2 LỜI NÓI ĐẦU Báo cáo Nghiên cứu năng lực hội nhập kinh tế quốc tế các tỉnh tiếp giáp Campuchia năm 2013 là kết quả mở rộng của Nghiên cứu đánh giá năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấ
Trang 11
BÁO CÁO
NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ CÁC ĐỊA PHƯƠNG TIẾP GIÁP VỚI VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA
“CHỈ SỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CẤP ĐỊA PHƯƠNG
2013
Trang 22
LỜI NÓI ĐẦU
Báo cáo Nghiên cứu năng lực hội nhập kinh tế quốc tế các tỉnh tiếp giáp Campuchia năm 2013 là kết quả mở rộng của Nghiên cứu đánh giá
năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương (PEII) thông qua một thang đo lường chung “Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương”
Báo cáo năng lực hội nhập kinh tế quốc tế các tỉnh tiếp giáp Campuchia
2013 đánh giá thực trạng hội nhập của các nền kinh tế của 10 tỉnh tiếp giáp Campuchia với phần còn lại của thế giới trong đó đặc biệt là hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu thông qua một thang đo lường chung được xây dựng là “Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương” Mục tiêu chính của báo cáo nhằm xác định được mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của các tỉnh tiếp giáp Campuchia, các tác động của hội nhập đến việc tăng trưởng phúc lợi cho người dân và phát triển kinh doanh doanh nghiệp Bên cạnh đó, báo cáo đánh giá sự phù hợp giữa tầm nhìn chiến lược của các tỉnh tiếp giáp Campuchia đối với năng lực hội nhập hiện tại để chỉ ra các điều chỉnh cần thiết cho việc thu hút nguồn lực cho phát triển bền vững
Quan trọng hơn cả nhóm nghiên cứu muốn cung cấp một cách nhìn rõ ràng và toàn diện về vấn đề hội nhập của các tỉnh tiếp giáp Campuchia và
đi đến một thống nhất chung cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội với các điều kiện hội nhập đặc thù của từng tỉnh
Dựa trên phương pháp tư duy hệ thống, khái quát hóa các dòng vật chất dịch chuyển giữa một địa phương (được giới hạn bởi biên giới của địa phương) với phần còn lại của thế giới (địa phương khác và quốc tế) để xem xét mức độ thu hút các nguồn lực dịch chuyển cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển Các dòng vật chất được xem xét là (1) sản phẩm
Trang 33
hàng hóa dịch vụ; (2) vốn và công nghệ; (3) con người thông qua di trú, thu hút nhân lực và du lịch Một địa phương được cho là hấp dẫn sẽ thu hút được các nguồn lực cho sự phát triển như thu hút du khách, thu hút đầu tư vào mở rộng sản xuất kinh doanh, thu hút người dân đến sống và làm việc, thu hút ngoại tệ thông qua xuất khẩu, etc Mục tiêu cuối cùng của địa phương là tạo ra một môi trường và điều kiện thuận lợi phục vụ nhân dân của địa phương đó Hình thái thể hiện và tính định lượng của nó thể hiện thông qua chỉ tiêu thu nhập bình quân trên đầu người và các chỉ số phát triển con người của địa phương Tuy nhiên, thách thức đối với các điểm đến hiện nay là có quá nhiều nỗ lực để thu hút các nguồn lực của chính quyền các quốc gia, các nền kinh tế cũng như các địa phương
Các luận điểm ủng hộ tự do hóa thương mại chủ trương khuyến khích các thể chế tạo điều kiện cho hàng hóa và dịch vụ dễ dàng dịch chuyển giữa các quốc gia nhằm mục tiêu để người dân các dân tộc có thể mua được các sản phẩm được sản xuất ra với chi phí thấp hơn hoặc đa dạng hơn hoặc khác biệt về các giá trị tinh thần Nhờ tinh thần này của thương mại thế giới mà tiến trình toàn cầu hóa được diễn ra nhanh chóng, sâu rộng trên mọi phương diện thể hiện ở 3 mặt: (1) toàn cầu hóa về sản xuất để đảm bảo mức chi phí biên thấp nhất cho một đơn vị sản phẩm cuối cùng; (2) toàn cầu hóa về tiêu dùng đối với việc một sản phẩm mang thương hiệu được chấp nhận với giá trị độc đáo như nhau bởi người dân ở nhiều quốc gia, và (3) toàn cầu hóa về đầu tư hay còn gọi là toàn cầu hóa về sở hữu (một người dân có thể sở hữu tài sản ở nhiều quốc gia, sử dụng các dịch
vụ đầu tư trên phạm vi toàn cầu thông qua các định chế tài chính trung gian) Trong nhiều thập kỷ qua chúng ta đã chứng kiến hai xu thế toàn cầu hóa sản xuất và tiêu dùng trong ngôi nhà chung toàn cầu Trong thập kỷ
Trang 44
này và vài thập kỷ sau, nhờ vào công nghệ thông tin và chuẩn hóa dịch vụ tài chính toàn cầu, chúng ta sẽ chứng kiến tiến trình đầu tư từ doanh nghiệp đến cá nhân trên phạm vi toàn cầu khiến xóa nhòa mọi biên giới quốc gia về quốc tịch và nhiều niềm tự hào về các thương hiệu quốc gia hay sản phẩm quốc gia Những gì chúng ta đang tự hào sở hữu hôm nay có thể sẽ được thông qua các định chế tài chính trung gian giúp nhiều người khác trên thế giới cùng sở hữu nó trong tương lai Điều này đặt ra những vấn đề cơ bản và then chốt cho các Chính phủ trong việc có nên tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng các sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp để thể hiện sức mạnh kinh tế địa phương – mà trong tương lai chúng ta có thể không sở hữu nữa hay chỉ nên tạo điều kiện về môi trường
và thể chế khuyến khích doanh nghiệp phát triển kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh và tăng năng suất
Báo cáo nghiên cứu năng lực hội nhập kinh tế quốc tế các tỉnh tiếp giáp Campuchia là kết quả nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập được trong giai đoạn từ 2007 - 2011 từ các đơn vị quản lý của địa phương, các kết quả khảo sát mà nhóm nghiên cứu đã thực hiện trong năm 2013 đối với đối tượng là người dân, doanh nghiệp và du khách
