Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2005
Trang 1Lời mở đầu
Sau Đại hội Đảng VI (1986), nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế
tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Cùng với
sự đổi mới đó cơ cấu nền kinh tế nước ta cũng đã có sự chuyển mình mạnh mẽ,
chuyển đổi để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Từ nền kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế có tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng
lên,còn tỉ trọng của nông nghiệp giảm xuống.Sự chuyển đổi đó đã tạo ra cơ hội
phát triển mới cho đất nước nói chung và cho từng ngành nói riêng
Ngành du lịch là một ngành kinh tế xã hội dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ
nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động
khác như: Công vụ, chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học Trong những
năm gần đây thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, ngành du lịch đã được
đầu tư phát triển rất mạnh và có những bước tiến đáng kể, thể hiện qua: Số
lượng khách du lịch quốc tế và trong nước tăng nhanh qua từng năm, đóng góp
của ngành du lịch vào ngân sách nhà nước ngày càng tăng, đặc biệt là chúng ta
đã thu được một nguồn ngoại tệ lớn thông qua việc xuất khẩu tại chỗ các sản
phẩm hang hoá và dịch vụ, thu hút được rất nhiều lao động ở các trình độ khác
nhau, tạo điều kiện cho nhiều ngành kinh tế khác phát triển Có được những
thành công đó phải kể đến việc chúng ta đã thu hút được một số lượng khách du
lịch rất lớn, đặc biệt là khách du lịch quốc tế bởi có được nhiều khách du lịch thì
mới kéo theo sự phát triển của các dịch vụ du lịch khác như: Lữ hành, cơ sở lưu
trú, hàng hoá lưu niệm…
Do đó việc phân tích thống kê lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
là rất cần thiết để có thể đánh giá được quy mô, hiệu quả hoạt động của ngành
cũng như có cơ sở để lập kế hoạch cho sự phát triển của ngành du lịch trong
những năm tiếp theo
Ngoài phần mục đích và kết luận, nội dung luận văn gồm:
Chương I Khách du lịch và các chỉ tiêu thống kê khách du lịch
Trang 2Chương II Các phương pháp thống kê nghiên cứu lượng khách du lịch
Chương III Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2005
Trang 3Chương I : Khách du lịch và các chỉ tiêu thống kê khách du lịch
I Khái niệm về khách du lịch và nghiên cứu thống kê khách du lịch
1 Khái niệm về khách du lịch
Đã có rất nhiều các khái niệm khác nhau về khách du lịch, định nghĩa đầu
tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp, theo đó khách du lịch là người
thực hiện một cuộc hành trình lớn “Faire le grand tour” Cuộc hành trình lớn là
cuộc hành trình từ Paris đến Đông nam nước Pháp
Năm 1800 tại Anh, khách du lịch cũng được định nghĩa là người thực hiện
cuộc hành trình lớn trên đất liền xuyên nước Anh
Đầu thế kỷ XX, Iozef Stander- nhà kinh tế học người Áo cho rằng: Khách
du lịch là khách xa hoa ở lại theo ý thích, ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả
mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế
Giáo sư Khadginicolov của Bungari đã đưa ra khái niệm về khách du lịch:
Là người hành trình tự nguyện với những mục đích hoà bình, trong cuộc hành
trình của mình họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc
nhiều lần nơi cư trú của mình
Một người Anh khác là Morval lại cho rằng: Khách du lịch là người đến
đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, những nguyên nhân đó khác
biệt với những nguyên nhân phát sinh để cư trú thường xuyên và để làm thương
nghiệp, ở đó họ phải tiêu tiền kiếm ra ở nơi khác
Nhà kinh tế học người Anh Odgilvi khẳng định: Một người được coi là
khách du lịch phải thoả mãn hai điều kiện: Phải xa nhà với khoảng thời gian
dưới một năm và ở nơi đó phải tiêu những khoản tiền đã tiết kiệm ở nơi khác
Tuy nhiên tất cả các định nghĩa trên đều chưa đầy đủ, mang tính phiến
diện, còn mang nặng tính chất phản ánh sự phát triển của du lịch đương thời,
hạn chế nội dung thực của khái niệm “khách du lịch” Để có thể tìm hiểu đúng
và đầy đủ hơn chúng ta cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về khách du
Trang 4lịch được đưa ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hoặc của các tổ chức quốc tế
có quan tâm đến các vấn đề về du lịch
1.1 Định nghĩa của các tổ chức quốc tế về khách du lịch
a Khách du lịch quốc tế:
* Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia- league of nations
Năm 1937, Liên hiệp các quốc gia đã đưa ra khái niệm về khách du lịch
nước ngoài- Foreign tourist là:Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư
trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ
Theo định nghĩa này ta thấy:
- Những người được coi là khách du lịch là:
Những người khởi hành để giải trí và vì những nguyên nhân gia đình, sức
khoẻ
Những người khởi hành để gặp gỡ, trao đổi các mối quan hệ về khoa học,
ngoại giao, tôn giáo, thể thao…
Những người khởi hành vì mục đích kinh doanh
Những người cập bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển, thậm
chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian dưới 24 giờ
- Những người không được coi là khách du lịch:
Những người đến lao động, kinh doanh có hoặc không có hợp đồng
Những người đến với mục đích định cư
Sinh viên hay những người đến học ở các trường
Những người ở biên giới sang làm việc
Những người đi qua một nước mà không dừng lại mặc dù cuộc hành trình
đi qua nước đó có thể hơn 24 giờ
* Định nghĩa của Liên hiệp quốc tế của các tổ chức chính thức về du lịch-
IUOTO (international union of official travel organizations- sau này là WTO)
Năm 1950 IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế có hai điểm
khác với định nghĩa trên,thể hiện ở:
Sinh viên và những người đến học ở các trường cũng được coi là khách
du lịch
Trang 5Và những người quá cảnh không được coi là khách du lịch trong cả hai
trường hợp: Hoặc là họ hành trình qua một nước không dừng lại trong thời gian
vượt qua 24 giờ, hoặc là họ hành trình trong khoảng thời gian dưới 24 giờ và có
dừng lại nhưng không với mục đích du lịch
* Định nghĩa về khách du lịch được chấp nhận tại Hội nghị ở Roma
(Italia) do LHQ tổ chức về các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế (1963)
Khách du lịch quốc tế (international tourist) là người lưu lại tạm thời ở
nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất
là 24 giờ (hoặc sử dụng ít nhất một buổi tối trọ)
Động cơ khởi hành của họ là:
Khởi hành để giải trí, chữa bệnh, học tập, với mục đích thể thao hoặc tôn
giáo
Đi du lịch lien quan đến làm ăn, thăm gia đình, bạn bè, đi du lịch để tham
gia các Hội nghị, đại hội
Với khái niệm trên, khách du lịch quốc tế gồm những người sau:
Người nước ngoài, không sống ở nước đến thăm và đi theo các động cơ
đã nêu trên
Công dân của một nước sống cư trú thường xuyên ở nước ngoài về thăm
quê hương
Nhân viên của các tổ lái (máy bay, tàu hoả, ôtô, tàu thuỷ) đến thăm, nghỉ
ở nước khác và sử dụng phương tiện cư trú Ở đây kể cả những người không
