TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT Cần Thơ, 2011... TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG Cán
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HUỲNH TRỌNG TÂM
ĐIỀU TRA ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC
(Eriophytes sp.) TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ
TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC
(Eriophytes sp.) TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ
TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Lăng Cảnh Phú Huỳnh Trọng Tâm
MSSV: 3073335 Lớp: BẢO VỆ THỰC VẬT K33
Cần Thơ, 2011
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
ĐIỀU TRA ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC
(Eriophytes sp.) TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ
TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Do sinh viên Huỳnh Trọng Tâm thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội đồng chấm Luận văn Tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS Lăng Cảnh Phú
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 4KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:
ĐIỀU TRA ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT CANH TÁC
(Eriophytes sp.) TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ
TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Do sinh viên Huỳnh Trọng Tâm thực hiện bảo vệ trước Hội đồng
ngày….tháng ……năm 2011
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức ………
Ý kiến Hội đồng ………
………
………
………
Duyệt của Ban Chủ nhiệm Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2011
Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Chủ tịch Hội đồng
LỜI CAM ĐOAN
Trang 5Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bài trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn (ký tên)
Huỳnh Trọng Tâm
Trang 6Con ông: Huỳnh Thanh Tâm
Con bà: Nguyễn Thị Thu Thảo
Đã tốt nghiệp phổ thông trung học năm 2007 tại trường Trung học phổ thông Lưu Văn Liệt, Thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Năm 2007 vào học lớp Bảo vệ Thực vật, Khóa 33, khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
Tốt nghiệp Kỹ sư Nông nghiệp chuyên ngành Bảo vệ Thực vật năm 2011
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng Cha Mẹ!
Cha Mẹ đã nuôi dạy và là chỗ dựa vững chắc nhất của đời con Sự yêu thương,
lo lắng của Cha Mẹ luôn là động lực lớn nhất giúp con vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Con mãi ghi ơn!
Thành kính biết ơn!
Thầy hướng dẫn Lăng Cảnh Phú cũng là cố vấn học tập đã tận tình, chỉ dạy, gợi ý và cho em những lời khuyên hết sức bổ ích trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm tạ!
Toàn thể quý thầy cô khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng vì những kiến thức mà quý thầy cô đã truyền đạt cho em trong suốt thời gian học tập tại trường Đây sẽ là hành trang vững chắc giúp em bước vào đời
Đặc biệt biết ơn!
Anh Huỳnh Phước Mẫn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt thời gian làm và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tập thể lớp Bảo vệ Thực vật K33 đặc biệt là bạn Hoàng Dung, Thành Tài, Nhựt Thẩm, Văn Sol, Ngọc Trúc, Kim Thư, Trung Tín, Hồng Đức các em lớp Bảo
vệ Thực vật K34, K35 và các anh chị Bộ môn Bảo vệ Thực vật đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp Xin cảm ơn sự hỗ trợ và động viên của mọi người