Ngoài phần mở đầu, tóm tắt, báo cáo này bao gồm 3 phần: Phần 1 giới thiệu về các tỉnh tiếp giáp Campuchia, về tình hình kinh tế- xã hội và tiềm năng phát triển; Phần 2 gồm 8 nội dung cụ thể tương ứng với 8 trụ cột của Chỉ số Hội nhập Kinh tế quốc tế (PEII) để thấy các góc nhìn đa chiều đan xen về vấn đề hội nhập của các tỉnh tiếp giáp Campuchia; Phần 3 Báo cáo
về Đề xuất Lộ trình và Kiến nghị cải thiện năng lực hội nhập kinh tế quốc
tế các tỉnh tiếp giáp Campuchia
Trang 55
LỜI CẢM ƠN
Báo cáo đánh giá Năng lực hội nhập kinh tế cấp địa phương thông qua một thang đo lường chung được xây dựng là “Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương” là kết quả nghiên cứu của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Dự án nâng cao năng lực quản lý và điều phối hội nhập kinh tế quốc tế
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự tài trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Ôxtrâylia (AusAID) và Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DfID) cho Dự án thông qua Chương trình HTKT Hậu gia nhập WTO
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Chương trình HTKT Hậu gia nhập WTO, (Cơ quan chủ quản) đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để
Dự án nâng cao năng lực quản lý và điều phối hội nhập kinh tế quốc tế thực hiện thành công báo cáo này Báo cáo này sẽ không thể thành công nếu không kể đến sự hợp tác chặt chẽ cũng như những thông tin chia sẻ quý báu của các Bộ ngành, địa phương trên cả nước Nhân đây, chúng tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các nhà tư vấn về những đóng góp xây dựng rất hữu ích trong việc xây dựng nội dung các báo cáo này
Ban Quản lý Dự án nâng cao năng lực quản lý và điều phối hội nhập kinh
tế quốc tế cũng xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới các chuyên gia đã chia sẻ ý kiến quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu đến khi phát hành báo cáo: Ông Vũ Khoan – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; Ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Nam – Chuyên gia kinh tế cao cấp – Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu thương mại; Ông
Võ Trí Thành – Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM); Ông Bùi Trường Giang – Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Văn phòng
Trang 66
Chủ tịch nước; Ông Dương Đình Giám – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp; Ông Đinh Văn Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại; Ông Lê Xuân Đình – Tổng Biên tập Tạp chí Kinh tế và Dự báo; Ông Nguyễn Minh Phong – Chuyên gia kinh tế - Báo Nhân dân; Ông Đinh Ngọc Hưởng- Phó Tổng biên tập Tạp chí Hội Nhập; Ông Nguyễn Quốc Thịnh – Trưởng Bộ môn Quản trị Thương hiệu – Đại học Thương mại; Ông Võ Tá Tri – Chuyên gia kinh tế; Ông Vũ Mạnh Chiến – Chuyên gia Tài chính – Trường Đại học Thương mại; Ông Phạm Hồng Tú – Chuyên gia kinh tế; Ông Raymond Mallon, cố vấn kỹ thuật cấp cao Chương trình B-WTO và Ông Vũ Thành Tự Anh – Giám đốc Nghiên cứu – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Xin cảm ơn Nhóm thực hiện nghiên cứu: Ông Nguyễn Thành Trung – Trưởng Nhóm; Bà Nguyễn Thu Hương – Trợ lý nghiên cứu, Bà Đoàn Minh Tân Trang – Thành viên, Bà Nguyễn Kiều Trang – Thành viên, Ông Đỗ Quang Thành – Thành viên, Bà Hoàng Thị Thu Trang – Thành viên, Ông Khúc Đại Long – Thành viên, Bà Lê Thị Duyên – Thành viên, Bà Đào Thị Dịu – Thành viên, Bà Trần Minh Thu – Thành viên, Bà Vũ Thị Hồng Xuyên – Thành viên, Bà Trần Thu Thuỷ - Thành viên
Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Hội nhập kinh tế quốc tế và Cơ quan đầu mối công tác hội nhập kinh tế quốc tế của 63 tỉnh, thành phố đã tích cực
và chủ động phối hợp với các Cơ quan khác tại Địa phương trong việc tổng hợp dữ liệu và hỗ trợ thực hiện nghiên cứu
Xin cảm ơn các doanh nhân, doanh nghiệp và các cá nhân đã tham gia trả lời điều tra và thực hiện các cuộc phỏng vấn chuyên sâu
Trang 77
Xin cảm ơn Ông Nguyễn Cẩm Tú – Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Thứ trưởng Bộ Công Thương, đã quan tâm chỉ đạo triển khai các hoạt động trong khuôn khổ dự án nghiên cứu để đạt được đúng các yêu cầu đặt ra và hoàn thiện mục tiêu của Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế kỳ vọng đối với nghiên cứu này
Báo cáo này không phản ánh quan điểm của AusAID, DfID và Chương trình HTKT hậu gia nhập WTO
Trang 88
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Trang 99
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATM Máy rút tiền tự động
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
XTTM Xúc tiến thương mại
Trang 10PHẦN I – SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Tổng quan về các địa phương tiếp giáp Campuchia 17 Thành tựu về kinh tế - xã hội của các địa phương tiếp giáp
Trang 1111
Đánh giá về chất lượng hệ thống phân phối tại địa phương 44
Đánh giá tính liên kết giữa các doanh nghiệp 49
Xu hướng chuyển biến cuộc sống của người dân 78
Vị thế địa lý chiến lược và tác động của thời tiết 107
Trang 12PHẦN III – ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TẠI CÁC TỈNH TIẾP GIÁP
Đề xuất lộ trình Error! Bookmark not defined Bước 1 – Nghiên cứu tiềm năng Error! Bookmark not defined
Bước 2 - Hoạch định chiến lược Error! Bookmark not defined
Bước 3 - Thực thi chiến lược Error! Bookmark not defined
Bước 4 - Đánh giá Error! Bookmark not defined
