Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích biến động doanh thu tại khách sạn Hoà Bình
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch là một trong những ngành kinh doanh tuy còn rất non trẻ, nhưng
được xem là một ngành kinh tế có nhiều tiềm năng và triển vọng phát triển trong
tương lại Hoạt động kinh doanh du lịch không chỉ là hoạt động kinh tế mang lại
hiệu quả kinh tế cao, mà nó còn đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của
các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch trên thế giới, ở Việt nam trong
những năm gần đây du lịch cũng đã được xác định là một ngành kinh tế quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Việt nam Hoạt động kinh
doanh du lịch ở nước ta đã và đang có nhiều thay đổi phong phú, và ngày càng
sôi động trên phạm vi rộng lớn, nó dã thu hút mọi thành phần kinh tế, các ngành,
các cấp trong nước, ngoài nước tham gia đầu tư vào kinh doanh du lịch
Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một thực tế rằng ngành du lịch tuy đang
trên đà phát triển nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là đối với hệ
thống khách sạn Bước vào những năm cuối của thập kỷ 90, có một bài toán khó
đặt ra đối với tất cả những nhà kinh doanh khách sạn ở Việt nam nói chung cũng
như ở Hà nội nói riêng, đó là tình trạng dư thừa buồng một cách tương đối về cơ
sở lưu trú, tổng số buồng tăng lên đáng kể từ năm 1992 đến năm 2000 đặc biệt
là số buồng đạt tiêu chuẩn quốc tế trong khi luợng khách quốc tế ngày càng có
xu hướng giảm đi
Đi đôi với sự dư thừa về cơ sở lưu trú là sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường Nhiều khách sạn phải giảm mạnh giá buồng, hoặc nghỉ kinh doanh do
không có hiệu quả kinh tế, do qui mô quá nhỏ không phù hợp, do công suất
buuồng quá thấp và thua lỗ nặng
Trước tình hình ấy để có thể đứng vững trên thị trường nâng cao khả năng
cạnh tranh của mình các chủ doanh nghiệp cần tìm ra những giải pháp thích hợp,
nắm bắt kịp thời những cơ hội do thị trường mạng lại Muốn vậy cần phải có sự
phân tích kỹ lưỡng các nhân tố từ bên ngoài và các nhân tố bên trong để có thể
đưa ra những nhận định và phương hướng chính xác trong kinh doanh, xây dựng
được những kế hoạch phát triển trước mắt cũng như lâu dài mang tính khả thi
cao đem lại doanh thu và lợi nhuận cao cho khách sạn
Xuất phát từ vấn đề này, trong thời gian thực tập tại khách sạn Hoà Bình
em đã chọn đề tài “Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích biến
động doanh thu tại khách sạn Hoà Bình”
Trang 2Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Doanh thu tại khách sạn Hoà Bình thời
kỳ 1996-2000
Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Đặc điểm sản xuất kinh doanh và việc nghiên cứu doanh hu tại
khách sạn Hoà Bình
Chương II: Phương pháp thống kê phân tích biến động doanh thu du lịch
Chương III: Vận dụng một số phương pháp thố ng kê phân tích biến động
doan thu tại khách sạn Hoà Bình
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DOANH
THU TẠI KHÁCH SẠN HOÀ BÌNH
I ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI KHÁCH SẠN HOÀ BÌNH
1.Khách sạn Hoà Bình
Khách sạn Hoà Bình là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc công ty du
lịch Hà nội Khách sạn được thành lập năm 1927, nằm tại 27 Lý Thường Kiệt,
quận Hoàn Kiếm, Hà nội Khởi đầu là một khách sạn 2 tầng dành cho các quan
chức Pháp với cái tên thật hấp dẫn Le spendide nghĩa là Bồng lai tiên cảnh (hoặc
Huy hoàng) Là một trong những khách sạn lâu đời nhất ở Hà nội, cùng thời
gian với khách sạn Dân chủ, Sofitel metropole Kiến trúc của khách sạn mang
những nét kiến trúc Pháp độc đáo và hấp dẫn Năm 1940, khách sạn khách sạn
được nâng cấp lên thành 3 tầng với 47 buồng phục vụ kinh doanh lưu trú Sau
khi hoà bình lập lại khách sạn chịu sự quản lý của bộ Nội thương với những đối
tượng khách chủ yếu là những đoàn khách quốc tế mang tính ngoại giao và
khách chủ yếu ở các nước XHCN Tháng 10/1969, khách sạn được giao cho
công ty du lịch Hà nội quản lý cho đến tận ngày nay Sau năm 1980 khách sạn
Trang 3Hoà Bình là khách sạn duy nhất ở Hà nội đón khách quốc tế và Việt kiều, lượng
khách chủ yếu của khách sạn là Việt kiều Lào và Việt kiều Pháp Năm 1986
khách sạn Hoà Bình được nâng cấp thành 4 tầng Năm 1993 khách sạn được cải
tạo lại toàn bộ nâng cấp thành khách sạn 3 sao theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa tổng
số buồng của khách sạn lên 102 buồng gồm 2 khu Hoà Bình I (88 buồng ) và
Hoà Bình II (14 buồng )
Trong những năm gần đây, khách sạn thường xuyên phải đối đầu với
những khó khăn lớn do khách quan đem lại Thị trường du lịch bão hoà, thị phần
khách sạn bị thu hẹp do sự xuất hiện hàng loạt khách sạn mới có nhiều lợi thế
hơn về sự linh động, về qui mô, về giá cả Cạnh tranh trong lĩnh vực khách sạn
ngày càng trở nên gay gắt Trước tình hình đó để có thể khắc phục được những
khó khăn và nâng cao ưu thế cạnh trạnh của mình, ban giám đốc quyết định
đóng của khu Hoà Bình II đồng thời tích cực đổi mới khách sạn về nhiều mặt
như sau:
Về cơ cấu bộ máy tổ chức của khách sạn:
Khách sạn xây dựng một hệ thống tổ chức gọn nhẹ, thông suốt, đảm bảo
tính năng động cao
Trang 4Đứng đầu khách sạn là Giám đốc khách sạn phụ trách chung toàn bộ hoạt
động kinh doanh, đồng thời chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc công ty du
lịch Hà nội
Cấp tiếp theo là các Phó giám đốc phụ trách riêng biệt từng bộ phận theo
sự phân công (một phụ trách công tác tổ chức hành chính, một phụ trách kinh
doanh ăn uống, tiệc và một phụ trách kinh doanh dịch vụ lưu trú, làm công
việc Maketing) có trách nhiệm báo cáo kịp thời mọi vấn đề với giám đốc Đứng
đầu từng bộ phận là các tổ trưởng, các trưởng phòng, trực tiếp phân công quản
lý lao động và chịu trách nhiệm trực tiếp hoạt động của bộ phận mình
Hai phòng chức năng làm các công việc hành chính tổng hợp và tài chính
kế toán làm các công việc tham mưu cho giám đốc trong lĩnh vực quản lý sản
xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả
Phòng tài chính kế toán: tham mưu cho giám đốc về xây dưng kế hoạch
chi phí, doanh thu, mua bán tài sản cố địn thêm cho các bộ phận khác Chịu
trách nhiệm lưu giữ các thông tin về tài chính, kế toán, lập kế hoạch kinh doanh,
quản lý việc thực hiện các định mức vật tư, cấp phát và dự trữ vật tư
Phòng hành chính tổng hợp: Thu thập sử lý các loại thông tin khác, lập
báo cáo định kỳ, quản lý về lao động tiền lương, thưởng và các thủ tục về tổ
chức cán bộ, công việc hành chính
Các bộ phận khác như tổ lễ tân, các bộ phận cung cấp dịch vụ đóng vai
trò tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của khách sạn
Việc xây dựng bộ máy tổ chức hợp lý giúp cho hệ thống thông tin nội bộ
hoạt động ngày càng có hiệu quả đáp ứng nhu cầu 2 chiều của thông tin: thông
tin mệnh lệnh và thông tin phản hồi đạt kết quả tốt
Các quyết định của lãnh đạo đưa ra dựa trên những nghiên cứu đánh giá
tổng hợp từ các bộ phận sản xuất trực tiếp, nhất là các bộ phận có sự tiếp xúc
thường xuyên với khách hàng, kết hợp với những nghiên cứu về xu hướng thị
Trang 5trường từ bộ phận tham mưu của công ty hỗ trợ cho các khách sạn trực thuộc
Các quyết định mang tính bộ phận, tác nghiệp được giao trực tiếp cho các tổ
trưởng phụ trách trực tiếp, mỗi ngày báo cáo một lần để nhận chỉ đạo điều chỉnh
của giám đốc khách sạn Nguyên tắc này giúp cho các quyết định mang tính khả
thi cao, phát huy năng lực làm việc và năng lực tổ chức của cán bộ tránh chậm
trễ trong công việc
Về nguồn nhân lực tại khách sạn:
Dựa trên nhu cầu cụ thể của công việc, Ban giám đốc khách sạn tuyển
dụng đủ số người cần thiết theo các tiêu chuẩn về năng lực thông qua các đợt thi
tuyển tay nghề do công ty du lịch Hà nội tổ chức
Số lượng lao động hiện có tại khách sạn Hoà Bình là 189 người Trong đó:
Đại học, trên đại học: 34 người
Chuyên gia, chuyên viên: 13 người
Trung cấp: 12 người
Công nhân kỹ thuật: 130 người
