1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Phụ đạo học sinh yếu môn Ngữ Văn THCS theo đặc trưng bộ môn

9 811 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 195,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi muốn rèn luyện c ho các em theo kịp các bạn, th ì không có cách nào tốt hơ n là thông qua những buổi phụ đạo, kèm cặp riêng của giáo viên đối với những em học yếu.. Q ua việc kèm cặp

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU MÔN NGỮ VĂN

THCS THEO ĐẶC TRƯNG BỘ MÔN

Trang 2

I- TÊN ĐỀ TÀI: Phụ đạo học sinh yếu môn Ngữ văn THCS theo đặc

trưng bộ môn

II – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việc " phụ đạo học sinh yếu" là việc vô cùng quan trọng đối với học

sinh THCS, nhất là học sinh mới vào lớp 6 Bởi muốn rèn luyện c ho các

em theo kịp các bạn, th ì không có cách nào tốt hơ n là thông qua những buổi phụ đạo, kèm cặp riêng của giáo viên đối với những em học yếu

Q ua việc kèm cặp, giáo viên luyện cho học sinh biết đọc, biết vận dụng

từ ngữ và các quy tắc ngữ pháp cơ bản đã học để đọc đúng, phát âm đúng, viết đúng, biết diễn đạt ý tưở ng chính xác, rõ ràng, trong sáng và

áp dụng vào viết tập l àm văn Hơn nữa giáo viên còn rèn luyện cho học sinh các mặt cụ thể: Đọc đúng ( phải rõ nghĩa, rõ ý.), giọng nói( phải vừa nghe vừa cố gắng truyền cảm) và viết đúng chính tả (giáo viên đọc, học sinh ghi chính xác) Đọc, viết tốt có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các em không chỉ việc đọc, tiếp thu kiến thức m à còn phục vụ học sinh trong việc viết b ài và cảm thụ văn học theo hướng tích hợp

Rèn luy ện kĩ năng đọc, viết, cảm thụ văn học đối với học sinh yếu

là một việc khó, nhưng dù khó thế nào, yêu cầu kèm cặp, phụ đạo các em cũng phải luôn luôn đ ược coi trọng

III - THỰC TRẠNG

1 Thực trạng:

Trong thực tế giả ng dạy môn ngữ văn ở trường THCS hiện nay, các em m ới bắt đầu làm quen với phương pháp học tập bộ môn theo hướng tích hợp V ì vậy, lớp có nhiều học sinh yếu kém là giờ dạy mà giáo viên ít thành công m ĩ mãn nhất Vì vậy mà cả giáo viên và học sinh đều ngại dạy và học Tiết học vừa khô khan lại vừa trầm, kém hiệu quả Phần lớn các b ài, nội dung một tiết rất d ài, dung lượng kiến thức nhiều

Mà học sinh yếu, kém, tiếp thu rất chậm Còn trong giờ kiểm tra, viết bài, các em phải tự lập, phải suy nghĩ, phải giữ gìn nề nếp của lớp, nề nếp thi cử, d ưới sự giám sát của giáo viên, nên đ ạt điểm kém, từ đó các

em chán nản, tự ti giữa bản thân với bạn b è, từ đó các em ngại ngùng tiếp xúc với bạn b è, thầy cô Kết quả là việc học ngày một nặng nề đối với các em, các em tìm những trò vui khác để bù lấp, như: Ham chơi hơn, hay đi học muộn, bỏ tiết, bỏ học Bởi vậy người giáo viên phải làm thế nào để giờ dạy có chất lượng tốt? Nghĩa là phải đảm bảo được dung lượng kiến thức, không cháy giáo án m à lại cuốn hút đ ược học sinh tham gia,(đ ối với các em học sinh tiếp thu chậm, yếu th ì không d ễ)?

