trạng hiện tại và tương lai,
- Vùng qui hoạch có thể trùng hoặc không trùng với ranh giới các đơn vịhành chính Đơn vị nhỏ nhất của vùng qui hoạch là đô thị, xã (đơn vị hành chínhdân cư nhỏ nhất)
* Qui hoạch vùng cho phép:
- Phân bố có hiệu quả các xí nghiệp công nghiệp, giao thông vận tải và các
xí nghiệp dịch vụ trên cơ sở sử dụng tổng hợp điều kiện tự nhiên, nguồn tàinguyên thiên nhiên và KT-XH
- Tổ chức hợp lý sản xuất nông nghiệp trên cơ sở hình thành chuyên mônhóa hợp lý
- Phân bố dân cư hợp lý phù hợp với nhu cầu, tập quan canh tác, nguyệnvọng sinh hoạt của cư dân
- Giải quyết đồng bộ các hệ thống trang bị kỹ thuật vùng
- Tổ chức hợp lý các khu nghỉ dưỡng
- Sử dụng hợp lý các loại tài nguyên thiên nhiên
- Phân chia các khu vực lãnh thổ theo chức năng cụ thể tạo điều kiện thuậnlợi cho sử dụng hợp lý, bảo vệ, tái tạo tài nguyên thiên nhiên
* Đặc điểm chung:
Trước hết qui hoạch vùng mang đặc điểm chung của một qui hoạch là tính mục tiêu, tính nhìn trước và tính động thái Tính mục tiêu bởi qui hoạch nhằm làm
Trang 24hoạch Tính nhìn trước do qui hoạch dựa vào ý tưởng và bố trí tương lai để xácđịnh nhiệm vụ Tính động thái, mỗi qui hoạch không bao giờ ở trạng thái tĩnh mà
là quá trình động, không ngừng thay đổi và phát triển
Ngoài những điểm chung này, qui hoạch vùng còn mang một số đặc điểmriêng sau:
- Tính tổng hợp: còn gọi là tính chỉnh thể hoặc tính toàn cục Nó thể hiện ở
một số mặt dưới đây:
+ Nội dung của qui hoạch rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vựctrong vùng Vùng là một hệ thống mở to lớn và phức tạp, do hệ thống tự nhiên,kinh tế và xã hội hợp thành Mỗi hệ thống lại là tập hợp của các hệ thống con vànhiều yếu tố hợp thành Vì thế, qui hoạch vùng liên quan đến các lĩnh vực tựnhiên, kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân ; liên quan đến nhiều ngành như nôngnghiệp, công nghiệp, du lịch Vì thế, qui hoạch vùng cần nghiên cứu một cáchtoàn diện, tiến hành một cách toàn diện tất cả các yếu tố hợp thành, các nội dungliên quan Như vậy, qui hoạch vùng cần giải quyết một cách hài hòa mâu thuẫngiữa ngành với ngành, giữa vùng với vùng Nói một cách khác, qui hoạch vùngcần điều hòa tốt mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các địaphương với nhau trong vùng
+ Phương pháp tư duy qui hoạch cần chú trọng đánh giá tổng hợp, phân tíchluận chứng tổng hợp, nhấn mạnh sự hài hòa lẫn nhau giữa các ngành và vùng,khắc phục những thiếu sót do luận chứng một ngành hoặc chuyên đề riêng biệt
+ Các phương án qui hoạch cần được so sánh nhiều phương hướng, mụctiêu, nhiều phương án (đa phương án) để lựa chọn phương án tối ưu
+ Đội ngũ công tác làm qui hoạch vùng gồm nhiều thành viên của nhiềungành, nhiều chuyên ngành Trước đây, cán bộ làm qui hoạch vùng chủ yếu củacác ngành như địa lý, xây dựng, kỹ thuật Hiện nay, các cán bộ làm qui hoạchvùng thường phối hợp chặt chẽ với cán bộ phụ trách hành chính vùng, chuyên giacủa nhiều ngành khoa học (kinh tế, môi trường, xã hội ) và các Bộ, các ngànhkinh tế chủ quản
- Tính tổng thể, dài hạn, lấy chiến lược làm căn cứ (còn gọi là tính chiến
lược) Qui hoạch vùng là cụ thể hóa của chiến lược nên phải có tính chiến lược thểhiện như sau:
Trang 25+ Độ dài qui hoạch: thông thường khoảng 10- 15 năm, thậm chí lên tới
20-30 năm, hoặc lâu hơn Do thời gian qui hoạch dài nên đòi hỏi các phương án quihoạch cần có tính “thấy trước” (tầm nhìn xa) một cách rõ ràng Bên cạnh đó, quihoạch cũng cần tập trung vào các hạng mục trọng điểm trong thời kỳ gần Vì thế,phương án qui hoạch vừa có thể chỉ đạo phát triển KT-XH trong thời kỳ gần, vừabảo đảm kết hợp giữa gần và xa, thực hiện phát triển bền vững
+ Mối quan hệ ở tầm vĩ mô, hài hòa và toàn diện: Qui hoạch đòi hỏi phải có
sự điều hòa và toàn diện trong quan hệ giữa các khu vực, giữa các ngành và vùng
Do đó, qui hoạch vùng cần nhìn xa, lâu dài và suy nghĩ từ vĩ mô, suy tính cặn kẽhiệu quả tổng thể của vùng Trọng điểm của qui hoạch là những hạng mục lớnquan trọng mang tính vĩ mô, toàn cục, then chốt của vùng