phải là nhân viên của các hang giao thông vận tải mà là những lái xe tải, xe ca tư
nhân
Những người sau không được coi là khách du lịch quốc tế:
Những người ra nước ngoài để tìm kiếm việc làm hoặc làm ăn theo hoặc
Trang 6Những người tha phương cầu thực
Các nhà ngoại giao
Nhân viên các đại sứ quán, lãnh sự quán và các lực lượng bảo an
Năm 1968 Uỷ ban thống kê của LHQ-United nation statistical
commission đã công nhận định nghĩa đó
* Năm 1989 tại hội nghị quốc tế về du lịch ở Hà Lan đã đưa ra khái niệm
về khách du lịch quốc tế như sau:
Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác với mục
đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít hơn 3
tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời
gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình
Điểm đặc biệt nhất của định nghĩa này là quy định về thời gian của
chuyến đi du lịch đối với khách du lịch quốc tế (<3 tháng)
b Khách du lịch trong nước:
Tiểu ban về các vấn đề kinh tế xã hội trực thuộc Liên hiệp quốc cho rằng:
Khách du lịch nội địa-Domestic tourist là công dân của một nước (không
kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường
xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêm với mọi
mục đích trừ mục đích hoạt động để được trả thù lao tại nơi đến
Sau khi nghiên cứu các định nghĩa trên ta thấy rằng chúng đều có một số
điểm chung sau:
- Khi đề cập đến khách du lịch luôn có 3 yếu tố:
+Động cơ khởi hành: Tham quan, nghỉ dưỡng, thăm thân kết hợp kinh
doanh trừ động cơ kiếm tiền
+Yếu tố thời gian
+Những đối tượng được liệt kê là khách du lịch và không là khách du
lịch
- Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên
của mình, ở đây tiêu chí quốc tịch không quan trọng mà tiêu chí quan trọng là
nơi cư trú thường xuyên)
Trang 7- Khách du lịch có thể khởi hành mọi mục đích khác nhau, loại trừ mục
đích lao động để kiếm tiền ở nơi đến
Những đối tượng sau không được coi là khách du lịch:
+Những người đến để làm việc có hoặc không có hợp đồng lao động
+Những người đi học
+Những người di cư tị nạn
+Những ngươi làm việc tại đại sứ quán, lãnh sự quán
+Những người làm việc thuộc lực lượng bảo an cuả LHQ và một số đối
tượng khác
- Thời gian lưu lại nơi đến ít nhất la 24 giờ (hoặc có sử dụng ít nhất một
tối trọ) nhưng không được quá 1 năm
1.2 Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam
Được quy định tại điều 20, chương IV của pháp lệnh du lịch Việt Nam 1999
a Khách du lịch quốc tế:
Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt
Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra
nước ngoài du lịch
Trên giác độ thống kê, thống kê du lịch định nghĩa rằng:
Khách du lịch quốc tế là một khách đi du lịch tới một đất nước không phải
là đất nước mà cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian ít nhất là một ngày
đêm nhưng không vượt quá một năm và mục đích chính của chuyến đi không
phải là để hoạt động mục đích kiếm tiền trong phạm vi đất nước tới thăm
b Khách du lịch trong nước:
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Còn thống kê du lịch thì cho rằng:
Khách du lịch trong nước là một khách cư trú ở một đất nước đi du lịch
tới một địa phương trong nước đó nhưng ngoài môi trường thường xuyên của họ
trong thời gian ít nhất là một ngày đêm nhưng không vượt quá 6 tháng và mục
Trang 8đích chính của chuyến đi không phải là để hoạt động thực hiện kiếm tiền trong
phạm vi địa phương tới thăm
Trước tình hình có nhiều khái niệm của các nước và các tổ chức về du
lịch trên thế giới, tổ chức du lịch thế giới đã đưa ra những thuật ngữ mang tính
chất chung để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thống kê du lịch quốc tế,
giúp các nước có thế dễ dàng trao đổi thông tin và kinh nghiệm với nhau trong
lĩnh vực du lịch
Để phục vụ mục đích thống kê du lịch, nghị quyết của Hội nghị quốc tế
về thống kê du lịch họp ở Ottawa- Canada từ 24-28/6/1991 đã được đại hội đồng
của tổ chức du lịch thế giới WTO thông qua kỳ họp thứ 9 tại Buenos
Aires-Achentina từ 30/9 đến 4/10/1991 đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế
như sau:
Khách du lịch quốc tế là một người khách đi du lịch tới một đất nước
không phải là đất nước mà họ cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian ít
nhất là một ngày đêm nhưng không vượt quá một năm và mục đích chính của
chuyến đi không phải để thực hiện hoạt động kiếm tiền trong phạm vi đất nước
tới thăm
Ngày 4/3/1993, theo đề nghị của tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hội
đồng thống kê Liên hiệp quốc (United nations statistical commission) đã công
nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch:
- Khách du lịch quốc tế (international tourist) gồm:
+ Khách du lịch quốc tế đến (inbound tourist): Bao gồm những người từ
nước ngoài đến du lịch một quốc gia
+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (outbound tourist): Gồm những
người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài
- Khách du lịch trong nước (internal tourist): Gồm những người là công
dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của
quốc gia đó đi du lịch trong nước
- Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Bao gồm khách du lịch trong
nước và khách du lịch quốc tế đến
Trang 9- Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong nước
và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài
2 Nghiên cứu thống kê khách du lịch
2.1 Ý nghĩa của việc thống kê khách du lịch
Việc nghiên cứu thống kê khách du lịch có một ý nghĩa vô cùng quan
trọng bởi:
Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch là những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá
kết quả hoạt động của từng đơn vị kinh doanh du lịch cũng như của toàn ngành
du lịch.Thông qua các chỉ tiêu thống kê khách du lịch còn có thể nghiên cứu quy
mô của thị trường du lịch
Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch là cơ sở để tính các chỉ tiêu phân tích
khác, phản ánh đặc trưng về hoạt động du lịch; ví dụ như: các chỉ tiêu đặc trưng
về lưu trú, chỉ tiêu sản phẩm dịch vụ…
Các thông tin phân tích dự báo đối với chỉ tiêu thống kê khách du lịch là
cơ sở để lập kế hoạch cho những chỉ tiêu quan trọng khác trong lĩnh vực dịch
vụ; ví dụ: Lập kế hoạch về nhu cầu lưu trú, kế hoạch đầu tư cho các phương tiện
giao thông vận tải du lịch, hệ thống các công trình phục vụ các hoạt động giải
tri, bổ trợ…
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thống kê khách du lịch
Cần xác định đúng, đủ kết quả hoạt động của đơn vị kinh doanh du lịch và
của toàn ngành về số lượng và kết cấu khách du lịch, về doanh thu của hoạt
động du lịch trong từng thời kỳ nhất định
Phân tích đặc điểm xu hướng và quy luật biến động của số lượng khách
du lịch, căn cứ vào đó để xác định mô hình thích hợp dự đoán quy mô và kết cấu
khách du lịch trong tương lai nhằm cung cấp thông tin cho công tác lập kế hoạch
kinh doanh du lịch
Trang 10II Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch
1 Một vài nét về việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
1.1 Chỉ tiêu thống kê
Chỉ tiêu thống kê phản ánh lượng gắn với chất của các mặt, các tính chất
cơ bản của hiện tượng số lớn trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể Tính
chất của các hiện tượng cá biệt được khái quát hoá trong chỉ tiêu thống kê
Vì vậy chỉ tiêu thống kê phản ánh những mối quan hệ chung của tất cả các
đơn vị hoặc nhóm đơn vị tổng thể
Mỗi một chỉ tiêu thống kê đều gồm có 2 phần: Khái niệm và mức độ
- Khái niệm: Nói về định nghĩa và giới hạn về thuộc tính, số lượng, thời
gian của hiện tượng
- Mức độ: Có thể được biểu hiện bằng các loại thang đo khác nhau, phản
ánh quy mô hoặc cường độ của hiện tượng
Có 2 loại chỉ tiêu thống kê: Chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu khối lượng
- Chỉ tiêu chất lượng: Biểu hiện các tính chất, trình độ phổ biến, các
mối quan hệ của tổng thể.Tuy nhiên có một số chỉ tiêu chất lượng không thể
biểu hiện được bằng các con số trực tiếp, chỉ dừng lại ở các khái niệm và phải
biểu hiện một cách gián tiếp thông qua các chỉ tiêu khác
- Chỉ tiêu khối lượng: Biểu hiện quy mô của tổng thể
1.2 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê là một khâu rất quan trọng trong mô
hình nghiên cứu thống kê Đối với những tiêu thức số lượng và chất lượng đơn
giản của hiện tượng ta có thể có được ngay các chỉ tiêu thống kê và có sự mô tả
trực tiếp hiện tượng nghiên cứu.Còn với những tiêu thức thuộc tính phức tạp
hoặc trừu tượng cần phải trải qua các bước cụ thể hoá dần dần mới đi đến các
chỉ tiêu thống kê; ví dụ: Sự tự tin của con người, trình độ thành thạo của lao
động…Những tiêu thức thuộc tính phức tạp hoặc trừu tượng trước hết được
phản ánh bằng các khái niệm cơ bản, sau đó khái niệm cơ bản này được chia
Trang 11nhỏ thành các khái niệm thành phần, mỗi khái niệm thành phần lại được chia
nhở thành những khái niệm nhỏ hơn cho đến khi chúng trở thành các chỉ tiêu
đơn giản Quá trình đó gọi là thao tác hoá khái niệm hoặc thực hành hoá khái
niệm
Để phản ánh chính xác các hiện tượng mà thống kê nghiên cứu cần phải
xây dựng một hệ thống chỉ tiêu với các nguyên tắc sau:
-Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Hiện tượng càng phức tạp, nhấtlà các hiện tượng trừu tượng, số lượng
chỉ tiêu cần nhiều hơn so với các hiện tượng đơn giản
- Để thu thập thông tin, chỉ cần điều tra các chỉ tiêu sẵn có ở cơ sở, nhưng
cần hình dung trước số chỉ tiêu sẽ phải có nhằm phục vụ cho việc áp dụng các
phương pháp phân tích, dự đoán sẽ dung ở giai đoạn sau
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đúng, đủ nhưng phải hết sức tiết kiệm chi phí
2 Các chỉ tiêu thống kê khách du lịch
2.1 Số lượng khách du lịch: (K)
-Nội dung của chỉ tiêu:
Số lượng khách du lịch là tổng số lượt khách đến và tiêu dung các sản
phẩm dịch vụ du lịch trong kỳ nghiên cứu
- Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ
Chúng ta không tổng hợp dữ liệu từ báo cáo khách du lịch quốc tế của các
doanh nghiệp vì nều như vậy sẽ xảy ra tính trùng Để khắc phục vấn đề tình
trùng, chỉ tiêu này được xác định theo phạm vi lãnh thổ dựa trên cơ sở dữ liệu
thống kê tại cửa khẩu Theo phương pháp đó, số khách du lịch quốc tế là tổng số
lượt khách đến tại các cửa khẩu hang không, đường bộ, đường biển theo mục
đích du lịch Nguồn dữ liệu được tổng hợp từ cục quản lí xuất nhập cảnh)
Trang 12+Phạm vi từng đơn vị kinh doanh du lịch:
Số khách du lịch quốc tế là tổng số khách đến từ các quốc gia khác mà
doanh nghiệp phục vụ trong kỳ Nguồn dữ liệu được thu thập từ báo các đăng ký
khách (xác định theo từng ngành và tổng hợp theo tháng, quý, năm)
* Số lượng khách du lịch trong nước:
+Phạm vi toàn ngành:
Số khách du lịch trong nước được xác định theo dữ liệu tổng hợp từ các
doanh nghiệp, kết hợp với kết quả điều tra chọn mẫu để xác định hệ số tính
trùng
Số khách du lịch trong nước= Tổng số khách du lịch trong nước của các
doanh nghiệp du lịch x hệ số tính trùng
+Phạm vi từng đơn vị kinh doanh du lịch:
Số khách du lịch trong nước là tổng số lượt khách cư trú trong nước đến
và tiêu dung các sản phẩm dịch vụ du lịch của doanh nghiệp trong kỳ
Nguồn số liệu được tổng hợp từ báo cáo của doanh nghiệp
- Ý nghĩa:
Thống kê lượng khách du lịch quốc tế cho ta biết được tình hình hoạt
động của ngành du lịch, biết được khả năng thu hút của từng điểm du lịch nói
riêng và toàn ngành du lịch nói chung Kết quả thu thập được có tầm quan trọng
trong việc vạch ra kế hoạch hoạt động cụ thể cho ngành
2.2 Số ngày khách du lịch: (N)
- Nội dung của chỉ tiêu:
Là số cộng dồn toàn bộ ngày du lịch của toàn bộ khách du lịch trong kỳ
Khi tính chỉ tiêu này ít xảy ra vấn đề tính trùng, chỉ tiêu này không có ảnh
hưởng lớn đến việc đánh giá kết quả hoạt động du lịch của toàn ngành
Trang 13+Phạm vi từng doanh nghiệp:
Số ngày khách du lịch là tổng số ngày khách cộng dồn mà doanh nghiệp
phục vụ trong kỳ.Nguồn dữ liệu được tổng hợp từ báo cáo đăng ký khách theo 2
chỉ tiêu: Quy mô đoàn khách (K) và độ dài lưu trú (N)
+Phạm vi toàn ngành:
Số ngày khách du lịch là tổng cộng số ngày khách của các đơn vị kinh
doanh du lịch qua các báo cáo thống kê định kỳ
- Ý nghĩa:
Chỉ tiêu số ngày khách du lịch ngoài việc phản ánh kết quả hoạt động của
đơn vị kinh doanh du lịch còn có tác dụng trong việc lập kế hoạch và tiếp thị vì
nó chỉ rõ cần nhiều hay ít các phương tiện phục vụ cho công cộng, chỗ đậu xe,
nhu cầu về sân chơi, bãi tắm, các khu vui chơi giải trí…Hơn nữa, có số liệu về
ngày khách để hoạch định tầm cỡ của khách sạn hoặc mở mang xây dựng và sửa
chữa các cơ sở vật chất
- Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ
Đơn vị tính là ngày- khách
2.3 Độ dài lưu trú:(n)
- Nội dung của chỉ tiêu:
Độ dài lưu trú là số ngày lưu trú bình quân một khách
Trong trường hợp tổng thể khách được chia theo các bộ phận khách, có
thể căn cứ vào nguồn khách, mục đích chuyến đi…để tính độ dài lưu trú bình
quân chung:
Trang 14N n
Là chỉ tiêu phản ánh đặc trưng về lưu trú của khách du lịch, có thể được
sử dụng để so sánh về kết quả hoạt động du lịch giữa các doanh nghiệp du lịch,
địa phương và vùng du lịch
2.4 Nhóm chỉ tiêu thống kê kết cấu khách du lịch:
Tổng số lượng khách du lịch là một tổng thể phức tạp và đa dạng vì mỗi
người khách du lich có sở thích, nhu cầu và thói quen tiêu dùng sản phẩm hàng
hoá, dịch vụ khác nhau Do đó cần phải phân chia số lượng khách du lịch thành
từng nhóm khác nhau để có thể thực hiện tốt công việc nghiên cứu thị trường,
lập kế hoạch ở cả cấp tổng cục và các công ty du lịch
Thông thường người ta chia khách du lịch theo các dạng sau:
* Cơ cấu khách du lịch theo nguồn khách:
Phương pháp này chia tổng số khách du lịch theo:
Khách du lịch quốc tế chia theo quốc tịch và chia theo khu vực
Khách du lịch trong nước được chia theo khu vực (ở nước ta có 7 khu
vực)
Ý nghĩa:
Phân chia số lượng khách du lịch theo phương pháp này giúp tạo cơ sở
cho việc lập kế hoạch phục vụ, đáp ứng nhu cầu của các nhóm đối tượng khách