Trang 3

Đ ối với bản thân tôi, mới có hơn 6 năm làm nghề dạy học, tôi thấy rằng sự chênh lệch kiến thức (trình độ nhận thức) giữa các em trong một lớp là điều không thể tránh khỏi Vậy chúng ta phải làm như thế nào, đó

là điều mà tôi đã trăn trở suy nghĩ nhiều Là giáo viên trẻ, kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế, v ì vậy tôi luôn tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp để tìm ra những nguyê n nhân đ ể kèm cặp, phụ đạo học sinh yếu, kém có hiệu quả? Từ đó có những biện pháp cụ thể nâng cao dần chất lượng dạy và học

Trong tình hình thực tế hiện nay, x ã hội ngày càng phát triển thì môn ngữ văn c àng được coi trọng; Việc thay sách trong 7 năm qua ở THCS càng cho chúng ta thấy học sinh phải rèn luyện thành thạo 4 kĩ năng: Nghe, nói, đọc và viết Hơn nữa, chúng ta đang thực hiện: Chỉ thị

“Tránh học sinh ngồi nhầm lớp” và căn cứ vào kết quả khảo sát chất lượng đầu năm ở trường tôi Tôi quyết định chọn đề tài này đ ể nói nhữ ng suy ngh ĩ, kinh nghiệm của bản thân về việc "Phụ đạo học sinh yếu -kém " môn ngữ văn THCS theo đặc trưng b ộ môn

2 Cơ sở khoa học, kết quả, hiệ u quả của thực trạng tr ên

D o sự lúng túng của không ít giáo vi ên trước yêu cầ u của việc “phụ đạo”, chưa xác định đúng yêu cầu của tiết phụ đạo Y êu cầu của tiết phụ đạo phải đạt đ ược những g ì? Đạt đến đâu? Giáo viên nên xác đ ịnh rõ, để

từ đó hướng cho học sinh yếu, kém chẩn bị chu đáo về nội dung cũng như tin tưởng vào thầy cô, bạn bè hơn

* Ví d ụ:

- Yêu cầu nội dung vấn đề gồm những gì? Cần đạt đến mức độ nào?

- Trong số các b ài tập mà sách giáo khoa đưa ra cần chọn bài tập nào là hợp lí nhất đối với đối tượng học sinh của m ình

- Trong bài đ ã chọn phải định lượng kiến thức thế nào cho phù hợp với học sinh yếu, kém, tránh quá tải, hoặc d àn trải kiến thức, thiếu trọng tâm

- N ét đ ặc trưng của tiết “phụ đạo” phải làm nổi bật yêu cầu: Biết đọc, viết, cảm nhận và vận dụng

Tiết học có 45 phút, nếu giáo viên không phân lượng thời gian cho hợp lý mà tham kiến thức th ì sẽ quên đi yêu cầu của việc "kèm cặp học sinh yếu" Từ đó dẫn đến tình trạng giáo viên nhận xét thay cho học sinh rồi cho điểm và đó chính là nguyên nhân d ẫn đến những em không đ ược gọi trình bày sẽ ít tập trun g chú ý, theo dõi b ạn trình bày, do đó hiệu quả giờ dạy bị hạn chế đi nhiều

Từ thực trạng trên, để công việc giảng dạy, kèm cặp, phụ đạo đạt hiệu qua tốt hơn, tôi đ ã mạnh dạn đ ưa ra những giải pháp và biện pháp

cụ thể:

Trang 4

IV- N ỘI DUN G ĐỀ TÀI

1 Các giải pháp thực hiệ n

- Việc phụ đạo phải kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, coi trọng thực hành đ ọc bài và rèn chính tả

- Trong giờ ôn luyện, phụ đạo phải gây hứng thú học tập của học sinh, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tao của học sinh Học si nh rất sinh đ ộng, hoạt bát trong nói năng hàng ngày nhưng vào giờ ôn luyện thì lại rụt rè, nói không nên lời (vì các em đọc kém, viết kém, tiếp thu chậm nên e ngại, xấu hổ) N guyên nhân là phương pháp ngư ời giáo viên chưa khêu gợ i được sự hứng thú của học sinh, chưa tạo được không khí chan hòa, đồng cảm giữa thầy và trò, giữa trò với nhau G iờ phụ đạo giáo viên đừng gò bó các em, đừng vội vàng phê phán các biểu hiện chưa tốt c ủa các em V ấn đề là phải tạo những điều kiện cần và đủ để các em nắm bắt dần tri thức