Cuối cùng em xin gửi lời chúc sức khỏe đến quý thầy cô của trường Đại học Cần Thơ và quý thầy cô khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng Xin gửi lời chúc thân ái và thành đạt trong tương lai đến tất cả các bạn của tôi
HUỲNH TRỌNG TÂM
Trang 83.1 Tỷ lệ (%) giới tính, tuổi nông dân, tuổi cây, diện tích canh
tác của nông dân tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
16
3.2 Khái quát các kỹ thuật chăm sóc và tình hình sâu, bệnh hại
nhãn tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
17
3.3 Lượng phân nguyên chất được nông hộ sử dụng bón tại
huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
23
3.4 Các loại thuốc hóa học được sử dụng để phòng trị nhện lông
nhung gây bệnh chổi rồng tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh
Long, 2011
27
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
1.1 Triệu chứng lá nhãn tiêu da bò bị nhện lông nhung gây hại 11
1.2 Triệu chứng đọt nhãn tiêu da bò bị nhện lông nhung gây hại
có dạng cây chổi
11
3.1 Tỷ lệ (%) bề rộng líp trồng của nông hộ trong vùng điều tra
tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
18
3.2 Tỷ lệ (%) mật độ cây trồng ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh chổi rồng
tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
3.7 Lượng phân đạm nguyên chất được sử dụng so với khuyến cáo
tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
24
3.8 Lượng phân lân nguyên chất được sử dụng so với khuyến cáo tại
huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
25
3.9 Lượng phân Kali nguyên chất được sử dụng so với khuyến cáo
tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
26
Trang 103.10 Tỷ lệ (%) tình hình sử dụng thuốc hóa học trừ nhện lông nhung
tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
27
3.11 Tình hình bệnh chổi rồng vụ truớc và vụ hiện tại huyện Long
Hồ, tỉnh Vĩnh Long, 2011
28
3.12 Quan điểm của nông nhân về biện pháp phòng trừ bệnh chổi
rồng và nhện lông nhung tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long,
2011
29
Trang 11HUỲNH TRỌNG TÂM, 2011 “Điều tra ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác đến
bệnh chổi rồng do nhện lông nhung (Eriophytes sp.) trên nhãn tiêu da bò tại
huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo vệ Thực vật,
khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học: ThS Lăng Cảnh Phú
TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác đến bệnh chổi rồng do
nhện lông nhung (Eriophytes sp.) trên nhãn tiêu da bò tại huyện Long Hồ, tỉnh
Vĩnh Long” được thực hiện tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long từ tháng 9/2010
đến tháng 4/2011 nhằm bước đầu điều tra ảnh hưởng của những kỹ thuật canh tác đến bệnh chổi rồng do nhện lông nhung gây ra trên giống nhãn tiêu da bò
Quá trình điều tra được thực hiện ngẫu nhiên 30 vườn trồng nhãn, trên địa bàn huyện Long Hồ tại 4 xã cù lao: An Bình, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh, Đồng Phú Việc phỏng vấn được thực hiện trực tiếp với nông dân về các kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh chổi rồng, đồng thời tiến hành lấy chỉ tiêu tỷ lệ (%) bệnh trên vườn và trên cây