Bước 5 - Điều chỉnh Error! Bookmark not defined Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế tại
Trang 13Việt Nam đã nỗ lực tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh công tác hội nhập một cách liên tục và không ngừng nghỉ Với các nỗ lực như trên, tiến trình HNKTQT của Việt Nam đã và đang tác động tới mọi khía cạnh, mọi lĩnh vực và mọi đối tượng trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước Từ khu vực thành thị cho tới nông thôn hay vùng sâu vùng xa đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ HNKTQT Tuy nhiên, vì yếu tố nền tảng (đặc điểm tự nhiên và vị trí địa lý) mà mỗi địa phương có lợi thế khác nhau trong cuộc chiến cạnh tranh trên thị trường toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng Đặc biệt là đối với các vùng, các tỉnh có biên giới tiếp giáp với các quốc gia khác thì có lợi thế cạnh tranh càng thể hiện rõ rệt trên các phương diện kinh tế, từ thương mại đến đầu tư, du lịch và sức hút đối với nguồn lao động, dân di cư,
Dải dọc biên giới giữa Việt Nam và Campuchia dài 1270km, với biên giới đường bộ và đường sông, là những điểm thuận lợi cho giao thương giữa 2
Trang 1414
quốc gia 10 địa phương về phía Việt Nam gồm: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang Trong đó, có 10 cửa khẩu quốc tế, 9 cửa khẩu quốc gia, 30 cửa khẩu phụ, 140 chợ biên giới Tiềm năng kinh tế giữa 2 quốc gia và 10 địa phương có đường biên không chỉ dừng lại ở hoạt động trao đổi thương mại mà còn là sự kỳ vọng cho sự phát triển dài hạn hơn trong tương lai khi chương trình GMS với tuyến hành lang ven biển Nam Á có thể đi vào khai thác, nối liền Myanmar – Thái Lan – Campuchia – Việt Nam
Việc nghiên cứu và đánh giá năng lực hội nhập của các vùng, miền, địa phương nói chung và nghiên cứu và đánh giá năng lực hội nhập của các tỉnh có biên giới tiếp giáp Campuchia có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của từng tỉnh cũng như của Việt Nam trên trường quốc tế Nghiên cứu và đánh giá năng lực HNKTQT của các địa phương tiếp giáp với Campuchia thực chất là việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng các hoạt động: thương mại, đầu tư, du lịch, lao động, văn hóa, thể chế, con người, đặc điểm địa phương và cơ sở hạ tầng dựa trên tương quan so sánh với các địa phương khác có điểm tương đồng về vị trí địa lý
và lợi thế so sánh Hay nói cách khác là chúng ta dựa trên mô hình chỉ số HNKTQT các địa phương để đánh giá năng lực hội nhập của các địa phương và từ đó đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm năng cao năng lực HNKTQT cho các địa phương có biên giới tiếp giáp Campuchia Mục tiêu này hết sức rõ ràng, cụ thể và được thể hiện xuyên suốt trong bài báo cáo Mục tiêu chính của báo cáo này nhằm xác định được mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của các địa phương tiếp giáp Campuchia, các tác động của hội nhập đến việc tăng trưởng phúc lợi cho người dân và phát triển kinh doanh doanh nghiệp Bên cạnh đó, báo cáo còn đánh giá sự phù hợp giữa
Trang 1515
tầm nhìn chiến lược của các địa phương tiếp giáp Campuchia đối với năng lực hội nhập hiện tại để chỉ ra các điều chỉnh cần thiết cho việc thu hút nguồn lực cho phát triển bền vững Quan trọng hơn cả, Nhóm nghiên cứu muốn cung cấp một cái nhìn rõ ràng và toàn diện về vấn đề hội nhập của
10 địa phương tiếp giáp Campuchia và cố gắng đi đến một thống nhất chung cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với các điều kiện hội nhập đặc thù của mỗi địa phương
Các thông số hay trụ cột chính để các địa phương hội nhập và phát triển thành công mà báo cáo này đưa ra gồm 8 trụ cột là: (1) Thể chế, (2) Cơ sở
hạ tầng, (3) Văn hóa, (4) Đặc điểm tự nhiên địa phương, (5) Con người, (6) Thương mại, (7) Đầu tư, (8) Du lịch Mỗi trụ cột được xem xét dựa trên một số chiều kích và phương diện nhất định Các trụ cột này vừa có tác dụng thu hút nguồn lực dành cho nguồn lực đó đến từ bên ngoài, vừa phản ánh thực trạng hình ảnh trụ cột đang tồn tại và có khuynh hướng dịch chuyển đến những nơi khác (địa phương hay nền kinh tế khác) thu hút hơn Mức độ hội nhập đơn giản được đo lường dựa trên cách tiếp cận
về dịch chuyển nguồn lực giữa các địa điểm về mặt số lượng, chất lượng, cường độ để thấy được mức độ mạnh hay yếu của việc hội nhập kinh tế Bài báo cáo này bao gồm 3 phần: Phần 1 giới thiệu về các tỉnh tiếp giáp Campuchia, về tình hình kinh tế- xã hội và tiềm năng phát triển; Phần 2 gồm 8 nội dung cụ thể tương ứng với 8 trụ cột của Chỉ số Hội nhập Kinh tế quốc tế (PEII) để thấy các góc nhìn đa chiều đan xen về vấn đề hội nhập của các tỉnh tiếp giáp Campuchia; Phần 3 Báo cáo về Đề xuất Lộ trình và Kiến nghị cải thiện năng lực hội nhập kinh tế quốc tế các tỉnh tiếp giáp Campuchia
Trang 1616
PHẦN I – SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG TIẾP GIÁP VỚI VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA
Trang 1717
Tổng quan về các địa phương tiếp giáp Campuchia
Trong Hội nhập kinh tế quốc tế, việc thiết lập quan hệ kinh tế, chính trị, đối ngoại, an ninh - quốc phòng và mở rộng quan hệ hợp tác qua đường biên giới với Campuchia có vai trò hết sức quan trọng Nhận thức được điều đó, Việt Nam đã và đang không ngừng nỗ lực hợp tác với Campuchia nhằm tăng cường mối quan hệ giữa các tỉnh giáp biên của nước ta với các tỉnh, thành phố của Campuchia góp phần vào việc củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước Nước ta có 10 tỉnh tiếp giáp với Campuchia, đó là: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông (thuộc khu vực Tây Nguyên), Tây Ninh, Bình Phước (thuộc khu vực Đông Nam Bộ), An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An (thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long) Mỗi tỉnh tiếp giáp có xuất phát điểm khác nhau, có