- Ôn luyện phải kết hợp việc rèn luy ện kĩ năng vớ i việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, tư dy cho học sinh Phụ đạo học sinh yếu trước hết phải giáo dục lòng yêu mến tự hào về tiếng Việt, từ đó m à tự hào về dân tộc

ta Ôn luyện không chỉ cho các em b iết đọc, biết viết m à phải dạy chiều sâu của tâm hồn, tư tưởng của học sinh, m à cụ thể h ơn cả là dạy nếp sống có văn hóa

- Phụ đạo phải kết hợp nhà trường, đo àn thể và gia đ ình: Xuất phát từ phương châm giáo d ục: " K ết hợp nhà trường, gia đ ình và x ã hội" Trước hết phải làm cho gia đ ình gương mẫu, tạo điều kiện cho các

em có ý thức học hơn Phải biết nhắc nhở, đôn đốc con cái

2 Những biện pháp

* Biện pháp thứ nhất:

G iáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy, chúng ta phải hiểu rằng đây là tiết giúp học sinh "biết đọc, biết viết sau đó biết vận dụng"

G iáo viên phải nêu thật rõ yêu cầu ôn luyện Khi học sinh trình bày, giáo viên phải nắm bắt để nhận xét, đúng khả năng, th ành tích đạt đ ược của các em qua quá trình đọc, viết

V iệc ôn luyện đúng theo yêu cầu trên trong 2 năm gần đây( đặc biệt là trong học kì I vừa qua) tôi thấy đ ã mang lại kết quả tương đ ối khả quan: Học sinh dần dần mạnh dạn, chủ động hơn, tr ình bày các vấn đề tương đ ối tự tin, lưu loát hơn

* Biện pháp thứ hai: Hướng dẫn việc chuẩn bị b ài ở nhà cho học sinh

Muốn một giờ phụ đạo đạt kết quả tốt, ngo ài việc hướng dẫn học sinh đi đúng yêu c ầu của một giờ ôn luyện trên lớp thì việc cho các em chuẩn bị b ài ở nhà cũng rất quan trọ ng Muốn các em chuẩn bị b ài tốt, có

Trang 5

chất lượ ng thì sự chuẩn bị, hướng dẫn của giáo viên c ũng phải chu đáo

N gười thầy phải làm khâu này khoa học, cụ thể Trong sách giáo khoa thường có một số vấn đề để giáo viên lựa chọn, vậy nên chọn đề nào cho phù hợp, để có hiệu quả cao cho đối tượng học sinh c ủa mình dạy theo ý chủ quan của giáo viên Khi đ ã chọn được đề phù hợp rồi, giáo viên phải phân việc cụ thể cho từng đối tượng học sinh ( có thể phân theo d ãy bàn, tổ, nhóm) để học sinh chuẩn bị kĩ lưỡng, tránh đối phó qua loa, đại khái

* Ví dụ: Trong tiết ôn luyện về văn tự sự ở lớp 6 có đề b ài: Sự mư u trí, thông minh c ủa em bé dược thử thác h qua mấy lần? Lần sau khó hơn lần trư ớc không? V ì sao? Tro ng văn b ản “Em bé thông minh”

V ới đề bài này ta thấy cần có 4 ý chính:

1) Ai ra câu đ ố?

2) N hững ai phải giải đố?

3) N ội dung đố là gì?

4) Cách giải đố của em bé?

G iáo viên phải phân cho học sinh nh ư sau:

- N hóm chuẩn bị: Câu hỏi 1,3

- N hóm chuẩn bị: Câu hỏi 2,4

Khi dạy b ài này giáo viên có thể cho học sinh xung phong trình bày các v ấn đề, hoặc có thể gọi các nhóm trình bày Giáo viên c ăn

cứ vào các câu hỏi về nhà của học sinh để rút kinh nghiệm cho các

em, làm sao lần sau chuẩn bị tốt hơn lần trước

Học sinh vừa luyện đọc ở nhà vừa có tinh thần tự giá c làm bài

* Biện pháp thứ ba:

Tổ chức thi đọc diễn cảm, đọc sách báo nghe chung nhằm rèn ngữ điệu và cách phát âm chuẩn cho học sinh