Qua kết quả điều tra có: 20% vườn không bệnh, 50% vườn bệnh nhẹ và 30% vườn bệnh nặng Trong đó, 100% vườn có nuôi ong đều có xuất hiện bệnh; 66,7% vườn không bệnh khi tưới nước lên cả cây; 80% vườn không bệnh có cắt cành tạo tán đồng thời xử lý cành bệnh bằng cách gom lại đem đốt; 83,3% số vườn không bệnh trồng với mật độ 20 – 25 cây/1.000m2 đối với cây từ 7 – 10 năm tuổi; trên 80% vườn bón phân theo khuyến cáo hạn chế được tỷ lệ bệnh chổi rồng và 100% vườn phun thuốc trừ nhện khi đọt non vừa xuất hiện cho thấy hiệu quả
Trang 121.1 NGUỒN GỐC, SỰ PHÂN BỐ NHÃN TRONG NƯỚC VÀ TRÊN
Trang 131.6 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CHỔI RỒNG VÀ NHỆN LÔNG
NHUNG (Eriophyes) GÂY BỆNH CHỔI RỒNG TRÊN NHÃN
1.6.2.2 Tập quán sinh sống và cách phát sinh 13
1.6.2.3 Một số loại nông dược có khả năng trừ nhện lông nhung 13
Trang 14CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
3.1.3 Kỹ thuật chăm sóc và tình hình sâu, bệnh hại nhãn 17 3.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CANH TÁC LIÊN QUAN ĐẾN TỶ LỆ
3.3.1 Tình hình bệnh chổi rồng vụ trước và vụ hiện tại theo đánh giá của
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây nhãn (Dimocarpus logan Lour) được ưa chuộng ở Việt Nam và nhiều
nước ở Châu Á nhờ cây có giá trị cao về kinh tế và dinh dưỡng: quả nhãn có độ ngọt rất cao 22 – 230 kèm mùi thơm rất thanh khiết, khá giàu khoáng chất Quả nhãn ngoài ăn tươi còn được chế biến làm mứt, sấy khô; có thể lấy mật từ hoa nhãn, mật ong từ hoa nhãn được coi là loại mật thượng đẳng, thơm ngọt, có giá trị dược liệu; gỗ nhãn là loại gỗ quí, không nứt; ngoài ra có thể sử dụng lá nhãn non làm thức ăn gia súc và làm cây cảnh, lấy bóng mát,… (Vũ Công Hậu, 2000)
Cây nhãn là loại cây dễ trồng, thời gian khai thác dài, không có sâu bệnh nguy hiểm nên nhãn được coi là cây ăn quả quan trọng trong việc dịch chuyển cơ cấu cây trồng ở các tỉnh đồng bằng cũng như trung du và miền núi của Việt Nam (Trần Thế Tục, 2004) Tuy nhiên, hiện nay hiện tượng bệnh chổi rồng trên nhãn gây hại nghiêm trọng
từ miền Đông Nam Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long và đã phát triển thành dịch bệnh trầm trọng trên giống nhãn tiêu da bò, bệnh gây thiệt hại lớn đến năng xuất nhãn (80 – 90% không thể đậu trái nếu bông nhãn bị chổi rồng) Bệnh do nhện lông
nhung Eriophytes sp là tác nhân môi giới lan truyền và gây hại chủ yếu hiện nay
Theo thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long, huyện có diện tích vườn nhãn bị nhiễm bệnh này nhiều nhất là Long Hồ và Trà Ôn Năm
2008, thống kê có trên 189 ha vườn nhãn tiêu da bò ở huyện Long Hồ bị nhiễm bệnh chổi rồng Đến cuối năm 2009, ở huyện Long Hồ, bệnh “chổi rồng” đã xuất hiện trên 680 ha vườn nhãn ở 4 xã cù lao An Bình, Bình Hòa Phước, Hòa Ninh và Đồng Phú Mức độ vườn nhãn bị gây hại ngày càng gia tăng (có thể nói ở đâu có nhãn tiêu da bò ở đó có bệnh chổi rồng), tuy nhiên hiện nay vẫn chưa xác định chính xác các điều kiện cach tác nào là nguyên nhân làm phát sinh và phát triển bệnh cũng như tìm ra giải pháp hiệu quả phòng trị bệnh hiệu quả
Do đó đề tài “Điều tra ảnh hưởng của kỹ thuật canh tác đến bệnh chổi rồng
do nhện lông nhung (Eriophytes sp.) trên nhãn tiêu da bò tại huyện Long Hồ,
tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của kỹ thuật
canh tác đến tỷ lệ bệnh chổi rồng hiện nay
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 NGUỒN GỐC, SỰ PHÂN BỐ NHÃN TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1.1.1 Nguồn gốc