vị trí địa lý, nguồn lực khác nhau nên khả năng tận dụng lợi thế tiếp giáp biên giới với Campuchia để phát triển là không giống nhau
Kon Tum có đường biên giới dài 138,3 km và cửa khẩu quốc gia với vùng
Đông Bắc Campuchia Kon Tum là một tỉnh có nhiều lợi thế so sánh và tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội và có vị trí quan trọng trong Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia
la t nh trung ta m cu a vu ng Ta y Nguye n, phía Tây giáp Campuchia
với đường biên giới tiếp giáp dài 70 km, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế vùng biên kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng
k Nông nằm trong tam giác phát triển của 3 nước Đông Dương, có 130
km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Mondulkiri, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh,
Trang 1818
Siem Reap của nước bạn Campuchia thông qua quốc lộ 14 của Việt Nam
và 76 của Campuchia
Gia Lai là địa phương có tới 5 cửa khẩu kinh tế, đây là một trong những
nét khác biệt lớn nhất và cũng là một trong những lợi thế để tỉnh nâng cao năng lực HNKTQT
Tây Ninh giáp 2 tỉnh Svay Riêng và Kampong Cham của Campuchia với 1
cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, hai cửa khẩu quốc gia (Sa Mát và Phước Tân)
và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch Tây Ninh được xem là một trong những cửa ngõ giao lưu về quốc tế quan trọng giữa Việt Nam với Campuchia, Thái Lan…
Bình Phước là tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam có 240 km đường biên giới với Vương quốc Campuchia trong đó 3 tỉnh biên giới gồm Kongpongcham, Kratie, Mundulkiri, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia
ồng Tháp là một trong 13 tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm
ở đầu nguồn sông Tiền, giáp tỉnh Preyveng thuộc Campuchia có đường biên giới quốc gia với Campuchia dài khoảng 50km với 4 cửa khẩu (Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước)
Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, là
một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Địa phương này có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài: 132,977 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) và Tho Mo (Đức Huệ)
Trang 1919
Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc có đường biên giới chung với
Vương quốc Campuchia dài 56 km Nằm trong vùng vịnh Thái Lan, gần với các nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Singapo, Kiên Giang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, đồng thời đóng vai trò cầu nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ với bên ngoài
An Giang có đường biên giới tiếp giáp với Campuchia dài gần 100 km và
có 2 cửa khẩu quốc tế ( Tịnh Biên, Vĩnh Xương); 2 cửa khẩu quốc gia (Khánh Bình, Vĩnh Hội Đồng) tiếp giáp với Campuchia
Thành tựu về kinh tế - xã hội của các địa phương tiếp giáp Campuchia
Trong vài năm trở lại đây, thực hiện đúng chủ trương chính sách phát triển kinh tế theo định hướng thị trường của Nhà nước, 63 tỉnh thành trong cả nước nói chung và 10 tỉnh có biên giới tiếp giáp Campuchia nói riêng đã có những bước phát triển nhất định và gặt hái được nhiều thành tựu lớn về kinh tế - xã hội Cùng với tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh
tế vĩ mô được duy trì, các mặt: chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định Các thành tựu này khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Nó được các nước trong khu vực cũng như các đối tác có quan hệ với Việt Nam thừa nhận và xem đây là một thuận lợi trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Dưới đây là cái nhìn tổng quát về thành tựu kinh tế - xã hội của 10 tỉnh tiếp giáp Campuchia:
Kon Tum:
Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,77% so với cả nước Trong
đó, các ngành nông - lâm - thủy sản tăng 7,3%, ngành công nghiệp - xây
Trang 2020
dựng tăng 17,49%, ngành dịch vụ tăng 18,34% và chỉ số giá tiêu dùng tăng 9,88% Thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.632,2 tỷ đồng, vượt 0,5% so với kế hoạch Tỉnh Kon Tum phấn đấu trong năm 2013, thu ngân sách nhà nước tại địa bàn đạt trên 1.830 tỷ đồng và kim ngạch xuất khẩu đạt trên
100 triệu USD Thực hiện đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
và sản phẩm chủ lực của tỉnh như Sâm Ngọc Linh, rau hoa xứ lạnh, nuôi cá tầm, cá hồi gắn với tìm kiếm thị trường tiêu thụ
Với những nỗ lực của tỉnh trong thời gian qua thì hiện nay tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 38,2%, đồng thời giải quyết việc làm cho khoảng 6.200 lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5% Thu nhập bình quân đầu người đạt 22,12 triệu đồng, và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 21,46% Tuy nhiên trong các tỉnh Tây Nguyên, Kon Tum lại là tỉnh có mức thu nhập bình quân đầu người đứng ở mức thấp nhất và chỉ bằng 85% mức bình quân chung của vùng Hoạt động giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của tỉnh Kon Tum có sự phát triển cả về lượng và chất
Đắk Lắk:
Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa , dịch vụ của tỉnh trong vài năm trở lại đây luôn đứng ở mức cao nhất so với các tỉnh còn lại trong khu vực Tây Nguyên Kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản Năm 2012 tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 51,1%; công nghiệp-xây dựng 25,4% và dịch vụ 23,5% Về giá trị xuất khẩu, Đắk Lắk chiếm 51,5% toàn vùng (đứng thứ nhất; hơn 2 lần Lâm Đồng; hơn 2 lần các tỉnh còn lại) Đắk Lắk đứng thứ hai so với các tỉnh Tây Nguyên về thu ngân sách, với 27,3% (sau Lâm Đồng và trước các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông) So với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, hiện Đắk Lắk cũng đang dẫn đầu về sản lượng lương thực (44,4%); và một số
Trang 2121
cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao như: cà phê (41,9%), điều (32,4%), cao su (24,5%) Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong thời kỳ 2010 - 2012 chưa cao, đứng sau Gia Lai, Đắk Nông
Trong những năm qua, Đắk Lắk cũng như các tỉnh Tây Nguyên khác được Nhà nước quan tâm đầu tư thông qua các Quyết định 168, 1354 và nhiều chương trình mục tiêu quốc gia khác; nên các cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, cung cấp điện, nước đã được cải thiện đáng kể Công tác tạo việc làm cho người lao động đã có nhiều chuyển biến tích cực so với cùng kỳ năm trước Ước tỷ lệ thất nghiệp chung toàn tỉnh 1,76%, giảm đáng kể, việc làm của người lao động ổn định; thu nhập của người dân được tăng lên Tỷ lệ hộ nghèo giảm, năm 2011 là 17,39% nhưng đến nay con số này chỉ ở mức 15,24% Thu nhập GDP bình quân đầu người chỉ đứng thứ 4 trong vùng (hơn được Kon Tum) Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác của Đắk Lắk cũng còn ở mức thấp so với bình quân chung toàn vùng
Đắk Nông:
Hoạt động thương mại của tỉnh trong thời gian qua diễn ra rất sôi động, tỉnh phát triển thương mại theo hướng khai thác và phục vụ tốt thị trường nội tỉnh kết hợp đẩy mạnh lưu thông hàng hóa và giao lưu kinh tế với các tỉnh trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh, thành phía Nam và miền Trung Tốc
độ tăng trưởng kinh tế trong 03 năm 2011-2013 trong khoảng từ 12,25% đến 12,75%, ước tốc độ tăng trưởng kinh tế cả kỳ là 13,31%, dự kiến sẽ không đạt chỉ tiêu của Nghị quyết là 15% Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực: nông lâm nghiệp giảm từ 59,41% xuống còn 56,53%, ước cuối nhiệm kỳ là 48,49%; công nghiệp, xây dựng tăng từ 20,96% lên
Trang 2221,9%, vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết
Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh năm 2013 đạt khoảng 29,87 triệu đồng/người/năm; ước đến năm 2015 đạt 36,18 triệu đồng/người/năm, vượt kế hoạch đề ra là 27 triệu đồng/người/năm Lao động được đào tạo nghề từ 2011-2013 là 10.768 người, đạt 44,8% kế hoạch; giải quyết việc làm cho 42.489 người, đạt 48% kế hoạch Tỷ lệ hộ nghèo hiện còn 23,25%, bình quân giảm 3%/năm Hệ thống trường học, giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắc Nông tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng tỉnh cũng đã tạo những điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư trong việc cung cấp các dịch
vụ như điện, nước, dịch vụ bưu chính viễn thông, tín dụng…
Gia Lai:
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ ước đạt 26.900 tỷ đồng, tăng 27,2%
so với năm 2012; hàng hóa cơ bản đáp ứng được nhu cầu mua sắm của nhân dân So với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên thì tổng doanh thu
của tỉnh cao thứ hai trong toàn khu vực chỉ sau Đắk Lắk Kim ngạch xuất
khẩu cả năm ước đạt 380 triệu USD, đạt 126,7% kế hoạch, tăng 9,3 Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 60 triệu USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm
trước Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 10.350 tỷ đồng, bằng 98,5% kế hoạch, tăng 11,9%
Trang 2323
Hiện nay, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt, GDP bình quân đầu người đạt 26,16 triệu đồng (tương đương 1.242 USD, tăng 21,2% so với năm 2011) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm trên 30% tổng số lao động xã hội Tỉnh đã chỉ đạo sát sao việc thực hiện các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, xoá đói giảm nghèo; lồng ghép có hiệu quả ca c chương trình mục tiêu quốc gia ve giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, xuất khẩu lao động; tính đến cuối năm 2012, dự ước tỷ lệ hộ nghèo
toàn tỉnh giảm còn 20,68% số hộ (tương đương 60.706 hộ) Những năm
gần đây hệ thống giáo dục và y tế Gia Lai từng bước được cải thiện và nâng lên về mặt chất lượng
Tây Ninh:
Bất chấp khó khăn do suy thoái kinh tế, nhiều địa phương ở khu vực Đông Nam Bộ trong đó có Tây Ninh vẫn có bước tăng trưởng khá trong thu hút đầu tư và hoạt động sản xuất công nghiệp, góp phần ổn định kinh tế - xã hội, thực hiện thành công mục tiêu đã đặt ra trong năm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 29,3% Hoạt động xuất, nhập khẩu tiếp tục chuyển biến tích cực: tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 3.136 triệu USD tăng bình quân hàng năm là 28%, tổng kim ngạch nhập khẩu 5
năm đạt khoảng 1.913,8 triệu USD tăng bình quân hàng năm là 24% Tây
Ninh là tỉnh thu hút đầu tư xếp thứ 9/63 tỉnh thành của cả nước, điều này cho thấy đây là “điểm đến” được các nhà đầu tư trong và ngoài nước rất quan tâm