Đối với khách sạn việc phân công công việc cũng là một cách thức đào tạo
tại chỗ rất hiệu quả và tiết kiệm Thông qua năng lực của từng người được đánh
giá khi tuyển dụng, lao động của khách sạn được phân bổ vào các bộ phận một
cách hợp lý, đồng thời giao trách nhiệm nhằm phát huy năng lực và phát hiện và
đánh giá chính xác năng lực cán bộ, nhân viên
Ngoại ngữ là một tiêu chuẩn đặt ra rất cao đối với nhân viên làm việc tại
khách sạn trong quá trình tuyển dụng Nhìn chung nhân viên làm việc tại khách
sạn đều có trình độ ngoại ngữ tương đối tốt, tuy nhiên số lượng ngoại ngữ mà
nhân viên khách sạn sử dụng vẫn còn ít Ngoại ngữ sử dụng thông dụng nhất là
tiếng Anh, còn tiếng Pháp thì chỉ có một số ít người có thể sử dụng thành thạo
để giao tiếp, các thứ tiếng khác thì chưa có người nào có thể giao tiếp được Do
đó hiện nay khách sạn khuyến khích, tăng cường nhân viên sử dụng thêm các
ngoại ngữ khác, ký kết các hợp đồng bên ngoài với những người có khả năng
giao tiếp các ngoại ngữ khác để có thể sử dụng khi cần thiết
Hàng năm khách sạn có chính sách cấp kinh phí đào tạo cho các cán bộ,
nhân viên tham gia các khoá học nghiệp vụ trong và ngoài nước Khách sạn luôn
tổ chức các cuộc thi tay nghề nhằm nâng cao tay nghề cho nhân viên và có
những giải thưởng cao nhằm khuyến khích động viên tinh thần cho nhân viên
Trang 6Đây là những biện pháp rất thiết thực để ngày càng nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực khách sạn để có thể đáp ứng tốt hơn chất lượng dịch vụ, một yêu cầu
luôn được đặt lên hàng đầu của khách sạn
Về cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn:
Khu tiền sảnh và lễ tân:
Đây là nơi tạo ấn tượng ban đầu cho khách sạn, là nơi khách tiếp xúc đầu
tiên với cơ sở vật chất của khách sạn Do đó việc thiết kế nội thất lắp đặt tại khu
vực đón tiếp là rất quan trọng
Khu vực tiền sảnh được có diện tích rộng 140m2, được bố trí khá gọn gàng
và thuận tiện, sang trọng mà ấm cúng, tạo phong cách riêng cho khách sạn
Quầy lễ tân nằm ngay bên phải cửa chính diện tích 8m2 phía trong bao gồm 1
máy vi tính và các phương tiện phục vụ cho việc đón khách, các thủ tục nhận trả
phòng như credit machine, một terminal để kiểm tra giá trị thẻ tín dụng, tất cả
đều được chú ý đến từng chi tiết nhỏ thuận tiện cho việc phục vụ khách
Ngoài ra trong khu vực sảnh lễ còn có:
Một quầy hàng bán hàng lưu niệm với các mặt hàng mỹ nghệ truyền thống
quần áo, mũ nón của dân tộc Việt nam, băng nhạc, tranh ảnh và nhiều tạp chí ấn
phẩm khác
Hai bộ salông sang trọng giúp khách nghỉ ngơi thư giãn trong thời gian
chờ đợi làm thủ tục tiếp khách, đọc báo
Quầy thu ngân được bố trí ngay tại quầy lễ tân với các máy móc hiện đại
để có thể cho phép khách thanh toán với 4 loại thẻ tín dụng phổ biến như VISA,
JCB, MASTER CARD, AMERICAN EXPRESS
Khu vực phục vụ lưu trú :
Cơ cấu phòng của khách sạn Hoà Bình như sau:
- 3 Phòng Suite (phòng thượng hạng) nằm ở vị trí đẹp nhất của khách sạn
có diện tích 38m2 gồm có buồng ngủ và phòng khách phù hợp với khách
Bussiness
- 20 Phòng Delux (phòng sang trọng ) có diện tích 32m2 đây là loại phòng
có giá cả và cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối phù hợp với khách du lịch
- 30 phòng superior (phòng cao cấp) có diện tích 28m2
Trang 7- Phòng Standar (phòng tiêu chuẩn) có diện tích 23m2 tiếp giáp với nhà
dân, phù hợp với các đối tượng khách có khả năng thanh toán vừa
Phòng khách sạn rộng, cửa sổ thoáng, trần cao, bài trí đẹp Phòng ngủ
được trang bị đầy đủ những tiện nghi, được lắp đặt, bố trí hài hoà tạo vẻ ấm
cúng, gần gũi gây tâm lý thoải mái cho khách
Tuy nhiên có thể thấy rằng khách sạn hiện nay đang phải đương đầu với
một thực tế là mặc dù các trang thiết bị trong khu vực buồng ngủ mới thay đổi
năm 1996 chưa hết thời gian khấu hao nhưng đã bắt đầu có xu hướng lỗi mốt
không còn mang tính hiện đại và thực sự phù hợp với nhu cầu cao cấp luôn thay
đổi của khách Đây chính là khó khăn, thách thức lớn đối với khách sạn trong
hoạt động kinh doanh cạnh tranh trên thị trường
Khu vực phục vụ ăn uống:
Khách sạn kinh doanh 3 nhà hàng và một phòng tiệc:
- Nhà hàng ăn Âu: nằm trên tầng 3 của khách sạn, có thể chứa 60 chỗ
ngồi Kết hợp với bar đêm, nhà hàng ăn Âu là một vị trí lý tưởng để khách có
thể ngắm phố phường Hà nội vào ban đêm
- Nhà hàng ăn á: có sức chứa lớn nhất phục vụ khoảng 210 người tiệc
ngồi và khoảng 300 người khi tổ chức tiệc đứng với hệ thống trang thiết bị hiện
đại, đồng bộ, sẵn sàng phục vụ khi khách có nhu cầu
- Nhà hàng Pháp: Việc kinh doanh được cho thuê nhưng nhân viên vẫn là
nhân viên của khách sạn
- Phòng tiệc nhỏ trên tầng 4
Trong mỗi nhà hàng, phòng ăn đều có một quầy bar nhỏ được lắp máy
điều hoà không khí, quạt gió, quạt treo tường cùng với hệ thống đèn chiếu sáng
rất đẹp Các nhà hàng và phòng ăn cũng có đầy đủ các thiết bị phục vụ hội nghị,
hội thảo để sử dụng khi cần thiết
- Bếp: được trang bị các thiết bị tiện nghi như tủ lạnh, các thiết bị làm
bếp, hệ thống bảo quản thức ăn, hệ thống nước nóng lạnh Khách lưu trú tại
khách sạn không phải trả tiền cho bữa ăn sáng của mình, còn các bữa khác luôn
sẵn sàng phục vụ khi khách có nhu cầu với nhiều món ăn như: ăn Âu, ăn á, đặc
sản, bằng các hình thức phục vụ phong phú: tiệc đứng, tiệc ngồi, ăn gọi món, ăn
thực đơn Ngoài ra khách sạn còn phục vụ khách vãng lai, nhận đặt tiệc phục vụ
khách ăn tại phòng, nhà riêng, cơ quan
Trang 8- Quầy pha chế: Đặt ngay trong quầy bar để có thể phối hợp nhịp nhàng ăn
khớp giữa phục vụ và ăn uống
Với điều kiện cơ sở vật chất như vậy, có thể nói rẳng khách sạn Hoà Bình
có đủ cơ sở phục vụ cho mọi nhu cầu ăn uống của mọi đối tượng khách Trên
thực tế để tăng doanh thu khách sạn đã đa dạng hoá các loại hình dịch vụ để
phục vụ khách Nhiều cuộc hội nghị, hội thảo lớn mang tầm cỡ quốc tế đã được
phục vụ tại đây như hội thảo về thương mại, hàng không
Khu vực dịch vụ bổ sung:
Khu vực dịch vụ bổ sung bao gồm:
- Khu Massage-sauna gồm 5 phòng với máy móc, thiết bị hiện đại, bắt đầu
kinh doanh từ năm 1998
- Một quầy bán hàng lưu niệm: tại đây bán các mặt hàng sơn mài, khảm
trai khá phong phú về chủng loại hàng hoá
- Phòng Karaoke
- Dịch vụ giặt là chuyên giặt các đồ vải của khách sạn và quần áo cho
khách ngủ tại khách sạn
- Ngoài ra còn một số văn phòng cho thuê, đem lại doanh thu cao
Nhìn chung tuy có sự đổi mới nhưng cơ sở vật chất của khu vực kinh
doanh dịch vụ bổ sung còn nghèo nàn, sự bố trí khu vực này cũng còn chưa
được hợp lý do đó gây ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của các loại hình dịch
vụ và ảnh hưởng lớn đến số lượng và chủng loại hiện có của khách sạn
2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của khách sạn Hoà Bình
2.1 Một số đánh giá về thuận lợi - khó khăn của khách sạn
a Thuận lợi:
Về vị trí địa lý:
Khách sạn Hoà Bình có một vị trí địa lý hết sức thuận lợi, khách sạn nằm
trên cả hai mặt phố chính hướng ra ngã tư Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, thuộc
trung tâm của thủ đô Hà nội Khách sạn trải dài trên một diện tích rộng 2500m2
đây thực sự là một vị trí lý tưởng cho kinh doanh khách sạn mà không phải
khách sạn nào cũng có
Về mức giá:
Trang 9Mức giá của khách sạn Hoà Bình phù hợp với thị trường khách hàng mục
tiêu và khách du lịch Đây cũng là lợi thế rất lớn của khách sạn trong việc cạnh
tranh về giá với các đối thủ khác
Về chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ:
Vấn đề chất lượng được khách sạn đặt lên hàng đầu, với đội ngũ nhân viên
có bề dầy kinh nghiệm và trình độ tay nghề cao luôn luôn cung cấp những dịch
vụ tốt nhất thoả mãn nhu cầu của khách Chất lượng phục vụ không ngừng được
nâng cao và cải tiến qua từng năm Năm 1998 khách sạn Hoà Bình vinh dự nhận
giải thưởng chất lượng Việt nam do Tổng cục du lịch cấp và xếp hạng
Về uy tín và danh tiếng của khách sạn:
Hoà Bình là khách sạn có truyền thống lâu đời về vẻ đẹp chất lượng dịch