Cây nhãn là cây Á nhiệt đới và nhiệt đới, cùng họ với cây vải và chôm chôm,
thuộc họ Sanpindaceae, giống Euphoria, có tên khoa học là Dimocarbus logan Lour hay Euphoria longana Lamk Giống Euphoria có khoảng 7 loài nhưng chỉ có
Euphoria longana là được trồng rộng rãi (Menzel et al., 1990)
Có nhiều tài liệu cho rằng cây nhãn có nguồn gốc từ Trung Quốc, vì người ta nhận thấy rằng cây nhãn được trồng nhiều ở vùng núi Quảng Đông, Quảng Tây với diện tích rất lớn Ý kiến khác được đưa ra bởi Chandler (1958) thì cây nhãn là cây bản xứ của miền đất thấp Ấn Độ, Miến Điện và Trung Quốc, dần dần được trồng rộng rãi ở nhiều nước như Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam, Lào và cả vùng Florida của Hoa Kỳ
1.1.2 Sự phân bố
1.1.2.1 Trên thế giới
Cây nhãn có nguồn gốc từ rất lâu đời, phân bố rộng rãi rất nhiều nước nhưng
đa số đều được trồng rãi rác không đáng kể, chỉ có ở Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam là nhãn được trồng với qui mô đáng kể (Vũ Công Hậu, 1999) Còn các nước châu Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương và một số nước nhiệt đới khác thì cây nhãn mới được du nhập vào nên trồng với diện tích còn rất hạn chế (Trần Thế Tục, 1998) Ở Thái Lan, nhãn được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Lamphun, Chiang Mai, Chiang Rai (Noppakoonwong, 1996)
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Cây nhãn được trồng lâu đời nhất cách đây 300 năm ở miền Bắc (Vũ Công Hậu, 1982) Hiện nay, nhãn được trồng nhiều ở cả 2 miền Nam Bắc nhưng trồng những giống khác nhau, giống miền Bắc to cây hơn, ở miền Nam giống nhãn phong phú hơn nhiều, bé cây, ra quả sớm hơn (Vũ Công Hậu, 2000) Ở miền Bắc được
Trang 17trồng nhiều ở đồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Bắc Ninh, cả vùng có khoảng 2 triệu cây, tính theo mật
độ thông thường diện tích nhãn lên đến 20.000 – 31.250 ha Do nhu cầu quả tươi tại chỗ, cây nhãn được phát triển mạnh ở các tỉnh phía Nam: Cao Lãnh (Đồng Tháp); Vĩnh Châu (Sóc Trăng); cù lao An Bình, Đồng Phú (Vĩnh Long), Đặc biệt ở các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre diện tích trồng nhãn tăng rất nhanh (Trần Thế Tục, 2000) Nếu áp dụng tốt các tiến bộ kỹ thuật về giống và thâm canh tốt vườn nhãn có thể đạt bình quân 5 tấn/ha Diện tích nhãn trong cả nước hiện nay khoảng 60.000 ha Nhãn không chỉ trồng ở vườn nhà mà còn trồng ở sườn đồi, vườn rừng trong những trang trại với qui mô đến hàng chục ha (Trần Thế Tục, 2000)
1.2 ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC GIỐNG NHÃN TIÊU DA BÒ
Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, nhãn tiêu da
bò là giống được trồng tại các tỉnh Nam Bộ trên 20 năm, qua khảo sát cho thấy giống này có đặc điểm tương tự như các giống nhãn được trồng tại Huế trên 50 năm, nên rất
có thể đây là giống có nguồn gốc từ Huế và du nhập vào các tỉnh Nam Bộ, vì vậy các tỉnh Nam Bộ giống này còn có tên là “Tiêu Huế” Giống tiêu da bò có một đặc tính nông học tốt như là cây phát triển nhanh có 5 – 6 cặp lá chét, lá dạng thon nhỏ Trái sai, số trái trên chùm có thể lên đến 50 trái, khi chín vỏ trái có màu vàng như da bò, thịt trái hơi dai, lượng nước trong vừa phải, tỷ lệ thịt quả cao, năng suất cao Ở một số nơi nhãn tiêu da bò còn cho năng suất gấp đôi nhãn long Đa số giống nhãn này còn được trồng bằng cách chiết Trong thời gian gần đây diện tích nhãn tiêu da bò tăng lên rất nhanh Đây là giống có nhiều triển vọng, nhược điểm của giống này là khi ra hoa đòi hỏi phải xử lý bằng cách khoanh vỏ, nhưng có thể lợi dụng nhược điểm này để chủ động xử lý cây ra hoa theo ý muốn (Nguyễn Minh Châu và ctv., 1997)