+ Chỉ tiêu của qui hoạch có tính cơ động tương đối lớn: Do qui hoạch vùng
có tính nhìn xa, lâu dài mà trong quá trình phát triển thường có nhiều yếu tố khôngxác định được, việc dự tính tương đối khó có thể chính xác nên các phương hướngphat triển, mục tiêu, cơ cấu, bố trí và sắp xếp sử dụng đối với KT-XH của vùng cótính khái quát, chỉ tiêu có biên độ nhất định, có tính cơ động tương đối lớn
+ Việc thực hiện qui hoạch sẽ phát sinh ảnh hưởng sâu xa, lâu dài đối vớicác vùng: Qui hoạch vùng là sự cụ thể hóa chiến lược phát triển KT-XH của đấtnước Hạng mục qui hoạch nhất là hạng mục công trình xây dựng lớn quan trọngkhi xây dựng khó có thể thay đổi và có ảnh hưởng lâu dài Do đó cần thận trọngtrong việc xác định, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các ngành, các địa phương, lợiích xa và lợi ích gần
- Tính đặc thù vùng: Đặc điểm này bao hàm hai nội dung:
+ Đặc sắc của địa phương: Điều kiện tự nhiên, TNTN, điều kiện KT-XHmỗi vùng có những nét riêng nên mục tiêu, phương hướng phát triển, cơ cấu kinh
tế, kết cấu hạ tầng sẽ không giống nhau Tính đặc thù riêng ở các vùng làm cho quihoạch phải thích hợp với từng vùng, phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu Cácphương án qui hoạch mỗi vùng phải khác nhau, bản đồ, văn bản và báo cáo quihoạch cũng không được sao chép
+ Bảo đảm phạm vi qui hoạch hoàn chỉnh: Qui hoạch vùng là bố trí tổng thểxây dựng nền kinh tế quốc dân và sử dụng đất đai trong phạm vi một vùng nhấtđịnh Trong quá trình qui hoạch cần coi qui hoạch vùng là một chỉnh thể để tiến
Trang 26hành nghiên cứu, trên vùng qui hoạch hoàn chỉnh phải bố trí sử dụng một cáchtổng thể.
1.3 Sơ lược lịch sử phát triển của tổ chức lãnh thổ và qui hoạch vùng
Ý tưởng qui hoạch vùng nảy sinh từ nhiều thế kỷ trước đây trên thế giới vàViệt Nam, song mục tiêu và nội dung đơn giản thường chỉ là tập trung quai đê, lấnbiển, mở rộng canh tác, định cư cho người dân
Qui hoạch thực sự mang ý nghĩa khoa học xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX vàđầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai
Từ giữa thế kỷ XIX, các nhà khoa học Địa lý trên thế giới đã có nhiều nghiêncứu tìm kiếm những qui luật không gian của sự phát triển lực lượng sản xuất vàlĩnh vực phi sản xuất Tất cả các nghiên cứu này đều tập trung tìm các qui luật tổchức lãnh thổ của một địa phương cụ thể, đều quan tâm đến tính chất đúng đắnnhất định của việc bố trí tương quan các điểm dân cư và khả năng thiết kế mộtmạng lưới tối ưu các điểm đó; tìm khả năng chuyển từ địa lý kinh tế miêu tả sangđịa lý kinh tế cấu tạo (địa lý kinh tế hiện đại) Tiêu biểu nhất là các nhà khoa họcI.G.Thunel (1826), Karl Zauer (1923), Francoi Peroux (1950), Koloxovxki JcanFourastier Mặc dù, những nghiên cứu này còn hạn chế về phương pháp luận, vềquan điểm kinh tế chủ nghĩa hoặc lạm dụng các phương pháp như Mô hình toánhọc, Vật lý xã hội làm mất đi những đặc trưng cơ bản của khoa học Địa lý kinh tế.Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã đưa ra những hướng nghiên cứu cơ bản về tínhkết cấu, về sự tính toán chặt chẽ các mối liên hệ để xác định qui luật khách quancủa sự phân bố
Thời điểm và mức độ phát triển của lý luận, thực tiễn qui hoạch vùng phụthuộc vào thời điểm và mức độ phát triển của công nghiệp hóa và đô thị hóa giữacác quốc gia trên thế giới
Vận dụng lý thuyết tổ chức lãnh thổ tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà cónhững cách tiếp cận khi giải quyết các vấn đề cụ thể ở mỗi quốc gia đó Ví dụ như:
1.3.1 Các nước phát triển
1.3.1.1 Các nước SNG (Liên Xô trước đây)
Sự phát triển qui hoạch vùng ở Liên Xô (cũ) có thể chia thành một số giaiđoạn sau:
- Giai đoạn trước Chiến tranh Thế giới thứ 2 (1939- 1941): Xuất hiện
Trang 27yếu tập trung xây dựng vùng công nghiệp mới, các khu an dưỡng như qui hoạchvùng Kudơbat (1934- 1936), qui hoạch vùng Đônbat (1940- 1946) Đặc điểm làtìm ra những phương pháp qui hoạch kiến trúc và kỹ thuật.
- Giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 (1945- 1960): Khẳng định tầm
quan trọng và ý nghĩa của qui hoạch vùng Nhiều đồ án qui hoạch vùng lớn đượcnghiên cứu như vùng Đôn Bát, vùng Irkutck nên đã thu được những kinh nghiệm
to lớn về thực tiễn và phương pháp luận qui hoạch vùng
- Giai đoạn những năm sau năm: Đây là giai đoạn phát triển nhanh, mạnh
mẽ và rộng rãi của qui hoạch vùng Đối tượng nghiên cứu là qui hoạch các vùngcấp tỉnh dựa trên cơ sở các quyết định của Chính phủ Số lượng các qui hoạch này
đã tăng gấp 10 lần
Đầu năm 1963đã phân thành 18 vùng kinh tế lớn, trong đó có 62 vùng đất tựtrị và ảnh hưởng, 48 vùng công nghiệp và 27 khu liên hiệp công nghiệp, 9 vùngnghỉ ngơi điều dưỡng và nhiều vùng nông nghiệp
Các vùng được nghiên cứu, phác thảo rộng rãi ở Liên Xô là các vùng pháttriển công nghiệp, chủ yếu là vùng khai thác, vùng chế biến, các vùng ảnh hưởngcủa công trình thủy lợi và năng lượng, các vùng nghỉ ngơi an dưỡng, các vùnghành chính
Những công trình qui hoạch vùng trong giai đoạn này đã có những đóng gópquan trong trong giải quyết những vấn đề về tổ chức các lực lưỡng sản xuất theolãnh thổ trên cả nước Vì nó tạo ra khả năng lựa chọn những địa khu thuận lợi nhấtcho việc phân bố các đô thị mới, đặc biệt là mạng lưới các đô thị vừa và nhỏ tức làdạng các đô thị vệ tinh để phát triển công nghiệp hạn chế các đô thị lớn, các cực lớn
Nhìn chung, các qui hoạch phát triển lãnh thổ của cả nước và các vùng
được các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân xác định trước căn cứ vào cácnguyên tắc sau:
(1) Tùy theo khả năng, bố trí sắp xếp các ngành công nghiệp và các nguồnnguyên, nhiên liệu ở gần các vùng có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nhằm sử dụngchúng một cách hợp lý và có hiệu quả, giảm bớt đầu tư xây dựng về giao thôngvận tải
(2) Đảm bảo phân bố lao động một cách hợp lý giữa các vùng kinh tế củađất nước bằng cách chuyên môn hóa triệt để nền sản xuất cho từng vùng, nhưng
Trang 28(3) Gắn liền sản xuất nông nghiệp với công nghiệp bằng cách bố trí cân đốicông nghiệp lớn trong phạm vi toàn quốc, tạo nên các đô thị mới và các trung tâmcông nghiệp mới cho các vùng.
(4) Phát triển các vùng kinh tế mới, hỗ trợ các vùng chậm phát triển
1.3.1.2 Các nước tư bản phát triển
- Trong thời gian chiến tranh Thế giới thứ 2: Nghiên cứu qui hoạch vùng
thực hiện chưa nhiều và chủ yếu mang đặc điểm của các sơ đồ kiến trúc hay những
ý đồ cố gắng làm tốt hơn các mạng lưới giao thông, bảo vệ phong cảnh, điều chỉnhviệc xây dựng các vùng ở gần hay bao quanh các đô thị như qui hoạch vùng thanĐônkatxtơ (Anh, 1922- 1923), vùng NewYork lớn (Mỹ, 1935- 1936)
- Giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ 2: Do sự xuống cấp, bế tắc của các
đô thị, thành phố lớn nên công tác nghiên cứu và đề xuất, thực hiện đồ án quihoạch được xúc tiến mạnh mẽ với 2 vấn đề cần giải quyết:
+ Hạn chế sự phình quá to, quá nhanh và quá lớn của các đô thị bằng cácgiải pháp qui hoạch vùng hợp lý để hạn chế sự tập trung quá lớn những xí nghiệpcông nghiệp, dân cư vào các đô thị lớn
+ Phân bố hợp lý hơn công nghiệp và dân cư bằng cách giảm bớt các vùngchật chội, đưa từng bộ phận công nghiệp và dân cư sang các vùng khác của cả nước
Các đồ án qui hoạch các vùng đô thị lớn là vùng Lônđôn lớn (1943-1946),các cụm công nghiệp của thành phố Pari, Oasinhtơn, Tokyo; các vùng công nghiệpthủy năng Đồng thời, nhiều hội nghị Quốc tế về qui hoạch vùng Liên hiệp quốc
đã được tổ chức và khẳng định là một biện pháp trọng yếu giúp cho đất nước pháttriển toàn diện, là việc phân bố các nguồn dự trữ quốc gia để đạt hiệu quả kinh tế
và xã hội ở mức tối đa (Hội nghị Tôkyo, 1958) Các nhà khoa học cũng nhận địnhrằng, qui hoạch vùng cho phép:
- Phân chia các đô thị lớn thành các đơn vị nhỏ hơn với các chức năng khác nhau
- Xác định mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị, các bộ phận trong vùng vàgiữa các vùng
- Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, dự trữ thiên nhiên
- Hướng vào sự phát triển tổng hợp của và các vùng và kích thích khai tháccác vùng
- Từ những năm 1960 đến nay: Do sự phát triển chính sách khu vực và việc
Trang 29mở rộng phạm vi Ở nhiều nước, qui hoạch vùng đã bao trùm lên toàn bộ hay một
bộ phận quan trọng của quốc gia (Pháp, Đức, Thụy Sĩ ) Đã thành lập hệ thống tổchức Nhà nước có trách nhiệm phác thảo qui hoạch vùng, xét quyệt qui hoạch và
ban hành các luật lệ qui hoạch Điểm chuyển biến rõ rệt là các nhà qui hoạch thống nhất quan điểm tiến bộ và phương pháp đổi mới trong qui hoạch vùng.