Trang 15có đặc trưng tâm lí, thói quen tiêu dùng các sản phẩm dịch vụ hàng hoá khác
Mục đích chuyến đi và nhu câu du lịch có mối quan hệ hết sức chặt chẽ
với nhau, do đó nghiên cứu cơ cấu khách du lịch theo mục đích chuyến đi là một
việc hết sức quan trọng
Trên thế giới, khách du lịch theo mục đích chuyến đi thường gồm:Khách
đi du lịch với mục đích vui chơi giải trí, đi công việc, đi thăm bạn bè và đi với
mục đích khác Còn ở Việt Nam thì thường phân chia khách du lịch theo mục
đích chuyến đi thành 3 nhóm: Du lịch thuần tuý (vui chơi, giải trí, thăm thân…),
du lịch kết hợp với nghề nghiệp (hội họp, kinh doanh…), du lịch với mục đích
khác (đi du lịch kết hợp với chữa bệnh, quá cảnh…)
Ý nghĩa:
Phân loại khách du lịch theo phương pháp này là cơ sở để cung cấp các
sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của các nhóm đối tượng khách gắn với
những mục đích du lịch khác nhau
* Cơ cấu khách du lịch theo nghề nghiệp:
Nhóm khách cao cấp của Chính phủ: Nhóm này có nhu cầu cao về sản
phẩm dịch vụ, lưu trú, ăn uống
Nhóm các nhà quản lí: Có nhu cầu cao về dịch vụ bổ sung, đặc biệt là hệ
thống thông tin
Nhóm khách du lịch là các thương gia, các nhà nghiên cứu khoa học, nhà
báo, kiến trúc sư: Thường khai thác trực tiếp các yếu tố tài nguyên thiên nhiên
Các nghề nghiệp khác như nhân viên, người lao động trực tiếp thì chủ yếu
là đáp ứng các yêu cầu cơ bản
Trang 16Nghề nghiệp có liên quan mật thiết với trình độ và thu nhập, do đó những
người có nghề nghiệp khác nhau thường có xu hướng về nhu cầu du lịch khác
nhau
* Cơ cấu khách du lịch theo độ dài thời gian du lịch:
Tuỳ theo sở thích, điều kiện của mỗi người mà thời gian du lịch của mỗi
loại khách là khác nhau, người ta thường chia thời gian du lịch thành các nhóm
- Từ 181-365 ngày (đối với khách du lịch quốc tế)
Chỉ tiêu này chỉ tính cho lượt khách, không tính cho ngày khách.Thông
qua chỉ tiêu này chúng ta có thể biết được các điều kiện cơ sở vật chất có thể đáp
ứng được yêu cầu của khách du lịch, đồng thời nó còn thể hiện kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch Kết hợp độ dài thời gian du lịch với
mục đích chuyến đi, với nguồn khách có thể đánh giá đặc trưng của từng bộ
phận khách khác nhau
* Cơ cấu khách du lịch theo độ tuổi:
Ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ hình thành nhu cầu, sở thích du lịch khác
nhau
Nhóm dưới 17 tuổi thì đặc trưng cơ bản là du lịch phụ thuộc gia đinh
Nhóm tuổi từ 18-25 có đặc trưng là mức thu nhập chưa cao nhưng chủ
động trong du lịch và thường du lịch theo đoàn, dễ bỏ qua khiếm khuyết vế điều
kiện lưu trú, di chuyển, nhưng có nhu cầu cao với các dịch vụ giải trí
Nhóm từ 26-45 tuổi có thu nhập ổn định hơn, thường du lịch theo gia
đình, có đòi hỏi yêu cầu ăn, ở, phương tiện đi lại với chất lượng cao
Trang 17Nhóm tuổi từ 46-60 và trên 60 tuổi có mức thu nhập cao, có nhu cầu cao
về sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh, không khí trong lành, yên tĩnh
Khi nghiên cứu cơ cấu của khách du lịch người ta thường kết hợp tiêu
thức tuổi và nghề nghiệp với tiêu thức giới tính để có thể nghiên cứu sâu hơn vì
giữa nam và nữ có những nhu cầu khác nhau về du lịch
* Cơ cấu khách du lịch theo phương tiện đi lại:
Để xác định được lượng khách du lịch quốc tế hay trong nước chúng ta
cần tìm hiểu phương tiện của họ đi đến là gì.Hiện nay phương tiện đi lại thường
được phân thành: Đường không, đường bộ, đường thuỷ
Khách quốc tế đến chủ yếu đi bằng đường hàng không, còn khách du lịch
trong nước chủ yếu đi bằng các phương tiện đường bộ như ô tô
*Cơ cấu khách du lịch theo hành vi hiện thực:
(chính là thói quen tiêu dùng)
Thông qua hành vi hiện thực ta có thể biết được nhu cầu của khách du
lịch theo 4 tiêu thức sau:
-Cơ cấu khách đến lần đầu hoặc đến lại: Nghiên cứu cơ câú khách này để
biết xem sức hấp dẫn của điểm du lịch đối với khách du lịch
-Cơ cấu khách theo các kiểu lưu trú: Qua cơ cấu khách theo các kiểu lưu
trú có thể biết được bao nhiêu khách ở khách sạn, bao nhiêu khách ở nhà nghỉ
để từ đó có những phương án thích hợp để xây dựng cơ sở vật chất cho ngành
du lịch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách
-Cơ cấu khách theo phương tiện vận chuyển
-Cơ cấu khách biết đến sản phẩm du lịch theo các phương tiện quảng cáo
khác nhau
* Cơ cấu khách theo đặc tính tinh thần:
-Cơ cấu khách du lịch cá nhân hay tập thể: Khách đi du lịch cá nhân hay
tập thể có những nhu cầu khác nhau
-Cơ cấu khách du lịch theo quyết định của bản thân hay phụ thuộc vào
người khác: Khách đi du lịch theo quyết định của bản thân có thể tự chọn cho
Trang 18mình những loại hình dịch vụ cho phù hợp, còn khách đi du lịch tập thể thì phải
theo quyết định của tập thể, không thể tuỳ ý mình được
Trên đây là một số tiêu thức cơ bản để nghiên cứu cơ cấu khách du lịch,
trong đó khi nghiên cứu theo hai tiêu thức hành vi hiện thực và đặc tính tinh
thần là khó thu thập thông tin, tốn kém, khi tổng kết thông tin đòi hỏi người tổng
hợp phải là người có trình độ cao tầm hiểu biết lớn nhưng lại thường chỉ là theo
kinh nghiệm hay ý kiến chủ quan của người tổng hợp.Còn lại các tiêu thức khác
khi nghiên cứu thì dễ dàng thu thập được thông tin và các thông tin này tương
đối chính xác vì nó tuân theo một logic riêng nên có thể kiểm tra được, do đó
các tiêu thức này được sử dụng một cách thường xuyên trong thống kê du lịch
Chương II Các phương pháp thống kê nghiên cứu lượng khách
du lịch
Trong ngành du lịch số lượng khách du lịch có một vai trò đặc biệt quan
trọng bởi nó có ảnh hưởng lớn đến quy mô, kết quả hoạt động của ngành.Do đó
việc tiến hành thống kê nghiên cứu lượng khách du lịch có ý nghĩa rất lớn
Thông qua đó chúng ta có thể thấy được tình hình hoạt động và dự đoán
tình hình phát triển của các doanh nghiệp du lịch nói riêng và cả ngành du lịch
trong tương lai
Sau đây là một số phương pháp thống kê thường được sử dụng trong
nghiên cứu thống kê lượng khách du lịch:
I Phương pháp số tương đối và số tuyệt đối
1 Số tuyệt đối
* Khái niệm số tuyệt đối
Số tuyệt đối trong thống kê biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng
nghiên cứu trong thời gian và địa điểm cụ thể Số tuyệt đối trong thống kê biểu
hiện số đơn vị trong một tổng thể hoặc trị số của một chỉ tiêu khối lượng nào đó
Trang 19Trong thống kê lượng khách du lịch, số tuyệt đối thường dùng để biểu
hiện số lượng khách, số ngày khách
* Số tuyệt đối có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Số tuyệt đối trong thống kê thường bao hàm nội dung kinh tế-
xã hội trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Thứ hai: Số tuyệt đối trong thống kê không phải tuỳ ý lựa chọn mà phải
qua điều tra và tổng hợp chính xác mới có được Ví dụ: Muốn có được số lượng
khách du lịch quốc tế của toàn ngành thì phải tổng hợp đầy đủ và chính xác qua
các cửa khẩu hải quan, nhưng nếu tổng hợp số ngày khách của toàn ngành thì
phải cộng dồn các số ngày khách có trước đó với nhau
* Tác dụng của số tuyệt đối:
Thông qua số tuyệt đối ta có thể đánh giá được tình hình thực tế một cách
chính xác nhất
Số tuyệt đối còn là căn cứ để tính toán các chỉ tiêu thống kê và là cơ sở để
tiến hành các phương pháp phân tích thống kê trong giai đoạn sau
Các loại số tuyệt đối trong thống kê:
- Số tuyệt đối thời kỳ: Phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng trong
độ dài thời gian nhất định
Số tuyệt đối thời kỳ có sự tích luỹ về lượng qua thời gian vì vậy có thể
cộng các số tuyệt đối thời kỳ thuộc cùng một chỉ tiêu ở các thời gian khác nhau
để có số tuyệt đối của thời kỳ dài hơn
- Số tuyệt đối thời điểm: Phản ánh quy mô, khối lượng của hiện tượng ở
những thời điểm nhất định
Do số tuyệt đối thời điểm không có sự tích luỹ về lượng qua thời gian nên
không thể cộng các số tuyệt đối thời điểm ở các thời điểm với nhau được
Trong nghiên cứu lượng khách du lịch người ta thường dùng số tuyệt đối
thời kỳ để có thể nghiên cứu trong thời kỳ dài hơn
Trang 202 Số tương đối trong thống kê
2.1 Khái niệm chung về số tương đối
* Khái niệm về số tương đối:
Số tương đối trong thống kê biểu hiện quan hệ so sánh giữa 2 mức độ của
hiện tượng nghiên cứu
- So sánh 2 mức độ cùng loại nhưng khác nhau về thời gian
- So sánh 2 mức độ cùng loại nhưng khác nhau về không gian
- So sánh 2 mức độ khác nhau nhưng có mối liên hệ với nhau
Số tương đối trong thống kê là một trong những chỉ tiêu phân tích thống
kê,qua số tương đối để biểu hiện tình hình thực tế trong trường hợp cần giữ bí
mật số tuyệt đối
* Đặc điểm của số tương đối:
Số tương đối không trực tiếp thu thập được qua điều tra mà là kết quả có
được dựa trên số tuyệt đối đã có.Các loại số tương đối thường sử dụng trong
phân tích thống kê lượng khách du lịch:
Trong thống kê nói chung thường sử dụng một sô loại số tương đối sau:
Số tương đối động thái
Số tương đối kế hoạch
Số tương đối thực hiện kế hoạch
Số tương đối kết cấu
Số tương đối cường độ
Số tương đối không gian
2.2 Các loại số tương đối thường dùng trong thống kê khách du lịch
- Số tương đối động thái: Được dùng để tính chỉ số phát triển về biến
động của khách du lịch theo các tiêu thức khác nhau: theo quốc tịch, theo mục
đích chuyến đi, theo phương tiện đi đến… theo thời gian
- Số tương đối kết cấu: Dùng để xác định và phân tích biến động cơ cấu
khách du lịch theo các tiêu thức khác nhau: theo quốc tịch, theo mục đích
chuyến đi, theo phương tiện đi đến…trong một tổng thể
Trang 21y
y
d = i
Trong đó: y i:Số lượng khách du lịch, số ngày khách du lịch theo quốc
tịch, theo mục đích chuyến đi, theo phương tiện đi đến…
y: Tổng số lượng khách du lịch, tổng số ngày khách du lịch
- Số tương đối cường độ: Trong nghiên cứu khách du lịch được dùng để
biểu hiện trình độ phổ biến của các chỉ tiêu như: độ dài du lịch bình quân một
khách, số ngày lưu trú bình quân một khách…
Khi phân tích chúng ta nên sử dụng kết hợp giữa số tuyệt đối và số tương
đối vì số tương đối được tính ra từ số tuyệt đối, các số tương đối khác nhau tuỳ
thuộc vào gốc so sánh tuyệt đối khác nhau và ý nghĩa của số tương đối còn phụ
thuộc vào trị số tuyệt đối mà nó phản ánh Khi vận dụng số tương đối và số tuyệt
đối phải xét đến đặc điểm của hiện tượng để đưa ra kết luận cho chính xác
II Dãy số thời gian
Muốn nghiên cứu được số lượng khách du lịch đạt hiệu quả cao thì việc
sử dụng các công cụ thống kê là hết sức cần thiết, đặc biệt là phương pháp dãy
số thời gian Từ số liệu thực tê, qua việc sử dụng dãy số thời gian cho phép
chúng ta tiến hành tính toán các chỉ tiêu, phân tích, tìm ra các quy luật, kết luận
về số lượng khách du lịch ở hiện tại và dự đoán cho tương lai
1 Khái niệm chung về dãy số thời gian
1.1 Khái niệm và tác dụng của dãy số thời gian:
- Khái niệm:
Dãy số thời gian là một dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê được sắp xếp
theo thứ tự thời gian
- Kết cấu của dãy số thời gian: Gồm 2 thành phần:
+ Thời gian: Có thể là ngày, tuần, tháng, quý, năm; độ dài giữa 2 khoảng
thời gian liền nhau được gọi là khoảng cách thời gian
+ Chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu: Gồm tên chỉ tiêu và trị số của chỉ
tiêu.Các trị số được gọi là các mức độ của dãy số thời gian; các mức độ này có
thể là số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân
Trang 22- Tác dụng của dãy số thời gian:
Cho phép thống kê nghiên cứu các đặc điểm của sự biến động của hiện
tượng qua thời gian và vạch rõ xu hướng và tính quy luật của sự phát triển của
hiện tượng
- Phân loại dãy số thời gian:
+ Căn cứ vào đặc điểm của hiện tượng qua thời gian:
* Dãy số thời kỳ: Biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng trong từng
khoảng thời gian nhất định (với dãy số tuyệt đối) Ví dụ : Dãy số về số lượng
khách du lịch, dãy số về số ngày khách du lịch
* Dãy số thời điểm: Biểu hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng nghiên
cứu tại mỗi thời điểm nhất định
+ Căn cứ vào các loại chỉ tiêu:
* Dãy số chỉ tiêu tuyệt đối: Là dãy số mà các mức độ của nó là số tuyệt
đối ) Ví dụ : Dãy số về số lượng khách du lịch, dãy số về số ngày khách du
lịch
* Dãy số tương đối: Là dãy số mà các mức độ của nó là số tương đối như
dãy số về tỷ trọng khách du lịch của từng nước trong tổng số khách du lịch quốc
tế đến Việt Nam
* Dãy số bình quân: Là dãy số mà các mức độ của nó là số bình quân
1.2 Yêu cầu khi xây dựng một dãy số thời gian
Khi xây dựng một dãy số thời gian cần phải đảm bảo tính chất có thể so
sánh được giữa các mức độ trong dãy số:
Phải thống nhất về mặt nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu qua thời
gian
Thống nhất về phạm vi tổng thể nghiên cứu
Các khoảng cách thời gian trong dãy số nên bằng nhau, nhất là đối với
dãy số thời kỳ thì phải bằng nhau
2.Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian
Trang 23Để nêu lên đặc điểm biến động của số lượng khách du lịch theo thời gian
ta cần tính các chỉ tiêu sau đây:
2.1 Mức độ trung bình theo thời gian
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đại biểu của tất cả các mức độ trong dãy số
hoặc phản ánh mức độ điển hình trong cả một thời kỳ
Cách tính:
- Đối với dãy số thời kỳ:
+ Với dãy số tuyệt đối:
n
y n
y y
y
y
n i
i n
∑
=
= + + +
Trong đó:
i
y :Số lượng khách du lịch trong từng năm (i=1 ,n)
y: Số lượng khách du lịch trung bình trong n năm
n: Số năm
+Với dãy số tương đối:
Phải căn cứ vào từng chỉ tiêu cụ thể để có cách tính thích hợp theo
phương pháp số bình quân; Chẳng hạn như với chỉ tiêu tốc độ phát triển phải
tính theo trung bình nhân
- Đối với dãy số thời điểm: Thường chỉ có dãy số tuyệt đối
+ Với dãy số có khoảng cách thời gian bằng nhau
1
2
1
−
+ + + +
n
y y y
y
y
n n
+ Với dãy số có khoảng cách thời gian không bằng nhau:
t y y
1 1
Trong đó :
i
t : Là độ dài thời gian có số lượng khách du lịch là y i tương ứng
Trang 24Tuy nhiên trong thống kê khách du lịch thường không có dãy số thời điểm
nên không sử dụng những công thức này
2.2 Lượng tăng (giảm) tuyệt đối
Phản ánh sự thay đổi về quy mô của số lượng khách du lịch qua thời gian