Tổ chức cho học sinh nói chuyện trước lớp, trước tổ, trước trường

Có thể cho các em kể chuyện vui, chuyện c ườ i hoặc các tác phẩm văn học

Tổ chức và phát động thi “Vở sạch chữ đẹp ở từng tổ” và thường xuyên kiểm tra vở ghi b ài của học sinh

Trên đây là những biện pháp m à tôi đã làm trong hơn một năm học đã qua, đã đưa đ ến kết quả thiết thực trong từng tiết dạy ở các lớp tôi dược phân công giảng dạy Nhưng đây mới chỉ là những kinh nghiệm

ít ỏi Muốn đạt đ ược kết quả c ao trong việc ôn luyện, phụ đạo thì chúng

ta - những người giáo viên - chưa phải là đã hết trăn trở m à chúng ta phải tiếp tục tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để rút ra những b ài học tốt nhất, đạt được hiệu quả cao nhất mỗi khi gặp học sinh “ngồi nhầm lớp” ở bậc THCS

Trang 6

3 Giáo án dạy 1 tiết phụ đạo ngữ văn lớp 6

LUYỆN TẬP ĐỌC, VIẾT, CÁCH DÙNG TỪ NGỮ

A Mục tiêu:

- Giúp HS: Biết đọc, viết và nhận ra được các lỗi mắc phải khi dùng từ, đặt câu.(từ không đúng về nghĩa)

- Rèn kĩ năng đọc, viết, làm bài tập tổng hợp

B Chuẩn bị:

Giáo viên: giáo án, bảng phụ

Học sinh: Chuẩn bị bài tập ở nhà

C Hoạt động dạy học:

 Ổn định lớp

 Kiểm tra bài cũ: Sự chuẩn bị bài và học bài của học sinh?

 Bài mới:

Hoạt động của thầy và trò TG Nội dung chính

Hoạt động 1

GV: Treo bảng phụ bài thơ “Những cái chân”

Cái gậy có một chân Biết giúp bà khỏi ngã

Chiếc com-pa bố vẽ

Có chân đứng, chân quay

Cái kiềng đun hằng ngày

Ba chân xoè trong lửa

Chẳng bao giờ đi cả

Là chiếc bàn bốn chân

Riêng cái võng Trường Sơn

Không chân, đi khắp nước

GV: gọi lần lượt học sinh đọc bài

-> Nhận xét, biểu dương các em đọc tốt (cho

điểm) -> cất bảng phụ

GV: Đọc lại bài thơ “Những cái chân” - đọc lại

từng dòng thơ, học sinh chép chính tả?

=> GV kiểm tra việc chép chính tả của từng học

sinh: sửa chữa, nhắc nhở, động viên học sinh

Hoạt động 2

I- Đọc và luyện chính

tả

1 Đọc

2 Rèn chính tả

II- Luỵện tập

Trang 7

(Giáo viên ghi lên bảng phụ trước các bài tập – Học sinh chỉ lên điền)

Bài tập 1

Lựa chọn từ thích hợp ở cột A điền vào câu ở cột B để tạo thành câu đúng

a quyên góp

b kiên cường

c bàng quang

d tràn ngập

e sẵn sàng

g nhiệt tình

h hoàn thành

i tuỳ tiện

k tuỳ ý

1 Người lính già rất dũng cảm

2 Bạn Nam rất với công việc của lớp

3 Lớp em đã nhiều sách vở và đồ dùng học tập giúp các bạn HS miền Trung bị bão lũ

4 Bố tôi nhận nhiệm vụ trước khi lên đường

5 Thành phố HCM cờ hoa trong ngày chiến thắng

6 Chúng ta hãy những công việc được cô giao cho

7 Chúng ta không thể đi lại

8 Việc đó làm thế nào bạn

Gợi ý: 1- b; 2- g; 3- a; 4- e; 5- d; 6- h; 7- i; 8- k;

Bài tập 2

Giải thích sự khác nhau về nghĩa giữa từ “bỏ mạng” và “hi sinh”

Gợi ý:

- Bỏ mạng: chỉ cái chết, có hàm ý khinh bỉ

- Hi sinh: chết vì lí tưởng, nghĩa vụ

Bài tập 3

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“ Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta.Thế giặc mạnh Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những thứ chú bé dặn ” (Thánh Gióng)

1.Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt chính nào?