* Qui hoạch vùng ở Anh
Trong các nước tư bản, Anh là nước đi đầu, nghiên cứu và vận dụng rộng rãicác thành tựu, tiến bộ khoa học về công tác qui hoạch vùng Năm 1919 đã có mộtLuật về Qui hoạch đô thị Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, nghiên cứu qui hoạchvùng đặc biệt phát triển như qui hoạch mỏ than Đonkatxtơ, qui hoạch một số đôthị lớn như London, vùng Liverpool Họ đã thực hiện một chương trình thí nghiệmlớn nhất trong thế giới tư bản về xây dựng các thành phố mới, thành phố vệ tinh.Các đạo luật lần lượt ra đời như: 1943- 1948, đạo luật về phân bố công nghiệp, vềqui hoạch thành phố và nông thôn; 1946 về thành phố mới; 1955 về sự phát triểncác thành phố và việc tạo ra các vành đai xanh Theo luật này các cơ quan hànhchính đô thị và các lãnh thổ (tỉnh, huyện) có quyền đề ra việc nghiên cứu quihoạch xây dựng đô thị trên vùng đất thuộc quyền quản lý
Hình 1.2 Qui hoạch các đô thị vệ tinh ở Pari
Trang 30Nhiệm vụ của qui hoạch vùng nước Anh là:
- Đưa ra tỷ lệ hợp lý và thích hợp giữa việc bố trí công nghiệp và dân cư đểtránh sự đi lại không cần thiết của người dân từ nơi ở đến nơi làm việc và ngượclại
- Hợp lý hóa các đường giao thông để có thể sử dụng tối đa phương tiệnphục vụ hiện có và đảm bảo sử dụng có hiệu quả nhất những nguồn tài nguyên dựtrữ
- Cải thiện và mở rộng các hệ thống phục vụ bao gồm tất cả các thể loạinhằm yêu cầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của các điểm dân cư
- Phân bố đất đai nông nghiệp để có thể sử dụng một cách tốt nhất nguồn dựtrữ thiên nhiên như dự kiến khu vực hồ chứa nước, trồng rừng
Tuy vậy, do đặc thù của chế độ tư bản là sở hữu tư nhân về đất đai nên côngtác qui hoạch vùng còn có những thiếu xót:
- Tổ chức, chỉ đạo và quản lý trong một vùng còn do nhiều cơ quan khácnhau phụ trách, thiếu sự thống nhất chung về quan điểm, cách giải quyết Thực tếgiải quyết còn riêng rẽ, ít tổng hợp
- Thiếu sự hợp tác giữa các cấp chính quyền, giữa cơ quan kế hoạch với cơquan qui hoạch của địa phương nên khó khăn trong việc thực hiện điều chỉnh quihoạch
1.3.2 Các nước đang phát triển
Trong vài thập niên gần đây, các nước đang phát triển như Trung Quốc, HànQuốc, Thái Lan, Indonesia, Cuba đã tiến hành công việc nghiên cứu và qui
Hình 1.3 Lodon và các vùng bao quanh
Trang 31hoạch vùng, qui hoạch dựa trên những trên những thành tựu, kinh nghiệm quihoạch của các nước đang phát triển.