Vì số lượng khách du lịch thường xuyên thay đổi có thể trong một khoảng
thời gian rất ngắn,do đó trong du lịch thường nghiên cứu sự thay đổi của số
khách du lịch theo từng thời kỳ, ta có lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn
- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn:δi Thường dùng với những chỉ
tiêu như số khách, số ngày khách Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về quy mô
của số lượng khách du lịch giữa 2 thời gian liền nhau
δ : Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn
- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc: ∆i
Được dùng để phản ánh sự thay đổi về quy mô của số lượng khách du lịch
trong một thời gian dài.Thường lấy mức độ đầu tiên làm gốc cố định
Muốn biết trong một khoảng thời gian nhất định, số lượng khách du lịch
trung bình theo thời gian tăng hoặc giảm bao nhiêu người ta tính lượng tăng
(giảm) tuyệt đối bình quân:
- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân: δ
1 1
1
3 2
=
n
y y n
n
n n n
δ δ
δ
δ
Trang 25Chú ý: Lượng tăng (giảm) tuyệt đối trung bình chỉ nên tính khi dãy số có
cùng xu hướng.Nếu dãy số không có cùng xu hướng thì phải phân tích kết hợp
với lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn
2.3.Tốc độ phát triển
Tốc độ phát triển là một số tương đối, thường biểu hiện bằng số lần hoặc
%.Chỉ tiêu này cho biết tốc độ và xu hướng biến động của số lượng khách du
lịch theo thời gian là bao nhiêu Người ta còn sử dụng chỉ tiêu này để so sánh kết
quả hoạt động giữa các đơn vị kinh doanh du lịch với nhau
- Tốc độ phát triển liên hoàn: t i
Phản ánh sự phát triển của số lượng khách du lịch giữa hai thời gian liền
Tốc độ phát triển định gốc phản ánh sự thay đổi của số lượng khách du
lịch trong khoảng thời gian dài, thường lấy mức độ đầu tiên làm gốc cố định
Giữa tốc độ phát triển định gốc và tốc độ phát triển liên hoàn có mối quan
t
1 3
Trang 26Do tốc độ phát triển ở các thời gian khác nhau là khác nhau nên để có thể
so sánh kết quả hoạt động của các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch người ta
tính chỉ tiêu tốc độ phát triển trung bình
Tốc độ phát triển bình quân phản ánh tốc độ phát triển đại diện trong cả
một thời kỳ dài do đó tốc độ phát triển trung bình phải tình bằng trung bình
nhân
1 1
1 2
n
n
y
y t
t t t
Cũng như lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân, tốc độ phát triển trung
bình chỉ nên tính với các dãy số có cùng xu hướng
2.4 Tốc độ tăng (giảm)
Dựa vào tốc độ tăng (giảm) các đơn vị kinh doanh du lịch sẽ thấy được
trong kỳ số lượng khách du lịch tăng hoặc giảm bao nhiêu lần, bao nhiêu %
- Tốc độ tăng (giảm) liên hoàn: a i
1 1
1 1
i i i
i
y
y y y
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng (giảm) của lượng khách du lịch giữa hai
thời gian liền nhau
Nếu t i tính bằng % thì a i =t i(%) − 100
- Tốc độ tăng (giảm) định gốc: A i
1 1
1 1
Trang 27Phản ánh sự kết hợp giữa số tương đối và số tuyệt đối Cụ thể nó biểu
hiện cứ 1% tăng hoặc giảm liên hoàn thì nó tương ứng với một đơn vị số tuyệt
đối là bao nhiêu
100 100 (%)
i i
i i
y
y a
g
δ
δ δ
3.Các phương pháp biểu hiện xu hướng biến động của lượng khách du lịch
(xu thế và thời vụ)
3.1 Các phương pháp biểu hiện xu thế biến động của lượng khách du lịch
Sự phát triển của hiện tượng qua thời gian chịu sự tác động của hai nhóm
nhân tố: Các nhân tố chủ yếu, cơ bản quyết định xu hướng phát triển của hiện
tượng và nhóm các nhân tố ngẫu nhiên làm cho hiện tượng sai lệch với xu
hướng Do đó cần phải sử dụng các biện pháp thích hợp nhằm loại bỏ các nhân
tố ngẫu nhiên, từ đó nêu rõ tính quy luật và xu hướng phát triển của hiện tượng
Tuy nhiên khi sử dụng các biện pháp đó cần phải đảm bảo tính chất có thể so
sánh được giữa các mức độ của hiện tượng trong dãy số
a Mở rộng khoảng cách thời gian
Khách du lịch là chỉ tiêu tuyệt đối thời kỳ nên ta có thể sử dụng phương
pháp mở rộng khoảng cách thời gian Khi nghiên cứu lượng khách du lịch hàng
tháng nếu thấy tăng, giảm thất thường, không rõ xu hướng biến động ta có thể
sử dụng phương pháp này chuyển tháng sang quý để nghiên cứu xu hướng biến
động được rõ ràng hơn
Do ghép nhiều khoảng thời gian vào thành một nên số lượng các mức độ
trong dãy số được tính bằng cách lần lượt loại trừ dần các mức độ đầu đồng thời
thêm vào các mức độ tiếp theo sao cho số luợng các mức độ tham gia tính số
bình quân là không đổi Tuy nhiên phương pháp này không được ứng dụng
nhiều trong thực tế vì độ chính xác không cao
b Số bình quân trượt
Trang 28Số bình quân trượt là số trung bình cộng của một nhóm cố định các mức
độ của dãy số tính được bằng cách thay thế các mức độ đầu bằng những mức độ
tiếp theo sao cho tổng lượng các mức độ tham gia tính số trung bình không đổi
Giả sử có một dãy số thời gian về lượng khách du lịch quốc tế đến Việt
Nam:
, , , ,
n
y y y
−
Trong đó:
n n
y : Là số bình quân trượt của từng nhóm trong dãy số
Đến đây ta có dãy số bình quân trượt: y2,y3, ,y n−1
Ta có thể tính dãy số bình quân trượt lần 2 trên cơ sở dãy số bình quân
trượt lần 1.Và dãy số bình quân trượt lần 2 có xu hướng tốt hơn lần1
Việc xác định có bao nhiêu mức độ của dãy số tham gia vào tính số bình
quân trượt phải dựa vào đặc điểm biến động của hiện tượng và số lượng các
mức độ trong dãy số vì khi tính trung bình trượt càng nhiều mức độ thì càng có
tác dụng san bằng hay loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên càng lớn nhưng điều này lại
làm cho dãy số trung bình trượt càng ít mức độ, làm cho kết quả không được
chính xác
Nếu sự biến động của hiện tuợng qua thời gian tương đối ổn định và số
lượng các mức độ ít thì tính số bình quân trượt với 3 mức độ như trên là hợp lí
Cả 2 phương pháp trên chỉ nên dùng với dãy số theo năm và các dãy số
theo tháng, quý không có yếu tố thời vụ
c.Hồi quy theo thời gian
Phương pháp hồi quy trong dãy số thời gian là một phương pháp toán học
được vận dụng để biểu hiện xu hướng phát triển cơ bản của những hiện tượng có
Trang 29nhiều dao động ngẫu nhiên như sự thay đổi của lượng khách du lịch theo thời
gian
Từ dãy số thời gian về lượng khách du lịch, căn cứ vào đặc điểm biến
động của dãy số ta tìm một phương trình hồi quy để xác định trên đồ thị một
đường xu thế có tính chất lí thuyết thay thế cho đường gấp khúc thực tế, trong
đó biến độc lập là thứ tự thời gian
Dạng mô hình tổng quát:
) , , , , (
Chú ý rằng đặt tsao cho ∑t=0 để tiện cho việc tính toán
Nếu số mức độ của dãy số là số lẻ thì lấy thời gian ở giữa bằng 0, các thời
gian đứng trước lần lượt là -1,-2… và các thời gian đứng sau lần lượt là 1,2…
Nếu số mức độ của dãy số là số chẵn thì lấy thời gian đứng ở giữa là -1 và
1, các thời gian đứng trước lần lượt là -3,-5…, các thời gian đứng sau là 3,5…
* Phương pháp lựa chọn dạng hàm:
Để lựa chọn dạng hàm đúng đắn ta phải chú ý một số điểm sau:
-Phân tích đặc điểm biến động của số lượng khách du lịch qua thời gian
- Căn cứ vào quan sát trên đồ thị
- Dựa vào sai phân (lượng tăng, giảm tuyệt đối)