1.3 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT VÀ NHU CẦU SINH THÁI
1.3.1 Đặc tính thực vật
1.3.1.1 Rễ
Theo Trần Thế Tục và ctv (1998), rễ nhãn cũng như rễ vải thuộc nhóm cây ăn quả có rễ nấm, rễ hút phình to, không có lông hút Cấu tạo của rễ gồm có rễ cọc và
Trang 18rễ ngang Thông thường rễ cọc có thể ăn sâu 2 – 3 m Cá biệt sâu 5 m, rễ ngang phân bố tầng đất 0 – 70 cm dưới hình chiếu tán cây Còn ở ngoài tán thì chỉ ở tầng sâu 10 – 30 cm Hoạt động của rễ nhãn trong năm có 3 cao điểm, rễ sinh trưởng mạnh nhất vào giữa tháng 5 – giữa tháng 6
1.3.1.2 Thân
Nhãn cũng giống như vải và chôm chôm, đặc biệt là vải Cây cao khoảng 5 –
10 m (có thể đến 20 m), tán tròn đều và mọc thẳng hơn khi trồng băng hột Vỏ thân thường sần sùi, ít khi láng như cây vải, nhưng gỗ thì dòn hơn (Nguyễn Phước Tuyên
và ctv., 2000)
1.3.1.3 Lá
Lá nhãn thuộc lá kép lông chim Lá đơn mọc đối xứng hay so le, thường gặp 4 –
7 đôi trở lên Lá nhãn từ bắt đầu nhú đến thành thục biến động khoảng 40 – 50 ngày Tuổi thọ của lá 1 – 3 năm (Trần Thế Tục, 2000) Độ dài lá chét trung bình 13,2 cm,
độ rộng là 3,2 cm và cuống lá là 0,62 cm (Nguyễn Thị Hồng và ctv., 1997)
1.3.1.4 Hoa
Theo Trần Thế Tục (2000), trên chùm hoa có thể có vài trăm đến 2 – 3 nghìn hoa Hoa nhãn gồm 4 loại: hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính và hoa dị hình Trên cây nhiều nhất là hoa đực rồi đến hoa cái Hoa đực nhị cái thoái hóa, hoa có 5 cánh màu vàng nhạt, có 7 – 8 chỉ nhụy và túi phấn xếp hình vòng Hoa cái có 7 – 8 chỉ nhụy, nhị đực thoái hóa Theo Vũ Công Hậu (2000), hoa nhãn chủ yếu gồm hoa cái và hoa lưỡng tính Thụ phấn nhờ côn trùng là chính Ra hoa nhiều đợt có 2 đợt tập trung hoa tháng 3, 4 và hoa tháng 7, 8
1.3.1.5 Quả
Theo Nguyễn Phước Tuyên và ctv (2001), trái chín khoảng 3 – 5 tháng sau khi hoa nở Chùm trái có thể mang 80 trái, trọng lượng trái từ 5 – 20 g/trái Theo Trần Thế Tục (2000), quả có hình cầu, tròn dẹp, cân đối hay hơi lệch, cuống quả hơi lõm Vỏ quả trơn nhẵn hay xù xì, màu vàng sáng hay nâu nhạt
Trang 191.3.1.6 Hạt
Hạt nhãn có hình tròn, tròn dẹp, màu đen hay nâu đen, bóng, phản quang Lá mầm trong hạt màu trắng, phôi màu vàng Chiếm từ 17,3 – 42,9% trọng lượng quả (Trần Thế Tục, 2000)
1.3.1.7 Thịt quả
Thịt quả có màu trắng trong, trắng đục, hơi vàng Bề dày thịt từ 4 – 6,2 mm (thông tin khoa học và công nghệ, số 02-2002) Theo Vũ Công Hậu (2000), thịt quả
có thể chiếm đến 75% trộng lượng trái, đường tổng số từ 15 – 25%
1.3.2 Nhu cầu sinh thái
1.3.2.1 Nhiệt độ
Theo Trần Thế Tục và ctv (1998), nhiệt độ bình quân năm 21 – 27oC là thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển Khi chùm hoa bắt đầu có nụ cần có nhiệt độ thấp, 8 – 10oC là thích hợp nhất Thời kỳ hoa nở nhiệt độ thích hợp là 20 – 27oC
1.3.2.2 Vũ lượng
Nhãn cần lượng mưa thích hợp hàng năm khoảng 1300 – 1600 mm Lúc cây ra hoa gặp thời tiết nắng ấm có lợi cho việc thụ phấn, đậu quả tốt (Bùi Thị Mỹ Hồng, 2005) Nhãn là cây ưa nước, nhưng đồng thời cũng chịu hạn, chịu úng, nếu ngập úng trong
3 – 5 ngày cây vẫn chịu được (Trần Thế Tục, 2000)
1.3.2.3 Ánh sáng