* Ở Trung Quốc: Qui hoạch vùng, qui hoạch lãnh thổ được tiến hành dầntừng bước sau ngày giải phóng Họ đã nghiên cứu và giải quyết tốt vấn đề phân bốcông nghiệp, phân công lao động, sử dụng đất đai và tổ chức xây dựng xuất phát từmối liên hệ và tác động qua lại của chúng, điều hòa lợi ích giữa các vùng TrungQuốc chú trọng phát triển kinh tế tổng hợp, bố trí cân bằng trong toàn quốc, kếthợp giữa trung ương với địa phương, giữa kinh tế với quốc phòng, phát triển cáckhu tự trị
* Các nước đang phát triển khác: Do hậu quả của một thời gian dài là thuộcđịa, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu; sự khác biệt rất lớn giữa thành thị và nông thônbuộc Chính phủ các nước tiến hành qui hoạch lãnh thổ, qui hoạch vùng nhằm đẩymạnh CNH- HĐH Tiến hành nghiên cứu, lập đồ án qui hoạch các vùng khai thácnguyên liệu, công nghiệp lớn như vùng Xinđat Guyan (Venezuela); các vùng nghỉngơi du lịch mới như vùng bờ biển Kaspien ở Iran, Thổ Nhĩ Kỳ ; qui hoạch cácvùng đô thị lớn
1.3.3 Qui hoạch vùng ở Việt Nam
- Giai đoạn 1954- 1975: Hòa bình lập lại do nhu cầu phục hồi, cải tạo và
phát triển kinh tế, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho CNXH làđộng lực thôi thúc sự phát triển của qui hoạch vùng, lãnh thổ
Hình 1.4 Cơ cấu cư dân Hàn Quốc vùng Seoul Hình 1.5 Các vùng đô thị Thái Lan
Trang 32Nhiệm vụ tập trung qui hoạch cải tạo đô thị, qui hoạch xây dựng khu côngnghiệp mới, tiến hành các qui hoạch chuyên ngành như phân vùng nông nghiệp,vùng kinh tế mới, qui hoạch các hệ thống thủy lợi, trồng cây công nghiệp, trồngrừng như qui hoạch trị thủy sông Hồng, qui hoạch hồ chứa nước và đập nướcThác Bà.
Tuy nhiên do điều kiện chiến tranh, việc nghiên cứu, thực hiện các quihoạch vùng và đồ án qui hoạch đô thị gặp nhiều khó khăn Song cuối những năm
1960, đầu năm 1970, chúng ta cũng đã tiến hành nghiên cứu qui hoạch và ứngdụng vào một số vùng, mặc dù kết quả chưa cao do nhiều nguyên nhân trong đó có
cả nguyên nhân của khâu qui hoạch và lập đồ án Những qui hoạch vùng đượcthực hiện nghiên cứu và ứng dụng là qui hoạch khu công- nông nghiệp QuảngNinh, qui hoạch vùng nông nghiệp huyện Đông Hưng (Thái Bình)
- Giai đoạn từ 1975 đến nay: Qui hoạch vùng được tiến hành rộng rãi và
đồng bộ hơn, nhất là trong khoảng 10- 15 năm trở lại khi chúng ta chuyển sangkinh tế thị trường Các qui hoạch được tiến hành phổ biến và có chất lượng nhằmthực hiện các mục tiêu KT-XH của Đảng và Nhà nước trên cơ sở các kế hoạchphát triển KT-XH của quốc gia và của từng địa phương Đó là qui hoạch vùng
Hình 1.6 Qui hoạch mạng lưới xã- hợp tác và điểm dân cư
huyện Đông Hưng- tỉnh Thái Bình
Trang 33đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng sông Hồng đặc biệt là các qui hoạchtổng thể phát triển KT-XH của vùng, tỉnh, huyện.
1.3.4 Kết luận
Trong thời gian qua, công tác nghiên cứu lý luận, thiết kế đồ án qui hoạchvùng và ứng dụng vào trong thực tiễn đã có không ít những thành công và thất bại.Nguyên nhân của tình trạng này:
(1) Lý luận qui hoạch vùng mà các nhà qui hoạch trên thế giới nghiên cứu
và đề xuất chưa thật tổng hợp và đúng đắn, chưa đề cập hết các đối tượng tác độngvào qui hoạch vùng và ứng tính phức tạp của chúng cũng không thích ứng được sựbiến động Các phương pháp áp dụng và giải quyết vấn đề còn quá đơn giản, lýluận còn thiếu tin cậy
(2) Chất lượng của các đồ án, dự án qui hoạch vùng chưa cao, chưa tổnghợp và toàn diện, có khi còn sơ sài Đó là do nhiều nguyên nhân như thông tin, dữliệu cung cấp không đảm bảo tính chính xác, tính thời sự, nghèo nàn và tản mạnkhông đáp ứng được yêu cầu Phương pháp tư duy, xử lý, dự báo khá đơn giảnkhông phù hợp với những vấn đề phức tạp
(3) Công tác nghiên cứu thiết kế đồ án, dự án và nhất là việc thực hiện các
đồ án, dự án qui hoạch vùng phụ thuộc rất lớn vào điều kiện xã hội của mỗi quốcgia Các nước TBCN, chính sách sở hữu đất đai đã ảnh hưởng không nhỏ đến côngtác qui hoạch
Hình 1.6 Qui hoạch thủ đô Hà Nội mở rộng
Trang 34CHƯƠNG 2: QUI HOẠCH VÙNG KINH TẾ XÃ HỘI 2.1 Phương pháp luận và nguyên tắc qui hoạch vùng KT-XH
2.1.1 Phương pháp luận
a, Quan điểm tổng hợp
- Quan sát tổng hợp là đặc trưng của quan điểm địa lý học, tư duy địa lý nhưnêu ra hàng loạt những biến đổi có liên quan giữa địa lý và qui hoạch Những biếnđổi ấy được phát hiện, đánh giá và nghiên cứu kịp thời trong tổng thể tài nguyên
và kỹ thuật ví dụ như hình thành một khu dân cư, một mỏ, một xí nghiệp sản xuất
sẽ ảnh hưởng đến các điều kiện địa lý như thế nào? Hay những biến đổi về mặtmôi trường và biện pháp giải quyết?