A Miêu tả B Tự sự C Biểu cảm

2 Đoạn văn trên nhằm mục đích gì?

A.Tả cảnh nhà của Gióng B Kể về người và việc

C Nêu cảm nghĩ của TGióng D Bàn về tình cảnh đất nước ta lúc đó

3 Trong đoạn văn trên có bao nhiêu từ láy ?

A Một từ B Hai từ C Ba từ D Bốn từ

Trang 8

4 Trong các từ sau từ nào là từ mượn?

A Ngày đêm B Bấy giờ C Làm D Sứ giả

- Gọi HS lên bảng trình bày từng từng bài

- Gọi HS nhận xét- sửa chữa

- GV nhận xét- sửa chữa, cho điểm (nếu học sinh làm tốt)

 Củng cố:

- Gv hệ thống lại toàn bài

- Các kĩ năng làm phần trắc nghiệm

 HDVN:

- Học kĩ bài

- Chuẩn bị đề bài “Tự giới thiệu về bản thân mình”

V- KẾT QUẢ ỨNG DUNG

Năm

học Nội dung phụ đạo Lớp

SốHS được phụ đạo

Số HS đạt yêu cầu

Số HS chưa đạt yêu cầu

Ghi chú

2008 -

2009 –

2010

(HK I)

Ôn, luy ện tổng hợp 7A 2 1 1

Từ những thà nh công ở trên, đ ặc biệt trong học k ì I vừa qua, bản

thân tôi rút ra những b ài học kinh nghiệm sau đây:

(1) Trước hết, ngườ i giáo viên dạy văn phải thấy đ ược tầm quan trọng của việc phụ đạo ở lớp 6 nói riêng và ở bậc THCS nói chung Người giáo viên phải có sự trăn trở, t ìm tòi và đem hết trách nhiệm của m ình

để đạt kết quả cao nhất cho việc dạy v à học

(2) Muốn giờ “Phụ đạo" đạt kết quả tốt, ng ười giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo Trước hết là chuẩn bị giáo án, sau đó là chuẩn bị cụ thể, tỉ mỉ cho việc hướng dẫn sự chuẩn bị b ài c ủa học sinh Có như vậy

cả thầy v à trò mới thực hiện tốt việc ôn luyện và lĩnh hội chi thức

(3) Trong giờ phụ đạo người giáo viên phải phát huy trí tuệ của học sinh, áp d ụng các biện pháp tốt nhất để cả lớp tích cực tham gia ôn luyện Từ đó giúp các em hiểu đ ược yêu c ầu c ủa việc ôn tập cũng như nâng cao kĩ năng lĩnh hội chi thức cho các em

Trang 9

(4) Để đảm bảo thời gian, giáo viê n phải chủ động ngay từ lúc chuẩn

bị bài Phải phân lượng thời gian và phân công học sinh đảm nhiệm nội dung ôn luyện thế nào cho phù hợp, để đạt kết quả cao

(5) Để giờ dạy thực sự có hiệu quả, người giáo viên phải có tình thương yêu thực sự đối với học sinh, phải tâm huyết vớ i nghề nghiệp v à cần phải trăn trở mỗi khi việc kèm cặp, phụ đạo của m ình chưa thành công

(6) Cuối cùng là người giáo viên thông qua môn d ạy ngữ văn, đặc biệt

là các các tiết phụ đạo các em, giáo dục cho học sinh lòng tự hào được nói tiếng V iệt, biết tôn trọng và giữ gìn cái hay, độc đáo của tiếng Việt Lòng tự hào về tiếng Việt của học sinh phải thể hiện : H ọc tập, r èn lu yện tri thức Phải làm thế nào cho tiếng Việt vang lên tất cả sự giàu đẹp và nhạc điệu của nó trong giờ học ngữ văn

Trên đây là những bài học được rút ra từ thực tế giảng dạy trong mấy năm qua Rất mong đ ược các đồng nghiệp góp ý, giúp đỡ tôi có được những bài học kinh nghiệm tốt hơn

Người viết

Hoàng Văn Đạo

Ngày đăng: 20/04/2015, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w