Các chương trình giải quyết việc làm của tỉnh bình quân hàng năm tạo điều kiện giải quyết việc làm cho 27.109 lao động Chương trình giảm nghèo được lồng ghép nhiều chương trình, kế hoạch: chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 134, 135, 160… đã mang lại hiệu quả thiết
Trang 2424
thực: tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3% Cơ sở vật chất trươ ng lơ p ho c đươ c đa u
tư tư nhie u nguo n vo n; các chương tr nh mu c tie u, ca c dự án tiếp tục triển khai để nâng cao chất lượng dạy và học ở các ngành học, cấp học Đồng thời hoạt động chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng được lãnh đạo tỉnh quan tâm, chú trọng
Bình Phước :
Tổng mức bán lẻ hàng hóa của các thành phần kinh tế và ngành kinh tế trong 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm Giá trị xuất khẩu có nhiều khởi sắc hơn so với cùng kỳ trước ( đạt 521.850 ngàn USD) Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2013 ước thực hiện được 118.175 ngàn USD,
đạt 81,5% kế hoạch năm, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước
Thời gian qua, tỉnh Bình Phước đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực Trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 21 cơ sở đào tạo nghề với quy mô đào tạo từ 4.500 – 5.000 lao động/năm Tỷ lệ thất nghiệp là 3,4% chỉ giảm so với năm 2012 0,1% Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 13,9% GDP bình quân đầu người đạt 560 - 600 USD vào năm 2010 và 1.628 USD vào năm 2020 (theo giá thực tế) Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh là 4,07%
Về cơ sở vật chất giáo dục, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu trường, lớp, không có lớp học ca 3 Tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất trường, lớp học Bên cạnh đó, tỉnh tăng cường, củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh xuống cơ sở, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giải quyết tốt vấn đề chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Đồng Tháp:
Trang 25Hiện nay, toàn tỉnh triển khai thực hiện nhiều giải pháp tạo việc làm cho người lao động Đào tạo và dạy nghề được quan tâm thực hiện, chương trình Mekong 1000, chương trình đào tạo nghề nông thôn được thực hiện rộng khắp, qua đó đã đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46,2% Công tác giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa được tổ chức triển khai thực hiện kịp thời
và đồng bộ các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Về cơ sở hạ tầng: so với các tỉnh trong cùng khu vực thì tỉnh Đồng Tháp là tỉnh có cơ sở hạ tầng kém phát triển nhất Về giáo dục và y tế: việc cung ứng các dịch vụ giáo dục, y tế được mở rộng
Long An:
Theo kết quả công bố của Cục Thống kê tỉnh Long An, GDP 9 tháng năm
2013 ước đạt 13.840 tỷ đồng, tăng trưởng 10,3% Trong đó khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng 4,4% Khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 14,4% và khu vực thương mại – dịch vụ tăng 11,5% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 9 tháng năm 2013 tăng trưởng 19,6% so với cùng kỳ và đạt 72,2% kế hoạch Kim ngạch xuất khẩu đạt 2.022 triệu USD tăng 16,8% và đạt gần 70% kế hoạch Kim ngạch nhập khẩu đạt 1.567 triệu USD tăng 16,5% và đạt hơn 68% kế hoạch Tổng thu ngân sách nhà
nước là 3319 tỷ đồng, tổng chi ngân sách địa phương đạt 3881,3 tỷ đồng
Trong vài năm trở lại đây, tỉnh đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, góp phần giàm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 7,37% Tỉnh tập trung thực
Trang 2626
hiện chương trình giải quyết việc làm - giảm nghèo, đào tạo nghề Mạng lưới cơ sở dạy nghề tiếp tục được phát triển, đến nay có 35 cơ sở dạy nghề, tăng 5 cơ sở so với năm 2012 (gồm 22 công lập, 13 ngoài công lập), đào tạo nghề đạt 100% KH, đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo 52%, trong đó đào tạo nghề đạt 32% Các chương trình phát triển giáo dục, y tế và nâng cao cơ sơ hạ tầng của tỉnh liên tiếp được chỉ đạo thực hiện thông qua các Nghị quyết, chương trình cụ thể
Kiên Giang:
Với sự nỗ lực vượt qua khó khăn của các cấp, các ngành, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực Tình hình kinh doanh thương mại và dịch vụ của tỉnh tiếp tục tăng khá, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ ước 23.510 tỷ đồng, đạt 47,97% kế hoạch và tăng 18,48% so với cùng kỳ; trong đó, kinh tế ngoài quốc doanh tăng 19,58%, kinh tế nhà nước giảm 10,53% so với cùng kỳ năm 2012 Công tác kiểm tra, ngăn chặn các hiện tượng đầu cơ, găm hàng, tăng giá; chống gian lận thương mại và buôn lậu qua biên giới được duy trì thường xuyên Kim ngạch xuất - nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh ước đạt 86,12 triệu USD, tăng 35,19% so với cùng kỳ; trong đó, giá trị xuất khẩu đạt 57,94 triệu USD, tăng 10,57%; giá trị nhập
khẩu đạt 18,17 triệu USD, tăng 16,65% Tình hình đầu tư và hoạt
động xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch được đẩy mạnh thực hiện, thu hút có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển của tỉnh
Bình quân hàng năm, hệ thống đào tạo nghề của tỉnh đáp ứng nhu cầu học nghề cho khoảng 24.000 lao động Dự kiến đến năm 2015, sẽ đáp ứng nhu cầu học nghề cho khoảng 401.837 người, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên trên 40,7% Hệ thống giáo dục đào tạo của tỉnh có bước phát
Trang 27vụ trên địa bàn năm 2010 đạt 40,86 ngàn tỷ đồng (tương đương 2 tỷ USD)
và tăng bình quân 19%/năm giai đoạn 2006 – 2010 Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 900 triệu USD, tăng gần 5,9% so với năm 2012 (850 triệu USD), tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 34.380 tỷ đồng, bằng 42,5% GDP, tổng thu ngân sách nhà nước 5.642 (tăng 12,57% so năm
2012
Về Giáo dục và đào tạo: An Giang đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển giáo dục đồng thời xây dựng và mở rộng mạng lưới các trường học, các cơ sở đào tạo nghề Về Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng: tỉnh cố gắng thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, quan tâm chăm lo sức khỏe cho toàn dân
Về lao động: lao động làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh An Giang
là 1,27 triệu người Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2013 ước đạt 37% Chất lượng lao động tương đối cao Tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tỉnh đã tổ chức dạy nghề cho 9.542 người, đạt 31,8% kế hoạch Tư vấn và giải quyết việc làm 16.526 người, đạt 50,8% kế hoạch
Trang 2828
Kỳ vọng phát triển
Hình 1 Các tuyến hành lang kinh tế phát triển của khu vực Tiểu vùng sông
Mekong
Kon Tum: là một tỉnh có nhiều lợi thế so sánh và tiềm năng để phát triển
kinh tế xã hội như: vị trí địa lý thuận lợi, giàu tài nguyên thiên nhiên, môi trường kinh doanh thoáng, hệ thống pháp luật tương đối cởi mở…Do đó,
cơ hội thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước là rất lớn Hiện nay, chính quyền và nhân dân tỉnh Kon Tum đã và đang không ngừng nỗ lực xây dựng và quảng bá điểm mạnh của địa phương để thu hút đầu tư
Trang 2929
Đắk Lắk: Đắk Lắk đang phấn đấu xây dựng thành phố Buôn Ma Thuột
trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên Theo Quyết định số 87 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
- xã hội tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 với mục tiêu xây dựng Đắk Lắk trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Tây Nguyên Đây là cơ hội tốt để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh tại Đắk Lắk và tiếp cận thị trường 5 tỉnh Tây Nguyên, khu vực giàu tiềm năng của
Tổ quốc
Đắk Nông: một trong những lợi thể nổi bật của tỉnh so với các tỉnh khác
trong khu vực Tây Nguyên đó là khả năng thu hút vốn đầu tư Khả năng thu hút vốn đầu tư của Đắk Nông cao là do tỉnh có tiềm năng kinh tế, tiềm năng du lịch rất dồi dào Trong số những tiềm năng kinh tế dồi dào của Đắk Nông phải kể đến tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, trong đó đặc biệt là quặng bô-xít Đối với tiềm năng du lịch, trên địa bàn tỉnh có nhiều thắng cảnh thiên nhiên như các thác nước hùng vĩ nằm giữa rừng già, các khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (25.000 ha), Tà Đùng (28.000 ha) và thảo nguyên nhỏ Trảng Ba Cây rộng trên 3 km2 phục vụ du lịch thể thao, cưỡi ngựa, sắn bắn, cắm trại…Tiềm năng du lịch trên là điều kiện để hình thành các cụm du lịch, tour du lịch của tỉnh Đắk Nông nếu được gắn kết được với các tuyến du lịch phía Nam của tỉnh Đắk Lắk, Bình Thuận, Lâm Đồng và TP.HCM sẽ tạo nên hành trình du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước Ngoài ra, Đắk Nông còn có một số sản phẩm nông, lâm nghiệp có lợi thế như bắp, ca phê, hạt điều, cao su, bông sợi, nguyên liệu giấy… để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp Với những lợi thế trên Đắk Nông được kỳ vọng sẽ trở thành một trong số tỉnh phát triển mạnh nhất về ngành công nghiệp và dịch vụ du lịch tại Tây Nguyên
Trang 3030
Gia Lai: là một trong 5 tỉnh có nhiều tiềm năng kinh tế, du lịch nhất khu
vực Tây Nguyên Gia Lai có tới 5 cửa khẩu kinh tế, đây là một trong những nét khác biệt lớn nhất và cũng là một trong những lợi thế để tỉnh nâng cao năng lực HNKTQT Sở hữu các hạ tầng xuất khẩu và thương mại nhiều nhất khu vực Tây Nguyên là điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế biên giới với Campuchia và phát triển các hình thức du lịch biên giới từ đó gia tăng khả năng thu hút đầu tư tại địa bàn tỉnh Với xuất phát điểm cao nên Gia Lai xứng đáng là tỉnh dẫn dầu về phát triển kinh tế- xã hội và phát triển liên kết kinh tế vùng biên giới Campuchia Trong tương lai, tỉnh mong muốn còn phát triển nhanh và mạnh hơn nữa
Tây Ninh: Là một tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ- một trong những
vùng kinh tế trọng điểm được Nhà nước rất chú trọng đầu tư và phát triển- Tây Ninh có nhiều lợi thế so sánh và có năng lực HNKTQT cao Tây Ninh mong muốn trở thành tỉnh công nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bình Phước: là một tỉnh miền núi ở khu vực Đông Nam Bộ với 41 dân tộc
anh em sinh sống, nhiều di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ lâu đời và rất nhiều các danh lam thắng cảnh nổi tiếng Hơn nữa lại có lợi thế về du lịch, khí hậu và nguồn lực lao động Bình Phước mong muốn trở thành điểm thu hút đầu tư lớn tại Đông Nam Bộ
Long An: nằm ở vị trí bản lề giữa Đông và Tây Nam Bộ, giữa vùng trọng
điểm phát triển kinh tế phía Nam và cận kề với thành phố Hồ Chí Minh,
Long An có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Dù bị tác
động của tình hình kinh tế thế giới và những khó khăn trong nước, sức mua của thị trường giảm, hàng tồn kho tăng cao, doanh nghiệp khó có
Trang 3131
điều kiện tiếp cận nguồn vốn ngân hàng…, song kinh tế Long An vẫn tiếp tục tăng trưởng nhanh Tỉnh kỳ vọng trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long và trở thành trung tâm kinh tế phát triển bậc nhất tại Việt Nam
Đồng Tháp: Với vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu đặc trưng và thổ nhưỡng
riêng biệt mà Đồng Tháp có lợi thế để phát triển ngành nông nghiệp Tỉnh
có điều kiện rất thuận lợi để sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm nông sản
mà chủ yếu là xuất khẩu gạo Nguồn nguyên liệu nông - thuỷ sản dồi dào của tỉnh chính là lợi thế để phát triển ngành công nghiệp chế biến Tuy nhiên, so với các tỉnh trong cùng khu vực thì tỉnh Đồng Tháp là tỉnh có cơ
sở hạ tầng kém phát triển nhất, tài nguyên rừng và khoáng sản không nhiều Với những lợi thế trên trong tương lai Đồng Tháp phấn đấu trở thành tỉnh mạnh về xuất khẩu nông phẩm, đưa các sản phẩm đặc trưng của tỉnh tiếp cận với thị trường quốc tế
Kiên Giang: có nhiều lợi thế mà không phải tỉnh nào cũng có Kiên Giang
có tiềm năng kinh tế với nguồn lợi vô cùng to lớn về thuỷ sản; tiềm năng
du lịch; hạ tầng giao thông thuận lợi; phong phú về các sản phẩm đặc trưng… Trong tương lai tỉnh mong muốn có thể phát triển đồng bộ về kinh tế- xã hội, khai thác mọi lợi thế vốn có để trở thành trung tâm kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long
An Giang: tỉnh tập trung phát triển 2 mặt hàng thế mạnh là lúa và cá,
phấn đấu đưa chúng trở thành mặt hàng chiến lược của An Giang…An Giang sẽ chú trọng phát huy thế mạnh nông nghiệp nhưng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển Theo đó, tỉnh sẽ đẩy mạnh liên kết và tìm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp thông qua chương trình hợp tác với Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Trang 3333
PHẦN II – NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CÁC TỈNH TIẾP GIÁP VỚI VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA
Trang 3434
KẾT QUẢ TỔNG THỂ
Trang 3535
Kết quả xếp hạng
Trải qua năm 2012 với nền kinh tế đầy biến động, 63 tỉnh thành trên cả nước nói chung và 10 tỉnh tiếp giáp với Campuchia nói riêng đều có sự nỗ lực không ngừng để cải thiện hình ảnh của địa phương, nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế Dưới đây là bảng kết quả xếp hạng năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các tỉnh tiếp giáp Campuchia dựa trên phân tích
Trang 3636
(1) Địa phương nhóm Phát triển: Tây Ninh, Đồng Tháp Bởi có sự tăng hạng ở một số trụ cột quan trọng như Đầu tư, Con người Trong đó, Tây Ninh tăng đáng kể ở trụ cột Đầu tư và Đặc điểm địa phương, còn Đồng Tháp thì tăng nhẹ ở trụ cột Con người và Cơ sở
hạ tầng, Đặc điểm địa phương Tuy nhiên, Thể chế và Thương mại ở hai địa phương này có sự sụt giảm nhẹ Mặc dù tổng thể vẫn mang đến sự tăng hạng so với nghiên cứu năm 2010 song điều này là dấu hiệu cho thấy lộ trình hội nhập của Tây Ninh và Đồng Tháp đang cần nhiều hơn những chính sách và dự án nhỏ lẻ mà thay vào đó là một
kế hoạch dài hơn và chiến lược tổng thể
(2) Địa phương nhóm Duy trì: Long An, Kiên Giang, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắc Trong đó, nhóm 1 là Duy trì với kết quả tích cực như Long An, Kiên Giang bởi trụ cột Thương mại, Du lịch không có nhiều
sự thay đổi, và tăng hạng ở trụ cột Đặc điểm địa phương và Thể chế Nhóm 2 là Duy trì với kết quả giảm sút là Kon Tum, Gia Lai ở hầu hết các trụ cột Riêng Đắk Lắc là địa phương duy nhất duy trì ở tất
cả các trụ cột và có cải thiện không đáng kể ở trụ cột Thể chế Điều này cho thấy các địa phương ở nhóm 1 Duy trì cần đến một kế hoạch táo bạo hơn cho phát triển địa phương và địa phương ở nhóm 2 cần sự cải cách và tái cấu trúc triệt để địa phương có thể hội nhập sâu hơn, rộng hơn với bên ngoài
(3) Địa phương nhóm Giảm hạng: An Giang Sụt giảm ở tất cả các trụ cột mà nhiều nhất là Thể chế và Đặc điểm địa phương Điều này cho thấy sau quá trình phát triển liên tục và nỗ lực không ngừng của
An Giang thì địa phương này bắt đầu chạm vào nút chững Kết quả hàm ý rằng An Giang còn có thể tiếp tục phát triển và hội nhập hơn
Trang 3737
nữa nhưng nếu chỉ với những nội dung, chương trình mà vài năm qua An Giang đang thực hiện cho hội nhập sẽ không những không giúp cho địa phương này tiến xa hơn như Tây Ninh, Đồng Tháp mà còn có thể gây hậu quả ngược lại
(4) Địa phương nhóm không có dữ liệu đối sánh do hạn chế về thu thập dữ liệu đánh giá có 2 tỉnh là: Bình Phước và Đắk Nông
Tương quan 8 trụ cột đối sánh toàn quốc
Sự đan xen phức tạp và theo nhiều chiều kích khác nhau của các nhân tố trụ cột trong hệ thống tiêu chí tạo nên một bức tranh đa màu sắc về hội nhập kinh tế quốc tế tại từng địa phương Việc xem xét vị trí của 10 tỉnh tiếp giáp Campuchia trong tương quan 8 trụ cột với cả nước giúp chúng ta phần nào nhận thấy được thế mạnh, điểm nổi bật của từng tỉnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cụ thể:
(1) Đồng Tháp, Tây Ninh, An Giang có mức độ tương đồng cao,có các thế mạnh về các trụ cột cơ sở hạ tầng, thể chế địa phương, thương mại và đầu tư Các tỉnh này cùng có mức độ hội nhập cao hơn so với Kiên Giang nhưng cùng kém Long An
(2) Bình Phước, Kon Tum được đánh giá là kém hơn so với các địa phương còn lại về khả năng hội nhập
(3) Đắk Lắc, Gia Lai, Đắk Nông ở nhóm giữa và thể hiện sự cố gắng trong mức độ hội nhập Với những thế mạnh về văn hoá, du lịch thì trong tương lai các tỉnh này được kỳ vọng rất lớn về khả năng hội nhập và phát triển
Trang 3838
Hình 2 Tương quan 8 trụ cột
Trang 3939
KẾT QUẢ CỤ THỂ
Trang 4040
THƯƠNG MẠI