- Xác định ranh giới vùng là yếu tố cơ bản cho phép qui hoạch vùng mộtcách chính xác Vì vậy, qui hoạch vùng phải đi từ phân vùng kinh tế
Phân vùng kinh tế cần chú trọng đến một số nguyên tắc sau: nguyên tắc tồntại khách quan, nguyên tắc kinh tế, nguyên tắc thống nhất giữa đơn vị kinh tế vớiđơn vị hành chính, nguyên tắc dân tộc, nguyên tắc quốc phòng
Ranh giới của vùng không phải là ranh giới của một yếu tố tự nhiên (consông, hay dãy núi) mà là một dải đất có diện tích xác định Ở đó sức hút giữa trungtâm vùng và biên vùng trung hòa với nhau (vùng gồm hạt nhân và lớp vỏ với lớp
vỏ trong, lớp vỏ ngoài)
b, Quan điểm hệ thống
* Qui hoạch vùng là qui hoạch một hệ thống điều khiển phức tạp:
Qui hoạch vùng là qui hoạch một hệ thống điều khiển phức tạp, năng độngvới một hệ thống bị điều khiển (qui hoạch một vùng, một tỉnh, một huyện) còn goi
là hệ thống qui hoạch và hệ thống điều khiển (đề án, sơ đồ, quá trình thiết kế đề án,các lĩnh vực kiến thức)
Với hệ thống bị điều khiển có đặc điểm và tính chất:
+ Quán tính lớn: Luôn luôn biến động để tiến tới sự cân bằng về tự sinh thái
nhiên-+ Thời hạn lớn: Thường diễn ra trong một khoảng thời gian lớn và có ýnghĩa thực tế lâu dài Khi phương án qui hoạch đã triển khai thì rất hạn chế thayđổi
Trang 35+ Tính ổn định tương đối: là đặc điểm chủ yếu của hệ thống qui hoạch vìchúng luôn vận động phát triển nhịp nhàng với các khâu trong hệ thống sản xuất
và chỉ nhảy vọt khi hàng loạt cái mới xuất hiện
* Hệ thống vùng qui hoạch là một hệ thống lãnh thổ gồm nhiều phân hệ:
- Xí nghiệp công nghiệp
- Xí nghiệp nông nghiệp
- Các cơ quan và tổ chức khoa học
- Hệ thống cư dân
- Các công trình kỹ thuật, giao thông
- Công trình phục vụ cư dân (nhà cửa, y tế )
- Các công trình phúc lợi (công viên, nhà hát )
- Các công trình bảo vệ tài nguyên, môi trường
- Các phân hệ tự nhiên khác
- Hệ thống các mối quan hệ vùng là một trong những kết quả vật chất củanhững hoạt động sản xuất và phi vật chất của con người trong quá trình tác độngqua lại giữa xã hội và tự nhiên
c, Quan điểm viễn cảnh
Các giả thiết phát triển vùng phải được xây dựng trên cơ sở mô hình hóa địa
lý KT-XH các tổng thể lãnh thổ sản xuất
Việc dự đoán phát triển dân số hoặc một thành phố, khu đô thị phải chínhxác nếu sai lầm sẽ dẫn đến hậu quả xấu cho qui hoạch vùng
d, Quan điểm cải tạo
Cần phải phân tích, đánh giá đúng đắn quá trình phát triển sản xuất để đềxuất hướng hoàn thiện vùng, trong đó:
- Phân tích làm rõ tác động tương tác giữa xã hội và môi trường tự nhiên, sựcân bằng phải đạt đến sự tối ưu
- Phải nghiên cứu toàn bộ chuỗi quan hệ sinh thái (không khí- nước- thực vật)
đất Qui hoạch nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế hiệu quả nên cần phân tích,đánh giá toàn bộ tiềm năng, lợi thế, cơ hội để phát triển các ngành kinh tế
e, Quan điểm điều khiển học
Quan điểm này cho rằng việc điều khiển tối ưu theo một hướng nhất định do
Trang 36điều khiển thống nhất từ các ngành chuyên môn hóa để đạt hiệu quả kinh tế caonhất.
f, Quan điểm thông tin
Trong qui hoạch vùng việc xử lý các thông tin và độ tin cậy của thông tin có
ý nghĩa to lớn trong việc xác định hệ thống qui hoạch
Những vấn đề thông tin của qui hoạch vùng:
- Đánh giá chung qui mô của các dòng thông tin
- Xu hướng phát triển của dòng thông tin trong dự án qui hoạch
- Chuyển động thông tin trong quá trình qui hoạch vùng
Đặc điểm của nguồn thông tin là phức tạp, không đồng bộ Vì vậy, việc xử
lý thông tin là cần thiết Do đó, người qui hoạch phải có đủ trình độ để phân tích
và hiểu sâu sắc về các giá trị của nguồn thông tin phục vụ qui hoạch
2.1.2 Tính chất và nguyên tắc của vùng qui hoạch
a, Tính chất
- Tính chất phức tạp, hữu cơ và phi cộng tính: Hệ thống gồm nhiều phân hệ
phức tạp, quan hệ ràng buộc, chi phối lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau mà không chỉđơn giản là sự tập hợp các phân hệ với nhau
- Tính chất động: Hệ thống vùng qui hoạch luôn phát triển, biến động với sựtiến bộ của khoa học kỹ thuật
- Tính ngẫu nhiên: Tất cả các đặc điểm phát triển và các thay đổi có thể xảy
ra do sự tác động qua lại giữa các phân hệ tự nhiên và xã hội
- Tính ổn định tương đối (quán tính): Hệ thống vùng qui hoạch gồm tập hợpcác đối tượng, các khâu nên sự biến đổi của hệ thống diễn ra từ từ
- Tính đa cấp hệ: Hệ thống gồm nhiều phân hệ sản xuất và các quá trình sảnxuất khác nhau, nhưng luôn có mối quan hệ mật thiết, ràng buộc nhau
- Tính phát triển không đồng đều của các phân hệ trong hệ thống qui hoạch:Các phân hệ sản xuất không bao giờ phát triển đồng đều mà tất yếu phải có những
bộ phận phát triển mạnh hơn và yếu hơn phù hợp với sự đầu tư, nhu cầu khácnhau
- Tính xung đột của các phân hệ do sự phát triển không đồng đều của cácphân hệ có tính trội gây đã gây ra sự thủ tiêu lẫn nhau như sự phát triển các khucông nghiệp, các khu chế xuất đã thu hẹp diện tích canh tác nông nghiệp, khai thác
Trang 37khoáng sản ở các khu vực đồi núi đã làm mất nhiều diện tích rừng, làm thay đổicảnh quan môi trường
- Tính không thể thử nghiệm trên thực tế vì qui mô phức tạp của nó Thửnghiệm chỉ có thể tiến hành trong giai đoạn dự báo và lập chương trình qui hoạch.Nếu qui hoạch chỉ để thử nghiệm thì rất tốn kém về kinh tế, thiệt hại lớn về xã hội
và môi trường
- Tính cụ thể về mặt địa lý: Các đặc điểm phát triển của hệ thống phản ánhtính độc đáo cụ thể của vùng
b, Các nguyên tắc qui hoạch vùng
* Nguyên tắc hiệu quả:
- Hiệu quả kinh tế (tiết kiệm vốn đầu tư)
- Hiệu quả xã hội: Cải thiện điều kiện bố trí dân cư và đời sống của dân cưtốt hơn, các công trình phúc lợi hoàn thiện, hiện đại hơn
- Hiệu quả về vệ sinh: cải thiện điều kiện sống, phân bố hợp lý dân cư, sảnxuất, đảm bảo môi trường trong sạch
- Hiệu quả về kiến trúc: Kết quả của phương án qui hoạch phải đảm bảo vềkiến trúc hiện đại, tối ưu về sử dụng và thể hiện tính thẩm mỹ cao
- Hiệu quả về thông tin: Hệ thống vùng qui hoạch phải thuận lợi trong traođổi các thông tin với nhau, dễ dàng trong giao lưu KT-XH
- Hiệu quả về tâm lý: Vùng qui hoạch tạo nên phải phù hợp với tâm lýchung của cộng đồng dân tộc, phù hợp với truyền thống và tâm linh của con người
- Hiệu quả về quốc phòng: Việc qui hoạch vùng phải tính đến các phương
án bảo vệ an toàn cho vùng nếu có chiến tranh xảy ra
* Nhóm các nguyên tắc tối ưu tương đối:
- Nguyên tắc tìm kiếm tối ưu trong cơ cấu của hệ thống
- Nguyên tắc phát triển mở rộng các khâu sản xuất của hệ thống
- Nguyên tắc tổ chức cơ cấu qui hoạch theo khu vực
- Nguyên tắc tối ưu về mặt vệ sinh (sinh thái học môi trường)
- Nguyên tắc tương quan tối ưu giữa các chương trình nằm trong khâu chủyếu của hệ thống sản xuất lãnh thổ (giữa sản xuất chuyên môn hóa và bổ trợ)
- Nguyên tắc tương quan tối ưu giữa những khâu sản xuất lãnh thổ chủ đạo
và cơ cấu hạ tầng của vùng
Trang 38- Nguyên tắc tối ưu trong việc sử dụng các nguồn đất đai và điều kiện lãnhthổ Nguyên tắc đòi hỏi phân tích kỹ những đặc điểm xây dựng kỹ thuật và đặcđiểm phát triển công nghiệp, phát triển các thành phố.
- Nguyên tắc tối ưu về phát triển qui hoạch kiến trúc sao cho phù hợp vớiđặc điểm của các cảnh quan thiên nhiên và thẩm mỹ khác
- Nguyên tắc xác định phương hướng xây dựng kết cấu hạ tầng đối với nhân
tố ổn định và bền vững nhất Những nhân tố ít động nhất là những nhân tố quantrọng nhất Sự phân tích các nhân tố này cho phép xây dựng một khung sườn cơbản của hệ thống qui hoạch, cho phép tăng cường tính bền vững, mức độ tin cậycủa mô hình dự báo và làm giảm bớt sự phân tán của phương án dự báo
- Nguyên tắc hiện thực trong việc lựa chọn các chỉ tiêu và đánh giá quá trìnhxây dựng hệ thống: Di chuyển những vùng dân cư khỏi khu vực ô nhiễm và rời các
xí nghiệp công nghiệp đến các thành phố vệ tinh, nhưng việc thực hiện còn phụthuộc vào tiến trình cụ thể
- Nguyên tắc bắt buộc tính đến đặc thù địa lý của vùng (đây là một trong cácnguyên tắc quan trọng nhất của qui hoạch vùng)
2.2 Các phương pháp qui hoạch vùng KT-XH
2.2.1 Phương pháp SWOT với vấn đề xác định lợi thế so sánh, hạn chế và thách thức của vùng
a, Nguồn gốc:
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp TWOS, lần đầu tiên xây dựng,ứng dụng cho hoạt động của lực lượng cảnh sát; sau đó được mở rộng ứng dụng chohoạt động của các doanh nghiệp và các ngành kinh tế Tiếp theo được mở rộng ứngdụng rộng rãi và trở nên rất hữu ích trong lĩnh vực y tế cộng đồng; các nghiên cứuphát triển lĩnh vực giáo dục và thậm chí cả lĩnh vực phát triển con người
Trang 39Khung 2.1 Nguồn gốc của phương pháp SWOT trong kinh doanh
b, Đặc điểm
SWOT là từ viết tắt của các chữ S - Strengths (Điểm mạnh), W - Weakness(Điểm yếu), O - Opportunities (Cơ hội) và T - Threats (Đe dọa) Đây là phép phântích những điểm tích cực và tiêu cực của các hoàn cảnh môi trường bên trong vàbên ngoài khi xây dựng và phát triển một dự án hoặc một qui hoạch nào đó; giúphiểu hiện trạng một cách đầy đủ để công tác hoạch định chiến lược và ra quyếtđịnh được tốt hơn
Điểm mạnh và điểm yếu, gọi nôm na là sở trường và sở đoản là những yếu
tố nội bộ tạo nên (hoặc làm giảm) giá trị Các yếu tố này có thể là tài nguyên haynguồn lực, kỹ năng của một lãnh thổ so với các lãnh thổ khác
Cơ hội và rủi ro là các yếu tố bên ngoài tạo nên (hoặc làm giảm) giá trị của
công ty mà nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty Cơ hội và rủi ro nảy sinh từ môitrường phát triển KT-XH, yếu tố địa lý, kinh tế, chính trị, công nghệ, xã hội, luậtpháp hay văn hóa
Một số mô hình của phương pháp SWOT:
Vào những năm 1960 đến năm 1970, Viện Nghiên cứu Standford, Menlo Park,
California đã tiến hành một cuộc khảo sát tại hơn 500 công ty có doanh thu cao nhất do Tạp chí Fortune bình chọn, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch Nhóm nghiên cứu gồm các nhà kinh tế học Marion Dosher, Ts Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert F Stewart và Birger Lie đã đưa ra "Mô hình phân tích SWOT" nhằm mục đích tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp, tìm ra giải pháp giúp các nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc hoạch định, thay đổi cung cách quản lý.
Công trình nghiên cứu này được thực hiện trong 9 năm, với hơn 5000 nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1100 công ty, đơn vị Kết thúc, nhóm nghiên cứu này đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp hiệu quả.
Trang 40Ho c có th phân lo i theo b ng sau: ặc có thể phân loại theo bảng sau: ể phân loại theo bảng sau: ại theo bảng sau: ảng sau:
Phép phân tích SWOT được thực hiện bởi 1 người, 1 nhà qui hoạch cá biệthoặc 1 nhóm làm công tác qui hoạch Người này hoặc nhóm người này có thể tựphân tích SWOT bởi chính họ hoặc thể hiện phép Phân tích SWOT bằng cách hỏicác nhiều thành viên điền vào (theo sự chỉ dẫn của họ) các điểm Mạnh, điểm Yếu,
Cơ hội và Đe dọa Các thành viên mời tham dự buổi trao đổi có thể là các chuyên
Điểm mạnh Điểm yếu Cơ hội Thách thức
(rủi ro)