Theo Vũ Công Hậu (2000), cây nhãn không chịu được ở những nơi quá khô ánh nắng gay gắt và cũng không chịu được rét Ở miền Nam cây nhãn chịu nắng rất tốt Nhãn cần đầy đủ ánh sáng, chỉ có những cành nhận đầy đủ ánh sáng mới cho trái tốt (Kỹ thuật trồng nhãn, Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang)
1.3.2.4 Đất đai, gió
Theo Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (1999), nhãn là cây ưa đất ẩm, mát, thích hợp nhất
là đất phù sa, đất cát, cát pha và có độ pH từ 6 – 7, không thích hợp trên đất sét nặng và quá ẩm ướt Gió tây thường gây nóng khô làm nướm nhụy mất nước ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh và làm rụng quả Bão sớm có thể gây rụng quả, gãy cành (Trần Thế Tục, 2000)
Trang 201.4 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
1.4.1 Thiết kế vườn
Liếp có chiều rộng trung bình 7 – 8 m, mương rộng 2 – 3 m, sâu 1 – 1,5 m Vùng đất cao phải chọn nơi có nguồn nước tưới cho cây nhãn vào mùa nắng Trồng cây trong vườn có thể theo hình vuông, hình chữ nhật, hình nanh sấu Trồng với khoảng cách 5 x 4 m hoăc 6 x 5 m Sau 7 – 10 năm, khi cây giao tán tỉa bớt cây ở giữa (Bùi Thị Mỹ Hồng, 2005)
1.4.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1.4.2.1 Thời vụ trồng
Nếu đủ nước tưới thì nên trồng vào cuối mùa mưa, khoảng tháng 10 – 11 dương lịch vì đến mùa nắng đầy đủ ánh sáng cây sẽ phát triển tốt hơn Nếu trồng vào mùa mưa, khoảng tháng 4 – 5 dương lịch cần chú ý nước vì nếu mưa nhiều đất sẽ bị lèn cây bị nghẹt, rễ chết (Kỹ thuật trồng nhãn, Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang)
30 – 50 kg phân chuồng + 1 – 1,5 kg supe lân + 0,5 kg vôi bột + 0,5 kg kali, trộn đều phân với đất
1.4.2.3 Mật độ trồng
Vấn đề mật độ trồng cây thường được tranh luận trên thế giới người ta trồng cùng một giống nhưng với mật độ khác nhau Xác định khoảng cách mật độ trồng hợp lý còn tùy thuộc vào một số vấn đề như: diện tích đất lớn hay nhỏ, đất tốt hay xấu, khả năng đầu tư về phân bón, nước tưới, khả năng khai thác vườn trái ngắn hay dài,… Theo Trần Thế Tục (2002), cho rằng nên trồng nhãn với khoảng cách 8 x 8 m đối với đất tốt vùng đồng bằng, còn vùng đồi núi trồng với khoảng cách 7 x 7 m hay
Trang 21Tùy theo giống, đất trồng và mô hình trồng, có thể chọ khoảng cách thích hợp là
5 x 6 m, 6 x 6 m, 8 x 8 m (Dương Minh và ctv., 2001)
1.4.2.4 Chăm sóc
Tưới nước: Theo Phan Kim Hồng Phúc (2002), tưới cây nhãn trong tháng đầu tiên cực kỳ quan trọng Tuần đầu tưới mỗi ngày 2 lần sáng và chiều, tuần sau cách ngày tưới một lần Theo Trần Thế Tục (2000), tưới từ từ, từ ngoài vào trong gốc cây, chống đóng ván mặt
Làm cỏ, xới đất, phủ líp: làm thường xuyên khi cây còn nhỏ tránh cạnh tranh chất dinh dưỡng Khi cây bắt đầu cho trái mỗi năm xới đất một lần để đất líp được tơi xốp Dùng rơm rạ, cây rẫy đã thu hoạch, hoặc cỏ khô đậy líp trong mùa nắng
để giữ ẩm (Nguyễn Phước Tuyên va ctv., 2001) Đắp mô, bồi líp: trong 2 năm đầu hàng năm cần đắp thêm đất khô vào chân mô Đến năm thứ 3 trở đi, hàng năm nên vét bùn non ở đáy mương, bồi thêm líp một lớp khoảng 2 – 3 cm ngay sau khi làm gốc, bón phân (Kỹ thuật trồng nhãn, Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang)
Cắt tỉa: theo Trần Thế Tục (1999), việc cắt tỉa để tạo cho cây nhãn có khung tán cân đối, tạo điều kiện cho cây quang hợp tốt, tích lũy vật chất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển, để cây sớm ra hoa có quả đạt năng suất cao Một thân chính có 3 – 4 cành chính, mỗi cành cách nhau ít nhất 20 cm Tỉa bỏ những cành không cần thiết, tiêu hao dinh dưỡng vô ích, cành vượt, cành sâu bệnh, cành trong tán che khuất lẫn nhau, cành sau khi thu hoạch quả, vào trời nắng
Bón phân: theo Vũ Công Hậu (2000), cây chưa ra quả từ năm 1 đến năm 3, 4: bón mỗi cây 200 đến 800 g urê, 300 – 800 g supe lân, 150 – 400 g KCl, năm đầu bón ít mỗi năm cây lớn thêm thì tăng lượng phân theo tuổi Mỗi năm bón 3, 4 lần Bón thêm mỗi gốc 10 – 15 kg phân chuồng hoai mục, bón một lần vào mùa mưa Khi cây ra quả thì bón khoảng 500 – 1000 g urê, 300 – 500 g supe lân, 500 – 1000 g KCl, bón 2 lần: một lần khi chuẩn bị ra hoa, lần 2 khi trái đang lớn Phân chuồng 2 – 3 năm bón một lần vào cuối năm khi nhãn chuẩn bị ra mầm hoa Nếu có bùn, vét lên phơi khô, đập nhỏ rắc quanh gốc Theo Trần Thế Tục (2000), phân tích trong 1000kg quả tươi cây lấy đi của đất 4,01 – 4,8kg N, 1,48 – 1,56kg P2O5 và 7,54 –
Trang 228,96kg K2O Từ những kết quả trên đưa ra đề nghị bón cho vườn nhãn là 1,2kg N – 0,6kg P2O5 và 1,2kg K2O
1.5 CÁC SÂU BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN NHÃN
1.5.1 Sâu đục trái nhãn (Conogethes punctiferalis)
Thành trùng hoạt động về đêm trong khoảng 20 – 22 giờ đến 5 giờ sáng, ban ngày ẩn trong các tán lá dầy Cả thành trùng đực và cái thường sống trên mật hoa của ký chủ và các cây khác trong vườn Sau khi vũ hóa con cái thường tiết Pheromone để hấp dẫn con đực Hai cho đến 3 ngày sau khi bắt cặp, thành trùng đẻ trứng, trứng được đẻ trên trái, mỗi trái khoảng 20 – 30 trứng
Trứng thường nở vào lúc sáng sớm, thời gian ủ trứng 4 – 6 ngày Ấu trùng tuổi 1 bò rất nhanh và sau đó đục vào trong trái Sâu có thể tấn công từ khi trái còn rất non cho đến khi sắp thu hoạch, gây hại bằng cách đục phá vào trong trái
và ăn rỗng cả phần hột của trái non Sâu thường nhả tơ kết dính các trái non và
ăn phá bên trong trái Giai đoạn trái lớn, sâu đục trái làm trái bị hư và mất phẩm chất (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Hóa nhộng bằng cách nhả tơ kết phân thành một lớp kén mỏng và hóa nhộng trong kén trên cuống trái hoặc bên trong phần hột đã đục Giai đoạn ấu trùng gồm 5 tuổi, toàn bộ chu kỳ sinh trưởng biến động trong khoảng 29 – 32 ngày Sâu hiện diện gây hại trên khắp các vùng trồng nhãn tại Đồng bằng sông Cửu Long Sâu gây hại nặng vào mùa nhãn tháng 12 – 1 (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
1.5.2 Bọ xít nhãn (Tessaratoma papillosa)
Ấu trùng vừa mới nở thường sống tập trung, vài giờ sau khi nở ấu trùng bắt đầu phân tán đi tìm thức ăn Khi bị xáo động, ấu trùng thường giả đò chết rơi xuống đất rồi tiết ra một mùi rất hôi Ấu trùng có khả năng chịu đói trong một thời gian rất lâu vì vậy chúng có thể sống mà không cần ăn trong nhiều ngày Giai đoạn ấu trùng kéo dài 60 –
80 ngày Thành trùng có thể sống đến trên 300 ngày (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
Bọ xít là một đối tượng quan trọng trên nhãn Khi mật số cao có thể gây hại 80 – 90% năng suất Cả thành trùng lẫn ấu trùng đều chích hút đọt non, cuống hoa và trái, làm rụng bông và trái Cành bị khô và vỏ trái nhãn thường bị đen Tại Đồng
Trang 23bằng sông Cửu Long, loài này chủ yếu gây hại quan trọng trên giống nhãn da bò (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
1.5.3 Bệnh thối trái (Phytophthora sp.)
Bệnh thường gây hại nặng trong mùa mưa hoặc trong những ngày có mưa dầm, sương mù nhiều, thiếu nắng Bệnh gây hại ở những chùm nhãn bên dưới gần mặt đất, hoặc trong tán cây Bệnh tấn công từ bên dưới đít trái sau đó lan dần lên và trái rụng khi vết bệnh chiếm 1/3 trái Vết bệnh lúc đầu có màu hơi sậm sau đó có màu đen sám (đất), ấn nhẹ váo vùng bệnh của vỏ trái mềm nhũn, bể nước chảy ra có mùi chua đặc trưng Vào những ngày có ẩm độ cao như đêm có sương mù nhiều và mưa kéo dài, ta thấy các tơ nấm phủ đầy trên vùng bệnh Đối với nhãn da bò bệnh gây hại ở những chùm có nhiều trái và gây hại ở những trái bên trong chùm rồi lan
ra ngoài, vết bệnh xuất hiện bất cứ vị trí nào trên trái Trên cành, bệnh thường gây hại trên cành non, cành bệnh có màu sậm, sau đó lan dần đến phần già, dẫn đến cành khô và chết Bệnh thường gây hại trên lá bánh tẻ, từ chóp lá vào, lá bị bệnh đầu tiên có màu xanh hơi nhũn nước, sau đó vết bệnh lan dần có màu xám đen, bệnh có thể làm rụng lá Nếu thời tiết có ẩm độ cao lá bị nhũn, không khí khô lá cũng khô giòn Trên hoa, bệnh thường gây hại trên phát hoa sắp đạt chiều dài tối đa, bệnh làm cho phát hoa sậm màu sau đó khô đi, các hoa trên phát hoa đó cũng khô
và có màu nâu đen Trên trái, bệnh gây hại bất kỳ vị trí nào trên chùm trái nhãn, và gây hại khi trái khoảng một tuần tuổi đến khi trái chín (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)
1.5.4 Bệnh đốm rong (Cephaleuros virescens.)
Bệnh gây hại khá nặng trên lá, nhất là trong những tháng mưa ẩm Đốm bệnh thường xuất hiện ở mặt trên lá Đốm bệnh có hình tròn, lúc đầu nhỏ khoảng 3 – 5 mm, hơi nhô trên mặt lá do có rong phát triển tạo như lớp nhung mịn, màu xanh hơi vàng Đốm bệnh lan rộng dần ra, cũng có hình tròn, đường kính có thể lớn hơn 1 cm, có màu nâu, giữa đốm bệnh có đóng phấn màu vàng tối, đó là bào tử của rong Mặt dưới đốm bệnh có màu nâu nhạt đến nâu sậm do mô lá bị hoại, tùy mức độ tấn công của rong Trên một lá có thể có nhiều đốm làm cho lá bị vàng và rụng sớm (http://www.dost-bentre.gov.vn/cay-trai-ben-tre/cay-nhan/1299-bnh-m-rong-
cephaleuros-virescens.html)