- Phương pháp bình phương nhỏ nhất
Nghĩa là dựa vào sai số chuẩn của của mô hình hồi quy để lựa chọn dạng
đúng đắn của phương trình hồi quy:
p n
y y
p: là số lượng các tham số của mô hình
n: Là số lượng các mức độ trong dãy số
Trang 30Một số dạng hàm thường sử dụng:
Ta giả sử có một dãy số thời gian về số lượng khách du lịch:
n y y
y1, 2, ,
- Dạng hàm xu thế tuyến tính:
t a a
Bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất ta có thể xác định được các
tham số a0, a1 nhờ giải hệ phương trình:
1 0
t a t a ty
t a n a y
y t ty a
t
1 0
2 1
σ
- Dạng hàm bậc hai:
2 2 1 0
y t = + +
Hàm bậc hai áp dụng khi các sai phân bậc 2 xấp xỉ bằng nhau:
1 1 1 2
Các tham số được xác định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất và
phải thoả mãn hệ phương trình
=
+ +
=
+ +
3 1
2 0 2
3 2
2 1 0
2 2 1
0
t a t a t a y
t
t a t a t a ty
t a t a n a y
- Dạng hàm bậc ba:
3 3
2 2 1 0
Hàm bậc ba được áp dụng khi các sai phân bậc 3 xấp xỉ bằng nhau:
2 1 2 3
Tóm lại: Khi các sai phân bậc k xấp xỉ bằng nhau thì phương trình hồi
quy theo thời gian là đa thức bậc k.Trên thực tế chúng ta phải kiểm định các mô
Trang 31hình hồi quy này và lựa chọn mô hình hồi quy nào mô tả gần đúng nhất xu thế
phát triển thực tế của hiện tượng
1 0 lg lg
lg
lg lg lg
t a t a y t
t a a n y
3.2.Các phương pháp biểu hiện biến động thời vụ của lượng khách du lịch
Trong các ngành kinh tế thì có thể thấy rằng ngành du lịch là ngành có
quy luật thời vụ rõ nét nhất.Biến động thời vụ làm cho hoạt động của ngành lúc
thì khẩn trương, lúc thì thu hẹp quy mô.Vào các tháng đầu năm và các tháng
6,7,8,9 là khoảng thời gian thường diễn ra lễ hội và kỳ nghỉ hè nên số lượng
người đi du lịch rất đông, ngược lại thì vào các tháng còn lại trong năm thì
ngành du lịch lại tương đối nhàn rỗi Để có thể chủ động hơn trong công tác
chuẩn bị nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch cần phải nghiên cứu biến
động thời vụ Muốn nghiên cứu biến động thời vụ thường dựa vào nguồn số liệu
trong nhiều năm (ít nhất là 3 năm) và phương pháp hay được sử dụng trong
thống kê du lịch là phương pháp chỉ số thời vụ
a.Trường hợp 1:
Với dãy số thời gian có các mức độ tương đối ổn định, các mức độ cùng
kỳ từ năm này qua năm khác không có biểu hiện tăng giảm rõ rệt
(%) 100 0
y là số bình quân của tất cả các mức độ trong dãy số
Ý nghĩa của chỉ số thời vụ:
Trang 32Nếu coi mức bình quân chung của tất cả các kỳ là 100% thì chỉ số thời vụ
của kỳ nào lớn hơn 100% thì đó là lúc bận rộn và ngược lại
b.Trường hợp 2:
Với dãy số thời gian có xu hướng rõ rệt
Nếu mức độ cùng kỳ của hiện tượng từ năm này qua năm khác có biểu
hiện tăng, giảm rõ rệt (có cả yếu tố thời vụ và yếu tố xu thế) muốn tính chỉ số
thời vụ trước hết phải điều chỉnh dãy số bằng phương trình hồi quy để tính ra
mức độ lí thuyết rồi sau đó dùng mức độ này làm căn cứ so sánh
m y
y
I i
∑
4.Phân tích các thành phần của dãy số thời gian
Mỗi mức độ của dãy số thời gian thường gồm nhiều yếu tố tạo thành,
thông thường và đầy đủ nhất gồm có 4 yếu tố sau:
- Xu thế (f t): Nói lên xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng, một sự
tiến triển kéo dài theo thời gian
- Biến động thời vụ :s t) : Là sự biến động lặp đi lặp lại trong những
khoảng thời gian nhất định hàng năm
- Chu kỳ : Là sự biến động mang tính chất lặp đi lặp lại sau một thời gian
dài
- Thành phần ngẫu nhiên (Z t) : Là các sai lệch ngẫu nhiên, không có tính
quy luật
Không phải lúc nào một dãy số cũng đều có đủ cả 4 thành phần, tuỳ theo
đặc điểm của dãy số và khoảng cách thời gian mà có thể có 2,3 hoặc cả 4 thành
phần trên
Nếu dãy số không có biến động thời vụ và tính chu kỳ thì dãy số chỉ có
thành phần xu thế và biến động ngẫu nhiên
Trang 33Nếu dãy số có biến động thời vụ thì chỉ có 3 thành phần là xu thế, thời vụ
và biến động ngẫu nhiên
Nếu dãy số đủ lớn hết chu kỳ vận động của hiện tượng thì sẽ có đủ cả 4
thành phần: Xu thế, thời vụ, chu kỳ và biến động ngẫu nhiên
Các thành phần trên có thể kết hợp theo dạng cộng, dạng nhân và dạng
hỗn hợp Trong đó dạng cộng phù hợp với biến động thời vụ có biên độ ít và
không đổi Dạng nhân phù hợp với biến động thời vụ có biên độ biến đổi tăng
Trên thực tế người ta thường nghiên cứu mô hình kết hợp thành phần xu thế,
thời vụ và ngẫu nhiên
Trong chuyên đề này sẽ phân tích các thành phần của dãy số thời gian
theo dạng cộng
Giả sử có một dãy số thời gian về lượng khách du lịch
Một số giả thiết:
- Dãy số theo tháng, theo quý (i= 1 ,n) và theo năm ( j= 1 ,m)
- Xu thế của dãy số là dạng tuyến tính
- Dãy số có biến động thời vụ
- Biến động ngẫu nhiên εt có độ lệch bình quân bằng 0
Ta có sự kết hợp của 3 thành phần trên ở dạng cộng là:
t i
t a bt c
y = + + + ε
Khi phân tích ta thấy εt không có quy luật nên khó khăn trong việc mô
hình hoá, do đó người ta thường quan tâm đến 2 thành phần xu thế và thời vụ
Từ đó ta có mô hình:
i
t a bt c
y = + +
Trong đó các tham số a,bvà hệ số thời vụ c iđược xác định bằng phương
pháp bình phương nhỏ nhất, được tính toán qua bảng Buys-Ballot
Trang 34n m
T y
s m
m
n
b
2
1 1
.
12 2
2
1 2
1
+
−
= +
−
b y m
n b n
1
m i b y y
m i b m n
T m
T
i
Trang 35III Hồi quy tương quan
Du lịch là ngành chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các điều kiện chủ quan và
khách quan khác.Đó là các điều kiện tự nhiên: Bão, lũ, sóng thần… và các điều
kiện kinh tế-xã hội: GDP/người,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…
Nhận thấy tầm quan trọng của các mối quan hệ đó, người ta đã dùng
phương pháp hồi quy tương quan để nghiên cứu các mối liên hệ đó để giúp cho
ngành du lịch và các đơn vị kinh doanh du lịch chủ động hơn trong hoạt động
của mình
1 Một vài nét chung về phương pháp hồi quy tương quan:
Căn cứ vào trình độ chặt chẽ của mối liên hệ người ta chia mối liên hệ
giữa các hiện tượng ra làm 2 loại: Liên hệ hàm số và liên hệ tương quan
Liên hệ hàm số là mối liên hệ hoàn toàn chặt chẽ, khi hiện tượng này thay
đổi có tác dụng quyết định đến sự thay đổi của hiện tượng có liên quan theo một
tỉ lệ xác định và biểu hiện rõ trên từng đơn vị cá biệt
Liên hệ tương quan là mối liên hệ không hoàn toàn chặt chẽ, cụ thể là sự
thay đổi của hiện tượng này có thể làm cho hiện tượng có liên quan thay đổi
theo nhưng không có ảnh hưởng hoàn toàn quyết định và không biểu hiện rõ nét
trên từng đơn vị cá biệt
Để biểu hiện mối liên hệ trên ta dùng phương pháp hồi quy tương quan
Hồi quy tương quan là phương pháp toán học được vận dụng trong thống
kê để biểu hiện và phân tích mối liên hệ tương quan giữa các hiện tượng kinh
tế-xã hội
Phương pháp hồi quy tương quan tương quan nghiên cứu các vấn đề sau:
-Liên hệ tương quan tuyến tính giữa 2 và nhiều tiêu thức số lượng
-Liên hệ tương quan phi tuyến giữa 2 và nhiều tiêu thức số lượng
Nhưng trong chuyên đề này chỉ đề cập đến liên hệ tương quan giữa 2 tiêu
thức số lượng
Trang 362 Liên hệ tương quan tuyến tính giữa 2 tiêu thức số lượng
Giả sử ta muốn tìm hiểu xem mối quan hệ giữa lượng khách du lịch (x) và
GDP (y) như thế nào?