vụ và nhất là chất lượng buồng ngủ của thủ đô Hà nội Tên tuổi của khách sạn
Hoà Bình rất có uy tín đối với các tour du lịch người châu Âu, nhất là Pháp
Khách sạn cũng là địa chỉ quen thuộc của lượng khách công vụ thường đến làm
việc tại Hà nội Số khách quay lại chiếm 18% tổng số khách hàng năm tại khách
sạn
Khách sạn Hoà Bình là thành viên của công ty du lịch Hà nội, một công ty
lớn của Hà nội và cả nước Hiện nay, công ty đang chú trọng phát triển hoạt
động kinh doanh lữ hành quốc tế, qua công ty khách sạn có thể phát triển thị
trường khách và thu được các thông tin cập nhật về khách hàng để đáp ứng đầy
đủ kịp thời các nhu cầu của khách về các loại hình dịch vụ
Cơ sở vật chất, kỹ thuật tương đối hiện đại cộng với Hoà Bình là một
trong số ít những khách sạn còn giữ được những nết kiến trúc cổ điển của Pháp
tạo nên sự lôi cuốn, hấp dẫn khách đặc biệt là khách hàng châu Âu
b Khó khăn:
Khách sạn được xây dựng từ năm 1926 Với hơn 70 năm hoạt động kinh
doanh, mặc dù thường xuyên được cải tạo nâng cấp nhưng cơ sở vật chất kỹ
thuật vẫn có nhiều hạn chế nhất định Đó là các vấn đề kết cấu xây dựng, kiến
trúc theo lối Pháp cổ không cho phép khách sạn có thể cải tạo nâng thêm tầng
cao như các khách sạn khác
Về trang thiết bị trong khách sạn:
Các trang thiết bị được thay thế từ năm 1996, nhưng trong tình trạng chắp
vá, trang thiết bị thay thế chưa thật đồng bộ Khách sạn cần phải thay thế các
Trang 10trang thiết bị hiện đại phù hợp với quy mô khách sạn phù hợp với những nhu
cầu, đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng quốc tế
Về dịch vụ:
Qui mô dịch vụ khách sạn còn hạn chế do mặt bằng hẹp, khách sạn vẫn
chưa có phòng tập thể thao, bể bơi các dịch vụ vui chơi, giải trí
Về lao động:
Khách sạn có đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm nhưng tuổi đời cao
không phù hợp với ngành khách sạn đặc biệt là ở bộ phận bàn, bar, lễ tân là bộ
phận thường xuyên tiếp xúc với khách lại có độ tuổi trung bình cao hơn so với
độ tuổi trung bình của khách sạn Cơ cấu phân bổ lao động còn chưa được hợp
lý tại một số bộ phận cũng là một khó khăn trong khâu phục vụ khách
Về khách:
Đối tượng chủ yếu của khách sạn là khách quốc tế nhưng chính sách thị
thực nhập cảnh của Việt nam còn nhiều phiền hà gây tâm lý không tốt đối với
khách và ảnh hưởng đến quyết định đi du lịch và đến làm ăn ở Việt nam của họ
Về vốn kinh doanh:
Vốn lưu động đủ đáp ứng được cho nhu cầu mua vào, bán ra, thay thế
những công cụ lao động phục vụ kinh doanh Còn vốn để đầu tư cho sửa chữa
thường xuyên được tính hết cho đầu vào theo kế hoạch đầu năm do công ty giao
Vốn cho đầu tư chiều sâu để xây dựng lại khách sạn cho đúng với tầm vóc thì
khách sạn không thể chủ động giải quyết được Vấn đề này thuộc cấp chủ quản
là công ty du lịch Hà nội
2.2 Diễn biến môi trường kinh doanh
Giai đoạn trước năm 2000: đây là giai đoạn khách sạn gặp phải nhiều
khó khăn do những nguyên nhân sau:
- ảnh hưởng kéo dài của khủng hoảng kinh tế và tài chính Châu á làm
giảm số lượng khách du lịch của công dân các nước này sang Việt Nam Cơ hội
làm ăn ở Việt Nam cũng không còn nhiều nên lượng khách công vụ cũng giảm
- Chính sách thả nổi ngành du lịch của Chính phủ chứng tỏ mong muốn
đầu tư vào ngành du lịch của nhà nước đã giảm, như vậy việc thu hút khách
hàng nước ngoài không mấy tiến triển
Trang 11- Tuy nhiên có đôi chút thuận lợi trong thời gian tới là do tình hình khó
khăn của ngành này nên một số lượng đáng kể các khách sạn cùng loại đã rời bỏ
thị trường, làm giảm bớt số lượng cạnh tranh
Giai đoạn từ năm 2000 - 2010: đây là giai đoạn có nhiều triển vọng, do
tình hình kinh tế khu vực đã ổn định, tạo cơ hội tham quan, nghỉ ngơi tăng lên
Đặc biệt, các cơ hội kinh doanh tăng lên thúc đẩy nhu cầu di chuyển và sử dụng
dịch vụ lưu trú
Đây cũng là thời gian mà sự hợp tác du lịch của các nước trong khu vực
đã đạt được những kết quả dầu tiên, dự án du lịch sông Mêcông và khu vực du
lịch Đông Nam á sẽ thu hút một khối lượng du khách quan trọng từ các khu vực
khác
Ngành du lịch Việt nam đã trưởng thành sau một thời gian dài sau một
thời gian dài và đã có uy tín trên thế giới Các phương tiện truyền thông hiện đại
trên phạm vi toàn cầu giúp cho việc thông tin du lịch ngày một dễ dàng hơn
Những khó khăn trong giai đoạn này: đi cùng với sự phát triển chung của
kinh tế khu vực, các đối thủ cạnh tranh cũng mạnh lên nhiều, do vậy, tính chất
của cạnh tranh cũng trở nên gay gắt Vì thế muốn tồn tại khách sạn cũng phải rất
tỉnh táo trong đầu tư, lựa chọn phương hướng kinh doanh
Đối với từng đối thủ phải phân tích một cách thật chi tiết, tỉ mỉ, thông qua
các biện pháp nghiệp vụ và các phương pháp lý luận phân tích chặt chẽ để tìm ra
những điểm mạnh, yếu của mình cũng như của các đối thủ cạnh tranh, trên cơ sở
đó đưa ra một chiến lược đúng đắn để thu được hiệu quả cao nhất trong kinh
doanh
2.3 Đối thủ cạnh tranh
Trong kinh doanh trên thị trường sự cạnh tranh là tất yếu, các đối thủ cạnh
tranh của khách sạn là các khách sạn tương đương (cùng hạng) như khách sạn
Dân Chủ, khách sạn Thuỷ tiên Các khách sạn cao cấp hơn cùng khu vực như
khách sạn Sofitel , Gouman ,Opera và các khách sạn tư nhân
Khách sạn đưa ra những mẫu biểu để phân tích đối thủ cạnh tranh trực
tiếp Biểu phân tích đối thủ cạnh tranh trực tiếp được xây dựng trên cơ sở các
chỉ tiêu so sánh về:
- Nguồn nhân lực
- Mối quan hệ với khách hàng và cơ quan chủ quản
Trang 12Thông qua hệ thống chỉ tiêu này, khách sạn có thể nắm rõ những điểm
mạnh, điểm yếu của bản thân và so sánh tương quan với các đối thủ để có thể
đưa ra những chiến lược kinh doanh hợp lý, nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình Đối với khách sạn Hoà Bình hiện nay đối thủ cạnh tranh trực tiếp đó là
các khách sạn cùng hạng trên địa bàn Hà nội như Dân Chủ, Thắng Lợi Các
khách sạn này có cùng điều kiện cơ sở vật chất, cùng hệ thống sản phẩm và cùng
tiêu các mục tiêu kinh doanh cũng như các thị trường khách của khách sạn Hoà
Bình nên việc cạnh tranh diễn ra rất gay gắt phụ thuộc vào chiến lược kinh
doanh mà khách sạn đặt ra
Ngoài ra khách sạn còn sử dụng một số tiêu thức và phương pháp khác để
đánh giá một cách toàn diện:
Bảng 1: Đánh giá theo phương pháp thang điểm và mức độ quan
trọng:
Yếu tố đánh giá
khách sạn
Điểm 5: Yếu tố được đánh giá xuất sắc
Điểm 4: Yếu tố được đánh giá là tốt
Trang 13Điểm 3: Chấp nhận yếu tố được đánh giá
Điểm 2: Yếu tố được đánh giá trung bình
Điểm 1: Yếu tố được đánh giá là kém
%: tầm quan trọng của từng yếu tố trong việc đánh giá chỉ tiêu trong tổng
số
2.4 Nguồn khách
Trước năm 1989 phương thức kinh doanh của khách sạn còn nghèo nàn,
đơn điệu, các dịch vụ bổ sung quá ít, khách sạn chỉ hoàn toàn thực hiện kế hoạch
do trên giao xuống một cách thụ động khách tới khách sạn chủ yếu là khách của
Đảng và nhà nước, khách do tổng cục du lịch Việt nam ký với các đoàn ngoại
giao và các phái đoàn cao cấp của nhà nước Thị trường khách được chia ra
khách XHCN và khách TBCN
Từ năm 1989 tới nay khách sạn không còn phân biệt khách XHCN hay
khách TBCN và ấn định giá đồng loạt đối với mọi đối tượng khách quốc tế Cơ
cấu khách của khách sạn cũng thay đổi nhiều đặc biệt từ năm 1990 khách các
nước công nghiệp phát triển tăng nhanh
Cơ cấu khách của khách sạn Hoà Bình:
Theo phạm vi lãnh thổ:
Đối tượng phục vụ của khách sạn Hoà Bình chủ yếu là khách quốc tế,
lượng khách này chiếm tỷ trọng rất cao trong khách sạn (chiếm khoảng 95%)
tổng số khách Có thể khẳng định rằng đây chính là thị trường chính, do đó
khách sạn luôn chú trọng và thực hiện các biện pháp, chính sách giá cả phù hợp
với chất lượng, khả năng thanh toán, thoả mãn các nhu cầu của khách nhằm thu
hút và thúc đẩy sự phát triển của thị trường khách quốc tế Bên cạnh đó lượng
khách nội địa trong những năm vừa qua phần lớn thường là khách công vụ từ
các tỉnh đặc biệt là khu vực thành phố Hồ Chí Minh ra công tác chiếm tỷ lệ thấp
trong tổng số, nhưng ngày càng có xu hướng tăng lên, đặc biệt kể từ năm 2000
(năm du lịch) đồng thời nền kinh tế đã đi vào ổn định sau khủng hoảng thì lượng
khách này sẽ có xu hướng tăng lên nhanh
Theo quốc tịch:
Nhìn chung, lượng khách của khách sạn có xu hướng gia tăng trong những
năm gần đây Lượng khách của khách sạn tập trung chủ yếu là khách Nhật và
khách Pháp Khách Nhật của khách sạn tương đối ổn định, chiếm tỷ lệ lớn nhất
Năm 1998 lượng khách Nhật của khách sạn giảm một phần do khủng hoảng tài
Trang 14chính tiền tệ diễn ra ở khu vực, lượng khách thương gia giảm xuống mặt khác do
khách sạn Nikko - khách sạn 5 sao liên doanh giữa Việt nam và Nhật Bản - được
đưa vào hoạt động nên đã thu hút một phần lượng khách Nhật Nhưng đến năm
1999,2000 lượng khách Nhật tăng lên rõ rệt (chủ yếu do lượng khách đi tour
tăng) chứng tỏ đây là dấu hiệu tốt trong việc cạnh tranh thu hút thị trường khách
này
Năm 1997 cuộc họp thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp diễn ra ở Việt
nam, lượng khách Pháp đến với khách sạn tăng lên nhưng do cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ và sự cạnh tranh gay gắt giữa các khách sạn cùng loại trên địa
bàn đối với thị trường khách Pháp làm cho lượng khách này có xu hướng giảm
hơn so với năm trước đó Do vậy khách sạn cần phải đẩy mạnh các biện pháp để
thu hút và giữ lại lượng khách quen của mình
Khách Việt kiều có xu hướng giảm mạnh so với những năm đầu
Theo mục đích chuyến đi:
Tỷ lệ các loại khách có sự biến động lớn nhưng nhìn chung khách công vụ
vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất, khách tham quan có xu hướng gia tăng trong những
năm tới đây là thị trường khách cần được chú trọng phát triển hơn
2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh
Kết quả kinh doanh của khách sạn Hoà Bình giai đoạn 1996-2000 được
Trang 15Lãi 3,555,315 2,418,570 1,167,233 822,000 938,705
Phân tích các chỉ tiêu hoạt động kinh doanh:
Năm 1992,1993 và các năm trở về trước đây, khách sạn luôn đạt công suất
buồng từ 80% trở lên, nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng Cuối năm 1993 đến đầu
năm 1996, khách sạn tiến hành sửa chữa lớn nên công suất buồng giảm, do
những điều kiện môi trường trong khách sạn khó khăn Bước sang năm 1997,
1998 thị trường khách bị cạnh tranh gay gắt, công suất buồng bình quân cả thành
phố chỉ đạt mức trên dưới 40% Tuy nhiên, nhờ có sự đầu tư thích đáng, kịp
thời, khách sạn đã nâng cấp được cơ sở hạ tầng, đạt tiêu chuẩn khách sạn 3 sao
của Tổng cục du lịch cấp, có khả năng cạnh tranh với các khách sạn 3 sao vừa
được xây dựng và cải tạo trên địa bàn Hà nội, đồng thời với những chính sách
phát triển hợp lý, tận dụng những thế mạnh sẵn có khách sạn thu hút được một
lượng khách lớn đến với mình nâng cao công suất buồng trong 2 năm 1999 và
2000 Khách sạn luôn giữ vững mức nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng và ngày càng
có mức nộp ngân sách cao hơn Chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao,
thu hút khách và chính sách tiết kiệm chi phí nâng cao lợi nhuận cho khách sạn
vượt qua giai đoạn khủng hoảng thừa buồng trên địa bàn Hà nội
- Về doanh thu: Có thể thấy công suất buồng năm 1996 rất thấp (từ 30
-35%) nhưng doanh thu đạt tương đuơng với những năm 1999, 2000 khi công
suất buồng được nâng lên cao (doanh thu khoảng trên dưới 11 tỷ) Nguyên nhân
: năm 1996 mặc dù công suất buồng thấp nhưng giá buồng được nâng lên khá
cao, đồng thời khách sạn thu được những khoản thu lớn từ dịch vụ trong đó lớn
nhất từ việc cho thuê văn phòng đẩy tổng doanh thu tăng lên Năm 1999, 2000
doanh thu từ cho thuê văn phòng giảm xuống, giá buồng hạ rất nhiều so với
những năm trước do sự cạnh tranh khốc liệt do đó mặc dù công suất được nâng
lên nhưng doanh thu giảm
- Về chi phí: Tỷ lệ chi phí chia cho doanh thu hàng năm không đồng đều
và có sự biến động, điều đó chứng tỏ rằng chi phí cố định (bất biến) trong cơ cấu
chi phí của khách sạn là khá lớn
- Về lợi nhuận: Tỷ lệ lãi trên doanh thu có xu hướng giảm qua các năm
Năm 1996 tỷ lệ lãi chiếm 32% doanh thu trong khi năm 2000 tỷ lệ lãi trên doanh
thu chỉ còn khoảng 8%
Trang 16- Mức nộp ngân sách: duy trì ở mức ổn định và ngày càng có xu hướng
tăng lên Tỷ lệ nộp ngân sách so với doanh thu năm 1996 là 11,23% đến năm
2000 tỷ lệ nộp ngân sách là 13,89% doanh thu Do đó ta có thể thấy rằng khách
sạn luôn rất cố gắng trong việc hoàn thành nghĩa vụ đối với nhà nước và cấp
trên
Trên đây là những nhận định tổng quát nhất về tình hình hoạt động kinh
doanh tại khách sạn, việc phân tích hoạt động kinh doanh của khách sạn qua các
năm được phân tích rất chi tiết theo các mặt, theo nhiều phương pháp khác nhau
Trên cơ sở nội dung đề tài chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu việc phân tích doanh thu
tại khách sạn Hoà Bình
II DOANH THU VÀ THỰC TRẠNG VIỆC PHÂN TÍCH DOANH THU TẠI KHÁCH SẠN
HOÀ BÌNH
1.Doanh thu khách sạn:
Do đặc điểm sản xuất kinh doanh đặc điểm về loại hình dịch vụ của khách
sạn để có thể thực tốt khâu phân tích về doanh thu, khách sạn sử dụng một số
khái niệm về doanh thu như sau:
a Tổng doanh thu:
Tổng doanh thu của khách sạn là toàn bộ số tiền (ngoại tệ hoặc tiền Việt)
thu được trong kỳ từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các loại hình dịch vụ của
khách sạn mang lại
b Cơ cấu doanh thu:
Doanh thu chia theo đối tượng phục vụ chủ yếu:
Mục đích của việc phân chia tổng doanh thu theo tiêu thức này để thấy rõ
cơ cấu doanh thu đối với từng loại khách trong tổng doanh thu là bao nhiêu
- Doanh thu phục vụ khách quốc tế:
Doanh thu phục vụ khách quốc tế là toàn bộ số tiền thu được do hoạt động
phục vụ cho các loại khách quốc tế bao gồm các loại khách: khách công vụ,
khách công vụ kết hợp du lịch, khách du lịch theo tour
- Doanh thu phục vụ khách trong nước:
Doanh thu phục vụ khách trong nước là toàn bộ số tiền thu được do phục
vụ người nước mình đến sử dụng các dịch vụ của khách sạn
Doanh thu chia theo loại hình hoạt động
Trang 17- Doanh thu dịch vụ:
+ Doanh thu buồng: là tổng số tiền thu được do cho thuê buồng, kể cả cho
thuê buồng, ngày dài mà có nhân viên đơn vị phục vụ
+ Doanh thu vận chuyển hành khách: là tổng số tiền do thực hiện các dịch
vụ chuyên chở khách đi lại và tham quan du lịch
+ Doanh thu từ các dịch vụ khác như giặt là, điện thoại
- Doanh thu bán hàng hoá:
Doanh thu bán hàng hoá là tổng số tiền thu được do bán hàng hoá các loại
cho khách du lịch có nhu cầu Doanh thu bán hàng hoá bao gồm doanh thu bán
hàng hoá ăn uống và doanh thu bán hàng hoá lưu niệm
Trong doanh thu bán hàng hoá thì doanh thu bán hàng hoá ăn uống là chủ
yếu và chiếm tỷ trọng cao nhất Doanh thu bán hàng ăn uống bao gồm sản phẩm
do đơn vị tự pha chế và hàng chuyển bán phục vụ bữa ăn, ăn món, uống trong
khi ăn và giải khát của khách hàng
2 Thực trạng phân tích doanh thu tại khách sạn Hoà Bình:
Căn cứ vào số liệu thực tế diễn ra hằng ngày tại khách sạn doanh thu được
tổng hợp một cách khá chi tiết để thực hiện báo cáo, và được kế toán phân tích
cụ thể theo từng tuần, tháng, quí,năm
a Các hướng phân tích:
Phân tích doanh thu ngoại tệ:
Đối với hoạt động kinh doanh của khách sạn chỉ tiêu doanh thu ngoại tệ là
một chỉ tiêu khá quan trọng Chỉ tiêu doanh thu ngoại tệ được phân tích thông
qua các đánh giá về:
- Đánh giá chung về thực hiện doanh thu ngoại tệ
- Đánh giá tình hình thực hiện doanh thu theo thời gian
- Đánh giá thực hiện doanh thu theo khối nước
Dựa trên cơ sở báo cáo kế toán khách sạn xây dựng các chỉ tiêu phân tích
sử dụng số liệu tháng, quý, năm trong các kỳ liên tiếp
Phân tích doanh thu buồng:
Doanh thu buồng bao gồm:
- Tiền thuê buồng qua đêm
Trang 18- Tiền thuê buồng ban ngày
- Tiền thuê các dịch vụ bổ sung của khách sạn
Tại khách sạn Hoà Bình tiền thuê buồng qua đêm chiếm tỷ trọng rất lớn
khoảng 95% từ doanh thu kinh doanh buồng
Phân tích doanh thu buồng thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu kế hoạch
cơ bản bao gồm công suất buồng, giường đưa vào sử dụng và kết quả kinh
doanh đạt được
Phân tích doanh thu bán hàng:
Kinh doanh ăn uống là một khâu hết sức quan trọng trong hoạt động kinh
doanh khách sạn Doanh thu bán hàng thể hiện mức độ đáp ứng các nhu cầu của
khách về ăn uống và mua sắm
Doanh thu bán hàng được phân tích thông qua việc đánh giá tổng quát
chung Sau đó đi vào xem xét các chỉ tiêu cơ bản về hoạt động bán hàng của
khách sạn:
- Doanh thu từ nhà hàng
- Doanh thu từ bán hàng hoá
b Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích doanh thu chủ yếu dựa trên cơ sở so sánh các chỉ
tiêu giữa các kỳ nghiên cứu Tuỳ thuộc vào hướng phân tích như trên mà người
ta sử dụng các chỉ tiêu khác nhau để phân tích theo các bảng như sau:
Bảng 3: Bảng phân tích doanh thu theo các năm của khách sạn
vị tính
Thực tế
kỳ trước
Kỳ này Thực hiện so với
Trang 19Và được chi tiết theo thời gian như sau:
Bảng 4: Bảng phân tích doanh thu theo các tháng, quí các năm
kỳ trước
Kỳ này Thực hiện so với
Trên cơ sở thực tế phân tích này khách sạn sẽ lập kế hoạch cho kỳ tới đối
với tổng doanh thu, thông qua các con số so sánh của kỳ này so với kỳ trước và
kế hoạch của kỳ này đồng thời dựa trên những đánh giá của chuyên gia và
những điều kiện khách quan bên ngoài để xem xét tình hình biến động của
doanh thu lập kế hoạch chi tiết cho kỳ sau
c Đánh giá:
Ưu điểm:
Phân tích thông qua bảng như trên cho phép ta có thể so sánh đánh giá
tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu theo các khoảng thời gian, đồng
thời tìm ra nguyên nhân của việc tăng, giảm doanh thu theo kế hoạch và thực
hiện
Doanh thu được phân tích rất chi tiết theo các chỉ tiêu, tập trung nhấn
mạnh đến bề rộng sự ảnh hưởng của các nhân tố tạo điều kiện cho việc nhận
Trang 20định các nguyên nhân và khái quát nhận định tình hình biến động các nhân tố
thông qua đó góp phần nâng cao khả năng đánh giá tình hình kinh doanh và
đánh giá doanh thu theo từng mặt hoạt động
Hạn chế :
Việc phân tích doanh thu tại khách sạn như hiện nay chỉ thích hợp với việc
lập kế hoạch trong từng kỳ liên tiếp nhau Do chỉ dựa trên số liệu thực tế, kế
hoạch của kỳ trước và kỳ này mà không dựa trên sự biến động doanh thu qua
nhiều năm phân tích nên không thể mang tính chất đại biểu trong thời gian dài
Nguồn số liệu ít cho nên việc nhận định về tình hình phát triển trong thời gian
tới theo một giai đoạn nào đó chỉ có thể mang tính chất định tính, khái quát
không có khả năng định lượng chi tiết hay nói một cách khác với sự phân tích
này thì khả năng dự đoán sự biến động của doanh thu trong tương lai không cao
đối với những kế hoạch dài hạn
Xét về bề sâu thì việc phân tích không có khả năng định lượng được vai
trò của các nhân tố trong doanh thu, đồng thời không cho phép xác định được sự
biến động các nhân tố sẽ gây ảnh hưởng như thế nào đối với doanh thu ở từng
nhân tố riêng lẻ và sự tác động tổng hợp của chúng trong sự biến động doanh
thu
Ta có thể thấy việc phân tích doanh thu tại khách sạn Hoà Bình còn gặp
rất nhiều những hạn chế cần khắc phục Việc xây dựng hoàn thiện phương pháp
phân tích doanh thu hợp lý, phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của
khách sạn đây là một vấn đề cần được xem xét
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG DOANH THU DU
LỊCH
I MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI PHÂN TÍCH VÀ DỰ ĐOÁN TÌNH HÌNH BIẾN
ĐỘNG CỦA DOANH THU DU LỊCH
Trang 211.Khái niệm, ý nghĩa và sự cần thiết của việc phân tích và dự đoán:
Phân tích và dự đoán thống kê là nêu ra một cách tổng hợp bản chất cụ
thể, tính quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội trong điều kiện
lịch sử nhất định qua biểu hiện bằng số lượng, tính toán mức độ trong tương lai
của hiện tượng nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý Nói cụ thể,
phân tích thống kê là xác định mức độ nêu lên sự biến động biểu hiện tính chất
và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ hiện tượng Phân tích thống kê phải lấy con
số thống kê làm tư liệu, lấy các phương pháp thống kê làm công cụ nghiên cứu
Còn dự đoán thống kê là nghiên cứu các tình huống có thể xẩy ra trong tương lai
của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế xã hội gắn với việc đề ra các nguyên tắc lập,
dự đoán và vận hành nó
Phân tích và dự đoán thống kê có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản
lý kinh tế Nhờ có lý luận và phương pháp luận phong phú mà thống kê có thể
vạch ra nguyên nhân của việc hoàn thiện kế hoạch và các quyết định quản lý;
phân tích ảnh hưởng các nhân tố đến việc sử dụng các nguồn lực; xác định các
mối liên hệ, các tính quy luật chung của hệ thống Và cuối cùng là xây dựng các
dự đoán khác nhau nhằm xác định các mục tiêu phát triển, các nguồn tiềm năng,
xây dựng các phương án để phục vụ cho việc ra quyết định quản lý Chức năng
phân tích và dự đoán thống kê ngày càng trở nên quan trọng hơn, khối lượng
công việc nhiều hơn và vai trò của thống kê trong bộ máy nhà nước ngày càng
nhiều hơn Phân tích và dự đoán thống kê là một thể thống nhất, cùng phục vụ
cho việc kế hoạch hoá và xây dựng các quyết định quản lý Do vậy trong nhiều
trường hợp nếu chỉ có phân tích thôi chưa đủ mà còn phải tiến hành nghiên cứu
trạng thái của đối tượng trong tương lai
Trong quá trình phân tích và dự đoán kinh tế, phương pháp tiếp cận hệ
thống đòi hỏi phải tiếp cận theo cả hai hướng: hướng phân tích và hướng tổng
hợp
Theo hướng phân tích, đối tượng nghiên cứu được tách ra thành nhiều yếu
tố cấu thành, các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của đối tượng cũng
được chia ra thành những nguyên nhân nhỏ hơn, nhằm tạo khả năng nghiên cứu
một cách sâu sắc và chi tiết đối tượng Do phân tích thành các nhân tố như trên
ta có thể khảo sát xem đâu là nhân tố trội nhất đến sự biến động của đối tượng
nghiên cứu Mức độ chi tiết của việc phân tích nhân tố phụ thuộc vào nhiệm vụ
phân tích thống kê và khả năng thực tế của sự phân tích nhân tố Không phải lúc
nào cũng phân tích một cách chi tiết, vì trong nhiều trường hợp điều đó có khả
năng dẫn đến việc làm nhiễu các quyết định quản lý
Trang 22Theo hướng tổng hợp có thể có một số cách làm khác nhau Người ta có
thể khảo sát sự biến động chung của cả đối tượng nghiên cứu, xây dựng các mô
hình biến động của chúng trên quy mô lớn hay một thời kỳ dài, nhằm phân tích
quy luật của chúng Cũng có thể nghiên cứu đối tượng trong mối quan hệ lẫn
nhau với một số nhân tố chủ yếu khác hay các hiện tượng và quá trình khác
Người ta có thể kết hợp nhiều nhân tố nhỏ thành nhóm các nhân tố ảnh hưởng
có cùng tính chất chung nào đó để khảo sát sự tác động theo các hướng chủ yếu
khác nhau Hoặc biến các nhân tố khác nhau và không có cùng độ đo thành các
nhân tố so sánh được
Khi phân tích thống kê đòi hỏi phải sử dụng kết hợp các phương pháp
khác nhau Như ta đã biết mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng, điều kiện
vận dụng riêng và lĩnh vực áp dụng riêng Các hiện tượng và quá trình kinh tế
ngày càng diễn ra một cách phức tạp hơn, do đó đòi hỏi phải biết sử dụng một
cách kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu chính của việc
nghiên cứu
Trong dự đoán thống kê, nguồn thông tin chủ yếu là thông tin thống kê
Ngoài ra còn sử dụng nguồn thông tin bổ sung bằng các nguồn khác như lấy ý
kiến khách hàng Yêu cầu của thông tin khi phân tích và dự đoán là chính xác,
đầy đủ, kịp thời và so sánh được Do chu trình quản lý ngày càng rút ngắn, yêu
cầu phải ra các quyết định thật nhanh và chính xác đòi hỏi thông tin phải cung
cấp kịp thời hơn phục vụ cho bộ máy phân tích và dự đoán làm cơ sở cho ra
quyết định quản lý Đặc biệt trong dự đoán, do bản thân cần phải hiệu chỉnh dự
đoán hiện đại đòi hỏi phải cung cấp thông tin mới nhất để mô hình dự đoán có
thể thích nghi với sự biến động thực tế, cho nên tính chất kịp thời của thông tin
càng trở nên quan trọng hơn
2 Sự cần thiết của việc phân tích và dự đoán thống kê doanh thu:
Phân tích thống kê doanh thu nhằm góp phần đánh giá một cách đầy đủ và
toàn diện hoạt động kinh doanh của khách sạn Nghiên cứu xu hướng phát triển,
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan đến doanh
thu khách sạn và cũng là ảnh hưởng đến hiệu quả làm cơ sở cho hoạch định
chiến lược kinh doanh lâu dài
Dự đoán doanh thu phải dựa trên sự phân tích toàn diện doanh thu Dự
đoán nhu cầu của khách nhằm mục đích xây dựng kế hoạch để đáp ứng nhu cầu
đó Các quyết định có tính chiến lược đều bắt nguồn từ các dự đoán ngắn hạn
cho khoảng thời gian từ 6 - 18 tháng Các dự đoán ngắn hạn là cơ sở, căn cứ
cho khách sạn lập kế hoạch hoạt động, chiến dịch quảng cáo xây dựng và hoàn
Trang 23thiện các cơ sở, loại hình dịch vụ thích hợp đáp ứng nhu cầu của khách Các
quyết định có tính chất chiến lược, kế hoạch mục tiêu tổng thể của khách sạn
được đưa ra dựa trên các kế hoạch dài hạn
Như vậy, vận dụng phương pháp phân tích và dự đoán là vấn đề hết sức
quan trọng đối với bất kỳ khách sạn nào khi nghiên cứu về tình hình hoạt động
kinh doanh của mình nhất là khi nghiên cứu về doanh thu
3 Yêu cầu trong phân tích và dự đoán thống kê:
Để đảm bảo tính đúng đắn, khách quan, phân tích và dự đoán thống kê
phải tuân theo một số yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: Phải tiến hành trên cơ sở phân tích lý luận kinh tế xã hội Các
hiện tượng có tính chất và xu hướng phát triển khác nhau, có thể tăng lên là tốt
nhưng có thẻ giảm đi là tốt Vì vậy thông qua phân tích lý luận ta có thể hiểu
được tính chất xu hướng của hiện tượng, trên cơ sở đó dùng con số và phương
pháp phân tích khẳng định tính chất cụ thể của nó
Thứ hai: Phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện và đặt chúng trong mối quan hệ
ràng buộc lẫn nhau
Sự tồn tại của hiện tượng không phải là kết quả tổng cộng giản đơn các
mặt của nó mà là các mặt liên kết với nhau, mặt này làm cơ sở cho mặt kia và
ngược lại, đồng thời chịu sự tác động lẫn nhau Do đó khi phân tích và dự đoán
thống kê phải sử dụng một loạt tài liệu, mỗi tài liệu phản ánh một khía cạnh của
hiện tượng nhằm lấy được thực chất của hiện tượng
Thứ ba: Đối với những hiện tượng có tính chất hình thức phát triển khác
nhau và ngay trong mỗi hiện tượng nhưng có thông tin ở các mức độ khác nhau,
nên phải áp dụng các phương pháp khác nhau
Mỗi phương pháp thống kê chỉ có ý nghĩa và tác dụng đối với một loại
hiện tượng Chọn phương pháp thích hợp là phải dựa vào yêu cầu và mục đích
phân tích và dự đoán, dựa vào số liệu thu thập, tác dụng của mỗi phương pháp
II PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG DOANH THU DU LỊCH:
1 Phân tích biến động doanh thu qua thời gian:
1.1.Phân tích biến động tổng doanh thu:
Phân tích đặc điểm của sự biến động:
Trang 24Để phân tích đặc điểm của sự biến động tổng doanh thu ta dựa vào các chỉ
tiêu phân tích dãy số thời gian
Dãy số thời gian:
Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếp theo
thứ tự thời gian
Mỗi dãy số được cấu tạo bởi hai thành phần thời gian và chỉ tiêu hiện
tượng được nghiên cứu Thời gian có thể là ngày, tuần, tháng, quý, năm Độ
dài giữa hai thời gian liền nhau gọi là khoảng cách thời gian Chỉ tiêu của hiện
tượng được nghiên cứu có thể là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân
Trị số của chỉ tiêu được gọi là mức độ của dãy số
Trong dãy số thời gian người ta có thể biểu diễn các chỉ tiêu trong từng
khoảng thời gian hay vào những thời điểm nhất định Dãy số thời gian được chia
làm hai loại:
- Dãy số thời kỳ: là dãy số thời gian phản ánh quy mô của hiện tượng
trong những thời gian nhất định Mỗi mức độ của dãy số thời kỳ là sự tích luỹ về
lượng qua thời gian, vì vậy độ dài khoảng cách thời gian ảnh hưởng trực tiếp
đến trị số của chỉ tiêu và có thể cộng các chỉ số của chỉ tiêu để phản ánh quy mô
của hiện tượng trong khoảng thời gian dài hơn
- Dãy số thời điểm: là dãy số thời gian phản ánh quy mô của hiện tượng
trong những thời điểm nhất định Mức độ của hiện tượng ở thời điểm sau thường
bao gồm toàn bộ hoặc một phần của hiện tượng ở thời điểm trước đó Do đó
việc cộng các trị số của chỉ tiêu không phản ánh quy mô của hiện tượng
Dãy số thời gian là phương pháp thống kê nghiên cứu đặc điểm sự biến
động của hiện tương qua thời gian Từ đó rút ra xu thế biến động chung và có
thể dự đoán sự phát triển trong tuơng lai
Để có thể dự đoán đúng sự phát triển của hiện tượng qua thời gian thì khi
xây dựng một dãy số thơì gian phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được giữa
các mức độ trong dãy số Cụ thể là: nội dung và phương pháp tính các chỉ tiêu
qua thời gian phải thống nhất; phạm vi tính toán qua thời gian của chỉ tiêu phải
nhất trí; khoảng cách thời gian trong dãy số nên bằng nhau nhất là đối với dãy số
thời kỳ Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều lý do khác nhau nên yêu cầu đó
thường bị vi phạm Để đảm bảo tính có thể so sánh được người ta phải tiến hành
chỉnh lý số liệu
Trang 25Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian:
- Mức độ trung bình theo thời gian: chỉ tiêu phản ánh mức độ đại biểu của
tất cả các mức độ theo thời gian
- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối: Chỉ tiêu phản ánh mức độ chênh lệch tuyệt
đối của chỉ tiêu giữa hai thời gian nghiên cứu
- Tốc độ phát triển: Tốc độ phát triển là số tương đối phản ánh tốc độ và
xu hướng phát triển qua thời gian
- Tốc độ tăng (hoặc giảm): Phản ánh mức độ của hiện tượng nghiên cứu
giữa hai thưòi gian đã tăng hoặc giảm bao nhiêu lần (hay bao nhiêu %) Đây là
chỉ tiêu nói lên nhịp độ tăng (hoặc giảm theo thời gian)
- Giá trị tuyệt đối của 1% tăng (giảm): Chỉ tiêu phản ánh cứ tăng (giảm)
1% của tốc độ tăng (giảm) liên hoàn thì tương ứng với một trị số tuyệt đối là bao
nhiêu
Trong phân tích doanh thu người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu phân
tích dãy số thời gian như sau:
- Mức độ trung bình theo thời gian:
Mức trung bình theo thời gian ứng dụng trong phân tích sự biến động
doanh thu được thể hiện thông qua chỉ tiêu tổng doanh thu bình quân Chỉ tiêu
này chủ yếu dựa vào dãy số thời kỳ
Công thức tính:
n
D n
D D
D D
n i
i n
∑
=
=+
++
= 1 2 1
Trong đó:
D: Tổng doanh thu bình quân
Di: Doanh thu từng năm
n: Số năm
Doanh thu bình quân của một thời kỳ (n năm) hoạt động kinh doanh là giá
trị mang tính đại biểu cho doanh thu trong kỳ mà chúng ta nghiên cứu
- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối:
Chỉ tiêu này được sử dụng phổ biến khi nghiên cứu sự biến động của tổng
doanh thu Nó giúp ta thấy được sự tăng giảm tuyệt đối của tổng doanh thu qua
Trang 26hai thời kỳ mà ta chọn để nghiên cứu Nếu doanh thu tăng lên thì trị số của chỉ
tiêu mang dấu dương (+) và ngược lại
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta sẽ tính toán lượng tăng giảm tuyệt
đối liên hoàn, định gốc hay bình quân
+ Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn(δi ):
Phản ánh mức độ tăng (hoặc giảm) tuyệt đối giữa hai thời gian liền nhau
yi : Doanh thu kỳ nghiên cứu
yi-1 : Doanh thu liền trước kỳ nghiên cứu
+ Lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc(∆i ):
Phản ánh mức độ tăng (giảm) tuyệt đối giữa kỳ nghiên cứu và kỳ nào đó
được chọn làm gốc cố định (thường lấy mức độ đầu)
yi : Doanh thu kỳ nghiên cứu
y1: Doanh thu kỳ gốc cố định
+ Mối quan hệ giữa 2 lượng tăng (giảm) tuyệt đối:
Giữa lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn và định gốc có quan hệ tổng
i
i = ∆
∑ δ (i = 1,2, ,n)
+ Lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân: là trung bình cộng của các
lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn
11
1
1 2
n
n n
n i i
δδ
- Tốc độ phát triển:
Chỉ tiêu tốc độ phát triển vận dụng nghiên cứu xu hướng phát triển của
tổng doanh thu Cũng như chỉ tiêu về lượng tăng giảm tuyệt đối, việc tính toán
Trang 27tốc độ phát triển liên hoàn, định gốc, bình quân sẽ phụ thuộc vào mục đích
nghiên cứu
+ Tốc độ phát triển liên hoàn ( t i ):
Phản ánh sự phát triển của hiện tượng giữa 2 thời gian liền nhau
y
y t
Trong đó:
yi : Doanh thu ở thời gian i
yi-1 : Doanh thu ở thời gian i-1
+ Tốc độ phát triển định gốc ( T i ):
Phản ánh sự phát triển của hiện tượng trong những khoảng thời gian dài;
thường lấy mức độ đầu làm gốc cố định
yi : Doanh thu tại thời gian thứ i
y1 : Doanh thu ở thời gian đầu tiên
+ Mối quan hệ giữa 2 loại tốc độ phát triển :
Tích các tốc độ phát triển liên hoàn bằng tốc độ phát triển định gốc
t2.t3.t4 tn = Tn
Π ti = T i (i = 2,3,4, ,n)
Thương của hai tốc độ phát triển định gốc liền nhau bằng tốc độ phát triển
liên hoàn giữa hai thời kỳ đó
i i
1 3
n
t t t t
Trang 28Khi sử dụng chỉ tiêu tốc độ phát triển bình quân, chỉ nên tính khi doanh
thu phát triển theo xu hướng nhất định (cùng tăng hoặc cùng giảm)
Phân tích xu thế biến động:
Các phương pháp phân tích xu thế biến động:
- Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian:
Mở rộng khoảng cách thời gian là ghép một số khoảng thời gian liền nhau
lại thành một khoảng thời gian dài hơn Phương pháp vận dụng khi một dãy số
có khoảng thời gian tương đối ngắn, có nhiều mức độ và chưa phản ánh được xu
hướng phát triển của hiện tượng
- Phương pháp dãy số bình quân trượt:
Số bình quân trượt là bình quân cộng của một nhóm nhất định các mức độ
trong dãy số Nó được tính bằng cách lần lượt loại dần các mức độ đồng thời
thêm dần các mức độ tiếp theo, sao cho số lượng các mức độ tham gia tính số
bình quân không đổi
- Phương pháp hồi quy:
Phương pháp hồi quy là phương pháp được sử dụng để biểu hiện xu
hướng phát triển cơ bản của hiện tượng giao động có nhiều ngẫu nhiên, mức độ
tăng giảm thất thường Nội dung phương pháp là người ta tìm một phương trình
hồi quy được xây dựng trên cơ sở dãy số thời gian gọi là hàm xu thế
- Phương pháp biểu hiện biến động thời vụ:
Biến động thời vụ là biến động mang tính lặp đi lặp lại trong từng thời
gian nhất định của từng năm Nguyên nhân gây ra sự biến động thời vụ là do ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên, tập quan sinh hoạt của dân cư Nội dung phương
pháp là thông qua số liệu của nhiều năm phân tích tính các chỉ số thời vụ nhằm
xác định tính chất và mức độ biến động thời vụ
Một số phương pháp ứng dụng trong phân tích doanh thu:
Sự biến động của doanh thu qua thời gian chịu sự tác động của nhiều nhân
tố Ngoài các nhân tố chủ yếu, cơ bản quyết định xu hướng biến động của doanh
thu (xu hướng được hiểu là chiều hướng biến đổi chung nào đó, một sự biến hoá
kéo dài theo thời gian và xác định tính quy luật về sự vận động của doanh thu
theo thời gian), còn có những nhân tố ngẫu nhiên làm cho doanh thu phát triển
Trang 29lệch ra khỏi xu hướng cơ bản Tác động của những nhân tố này theo hướng
ngược nhau và độ lớn không giống nhau
Việc xác định xu thế biến động cơ bản của doanh thu có ý nghĩa quan
trọng trong nghiên cứu chiến lược kinh doanh Vì vậy cần sử dụng một số
phương pháp thích hợp nhằm loại bỏ tác động của những nhân tố ngẫu nhiên để
nêu lên xu hướng và tính quy luật về sự biến động của doanh thu
- Phương pháp hồi quy:
yt: doanh thu lý thuyết
a0 an : là các tham số của phương trình hồi quy và thường được xác định
bằng phương pháp bình quân nhỏ nhất
Tức là: ∑ (y t − y t )2 = min
t: thứ tự thời gian
Để lựa chọn phương trình đúng đắn đòi hỏi phải dựa vào sự phân tích đặc
điểm biến động của doanh thu qua thời gian đồng thời kết hợp với một số
phương pháp khác
Một số dạng phương trình hồi quy thường gặp:
+ Phương trình đường thẳng:
t a a
y = 0 + 1.
Phương trình này được sử dụng khi lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối liên
hoàn xấp xỉ bằng nhau (sai phân bậc một xấp xỉ nhau)
Các tham số a0, a1 được xác định bằng phương pháp bình quân nhỏ nhất:
a0 ,a1 thoả mãn hệ phương trình sau:
1 0
t a a ty
t a na y
Trang 30+ Phương trình Parabol bậc 2:
2 2 1
0 a t a t a
Phương trình này được sử dụng khi các sai phân bậc hai (tức là sai phân
sai phân bậc một) sấp sỉ bằng nhau
Các tham số a0 ,a1,a2 được xác định bằng phương pháp bình quân nhỏ nhất
=
+ +
=
+ +
3 1
2 0 2
3 2
2 1 0
2 2 1
0
t a t a t a y t
t a t a t a ty
t a t a na y
+ Phương trình hàm mũ:
t
y = 0. 1
Phương trình được sử dụng khi các tốc độ phát triển liên hoàn xấp xỉ nhau
Các tham số a0, a1 thoả mãn hệ phương trình:
1 0
lg lg
lg
lg lg lg
t a t a t
t a a n a
- Phương pháp biểu hiện biến động thời vụ:
Nghiên cứu biến động thời vụ chỉ là một trong 3 thành phần của biến động
theo thời gian Mục đích của việc nghiên cứu biến động thời vụ của tổng doanh
thu khách sạn là để phát hiện ra quy luật về sự biến động của chỉ tiêu này, để
chủ động hơn trong công tác quản lý và có kế hoạch bố trí công việc thích hợp
Phương pháp thường dùng là để tính các chỉ số thời vụ
Nội dung phuơng pháp:
Tuỳ theo đặc điểm về sự biến động của hiện tượng theo thời gian người ta
có các phương pháp tính chỉ số biến động thời vụ khác nhau:
+ Trường hợp biến động thời vụ qua những thời gian nhất định của các
năm tương đối ổn định, không có hiện tượng tăng (hoặc giảm) rõ rệt , chỉ số thời
vụ được tính theo công thức:
Trang 31It : Chỉ số thời vụ của thời gian i
yt : Số trung bình các mức độ của thời gian cùng tên i
y0 : Số trung bình các mức độ trong dãy số
+ Trường hợp biến động thời vụ qua các năm có sự tăng giảm rõ rệt, chỉ
số thời vụ tính theo công thức:
n y
y I
yij : Mức độ thực tế của thời gian i qua năm j
yij : Mức độ tính toán ở thời gian i qua năm j
1.2 Phương pháp nghiên cứu biến động kết cấu
Nội dung của phương pháp là dựa vào số tương đối kết cấu để xác định tỷ
trọng của từng loại doanh thu trong tổng doanh thu
Doanh thu được phân tích theo một số hướng kết cấu chủ yếu sau đây:
Phân tích kết cấu theo đối tượng phục vụ chủ yếu:
Mục đích phân tích theo tiêu thức này nhằm thấy rõ cơ cấu doanh thu đối
với từng loại khách trong tổng doanh thu là bao nhiêu
- Doanh thu phục vụ khách quốc tế
- Doanh thu phục vụ khách trong nước
Hoặc có thể phân chia doanh thu theo mục đích chuyến đi của khách:
- Doanh thu từ khách công vụ
- Doanh thu từ khách du lịch
- Doanh thu từ khách đến với mục đích khác
Phân tích kết cấu theo loại hình hoạt động:
Trang 32Doanh thu được chia theo:
- Doanh thu dịch vụ
- Doanh thu bán hàng hoá
- Doanh thu khác
Từ các kết quả của phương pháp này mà ta có thể thấy được loại hình dịch
vụ nào được chú trọng đầu tư, loại hình nào không và từ đó cũng cho ta thấy xu
hướng vận động chung của các loại doanh thu Doanh thu từng loại dịch vụ
chiếm tỷ trọng là bao nhiêu trong tổng doanh thu và xu hướng biến động của
chúng ra sao
2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổng doanh thu
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng ta sử dụng phương pháp chỉ số (một
công cụ hữu hiệu của thống kê trong phân tích tình hình kinh tế - xã hội)
a Phương pháp chỉ số:
Chỉ số là số tương đối (đơn vị là lần, % ) biểu hiện quan hệ so sánh 2 mức
độ của hiện tượng
Đối tượng nghiên cứu của phương pháp chỉ số là những hiện tượng phức
tạp, gồm các phần tử, đơn vị có đặc điểm tính chất khác nhau mà người ta không
thể cộng trực tiếp để so sánh
Đặc điểm:
- Khi muốn so sánh các mức độ của hiện tượng phải chuyển các đơn vị,
phần tử, hiên tượng cá biệt có tính chất, đặc điểm khác nhau thành một dạng
đồng nhất có thể cộng trực tiếp chúng lại
- Khi có nhiều nhân tố cùng tham gia vào việc tính toán phải giả định chỉ
có một nhân tố thay đổi còn các nhân tố khác thì không đổi (gọi là quyền số)
nhằm loại trừ ảnh hưởng biến động của các nhân tố này tới kết quả so sánh
Khi ta nghiên cứu sự biến động của nhân tố số lượng, người ta thường cố
định nhân tố chất lượng ở kỳ gốc Còn khi nghiên cứu sự biến động của nhân tố
chất lượng thì người ta cố định nhân tố chất lượng ở kỳ gốc Còn khi nghiên cứu
sự biến động của nhân tố chất lượng thì người ta cố định nhân tố chất lượng ở kỳ
báo cáo Chỉ số có nhiều tác dụng khác nhau tuỳ theo từng loại Chỉ số được
dùng để phản ánh sự biến động của phần tử qua thời gian gọi là chỉ số thời gian;
Chỉ số phản ánh sự biến động của phần tử qua không gian gọi là chỉ số không
Trang 33gian; Chỉ số phản ánh nhiệm vụ kế hoạch gọi là chỉ số kế hoạch Ngoài ra chỉ số
còn được dùng để phân tích vai trò ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối
với sự biến động của toàn bộ hiện tượng
Phân loại:
Để phân loại người ta chỉ số, người ta thường căn cứ vào phạm vi tính
hoặc tính chất của chỉ tiêu mà chỉ số phản ánh
Căn cứ vào phạm vi:
Chỉ số đơn (chỉ số các thể): nêu lên sự biến động của từng đơn vị cá biệt
- Đối với chỉ tiêu giá cả :
p0 và p1 là giá cả một loại hàng hoá nào đó ở kỳ gốc và kỳ nghiên cứu
q0 và q1 : sản lượng một loại hàng hoá nào đó ở kỳ gốc và kỳ nghiên cứu
Chỉ số tổng hợp (chỉ số chung): là chỉ số phản ánh sự biến động của hiện
tượng phức tạp gồm nhiều đơn vị hoặc phần tử khác nhau
q p
I l p
0 1
Trong đó:
Ip: Chỉ số chung về giá cả
p1,p0: giá cả mỗi mặt hàng kỳ nghiên cứu và kỳ gốc
q: lượng hàng hoá tiêu thụ của mỗi mặt hàng được cố định ở một kỳ nào
đó đóng vai trò quyền số
Nếu chọn quyền số ở kỳ gốc, ta có chỉ số chung về giá cả:
Trang 340 0 0
0
0 1
q p
q p i q
p
q p
q p q
p
q p I
1 1
1 1 1
0
1 1
Nếu sự sai lệch giữa hai chỉ số trên là đáng kể thì dùng chỉ số Fisher:
∑ ∑
∑ ∑
=
1 0
1 1 0
0
0 1
q p
q p x q p
q p
I p + Chỉ số phát triển về lượng hàng hoá tiêu thụ:
∑
∑
=
p q
p q
I q
0 1
Trong đó:
Iq : chỉ số chung về kượng hàng hoá tiêu thụ
q1 , q0 : lượng hàng hoá tiêu thụ mỗi mặt hàng kỳ nghiên cứu và kỳ gốc
p: giá bán mỗimặt hàng được cố định ở kỳ nào đó được chọn làm quyền
0 0 0
0
1 0
q p
q p i q
p
q p
q p q
p
q p I
1 1
1 1 0
1
1 1
Nếu sự sai biệt giữa hai chỉ số trên là đáng kể thì ta sử dụng chỉ số Fisher:
1 1 0
0
0 1
q p
q p x q p
q p
I q
Trang 35) / (
B A B
B A A B
A p
q q p
q q p I
Trong đó:
pA : Giá bán lẻ của địa phương A
pB : Giá bán lẻ của địa phượng B
qA : lượng hàng hoá đã tiêu thu ở địa phương A
qB : lượng hàng hoá đã tiêu thu ở địa phương B
+ Chỉ số không gian về sản lượng :
A q
q p
q p
I ( / )
Trong đó :
qA ,qB : Sản lượng từng loại của địa phương A và B
p : Giá cố định hoặc giá bình quân của hai địa phương A và B
B A
B B A A
q q
q p q p p
+
+
=
Căn cứ vào tính chất của các chỉ tiêu:
Chỉ số chỉ tiêu chất lượng: phản ánh sự biến động của chỉ tiêu chất lượng
Chỉ số chỉ tiêu khối lượng: phản ánh sự biến động của một chỉ tiêu khối
lượng nào đó
Việc phân chia này được áp dụng đối với một số chỉ tiêu thông thường
trong từng mối quan hệ cụ thể
Hệ thống chỉ số:
Hệ thống chỉ số là một đẳng thức liên hệ giữa các chỉ số phản ánh mối
quan hệ giữa các chỉ tiêu mà ta nghiên cứu
Phân loại hệ thống chỉ số:
Trang 36- Hệ thống chỉ số của các số kế hoạch: biểu hiện mối liên hệ giữa các chỉ
số kế hoạch với chỉ số phát triển, được dùng để phân tích trình độ hoàn thành kế
hoạch của một doanh nghiệp, của một vùng lãnh thổ
Chỉ số phát triển = Chỉ số hoàn thành kế hoạch x Chỉ số kế hoạch
1 1 0
0
1 1
q p
q p x q p
q p q
p
q
k k
Với k là mức kế hoạch
- Hệ thống chỉ số phát triển với quyền số bất biến: Tích các chỉ số liên
hoàn bằng chỉ số định gốc
- Hệ thống chỉ số của các chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau
Hệ thống chỉ số tổng hợp bao gồm các chỉ số nhân tố (hay còn gọi là chỉ
số bộ phận) và chỉ số toàn bộ Mỗi chỉ số nhân tố nêu lên sự biến động của một
nhân tố cấu thành hiện tượng và ảnh hưởng của biến động này đối với biến động
của cả hiện tượng Chỉ số toàn bộ nêu lên sự biến động của toàn bộ hiện tượng
Tác dụng của hệ thống chỉ số :
Phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng trong quá trình biến động, xác
định vai trò ảnh hưởng biến động của mỗi nhân tố đối với sự biến động của hiện
tượng gồm nhiều nhân tố, tìm ra nguyên nhân chủ yếu
Trong nhiều trường hợp, thông qua hệ thống chỉ số có thể tính toán các chỉ
số chưa biết khi biết các chỉ số khác trong hệ thống
b Vận dụng phương pháp chỉ số phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổng
- Số ngày lưu trú bình quân một khách(n) = Số ngày khách / số khách
- Số khách trong kỳ(k) : Tổng số lượt khách đến và tiêu dùng sản phẩm
trong kỳ nghiên cứu
Ta có mối liên hệ:
Trang 37D = T.N.K
Từ mối liên hệ này ta có thể xây dựng hệ thống chỉ số gồm 3 nhân tố như
sau:
0 0 0
1 0 0 1 0 0
1 1 0 1 1 0
1 1 1 0 0 0
1 1 1 0
1
k n t
k n t x k n t
k n t x k n t
k n t k n t
k n t D
D
=
=Lượng tăng (giảm) tuyệt đối:
D1- D0 = (t1-t0)n1k1 + (n1-n0)t0k1 + (k1-k0)t0n0
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu bình quân bằng hệ
thống chỉ số cấu thành khả biến, cố định và kết cấu:
1 0
1
1 0 1
1 1
0
0 0 1
1 1
0
1
f
f x f
f x x
f
f x f
f x
f
f x f
f x x
x
- Khi nghiên cứu biến động doanh thu bình quân một khách:
0
1, x
x : Doanh thu bình quân chung một khách kỳ gốc và kỳ nghiên cứu
x1, x0 : Doanh thu bình quân một khách của từng loại khách kỳ gốc và
kỳ nghiên cứu
f1, f0 : Số khách của từng loại khách kỳ gốc và kỳ nghiên cứu
- Khi nghiên cứu biến động doanh thu bình quân một ngày khách
f1, f0 : Số ngày khách của từng loại khách
- Khi nghiên cứu biến động số ngàylưu trú bình quân của từng loại khách
0
1, x
x : Số ngày lưu trú bình quân chung một khách
x1, x0 : Số ngày lưu trú bình quân một khách của từng loại khách
f1, f0 : Số khách của từng loại khách
Trang 38b 2 Phân tích ảnh hưởng các nhân tố đến từng bộ phận của doanh thu:
Phân tích doanh thu dịch vụ buồng:
Kinh doanh cho thuê buồng là sản phẩm kinh doanh chính của khách sạn
Doanh thu buồng được xác định thông qua công suất sử dụng buồng và giá của
các loại buồng mà khách sạn có
- Các nhân tố ảnh hưởng:
Doanh thu khách sạn
Doanh thu bình quân một ngày buồng (a) =
Tổng số ngày buồng trong
kỳ
Số ngày buồng trong kỳ
Số ngày buồng bình quân một khách (b) =
SỐ KHÁCH
Số khách (c)
Phương trình liên hệ: D = a.b.c
Hệ thống chỉ số phân tích 3 nhân tố được xây dựng thông mối liên hệ về
doanh thu buồng:
0 0 0
1 0 0 1 0 0
1 1 0 1 1 0
1 1 1 0 0 0
1 1 1 0
1
c b a
c b a x c b a
c b a x c b a
c b a c b a
c b a D
D
=
=
- Phân tích biến động của chỉ tiêu doanh thu thông qua chỉ tiêu doanh thu
bình quân một ngày buồng (đơn giá bình quân một ngày buồng)
Ký hiệu:
p: Đơn giá , giá thuê một ngày buồng cho từng loại buồng
q: Số ngày buồng mà khách thuê theo từng loại buồng
p : Đơn giá bình quân một ngày buồng
Trang 39Thông qua phương trình ta có hệ thống chỉ số biểu diễn sự biến động
doanh thu bình quân một ngày buồng:
1 0
1
1 0 1
1 1
0
0 0 1
1 1
0 1
q
q p q
q p x q
q p q
q p
q
q p q
q p
p p
Mặt khác thông qua giá bình quân một ngày buồng ta có thể biểu diễn mỗi
quan hệ giữa ∑pq(doanh thu kinh doanh dịch vụ buồng) và p:
1 0 1 0
1 1 0
1
q p
q p x q p
q p D D
Lượng tăng giảm tuỵệt đối:
1 0 1 0
1 01 1
01
1 1 0
1
q p
q p x q p
q p
x q p
q p D
q
q p
p : giá bình quân mọt ngày buồng kỳ nghiên cứu tính theo
giá kỳ gốc
Phân tích doanh thu ăn uống:
Ăn uống là nhu cầu không thể thiếu được đối với khách du lịch, do đó
hoạt động kinh doanh dịchvụ ăn uống cũng là hoạt động quan trọng của công ty
du lịch Dịch vụ ăn uống bao gồm ăn theo bữa, ăn theo món, giải khát
Trang 40Các nhân tố ảnh hưởng:
- Doanh thu bình quân một bữa của khách
- Số bữa bình quân một khách
- Số khách
Hệ thống chỉ số đựoc biểu diễn thông qua phương trình liên hệ:
D = D.thu bình quân một bữa khách x Số bữa bình quân một khách xSố khách
b 3 Phân tích ảnh hưởng các nhân tố về sử dụng lao động:
Các nhân tố chính về lao động ảnh hưởng đến doanh thu là
- Năng suất lao động
D: Doanh thu khách sạn trong kỳ nghiên cứu (tháng, quý, năm)
W : Năng suất lao động bình quân của một lao động doanh thu du lịch
T: Số lao động của khách sạn trong kỳ nghiên cứu tương ứng
áp dụng phương pháp chỉ số để phân tích ảnh hưởng của sự biến động
năng suất lao động và tổng số lao động đến tổng doanh thu du lịch
1 0 1 0
1 1 0 0
1 1 0
1
T W
T W x T W
T W T W
T W D D
Lượng tăng (giảm) tuyệt đối
0 0 1
1 0 1 0
Ta có hệ thống chỉ số tổng hợp