Trước hết ta sẽ tiến hành phân tích xem mối liên hệ đó là mối liên hệ
thuận hay nghịch, tìm hiểu xem cái nào là nguyên nhân, cái nào là kết quả:
Kết quả phân tích cho thấy đây là mối liên hệ thuận, lượng khách du lịch
là kết quả và GDP là nguyên nhân
Sau đó thăm dò mối liên hệ bằng các phương pháp thống kê như: Phương
pháp đồ thị, phương pháp quan sát 2 dãy số song song…cho thấy lượng khách
du lịch và GDP có mối quan hệ tuyến tính
Phương trình tuyến tính biểu hiện mối quan hệ: y x =a+bx
Ở đây a,bphải được xác định sao cho đường hồi quy lí thuyết mô tả gần
đúng nhất mối liên hệ thực tế thông qua phương pháp bình phương nhỏ nhất
.
.
x b x a y
x
x b n a y
2
x
y x y x b
σ
−
=
a: Là tham số tự do, nói lên ảnh hưởng của các nguyên nhân khác ngoài
GDP tới sự biến động của lượng khách du lịch
b: Là hệ số hồi quy biểu hiện ảnh hưởng của tiêu thức nguyên nhân GDP
tới tiêu thức kết quả lượng khách du lịch, cụ thể mỗi khi GDP tăng thêm 1 đơn
vị thì lượng khách du lịch thay đổi trung bình bđơn vị
Để có thể đánh giá được trình độ chặt chẽ của mối liên hệ trên người ta
dùng hệ số tương quan:
b y
x y
x
r
y
x y
σ σ
−
= 2 2
Các tính chất của hệ số tương quan:
- Hệ số tương quan nằm trong khoảng (-1,1)
Nếu r>0 thì đó là mối liên hệ tương quan tuyến tính thuận
Trang 37Nếu r<0 thì đó là mối liên hệ tương quan tuyến tính nghịch
- Nếu r=+,- 1 thì đó là mối liên hệ hàm số
- Nếu r=0 thì không có mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa x và y
r càng gần 1 thì mối liên hệ càng chặt chẽ
Để đánh giá sự phù hợp của mô hình người ta dùng hệ số xác định r2.Hệ
số xác định cho biết tỉ lệ % thay đổi của y được giải thích bởi mô hình
3 Liên hệ tương quan phi tuyến giữa 2 tiêu thức số lượng
a Phương trình bậc 2:
Dạng hàm này thường được sử dụng khi tiêu thức nguyên nhân tăng và
giảm với một lượng đều nhau thì tiêu thức kết quả biến động với một lượng
không đều nhau
Phương trình tổng quát;
2
cx bx a
=
+ +
=
+ +
2 2
3 2
2
.
.
.
.
x c x b x a y
x
x c x b x a y
x
x c x b n a y
b Phương trình hypebol:
Vận dụng khi tiêu thức nguyên nhân tăng thì tiêu thức kết quả giảm với
tốc độ không đều Phương trình có dạng:
x
b a
1 1
1
x
b x a y
x
x b n a y
Trang 38c Phương trình hàm mũ:
Thường vận dụng khi trị số của tiêu thức kết quả thay đổi theo cấp số
nhân.Phương trình hồi quy: x
ln
.
ln ln ln
x b x a y x
x b a n y
IV Một số phương pháp dự đoán thống kê ngắn hạn trong dự đoán
lượng khách du lịch
1 Vài nét chung về dự đoán thống kê
- Khái niệm về dự đoán thống kê:
Theo nghĩa rộng, dự đoán thống kê là một thuật ngữ chỉ một nhóm các
phương pháp thống kê để xây dựng các dự đoán số lượng
Theo nghĩa hẹp, dự đoán thống kê là sự tiếp tục của quá trình phân tích
thống kê, trong đó sử dụng các phương pháp sẵn có của thống kê để xây dựng
các dự đoán số lượng
Dự đoán trong tương lai thực chất là một quá trình nhận thức của con
người, nó phụ thuộc vào sự hiểu biết sẵn có của con người về các quy luật phát
triển kinh tế- xã hội, do đó dự đoán luôn có nhiều phương án
Các hiện tượng kinh tế và xã hội chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố với
các mức độ và chiều hướng khác nhau Theo thời gian có những yếu tố mất đi,
có những nhân tố mới xuất hiện nhưng trong tương lai chúng sẽ là những nhân
tố chủ yếu vì vậy khó có thể đưa ra một dự đoán chính xác cho tương lai, nên dự
đoán còn có tính xác suất
- Có 3 loại dự đoán thống kê:
+ Dự đoán thống kê dài hạn:
Dự đoán cho 10,20,30 năm hoặc nhiều hơn nữa,hay còn gọi là dự đoán
mục tiêu chiến lược
+Dự đoán thống kê trung hạn:
Trang 39Thường dùng để dự đoán cho các chương trình kinh tế trung hạn và các
mục tiêu nhỏ
+ Dự đoán thống kê ngắn hạn:
Dùng để dự đoán cho các chỉ tiêu ở các phạm vi khác nhau
Trong chuyên đề này chúng ta chỉ nghiên cứu dự đoán thống kê ngắn hạn
vì ngành du lịch nói chung và số lượng khách du lịch nói riêng chịu tác động rất
lớn của các nhân tố khách quan và chủ quan do đó nó rất dễ bị thay đổi trong
một thời gian nhất định nào đó
Dự đoán thống kê ngắn hạn là việc dự đoán quá trình tiếp theo của hiện
tượng trong những khoảng thời gian tương đối ngắn: ngày, tuần, tháng, quý,
năm; kết quả của dự đoán thống kê ngắn hạn là căn cứ để tiến hành điều chỉnh
kịp thời các hoạt động sản xuất kinh doanh
Tài liệu thường dùng trong dự đoán thống kê ngắn hạn là dãy số thời gian
vì khối lượng tài liệu không yêu cầu nhiều, việc xây dựng các mô hình tương đối
đơn giản và thuận tiện trong kỹ thuật tính toán
Một dãy số thời gian như thế nào thì được coi là một tài liệu tốt trong dự
đoán thống kê ngắn hạn?
Đẩu tiên dãy số đó phải chính xác, đảm bảo tính chất có thể so sánh được
giữa các mức độ trong dãy số
Thứ hai là số lượng các mức độ trong dãy số: Nếu dãy số có quá nhiều
mức độ thì sẽ làm cho mô hình dự đoán không phản ánh được đầy đủ sự thay
đổi của các nhân tố mới tới sự biến động của hiện tượng.Nếu dãy số có quá ít
mức độ thì sẽ khiến cho mô hình không chú ý tới tính chất tương đối ổn định
của các nhân tố cơ bản
- Ý nghĩa của dự đoán thống kê ngắn hạn:
Các yếu tố tác động đến ngành du lịch nói chung và lượng khách du lịch
nói riêng luôn biến đổi không ngừng, đôi khi chúng ta không thể lường trước
được.Vì vậy chúng ta cần phải tiến hành dự đoán thống kê ngắn hạn số lượng
khách du lịch và các yếu tố của nó để có thể xây dựng các chiến lược phát triển
của ngành, đơn vị kinh doanh du lịch dựa vào kết quả dự đoán để làm cơ sở lập
Trang 40các loại kế hoạch một cách khoa học, khả thi và có thể cạnh tranh được trên thị
trường trong và ngoài nước
- Nhiệm vụ của dự đoán thống kê ngắn hạn:
Đó là xây dựng các phương pháp dự đoán các chỉ tiêu cụ thể để phục vụ
cho các mục tiêu nói trên
2 Một số phương pháp dự đoán thống kê ngắn hạn thường dùng trong du lịch
Trong dự đoán thống kê ngắn hạn có rất nhiều phương pháp, dưới đây là
một trong các phương pháp thường dùng nhất:
2.1.Dự đoán dựa vào lượng tăng (giảm) tuyệt đối trung bình:
yˆ + : Là trị số dự đoán tại thời điểm thứ n + L
δ : Là lượng tăng (giảm )tuyệt đối bình quân
1 1
1
1 2
n
n n
n
i
i
δ δ
k
y : Là mức độ dùng làm gốc để ngoại suy
k
y có thể bằng mức độ cuối cùng của dãy số, có thể là mức độ bình quân
của vài thời kỳ cuối cùng trong dãy số
Phương pháp này phù hợp với vịêc nghiên cứu lượng khách du lịch do
yêu cầu về tài liệu khá đơn giản, tuy nhiên mức độ chính xác chưa cao do phụ
thuộc vào mức độ đẩu và cuối, bỏ qua sự biến động về các hiện tượng trong thời
gian nghiên cứu
2.2 Dự đoán dựa vào tốc độ phát triển bình quân: