tất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chínhtất cả liên quan đến khiếu nại hành chính
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dỡng con ngời, là môi ờng quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) Gia đình tốt, thì xã hộimới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt
tr-Nhận thức đợc tầm quan trọng của gia đình trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nớc ta đã thiếtlập chế độ hôn nhân gia đình mới tiến bộ, thay thế cho chế độ hôn nhân gia đìnhphong kiến, lạc hậu Quyết tâm xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình(HN&GĐ) mới của Đảng và Nhà nớc ta đợc thể hiện rất rõ trong các Hiếnpháp năm 1946, 1959, 1980 và Điều 64, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận:
Gia đình là tế bào của xã hội Nhà nớc bảo hộ hôn nhân vàgia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ mộtchồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy concái thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng vàchăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nớc và xã hội không thừa nhận việcphân biệt đối xử với các con
Để đảm bảo thực hiện đúng đắn, đầy đủ chế độ HN&GĐ mới tiến bộ vàtuân thủ triệt để Hiến pháp, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985, cũng nh BLHSnăm 1999 đều đã quy định cụ thể các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, góp phầnngăn chặn, hạn chế và từng bớc xóa bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phongkiến, lạc hậu
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm có chiều hớng gia tăng,diễn biến phức tạp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, kể cảtrong lĩnh vực HN&GĐ Đáng chú ý, các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ không
Trang 2có xu hớng gia tăng, nhng tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng, gây
d luận xấu trong xã hội
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ và hônnhân gia đình cho thấy, mặc dù đây là các tội phạm mà tính chất nguy hiểmcho xã hội không cao, nhng có ảnh hởng rất lớn đến đời sống gia đình; trênthực tế, các tội phạm này xảy ra rất nhiều, song việc xử lý bằng các chế tàihình sự còn rất hạn chế Thực tiễn áp dụng các tội xâm phạm chế độ HN&GĐcũng đã đặt ra nhiều vấn đề vớng mắc, đòi hỏi khoa học luật hình sự phảinghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận nh: khái niệm các tộixâm phạm chế độ HN&GĐ, ý nghĩa của việc quy định các tội phạm này trongpháp luật hình sự Trong khi đó, xung quanh những vấn đề này, vẫn còn rấtnhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân
và gia đình - một số khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học ", mang tính
cấp thiết, không những về lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ là nhóm tội phạm có tính nhạycảm cao, phức tạp, đã đợc một số nhà luật học trong nớc quan tâm nghiên cứu
ThS Bùi Anh Dũng đã có công trình "Tìm hiểu các tội xâm phạm quyền tự do
dân chủ của công dân, các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình", Nxb
Lao động, Hà Nội, 2003; ThS Trịnh Tiến Việt đã có các công trình: "Một số vấn
đề cần lu ý khi áp dụng các quy định tại chơng các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí khoa học Pháp lý, Tr-
ờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2003, "Tội từ chối hoặc trốn
tránh nghĩa vụ cấp dỡng trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí Kiểm sát, số
4/2002, "Về tội ngợc đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu,
ngời có công nuôi dỡng mình trong Bộ luật hình sự 1999", Tạp chí Kiểm sát,
số 9/2002,); tác giả Nguyễn Quốc Việt chủ biên cuốn sách: Bộ luật hình sự
mới của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí
Trang 3Minh, 2001, trong đó có đề cập chơng XV - Các tội xâm phạm chế độ hôn
nhân và gia đình; tác giả Nguyễn Ngọc Điệp có công trình: "Tìm hiểu các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình và các tội đối với ngời cha thành niên", Nxb Phụ nữ, Hà Nội; các tác giả Phan Đăng Thanh và Trơng Thị Hòa
có công trình: Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xa và nay, Nxb Trẻ,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2000
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau củanhóm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, nhng cha có công trình nào nghiêncứu một cách toàn diện và có hệ thống về nhóm tội phạm này dới góc độ pháp
lý hình sự và tội phạm học
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranhphòng, chống các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, đề xuất những giải phápmang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống nhóm tộiphạm này
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt đợc mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết cácnhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng củacác tội xâm phạm chế độ HN&GĐ; phân tích các quy định của pháp luật hình
sự một số nớc trên thế giới về loại tội phạm này
- Phân tích và đánh giá tình hình, nguyên nhân và điều kiện các tộixâm phạm chế độ HN&GĐ, thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạmnày; dự báo tình tội phạm này trong những năm tới
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòngchống các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
Trang 4Đối tợng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ dới góc độ pháp
lý hình sự và tội phạm học ở Việt Nam, thời gian từ năm 1997 đến năm 2004
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhànớc và pháp luật, những thành tựu của các khoa học: triết học, tội phạm học,luật hình sự, tâm lý học, xã hội học
-Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án
về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, các báo cáo tổng kết, số liệu thống kêcủa Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
Phơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử
Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phơng pháp: hệ thống,phân tích, tổng hợp, lịch sử, cụ thể, lôgíc, kết hợp với các phơng pháp khác
nh so sánh, điều tra xã hội
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý ViệtNam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệthống về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ Có thể xem những nội dung sau
đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm chế độHN&GĐ; những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của các tội phạm này trongpháp luật hình sự hiện hành
Trang 5- Phân tích, đánh giá những quy định về các tội xâm phạm chế độHN&GĐ trong pháp luật hình sự một số nớc trên thế giới nhằm rút ra nhữnggiá trị hợp lý trong lập pháp hình sự, bổ sung cho những luận cứ và giải pháp
đợc đề xuất trong luận văn
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình các tội xâm phạm chế độHN&GĐ ở Việt Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệuquả đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
6 ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quantrọng đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạmchế độ HN&GĐ ở nớc ta Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tácgiả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào kho tàng lý luận về tộiphạm học, luật hình sự, cũng nh vào cuộc đấu tranh phòng, chống nhóm tộiphạm có tính nhạy cảm cao và phức tạp này
Luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tácnghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự,tội phạm học nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quanCông an, Viện kiểm sát (VKS), Tòa án
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 110 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mụctài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chơng, 9 mục
Trang 6Chơng 1
Các tội Xâm Phạm Chế Độ HÔN NHÂN Và GIA Đình
Trong luật hình sự việt nam
1.1 khái lợc sự hình thành và phát triển những quy định
về các tội Xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Giai đoạn từ thời kỳ nhà Lý cho đến trớc Cách mạng tháng Tám năm 1945
Hôn nhân là một vấn đề hệ trọng đối với con ngời, gia đình là nền tảngcủa xã hội Vì vậy, ngay từ thời phong kiến, HN&GĐ luôn luôn là lĩnh vực đ-
ợc Nhà nớc rất quan tâm điều chỉnh bằng pháp luật
Trong Bộ luật thành văn đầu tiên của Nhà nớc ta - Bộ Hình th, đợc banhành năm 1042 dới thời Lý Thái Tông, vấn đề HN&GĐ chiếm giữ một vị tríquan trọng và đợc quy định trong nhiều điều luật Nét đặc trng chủ yếu củacác quy định này là quyền uy tập trung trong tay ngời chồng, mà mọi thànhviên có bổn phận phục tùng; ngời chồng đợc phép bỏ vợ trong trờng hợp ngời
vợ phạm một trong các tội "thất xuất", còn ngời vợ sẽ bị trừng phạt nghiêmkhắc nếu ruồng bỏ chồng; con cái không làm tròn đạo hiếu sẽ bị trừng phạt.Trách nhiệm giáo dục con cái tuân theo đạo lý thuộc về cha mẹ, nếu lơ là tráchnhiệm thì chính cha mẹ cũng bị trừng phạt [28, tr 59]
Trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) - Bộ luật chính thống vàquan trọng nhất của triều đại nhà Lê, mời tội ác (thập ác) đã đợc quy định tại
Điều 3, trong đó có tới bốn tội liên quan đến HN&GĐ, đó là các tội:
4 ác nghịch, là đánh và mu giết ông bà, cha mẹ, bác chú,thím, cô, anh, chị em, ông bà ngoại, ông bà cha mẹ chồng
7 Bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha
mẹ dạy bảo, nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ, lấy
Trang 7chồng, vui chơi ăn mặc nh thờng; nghe thấy tang ông bà, cha mẹ màkhông cử ai (tang lễ); nói dối là ông bà, cha mẹ chết.
8 Bất mục, là giết hay đem bán những ngời trong họ phải đểtang 3 tháng trở lên, đánh đập hoặc tố cáo chồng, cùng những họhàng từ tiểu công trở lên
9 Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đơng chức tạinhiệm, giết thầy học; nghe thấy tin chồng chết mà không cử ai, lạivui chơi ăn mặc nh thờng, cùng là tái giá [36, tr 36-37]
Ngoài ra, trong Quốc triều hình luật còn có hẳn một chơng hộ hôn (hônnhân gia đình) gồm 58 điều luật, trong đó có một số điều quy định những trờnghợp bị cấm kết hôn, nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt, đó là là các trờng hợp:
đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cới vợ, khi ông bà,cha mẹ bị giam cầm tù tội mà lấy vợ, lấy chồng Ví dụ: Điều 317 quy định:
"Ngời nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cới vợthì xử tội đồ, ngời khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử biếm ba t và đôi vợchồng mới cới phải chia lìa" [36, tr 122] Bộ luật này còn có một số quy địnhthể hiện t tởng phong kiến coi khinh nghề hát xớng nh quy định tại Điều 323:
"Các quan và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xớng làm vợ cả, vợ lẽ, đều xửphạt 70 trợng, biếm ba t; con cháu các quan viên mà lấy những phụ nữ nóitrên, thì xử phạt 60 trợng; về đều phải ly dị" [36, tr 123]
Dới thời thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, Việt Nam vẫn là một nớc thuộc
địa nửa phong kiến, chính quyền thực dân và giai cấp địa chủ phong kiến vẫnduy trì chế độ hôn nhân phong kiến đã tồn tại từ nhiều thế kỷ, thừa nhận sự c -ỡng ép kết hôn của cha mẹ đối với con cái, bảo vệ chế độ nhiều vợ (đa thê),duy trì quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình Điều thứ 128Luật hình An Nam thi hành ở Bắc Kỳ quy định: "Ngời vợ hay vợ lẽ hiện đơng
có chồng mà phạm tội thông gian, xét ra quả thực, phải phạt giam từ ba tháng
Trang 8đến hai năm và phạt bạc từ bốn mơi đồng đến bốn trăm đồng, ngời gian phu bịphạt cũng thế" [55, tr 21] Điều thứ 135 của Bộ luật còn quy định:
Ngời vợ hay vợ lẽ hiện đơng có chồng, cha tuyên cáo sự lyhôn, mà đi lấy chồng khác, phải phạt giam từ một năm đến nămnăm và phạt bạc từ năm đồng đến hai trăm đồng
Ngời có vợ cha tuyên cáo sự tiêu hôn mà đi lấy vợ khác,phải phạt giam từ ba tháng đến một năm và phạt bạc từ hai đồng đếnmột trăm đồng [55, tr 22]
Bộ luật hình canh cải áp dụng tại Nam Kỳ cũng quy định những tộiphạm và hình phạt thích ứng để bảo vệ chế độ một chồng nhiều vợ Theo Bộluật này, bị coi là phạm tội thông gian khi một ngời đàn bà đã có chồng rồi màcòn ân tình với một ngời đàn ông khác, còn đối với đàn ông có vợ thì hành vingoại tình không coi là tội phạm [38, tr 202]
1.1.2 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cho đến trớc khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân nontrẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất Nền kinh tế của đất n ớc vốn
đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh và thiêntai tàn phá ở miền Bắc, khoảng 200.000 quân Tởng Giới Thạch mợn danhnghĩa Đồng Minh vào tớc vũ khí quân Nhật, nhng dã tâm của chúng là giúpbọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính phủphản động làm tay sai cho chúng ở miền Nam, quân đội Pháp đợc quân Anhyểm trợ xâm lợc chiếm Sài Gòn, rồi sau đó đánh rộng ra các tỉnh ở Nam Bộ vàNam Trung Bộ
Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó làdiệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác định giữvững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu" [18, tr 468] Vì vậy, từ khi Cách
Trang 9mạng tháng Tám thành công cho đến năm 1954 là thời điểm ký Hiệp địnhGiơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ ta là Chính phủ khángchiến, pháp luật ta cũng là pháp luật kháng chiến Trong hoàn cảnh khó khăn
đó, Nhà nớc ta vẫn rất quan tâm xây dựng chế độ HN&GĐ mới tiến bộ, từng
b-ớc xóa bỏ những quy định khắt khe của chế độ thực dân, phong kiến đối vớiphụ nữ (Sắc lệnh số 97/SL ngày 12-05-1950) Tuy nhiên, do phải tập trungquy định các tội phạm liên quan đến sự an nguy của chính quyền nhân dân nhcác tội phản bội Tổ quốc, tội gián điệp, tội hối lộ, tham ô , cho nên, trong giai
đoạn này, Nhà nớc ta cha có quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ đợc ký kết, miềnBắc hoàn toàn đợc giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn taysai thống trị Từ khi Luật HN&GĐ đợc ban hành năm 1959, đời sống HN&GĐ
đã có những chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, những hành vi vi phạm phápluật HN&GĐ vẫn xảy ra phổ biến ở mức độ nghiêm trọng, Trớc tình hình đó,TANDTC đã có Thông t số 332-NCPL ngày 04-04-1966 hớng dẫn về xử lýhình sự đối với 8 hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐ, đó là cáchành vi: tảo hôn, cỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ, yêu sáchcủa cải trong việc cới hỏi, lấy nhiều vợ - lấy vợ lẽ, thông gian, đánh đập hoặcngợc đãi vợ, đánh đập hoặc ngợc đãi con, ngợc đãi bố mẹ Đây là văn bảnpháp lý đầu tiên hớng dẫn xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêmtrọng pháp luật HN&GĐ kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công Thông
t số 332-NCPL ngày 04-04-1966 đã đề cập về từng hành vi vi phạm nh sau:
Thứ nhất, đối với hành vi tảo hôn, Thông t nêu rõ:
Đối với nạn tảo hôn chủ yếu là giáo dục; cá biệt, nếu có tìnhtiết nghiêm trọng nh: đã đợc chính quyền, đoàn thể giải thích, thuyếtphục, ngăn cản mà vẫn cố ý vi phạm; hoặc đã gây ảnh hởng chính trịxấu thì có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tù treo hay tù giam Đối tợng
xử phạt có thể là cha mẹ của đôi trai gái, ngời có trách nhiệm nuôi
Trang 10dỡng (nếu trai hoặc gái cha đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự), hoặccả đôi bên trai gái (nếu họ đã đến tuổi chịu TNHS: 15 tuổi [42, tr 465].
Thứ hai, đối với hành vi cỡng ép kết hôn, Thông t nêu rõ:
Đối với hành động cỡng ép kết hôn, vi phạm quyền tự do kếthôn, chủ yếu là giáo dục, cá biệt, nếu có tình tiết nghiêm trọng, cóthể phạt cảnh cáo, tù treo hay tù giam
Tình tiết nghiêm trọng ở đây là: có kèm theo tảo hôn; đã đợcchính quyền, đoàn thể giải thích, thuyết phục, ngăn cản mà vẫn cố ý
vi phạm; có kèm theo đánh đập tàn nhẫn; đã gây ảnh hởng chính trịxấu; rõ ràng là nạn nhân vì bị cỡng ép kết hôn mà sự sát [42, tr.467]
Thứ ba, đối với hành vi cản trở hôn nhân tiến bộ, Thông t hớng dẫn:
Đối với hành động cản trở hôn nhân tự do, tiến bộ, chủ yếu
là giáo dục, cá biệt nếu có tình tiết nghiêm trọng có thể phạt cảnhcáo, tù treo, hay tù giam nếu rõ ràng là nạn nhân vì bị cản trở hônnhân tự do và tiến bộ mà tự sát, cần phạt tù giam
Tình tiết nghiêm trọng ở đây là: có kèm theo cỡng ép kếthôn; đã đợc chính quyền, đoàn thể giải thích, thuyết phục, ngăn cản
mà vẫn cố ý vi phạm; có kèm theo lăng nhục thậm tệ, nhục hình tầnnhẫn; đã gây ảnh hởng chính trị xấu [42, tr 468]
Thứ t, đối với hành vi yêu sách của cải trong việc cới hỏi, tức là sự đòi
hỏi về tiền, vàng, quần áo, gạo, thịt, rợu trong việc cới hỏi của nhà gái đốivới nhà trai với ý nghĩa là điều kiện để đợc kết hôn, Thông t hớng dẫn: "Vềmặt hình sự, nếu việc yêu sách của cải trong việc cới hỏi gắn liền với tảo hôn,hoặc cỡng ép kết hôn, hoặc cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ thì cần chú ý kếthợp xem xét, đánh giá trong những trờng hợp phải xử lý nạn tảo hôn, cỡng épkết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự do và tiến bộ" [42, tr 469]
Trang 11Thứ năm, đối với hành vi lấy nhiều vợ - lấy vợ lẽ, Thông t hớng dẫn:
Đối với ngời lấy nhiều vợ, lấy vợ lẽ (từ sau ngày ban hànhLuật HN&GĐ) chủ yếu vẫn là giáo dục, phê bình, để ngăn ngừa vàchấm dứt Cá biệt, nếu có tình tiết nghiêm trọng thì có thể bị xử phạtcảnh cáo hoặc tù treo hay tù giam về tội "lấy nhiều vợ" (hoặc tội lấy
vợ lẽ) Nếu bị cáo đã bị xử phạt cảnh cáo hoặc tù treo mà vẫn khôngchịu cắt đứt với ngời vợ lẽ thì phải phạt tù giam
Tình tiết nghiêm trọng ở đây có thể là: đã đợc giáo dục, giảithích mà vẫn cố tình vi phạm; đã đợc Tòa án tuyên bố cuộc kết hôn
là bất hợp pháp mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng; hành vi cótính chất lừa dối cơ quan, đoàn thể, lừa dối vợ trớc hoặc vợ sau; gây
ảnh hởng, tác hại xấu, d luận phản đối [42, tr 470]
Thứ sáu, đối với hành vi thông gian, tức là hành vi quan hệ tình dục
bất chính giữa một bên đang có vợ hoặc có chồng với ngời khác (dù là ngờinày đã có hoặc cha có vợ, có chồng), Thông t nêu rõ:
Trong tình hình xã hội miền Bắc nớc ta hiện nay, không thểcoi thông gian là một khuyết điểm về sinh hoạt cá nhân, mà khi cónhững tình tiết nghiêm trọng nhất định phải coi thông gian là mộttội phạm đã xâm phạm đến quan hệ HN&GĐ đợc pháp luật bảo vệ,
đến thuần phong mỹ tục và đến trật tự xã hội
Đờng lối xử lý cần thiết hiện nay đối với tội thông gian là:biện pháp ngăn chặn tệ nạn này chủ yếu vẫn giáo dục Các cơ quan,
đoàn thể cần tăng cờng công tác giáo dục quần chúng về đạo đức,xã hội mới, chống những t tởng và nếp sống sa đọa, đồi bại, trụy lạc
do xã hội cũ để lại
Trong một số ít trờng hợp cần thiết, có thể dùng biện pháp tpháp để làm chỗ dựa cho công tác giáo dục nói trên Những trờnghợp cần thiết đó là:
Trang 12- Thông gian với vợ bộ đội, vợ cán bộ và vợ những ngời vìnhiệm vụ công tác mà phải thoát ly gia đình, tại những địa phơngxảy ra nhiều vụ thông gian, làm ảnh hởng đến tinh thần công táccủa ngời chồng.
- Thông gian có tính chất nghiêm trọng nh: thông gian mộtcách trắng trợn hoặc kéo dài; do thông gian mà phá hoại hạnh phúccủa nhiều gia đình; bất chấp sự giáo dục của cơ quan, đoàn thể hoặc
sự phản đối của gia đình ngời chồng, của ngời vợ, của kẻ ngoại tình
và bị quần chúng công phẫn đòi hỏi phải trừng phạt
- Do thông gian mà dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
nh gây ra án mạng, tham ô lớn, đào ngũ, đào nhiệm hoặc nhữnghành động phạm pháp nghiêm trọng khác [42, tr 471]
Thứ bảy, đối với hành vi đánh đập hoặc ngợc đãi vợ, tức là những hành
động của ngời chồng không đối xử bình đẳng, dân chủ với ngời vợ, xâm hại
đến sức khỏe, nhân cách, quyền tự do của ngời vợ, Thông t hớng dẫn:
Biện pháp chủ yếu vẫn là giáo dục thờng xuyên quan điểmbình đẳng và dân chủ trong quan hệ vợ chồng nhng cần xử lý vềhình sự để hỗ trợ cho công tác giáo dục trong một số trờng hợp cầnthiết nh:
- Đối với những hành động đánh đập nghiêm trọng nh làmchết ngời, gây thơng tích nặng hoặc thơng tật lâu ngày, dẫn đến tựsát, do bọn can phạm bản chất hung bạo, đánh đập một cách hung
ác hoặc dùng thủ đoạn thâm độc gây ra, cần phải nghiêm trị tùy tìnhtiết cụ thể
- Đối với những hành động ngợc đãi cha gây tác hại nghiêmtrọng của những ngời chậm tiến thì chủ yếu là giáo dục, hoặc cảnhcáo Trờng hợp có tác hại nhất định và có bị quần chúng căm phẫn,
Trang 13có thể xử phạt cảnh cáo hoặc án treo hay tù giam khi thấy thật cầnthiết [42, tr 473].
Thứ tám, đối với hành vi đánh đập, ngợc đãi con, ngợc đãi bố mẹ,
Thông t hớng dẫn:
Tập quán lâu đời của nhân dân ta, luật pháp của Nhà nớcchúng ta đòi hỏi con cái phải "kính yêu, săn sóc, nuôi dỡng chamẹ" Tuy nhiên, thỉnh thoảng còn xảy ra trờng hợp con cái ngợc đãi,hắt hủi, không nuôi dỡng bố mẹ già yếu; đôi khi thái độ đối xử vô
đạo đức của con cái đã làm cho bố mẹ tự sát Trong những trờnghợp nghiêm trọng trên, cần đa ra xét xử điển hình một vài vụ đểgiáo dục chung, đồng thời bắt con cái phải nuôi dỡng bố mẹ già yếu[42, tr 474]
Nghiên cứu những quy định trên cho thấy, Thông t số 332-NCPL ngày04-04-1966 của TANDTC đã quán triệt tốt phơng châm, đờng lối chung đốivới việc xử lý về hình sự các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật HN&GĐlà: kiên trì giáo dục, thuyết phục tuân thủ pháp luật là chủ yếu, kết hợp biệnpháp trừng trị đối với những trờng hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luậtHN&GĐ
1.1.3 Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời cho đến trớc khi ban hành Bộ luật hình sự 1999
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, V của Đảng,nhân dân ta đã giành đợc những thành tựu quan trọng trên một số lĩnh vực, cảibiến đợc một phần cơ cấu của nền kinh tế - xã hội, tạo ra những cơ sở đầu tiêncho sự phát triển mới
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải nhiềukhó khăn và khuyết điểm nh chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu mô hình kinh
tế quan liêu, bao cấp nên không thực hiện đợc mục tiêu đã đề ra là ổn định
Trang 14một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân Mặt khác,các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện đợc toàndiện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nớc ta Vì vậy, việc ban hànhBLHS là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phầnthực hiện hai nhiệm vụ chiến lợc là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 27-6-1985, tại kỳ họp thứ
9, Quốc hội nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VII, đã thông qua BLHS, cóhiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi tắt là BLHS 1985)
BLHS 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình sựViệt Nam, nhất là từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết kinh nghiệm đấu tranhphòng, chống tội phạm trong thời gian trớc năm 1985 và dự báo đợc tình hìnhtội phạm trong thời gian tới
Trong Bộ luật này, đã chính thức ghi nhận về mặt pháp lý các tội phạmxâm phạm chế độ hôn nhân gia đình nhằm vào những biểu hiện nghiêm trọngnhất của các tàn tích của chế độ hôn nhân nhân gia đình phong kiến, lạc hậunh: cỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, vi phạm chế độ một
vợ một chồng, tổ chức tảo hôn, loạn luân, ngợc đãi nghiêm trọng hoặc hành hạcha mẹ, vợ chồng, con cái Với quan niệm rằng, gia đình là thiết chế xã hội cótrách nhiệm đầu tiên trong việc bảo vệ quyền lợi của con cái, nhất là con chathành niên và việc đó quan hệ mật thiết với việc bảo đảm hạnh phúc gia đình,nhà làm luật đã quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và cáctội phạm đối với ngời cha thành niên vào Chơng V của BLHS 1985, từ Điều
143 đến Điều 149 và Điều 150 quy định hình phạt bổ sung
BLHS 1985 đã quy định tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tựnguyện, tiến bộ (Điều 143), tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 144),tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 145), tội loạn luân (Điều 146), tội ngợc
đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái (Điều 147) T tởngchỉ đạo trong việc xây dựng các quy định về các tội xâm phạm chế độ
Trang 15HN&GĐ trong Bộ luật là: kiên trì giáo dục và thuyết phục tuân thủ pháp luật,kết hợp biện pháp giáo dục với biện pháp trừng trị đối với những tr ờng hợp viphạm nghiêm trọng Căn cứ vào khách thể bị xâm phạm, có thể chia các tộiphạm này thành hai nhóm trong đó nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhânbao gồm: tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, tội viphạm chế độ một vợ, một chồng, tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn, tội loạn luân
và nhóm các tội xâm phạm chế độ gia đình bao gồm: tội ngợc đãi nghiêmtrọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái
Việc BLHS 1985 quy định các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đánhdấu sự trởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nớc ta
Nghiên cứu những quy định về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐtrong BLHS 1985, cho thấy đặc điểm chung của các tội phạm thuộc nhóm tộinày nh sau:
Thứ nhất, các hành vi khách quan cấu thành các tội xâm phạm chế độ
HN&GĐ thờng phải có các tình tiết nghiêm trọng nh dùng các thủ đoạn thô bạo,xảo quyệt nh hành hạ, ngợc đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách bằng của cải
Thứ hai, đối tợng đợc bảo vệ chủ yếu là ngời cao tuổi, phụ nữ và con
cái mà quyền lợi của họ bị các hành vi ảnh hởng của tàn d t tởng phong kiếntrọng nam, khinh nữ và gia trởng xâm phạm
Thứ ba, mức hình phạt đợc quy định đối với các tội này không cao:
mức hình phạt tối đa đối với hầu hết các tội phạm này là ba năm tù, duy nhấttội loạn luân có mức hình phạt cao nhất là năm năm tù Nh vậy, theo quy địnhtại khoản 2 Điều 8 BLHS 1985, nhóm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đều
đợc coi là những tội phạm ít nghiêm trọng
1.1.4 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1999 cho đến nay
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổimới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã giành đợc những thành tựu quan
Trang 16trọng trên nhiều lĩnh vực Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đấtnớc đã có nhiều khởi sắc, đợc nhân dân ta và bạn bè quốc tế đánh giá cao
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt tíchcực, mặt trái nền kinh tế thị trờng cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực,trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp Trong tình hình đó, BLHS
1985, dù đã đợc sửa đổi, bổ sung 4 lần, nhng còn nhiều điểm bất cập cần phải
đợc sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranhphòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, việc sửa đổi toàn diện BLHS
1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp hình sự Để phục vụ
đợc yêu cầu đề ra, ngày 21-12-1999, Quốc hội nớc Cộng hòa XHCN ViệtNam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua BLHS (sau đây gọi tắt là BLHS 1999),thay thế cho BLHS 1985 BLHS 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2000
Về các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ, BLHS 1999 có những điểmmới cơ bản nh sau:
Thứ nhất, Chơng XV của BLHS 1999 quy định về các tội xâm phạm
chế độ hôn nhân gia đình đợc xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Chơng V củaBLHS 1985 quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình và các tộiphạm đối với ngời cha thành niên Điểm mới đầu tiên dễ nhận thấy là BLHS
1999, đã có điều chỉnh phạm vi của chơng này theo hớng thu hẹp lại chỉ còncác tội xâm phạm chế độ HN&GĐ còn các tội phạm đối với ngời cha thành niên,
đặc biệt là trẻ em đợc điều chuyển sang các chơng thích hợp khác
Nh vậy, Chơng XV của BLHS 1999 quy định các tội xâm phạm chế độhôn nhân gia đình chỉ còn lại gồm 7 điều (từ Điều 146 đến Điều 152)
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội
phạm, BLHS mới đã bổ sung thêm hai tội danh mới, đó là tội đăng ký kết hôn
Trang 17trái pháp luật (Điều 149) và tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dỡng(Điều 152).
Trong chơng này có một tội duy nhất vẫn đợc giữ nguyên nh quy địnhcủa BLHS 1985 Đó là tội loạn luân (Điều 150)
Thứ ba, BLHS 1999 đã bổ sung, sửa đổi cấu thành tội phạm (CTTP)
của một số tội phạm theo hớng hạn chế bớt khả năng xử lý hình sự đối với cáctội này Trong lĩnh vực này, chủ yếu là áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyếtphục và hành chính để giải quyết Chỉ xử lý hình sự trong những trờng hợpthật cần thiết khi các biện pháp giáo dục, phòng ngừa, hành chính tỏ ra không
có hiệu quả
Thứ t, về tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
đợc quy định tại Điều 146
Về cơ bản, tội này vẫn đợc giữ nguyên cấu trúc và hình phạt nh quy
định tại Điều 143 BLHS 1985, nhng có hai điểm mới là:
- Đợc bổ sung thêm một dấu hiệu định tội là "đã xử phạt hành chính vềhành vi này mà còn vi phạm" nhằm thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối vớitội phạm này Điều đó cũng phù hợp với thực tiễn đấu tranh chống loại tộiphạm này
- Mức tối đa của hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội này tăng từ
1 năm theo quy định trớc đây lên 3 năm theo quy định tại Điều 146 BLHS 1999
Thứ năm, về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng đợc quy định tại
Trang 18chồng lại kết hôn hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời mà mình biết rõ là
đang có vợ, có chồng Đây cũng là hành vi nguy hiểm xâm phạm chế độ một
vợ, một chồng, phá hoại hạnh phúc gia đình của ngời khác mà cha bị pháp luậttrừng trị
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, BLHS 1999 quy định xử lý vềhình sự cả trờng hợp ngời cha có vợ, cha có chồng mà kết hôn hoặc chungsống nh vợ chồng với ngời mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ
- Bổ sung thêm hai dấu hiệu định tội mới nhằm hạn chế khả năng xử lý
về hình sự đối với tội này Đó là:
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
- Đã bị xử phạt hình chính về hành vi này mà còn vi phạm
Thứ sáu, về tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn đợc quy định tại Điều 148
BLHS 1999
Về cơ bản, những quy định về tội phạm này vẫn đợc giữ nguyên nh
tr-ớc đây, nhng có bổ sung thêm một dấu hiệu định tội là: "Đã bị xử phạt hànhchính mà còn vi phạm" nhằm hạn chế phạm vi xử lý về hình sự
Về hình phạt: mức cải tạo không giam giữ đợc tăng từ 1 năm lên 2 năm
Thứ bảy, về tội đăng ký kết hôn trái pháp luật đợc quy định tại Điều 149
BLHS 1999
Đây là một tội phạm mới đợc bổ sung vào BLHS 1999 để ngăn ngừa
và trừng trị những hành vi của ngời có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn
đã biết rõ là ngời xin đăng ký không đủ điều kiện kết hôn mà vẫn đăng ký chongời đó Tinh thần chung là chỉ xử lý về hình sự khi đã áp dụng các biện pháphành chính, kỷ luật mà ngời vi phạm vẫn không chịu sửa chữa lỗi lầm củamình, tiếp tục vi phạm
Thứ tám, về tội ngợc đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con
cháu, ngời có công nuôi dỡng mình đợc quy định tại Điều 151 BLHS 1999
Trang 19Tội phạm này cơ bản vẫn đợc giữ nh quy định trớc đây, nhng có một
số điểm bổ sung Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn thấy rằng trong xã hội tacòn xảy ra những trờng hợp hành hạ, ngợc đãi không chỉ giữa cha mẹ, vợchồng, con cái mà cả giữa những ngời thân thích khác trong gia đình nh giữacháu với ông bà, giữa cháu với cô, chú, bác, cậu, dì, thậm chí hành hạ, ngợc
đãi ngay cả với ngời đã từng có công nuôi dỡng mình khôn lớn Đây là nhữnghành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật, xúc phạm thô bạo đến đạo đức xãhội, đến thuần phong mỹ tục và truyền thống đạo lý gia đình Việt Nam Tuynhiên, pháp luật hình sự mới chỉ trừng trị hành vi của những ngời là cha mẹ,
vợ chồng, con cái Còn hành vi của những ngời khác trong gia đình nh đã nêutrên thì có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 111 BLHS 1985 về tội hành hạngời khác Đây là điều không hợp lý, vì cũng là một loại hành vi phạm tội(hành hạ, ngợc đãi) do cùng một loại chủ thể thực hiện (những ngời thân thíchtrong gia đình) xâm phạm cùng một loại đối tợng (những ngời thân thích kháctrong gia đình) nhng lại bị xử lý ở các điều luật khác nhau Vì thế, BLHS 1999
đã có những sửa đổi, bổ sung phù hợp nh sau:
- Bổ sung thêm đối tợng bị ngợc đãi, hành hạ là: ông bà, cháu và ngời
có công nuôi dỡng ngời phạm tội nhằm mở rộng phạm vi đối tợng phải ápdụng theo quy định của điều luật này
- Bổ sung thêm dấu hiệu định tội là: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã
bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm nhằm thu hẹp việc xử lý
về hình sự đối với hành vi này
- Về hình phạt: mức cải tạo không giam giữ đợc tăng từ 1 năm lên 3 năm
Thứ chín, về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dỡng đợc quy
định tại Điều 152 BLHS 1999
Đây là một tội phạm mới đợc bổ sung vào BLHS 1999 nhằm trừng trịnhững ngời có nghĩa vụ cấp dỡng theo pháp luật mà cố tình không thực hiệnnghĩa vụ đó mặc dù mình có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó, đã bị xử
Trang 20lý hành chính hoặc gây hậu quả làm cho ngời đợc cấp dỡng lâm vào tình trạngnguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác.
1.2 Những quy định của bộ luật hình sự 1999 về các tội Xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
1.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Để có thể làm sáng tỏ khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
tr-ớc hết cần làm sáng tỏ khái niệm HN&GĐ
Hôn nhân và gia đình - đó là những hiện tợng xã hội luôn đợc các nhàtriết học, đạo đức học, xã hội học, luật học, sử học quan tâm nghiên cứu Hônnhân là cơ sở của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợphài hòa, chặt chẽ lợi ích của mỗi công dân, Nhà nớc và xã hội
C.Mác và Ph ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng, HN&GĐ
là những phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và
tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp, chặt chẽ
Hôn nhân là hiện tợng xã hội - là sự liên kết giữa ngời đàn ông và ngờiphụ nữ Sự liên kết đó phát sinh và hình thành do việc kết hôn và đợc biểu hiện
ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng Đây làquan hệ giữa hai ngời khác giới tính, bản chất và ý nghĩa của nó thể hiện trongviệc sinh đẻ, nuôi nấng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau những nhu cầutinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày Có thể nói, sản xuất ra cuộcsống chính bản thân mình là nhờ lao động, còn sản xuất ra giống nòi là nhờsinh đẻ, nói cách khác, tồn tại hai mối quan hệ: mối quan hệ tự nhiên và mốiquan hệ xã hội Quan hệ hôn nhân là quan hệ xã hội đợc xác định bởi cácquan hệ sản xuất đang thống trị, vì vậy, tính chất của nó có thể thay đổi, phụthuộc vào quan hệ sản xuất đang thống trị đó
Trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị đều điềuchỉnh các quan hệ hôn nhân bằng pháp luật cho phù hợp với ý chí, nguyện
Trang 21vọng của mình, phục vụ lợi ích của giai cấp mình Xã hội chiếm hữu nô lệ, cóchế độ hôn nhân chiếm hữu nô lệ; xã hội phong kiến có chế độ hôn nhânphong kiến; xã hội t bản có chế độ hôn nhân t sản, còn xã hội XHCN có chế
độ hôn nhân XHCN Trong những xã hội bóc lột, những ngời thuộc giai cấp bịbóc lột thờng khó có thể có quan hệ hôn nhân với những ngời thuộc giai cấpthống trị
Dới chế độ XHCN, hôn nhân thực sự mang tính chất bình đẳng, tựnguyện, tiến bộ, đó không phải là hợp đồng, mà là sự liên kết bền vững giữangời đàn ông và ngời phụ nữ, trên cơ sở yêu thơng, quý trọng lẫn nhau, bảo
đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của đôi bên, cũng nh thỏa mãnnhu cầu sinh đẻ và giáo dục con cái [56, tr 12 -16]
Từ sự phân tích ở trên, có thể đa ra khái niệm hôn nhân nh sau: hônnhân là sự liên kết giữa một ngời đàn ông và một ngời phụ nữ trên cơ sởnguyên tắc bình đẳng, tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chungsống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân Nếu nh hôn nhân là
sự liên kết giữa một ngời đàn ông và một ngời phụ nữ, thì gia đình là sự liênkết của nhiều ngời có quan hệ với nhau do hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi d-ỡng Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sựphát triển của xã hội Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn pháttriển nhất định là nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia đình Do vậy,gia đình là hình ảnh thu hẹp của xã hội, là tế bào của xã hội Trong mỗi hìnhthái kinh tế - xã hội, gia đình mang tính chất và kết cấu phù hợp với hình thái
đó Gia đình XHCN khác về chất so với các kiểu gia đình của các chế độ xãhội trớc đó Dới chế độ XHCN, quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia
đình, phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội
Nh vậy gia đình là sự liên kết của nhiều ngời dựa trên cơ sở hôn nhân,huyết thống, nuôi dỡng, trong đó mọi ngời cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về
Trang 22vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dới sự giúp đỡ củaNhà nớc và xã hội.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm các tội xâm phạm chế
độ HN&GĐ
Các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ cũng là một loại tội phạm, vì vậy
nó phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo TSKH Lê Cảm,phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diệnkhách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý:tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan: tội phạm làhành vi do ngời có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách
có lỗi [30, tr 105]
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học đã đa ra kháiniệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm),
Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội cho rằng:
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là nhữnghành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật hình sự dongời có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật địnhthực hiện bằng lỗi cố ý gây thiệt hại cho các quan hệ hôn nhân vàgia đình mới, tiến bộ xã hội chủ nghĩa Sự gây thiệt hại này thể hiện
đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạmchế độ hôn nhân và gia đình [31, tr 295]
Các tác giả của Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trờng Đại họcLuật cho rằng, "các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành
vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia
đình Việt Nam" [57, tr 405]
Trên cơ sở các quan điểm đợc trình bày ở trên, tôi xin đa ra khái niệm
các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ nh sau nh sau: Các tội xâm phạm chế độ
Trang 23hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do ngời có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện dới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam XHCN.
Hôn nhân và gia đình là một nhóm quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnhcủa rất nhiều ngành luật Luật HN&GĐ quy định về chế độ HN&GĐ, tráchnhiệm của công dân, Nhà nớc và xã hội trong việc củng cố chế độ HN&GĐViệt Nam Luật dân sự cũng điều chỉnh lĩnh vực HN&GĐ thông qua việc điềuchỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ, chồng và các thành viênkhác trong gia đình nh giám hộ, đại diện, nuôi con nuôi, thừa kế, tài sản,quyền sở hữu Luật hình sự không quy định quyền và nghĩa vụ nhân thân haytài sản giữa vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình mà chỉ bảo vệquan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình thôngqua việc quy định một loạt các hành vi bị coi là tội phạm và hình phạt tơngxứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi đó nh: tội vi phạm chế độmột vợ một chồng, tội cỡng ép kết hôn, tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụcấp dỡng
Trong BLHS 1999, các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ đợc quy địnhtại chơng XV Phần các tội phạm (từ Điều 146 đến Điều 152) bao gồm các tội
cụ thể sau: tội cỡng ép kết hôn (Điều 146); tội cản trở hôn nhân tự nguyện tiến
bộ (Điều 146); tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (Điều 147); tội tổ chứctảo hôn (Điều 148); tội tảo hôn (Điều 148); tội đăng ký kết hôn trái pháp luật(Điều 149); tội loạn luân (Điều 150); tội ngợc đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng,con, cháu, ngời có công nuôi dỡng mình (Điều 151); tội hành hạ ông bà, cha
mẹ, vợ chồng, con, cháu, ngời có công nuôi dỡng mình (Điều 151); tội từ chốinghĩa vụ cấp dỡng (Điều 152); tội trốn tránh nghĩa vụ cấp dỡng (Điều 152)
Vì mỗi tội phạm bao giờ cũng đợc cấu thành bởi bốn yếu tố: mặtkhách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể Cho nên, để hiểu và nhận
Trang 24thức một cách sâu sắc nội dung khái niệm các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ,cần làm rõ bốn yếu tố của CTTP nói trên.
Trớc hết, việc nghiên cứu khách thể của các tội xâm phạm chế độHN&GĐ là một trong những vấn đề trọng tâm khi tìm hiểu khái niệm các tộixâm phạm chế độ HN&GĐ, bởi nó là các quan hệ xã hội đợc luật hình sự bảo
vệ, bị các hành vi phạm tội xâm hại
Khách thể của các tội phạm này chính là những nguyên tắc cơ bảnthiết lập chế độ HN&GĐ mới, tiến bộ XHCN Theo Luật HN&GĐ Việt Nam,các nguyên tắc này là: hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng, vợchồng bình đẳng; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, cáctôn giáo, giữa ngời theo tôn giáo với ngời không theo tôn giáo, giữa công dânViệt Nam với ngời nớc ngoài đợc tôn trọng và pháp luật bảo vệ; vợ chồng cónghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; cha mẹ cónghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ tônkính trọng, chăm sóc, nuôi dỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ chăm sóc, phụngdỡng ông bà, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc,giúp đỡ nhau Mọi hành vi xâm phạm những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở, nềntảng cho chế độ hôn nhân gia đình XHCN - khách thể của tội phạm đều có thể
bị xử lý hình sự, sau khi đã áp dụng các chế tài hành chính nhng không cóhiệu quả
Nếu nh khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội đợc luật hình
sự bảo vệ bị các tội phạm xâm hại gây nên những thiệt hại nhất định, thì việcgây nên những thiệt hại đó bao giờ cũng đợc thực hiện bởi hành vi cụ thể tác
động vào đối tợng bị tác động làm thay đổi trạng thái bình thờng của quan hệxã hội đó Sự tác động đó có thể đợc thực hiện bằng hành động hoặc khônghành động, bằng các công cụ, phơng tiện khác nhau để gây ra hậu quả nguyhiểm cho xã hội Đó chính là mặt khách quan của tội phạm Hành vi kháchquan của các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ có khác nhau về hình thức thể
Trang 25hiện, nhng đều có tính chất gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trực tiếpcho các quan hệ HN&GĐ mới tiến bộ XHCN Những hình thức thể hiện củahành vi khách quan có thể là:
- Hành vi cỡng ép kết hôn
- Hành vi cản trở kết hôn
- Hành vi kết hôn hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời khác (mặc dù
đang có vợ có chồng hoặc cha có vợ, có chồng nhng biết rõ ngời mà mình kếthôn hoặc sống chung đang có vợ, có chồng)
Các hành vi khách quan này, nhìn chung đợc thực hiện bằng hình thứchành động Các tội phạm này có thể đợc thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khácnhau, nhng nó chỉ là dấu hiệu bắt buộc nếu đợc quy định cụ thể trong từngCTTP
Trong số các tội này, có ba điều luật quy định hậu quả hoặc đã bị
xử phạt hành chính là dấu hiệu cơ bản thuộc về mặt khách quan (Điều147,
Điều 151 và Điều 152); đối với các tội còn lại, nhà làm luật quy định xử phạthành chính hoặc xử lý kỷ luật là dấu hiệu bắt buộc bên cạnh các dấu hiệu khác
đợc mô tả trong luật Dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính về hành vi này màcòn vi phạm đợc hiểu là trớc đó đã có lần vi phạm, đã bị các cơ quan có thẩmquyền áp dụng một trong các hình thức xử phạt hành chính nh cảnh cáo, phạttiền nhng cha hết thời hạn đợc coi là cha bị xử phạt hành chính mà lại có viphạm chính hành vi đó hoặc thực hiện một trong những hành vi đợc liệt kêtrong điều luật tơng ứng đó Cần lu ý rằng, việc xử phạt hành chính chỉ có hiệulực trong thời hạn một năm, do vậy nếu hành vi vi phạm xảy ra sau thời hạnmột năm kể từ ngày bị xử phạt, thì không đợc coi là một trong những dấu hiệu
để truy cứu TNHS
Tội phạm bao giờ cũng đợc thực hiện bởi những con ngời cụ thể, bởi vìchỉ có con ngời cụ thể mới có thể thực hiện đợc hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 26đợc quy định trong luật hình sự, mới thể hiện đợc yếu tố lỗi, chịu trách nhiệmcá nhân, cũng nh có thể gánh chịu các biện pháp trừng trị, giáo dục, cải tạo màNhà nớc quy định Chủ thể của các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ phải lànhững con ngời cụ thể đã đạt đến một độ tuổi nhất định và có năng lực TNHS.
Ngoài ra, có những tội phạm đòi hỏi chủ thể, ngoài những dấu hiệucủa chủ thể thờng, phải có thêm những dấu hiệu đặc biệt khác Điều đó cónghĩa, nếu thiếu các dấu hiệu đặc biệt đó thì không thể trở thành chủ thể củanhững tội phạm cụ thể đó Ví dụ, chủ thể của các tội: tội loạn luân, hay tội ng-
ợc đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, ngời có công nuôidỡng mình phải là chủ thể đặc biệt
Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng tháitâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành
vi đó gây ra Những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm bao gồm dấuhiệu lỗi, dấu hiệu động cơ, dấu hiệu mục đích Tất cả các tội xâm phạm chế
độ HN&GĐ đều đợc thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Điều đó có nghĩa,những chủ thể của các tội phạm này khi thực hiện hành vi xâm phạm nhữngquan hệ HN&GĐ XHCN đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểmcho xã hội, thấy trớc đợc hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả
định không cao với các chế tài lựa chọn mà cụ thể là mức hình phạt tối đa ởhầu hết các tội chỉ đến ba năm tù (chỉ có tội loạn luân có mức hình phạt tù cóthời hạn tối đa là năm năm)
Trang 271.2.2 Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Nhóm các tội phạm đợc quy định tại chơng XV BLHS xâm phạm vàohai quan hệ xã hội khác nhau đó là HN&GĐ Tuy nhiên, hai nhóm quan hệ xãhội này lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: hôn nhân là cơ sở của gia đìnhcòn gia đình hạnh phúc giữ cho hôn nhân bền vững Cho nên, các nhà làm luật
đã quy định các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ vào một chơng Vì vậy, căn cứvào khách thể trực tiếp bị xâm phạm có thể chia các tội phạm này thành hainhóm: nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và nhóm các tội xâm phạmchế độ gia đình
Nhóm các tội xâm phạm chế độ hôn nhân
1- Tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ (Điều
146 BLHS 1999)
Chế độ hôn nhân đợc xây dựng trên nguyên tắc cơ bản là hôn nhân tựnguyện, tiến bộ, bên trai và bên gái đợc quyền quyết định kết hôn theo ýmuốn, không ai đợc ép buộc nhng phải đảm bảo các điều kiện kết hôn do luật
định nh: đủ tuổi, không phải là ngời đang có vợ, có chồng, không thuộc nhữngtrờng hợp bị cấm kết hôn
Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này chính là nguyên
tắc hôn nhân tự nguyện - một trong những nguyên tắc cơ bản của LuậtHN&GĐ Việt Nam Nói cách khác, hành vi phạm tội đã xâm phạm nguyêntắc hôn nhân tự nguyện đợc ghi nhận ở Điều 64 Hiến pháp 1992 và Điều 2Luật HN&GĐ 2000
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này trớc hết phải là ngời
có năng lực TNHS
Tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có mứctối đa của khung hình phạt là 3 năm tù, cho nên theo quy định tại khoản 3
Trang 28Điều 8 BLHS 1999, đây là tội phạm ít nghiêm trọng Vì vậy, chủ thể của tộiphạm này phải từ đủ 16 tuổi trở lên.
Trên thực tế, chủ thể của các tội này thờng là những ngời đã trởngthành có quyền uy nhất định trong gia đình của bên nam hoặc bên nữ (cha,
me, ông bà, anh chị) nhng cũng có thể là ngời lợi dụng uy quyền về mặt côngtác (thủ trởng đối với nhân viên) hoặc về mặt tín ngỡng (chức sắc trong tôngiáo) hoặc bên nam, đối với bên nữ hoặc ngợc lại
Mặt khách quan của tội phạm: tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn
nhân tự nguyện tiến bộ đòi hỏi ngời phạm tội phải có hành vi cỡng ép kết hônhoặc có hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Thông t liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTCngày 25-09-2001 của Bộ T pháp, Bộ Công an, TANDTC, VKSNDTC hớngdẫn áp dụng các quy định tại chơng XV - Các tội xâm phạm chế độ HN&GĐ(sau đây gọi tắt là Thông t số 01) đã đa ra khái niệm cỡng ép kết hôn nh sau:cỡng ép kết hôn là dùng mọi thủ đoạn bắt buộc ngời khác (bên nam, bên nữhoặc cải hai bên) phải kết hôn trái với ý muốn của họ Theo Thông t số 01,cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ là dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản việc kếthôn của ngời có đủ điều kiện kết hôn theo luật định hoặc có hành vi cản trởngời khác duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc buộc họ phải cắt
đứt quan hệ đó
Các hành vi cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộnói trên chỉ CTTP nếu đã đợc thực hiện bằng các thủ đoạn có tính chất bạolực, tác động tới ý chí của ngời bị hại nh hành hạ, ngợc đãi, uy hiếp tinh thần,yêu sách của cải hoặc thủ đoạn khác
Thông t số 01 đã đa ra khái niệm hành hạ, ngợc đãi nh sau: hành hạ,ngợc đãi là đối xử tàn ác, tồi tệ đối với ngời khác, gây đau khổ về thể xác hoặctinh thần nh: thờng xuyên đánh đập (có thể không gây thơng tích), giam hãm,
Trang 29bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, nhiếc móc, làm nhục nhằm mục đích ỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
c-Thông t này cũng đã đa ra khái niệm uy hiếp tinh thần: uy hiếp tinhthần là đe dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,tài sản hoặc một lợi ích thiết thân của ngời bị đe dọa làm cho ngời đó có căn
cứ để lo sợ thực sự mà phải chịu khuất phục nh đe dọa sẽ đốt nhà, giết ngờithân, tiết lộ bí mật đời t của ngời bị đe dọa, bố mẹ hoặc ngời thân trong gia
đình, đe dọa sẽ tự tử nếu hai bên nam nữ lấy nhau và yêu sách của cải là đòihỏi của cải một cách quá đáng, không nhân nhợng và coi đó là một trongnhững điều kiện để đợc kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôibên nam nữ
Thủ đoạn khác có thể là bất cứ hành vi nào khác mang tính chất épbuộc, làm tê liệt ý chí của ngời bị hại, buộc họ phải nghe theo Ví dụ dùng thủ
đoạn có tính chất bạo lực nh đánh ngời gây thơng tích, hoặc trong một số trờng hợp chịu ảnh hởng của hủ tục cũ là bắt cóc phụ nữ về làm vợbằng cách đón đờng dùng vũ lực bắt ngời con gái đi theo (ví dụ: ngờiH.Mông) [33, tr 353] Tuy nhiên, trong những trờng hợp này chỉ coi là thủ
đoạn của tội cỡng ép kết hôn nếu việc bắt cóc đợc thực hiện hoàn toàn trái với
ý muốn của bên nữ Còn nếu hai bên nam nữ thực sự yêu nhau và muốn tiếntới xây dựng gia đình, nhng gặp phải sự cản trở của gia đình bên trai, bên gáihoặc cả hai bên mà việc bắt cóc chỉ là giả tạo nhằm chống lại sự cản trở thìkhông phải là cỡng ép kết hôn; hoặc việc bắt cóc đi là để phù hợp với nghithức kết hôn truyền thống ở một số dân tộc (ví dụ: ngời Thái) [23, tr 48] nhng
có sự đồng thuận của cả nam và nữ thì cũng không phạm tội
Trong thực tiễn cần phân biệt những thủ đoạn nêu trên với một số ờng hợp nh bố mẹ góp ý kiến với con cái trong việc xây dựng gia đình dù cómang tính chất gia trởng, nhng không kèm theo thủ đoạn ép buộc, thì khôngphải là hành vi phạm tội, vì không có thủ đoạn làm tê liệt ý chí của ngời bị
Trang 30tr-hại; trờng hợp một bên đã dùng thủ đoạn gian xảo để lừa dối bên kia nh chegiấu hoặc sửa chữa lý lịch chính trị hoặc lý lịch t pháp đặc biệt xấu của mình,làm cho bên kia mắc lừa đồng ý kết hôn, thì tuy cũng vi phạm nguyên tắc tựnguyện kết hôn, có thể yêu cầu xử hủy hôn nhân trái pháp luật, nhng khôngthể coi là một thủ đoạn của tội này vì không có yếu tố cỡng ép; một trờng hợpkhác cần lu ý nữa đó là ngời có hành vi cản trở những cuộc hôn nhân bất hợppháp (những cuộc hôn nhân mà không đủ các điều kiện kết hôn theo quy địnhcủa luật HN&GĐ), dù có dùng những thủ đoạn nh đã phân tích trên đây thìcũng không coi là phạm tội cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, mà tùy từngtrờng hợp có thể cấu thành các tội phạm khác nh: tội cố ý gây thơng tích, tộilàm nhục ngời khác
Tội cỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đợc coi
là hoàn thành từ thời điểm ngời phạm tội đã thực hiện một trong những thủ
đoạn nói trên và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này trớc đó Còn việc
ng-ời phạm tội trong thực tế đã cỡng ép hoặc cản trở đợc cuộc hôn nhân hay chakhông có ý nghĩa đối với việc định tội danh
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này đợc thực hiện với lỗi cố ý
trực tiếp Ngời phạm tội nhận thức đợc hành vi cỡng ép, cản trở hôn nhân tựnguyện tiến bộ của ngời khác bằng thủ đoạn hành hạ, ngợc đãi uy hiếp tinhthần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác là nguy hiểm cho xã hội, nhngmong muốn thực hiện hành vi đó
Trang 31Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là một trong
những nguyên tắc cơ bản của luật HN&GĐ - nguyên tắc một vợ, một chồng.Nguyên tắc một vợ một chồng đợc ghi nhận trong Điều 2 Luật HN&GĐ 2000
và Điều 4 Luật này còn quy định: "Cấm ngời đang có vợ, có chồng mà kết hôn
hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời khác hoặc ngời cha có vợ, cha có chồng mà kết hôn hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời đang có vợ, có chồng".
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là ngời đang có vợ,
có chồng hoặc ngời cha có vợ, có chồng nhng biết rõ bên kia đã có chồng, có
vợ mà vẫn kết hôn hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời đó
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có mức hình phạt tối đa là 1năm tù, cho nên, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS 1999, đây là tộiphạm ít nghiêm trọng Vì vậy, chủ thể của loại tội phạm này phải từ đủ 16 tuổitrở lên và có năng lực TNHS
Mặt khách quan của tội phạm: Ngời phạm tội phải có hành vi kết hôn
hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời khác trong khi đang có vợ hoặc đang
có chồng, hoặc tuy cha có vợ, có chồng nhng biết rõ ngời khác đang có vợ, cóchồng
Theo khoản 2 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000, kết hôn là việc nam,nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn
và đăng ký kết hôn Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000của Hội đồng thẩm phán TANDTC, ngời đang có vợ, có chồng đợc hiểu là:ngời đã kết hôn với ngời khác theo đúng quy định của pháp luật, nhng cha lyhôn; ngời sống chung với ngời khác nh vợ chồng trớc ngày 03-01-1987 và đangsống chung nh vợ chồng, mà không đăng ký kết hôn; ngời sống chung với ngờikhác nh vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến trớc ngày 01-01-2001 và đang sốngchung với nhau nh vợ chồng, có đủ điều kiện nhng không đăng ký kết hôn.Luật HN&GĐ năm 2000 không thừa nhận những trờng hợp hôn nhân thực tế
Trang 32tại Điều 11: "Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau nh vợchồng thì không đợc pháp luật công nhận là vợ chồng".
Thông t liên tích số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTCngày 25-09-2001 của Bộ T pháp, Bộ Công an, TANDTC, VKSNDTC đã đa rakhái niệm chung sống nh vợ chồng:
Chung sống nh vợ chồng là việc ngời đang có vợ, có chồngchung sống với ngời khác hoặc ngời cha có vợ, có chồng mà lạichung sống với ngời khác mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồngmột cách công khai hoặc không công khai nhng cùng sinh hoạtchung nh một gia đình Việc chung sống nh vợ, chồng thờng đợcchứng minh bằng việc có con chung, đợc hàng xóm và xã hội xungquanh coi nh vợ, chồng, có tài sản chung và đã đợc gia đình, cơquan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó
Trong trờng hợp đã có quyết định của Tòa án tiêu hủy việc kết hônhoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống nh vợ chồng trái với chế độ một vợ,một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó thì ngời phạm tội phải chịu TNHS về tộiphạm này
Khác với BLHS 1985, theo quy định của BLHS 1999 thì hành vi kếthôn hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời khác chỉ CTTP khi thỏa mãn mộttrong hai dấu hiệu sau: gây hậu quả nghiêm trọng, tức là đã làm cho gia đìnhmột bên hoặc hai bên tan vỡ dẫn đến chia lìa vợ chồng, con cái họ, vợ hoặcchồng, con vì thế mà tự sát hoặc gây ảnh hởng xấu tới trật tự xã hội của địaphơng; ngời vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã bị xử phạt hành chính màcòn vi phạm
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này đợc thực hiện với lỗi cố ý
trực tiếp: ngời phạm tội biết rõ đối tợng mà mình đang chung sống hoặc kếthôn đang có vợ, có chồng nhng vẫn mong muốn kết hôn hoặc chung sống nh
vợ chồng với ngời đó Trờng hợp do lầm tởng là vợ hoặc chồng của mình đã
Trang 33chết, nên đã kết hôn hoặc chung sống nh vợ chồng với ngời khác, thì khôngphạm tội này.
3- Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS 1999)
Theo quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000, tảo hôn là việc lấy
vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên cha đủ tuổi kết hôn theo luật định
Độ tuổi kết hôn đợc quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000:
"1 Nam từ hai mơi tuổi trở lên, nữ từ mời tám tuổi trở lên"
Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này là một trong
những nguyên tắc cơ bản của luật HN&GĐ Việt Nam - hôn nhân tiến bộ.Theo nguyên tắc này, việc kết hôn của hai bên nam nữ phải tuân thủ điều kiệnkết hôn nhằm đảm bảo ngời kết hôn đã có sự phát triển đầy đủ về mọi mặt vànhận thức đợc trách nhiệm đối với gia đình, xã hội, cũng nh có khả năng tựchủ đợc cuộc hôn nhân của mình
Chủ thể của tội phạm:Chủ thể của tội tổ chức tảo hôn là bất kỳ ngời
nào có năng lực TNHS và đạt từ 16 tuổi trở lên, thông thờng là những ngờithân thích của bên nam, bên nữ Chủ thể của tội tảo hôn là bất kỳ ngời nào cónăng lực TNHS đã đủ tuổi kết hôn theo luật định Trong trờng hợp cả đôi bênnam nữ đều cha đủ tuổi kết hôn thì cuộc hôn nhân này là bất hợp pháp, Tòa án
sẽ xử tiêu hôn, các bên đơng sự đều không phải chịu TNHS
Mặt khách quan của tội phạm: Tội tổ chức tảo hôn và tội tảo hôn đều
đợc biểu hiện dới hình thức hành động
Đối với tội tổ chức tảo hôn, hành vi khách quan của tội này là hành vi
tổ chức việc kết hôn cho ngời cha đến tuổi kết hôn Theo Thông t số 01, tổchức tảo hôn đợc hiểu là việc tổ chức cho những ngời cha đủ tuổi kết hôn theoquy định của pháp luật HN&GĐ lấy vợ, lấy chồng Ngời tổ chức tảo hôn biết
rõ hoặc có căn cứ để biết rõ là hai ngời hoặc một trong hai ngời mà mình tổ
Trang 34chức lễ cới là cha đủ tuổi kết hôn theo luật định; nếu ngời đó không biết việcnày hoặc nhầm lẫn về độ tuổi, thì không phạm tội này.
Theo quy định của BLHS năm 1985, thì tội phạm này đợc hoàn thànhngay từ thời điểm tổ chức hôn lễ, nhng BLHS 1999 bổ sung thêm một dấuhiệu định tội là "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm" nhằm hạn chếphạm vi xử lý hình sự đối với tội này
Đối với tội tảo hôn, hành vi phạm tội này là hành vi cố ý duy trì quan
hệ vợ chồng trái pháp luật với ngời cha đến tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết
định của Tòa án buộc chấm dứt quan hệ này Chỉ cấu thành tội tảo hôn, khihành vi khách quan có đầy đủ các dấu hiệu sau: đã có việc kết hôn với ngờicha đủ tuổi kết hôn; đã có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án xử tiêu hônbuộc chấm dứt quan hệ đó; có hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng bất hợppháp với ngời cha đến tuổi kết hôn (cố ý không chấp hành bản án); đã bị xửphạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
Mặt chủ quan của tội phạm: Hai tội này đều đợc thực hiện với lỗi cố ý
trực tiếp Ngời phạm tội tổ chức tảo hôn phải biết rõ bên nam, bên nữ hoặc cảhai bên cha đến tuổi kết hôn, nhng vẫn mong muốn việc kết hôn đợc tổ chức
Đối với tội tảo hôn, ngời phạm tội biết rõ là ngời mình duy trì quan hệ nh vợchồng cha đến tuổi kết hôn, nhng vẫn mong muốn duy trì quan hệ đó
4- Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS 1999)
Đây là một tội phạm mới đợc bổ sung vào BLHS 1999 để ngăn ngừa vàtrừng trị những hành vi của ngời có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn đãbiết rõ là ngời đi đăng ký không đủ điều kiện kết hôn mà vẫn đăng ký cho ngời
đó Việc xử lý hình sự hành vi này góp phần đảm bảo thi hành tốt luật HN&GĐ,
đồng thời đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ làm công tác hộ tịch
Khách thể của tội phạm: tội phạm này xâm phạm đồng thời hai nhóm
quan hệ xã hội: quan hệ xã hội về trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vựcHN&GĐ và nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Trang 35Chủ thể của tội phạm: Theo Thông t liên tịch số 01/2001 ngày
25-09-2001 của Bộ T pháp, Bộ Công an, TANDTC, VKSNDTC, chủ thể củatội phạm này ngoài những dấu hiệu chung nh có năng lực TNHS và đạt độ tuổiluật định, phải là ngời có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn, cụ thể là:ngời đại diện của chính quyền hoặc ngời đại diện của cơ quan đại diện ngoạigiao, cơ quan lãnh sự của nớc ta ở nớc ngoài có thẩm quyền ký giấy chứngnhận kết hôn; cán bộ hộ tịch làm thủ tục đăng ký kết hôn ở ủy ban nhân dânxã, phờng, thị trấn hoặc cán bộ của Sở T pháp đối với trờng hợp kết hôn cóyếu tố nớc ngoài; cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn ở các cơ quan đại diệnngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nớc ngoài
Mặt khách quan của tội phạm: Ngời phạm tội phải có hành vi đăng ký
kết hôn trái pháp luật Theo Thông t số 01, đăng ký kết hôn trái pháp luật làviệc ngời có trách nhiệm trong việc đăng ký kết hôn xác nhận sự kiện kết hôn(ghi vào sổ đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn) cho ng-
ời mà mình biết rõ là cha đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 và 2
Điều 9 hoặc thuộc một trong các trờng hợp cấm kết hôn đợc quy định tại Điều
10 Luật HN&GĐ năm 2000
Hành vi nói trên chỉ CTTP nếu trớc đó đã bị xử lý kỷ luật cũng vềhành vi đó Cần lu ý, để truy cứu TNHS về tội này chỉ tính những trờng hợp
"đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm" kể từ ngày 1/7/2000
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm đợc thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp, thể hiện ở việc ngời phạm tội biết rõ là ngời đi đăng ký kết hôn không đủ
điều kiện kết hôn (vi phạm một trong những điều mà luật cấm), nhng vẫnmong muốn đăng ký kết hôn cho ngời đó
5- Tội loạn luân (Điều 150 BLHS 1999)
Trên cơ sở khoa học và từ việc điều tra khảo sát trên thực tế, các nhàkhoa học đã kết luận rằng: không đợc quan hệ sinh lý giữa những ngời có mốiquan hệ huyết thống, vì nếu những ngời này có quan hệ với nhau thì con cái
Trang 36do họ sinh ra thờng bị bệnh tật, dị dạng hoặc sẽ bị tử vong sau khi sinh Đểbảo đảm cho con cái sau khi sinh ra đợc khỏe mạnh, nòi giống phát triển lànhmạnh, bảo vệ đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục của dân tộc, pháp luậtHN&GĐ cấm kết hôn giữa những ngời có quan hệ huyết thống và pháp luậthình sự hiện hành quy định tội loạn luân.
Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm này không chỉ là thuần
phong mỹ tục, đạo đức xã hội, hạnh phúc gia đình mà còn là những quan hệxã hội đảm bảo sự phát triển bình thờng của con cái
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là những ngời có
năng lực TNHS, đạt độ tuổi theo luật định và có quan hệ huyết thống với ngờithuận tình giao cấu với mình
Nh vậy, đối với tội phạm này, chủ thể của tội phạm ngoài những dấuhiệu chung còn phải có dấu hiệu đặc biệt: đó là mối quan hệ huyết thống giữanhững ngời đồng tình giao cấu nh: cha mẹ với các con, ông bà với các cháunội ngoại, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Trongtrờng hợp cả hai bên đồng tình giao cấu với nhau đều thỏa mãn dấu hiệu chủthể của tội phạm này thì hai ngời này cùng phạm tội và bị xét xử cùng một tộinhng không phải là đồng phạm Còn trờng hợp chỉ có một bên thỏa mãn dấuhiệu chủ thể thì chỉ xử một ngời đó với tội loạn luân
Mặt khách quan của tội phạm: hành vi phạm tội là hành vi đồng tình
giao cấu (con đực và con cái cùng thực hiện chức năng sinh sản) [63, tr 732]giữa những ngời cùng dòng máu về trực hệ (theo quy định của pháp luật,những ngời cùng dòng máu về trực hệ là cha mẹ đối với các con, ông bà đốivới các cháu nội ngoại, giữa anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ kháccha) [32, khoản 12 điều 8]
Tội phạm đợc coi là hoàn thành khi có hành vi thuận tình giao cấugiữa những ngời nói trên Theo Thông t số 01, để truy cứu TNHS về tội loạn
Trang 37luân, cần xác định rõ hành vi giao cấu là thuận tình, không có dấu hiệu dùng
vũ lực hoặc cỡng ép, đợc thực hiện với ngời từ đủ 16 tuổi trở lên Trong trờnghợp tuy hành vi giao cấu là thuận tình, nhng nếu hành vi đó đợc thực hiện đốivới trẻ em từ đủ 13 tuổi trở lên đến dới 16 tuổi, thì không truy cứu TNHS vềtội loạn luân mà phải truy cứu TNHS về tội giao cấu với trẻ em đ ợc quy địnhtại điểm c khoản 2 Điều 115 BLHS 1999 Trong trờng hợp hành vi loạn luânkèm theo dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng khôngthể tự vệ đợc của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác, thù tùy từng trờng hợp,ngời thực hiện hành vi đó phải bị truy cứu TNHS về tội hiếp dâm hoặc tội hiếpdâm trẻ em đợc quy định tại Điều 111, 112 BLHS 1999 Nếu hành vi loạnluân đợc thực hiện kèm theo dấu hiệu lợi dụng quan hệ lệ thuộc khiến bênkia phải miễn cỡng cho giao cấu, thì tùy từng trờng hợp mà ngời thực hiệnhành vi đó, phải bị truy cứu TNHS về tội cỡng dâm hoặc cỡng dâm trẻ em đ-
ợc quy định tại Điều 113, 114 BLHS 1999 Ngời thực hiện hành vi loạn luânvới trẻ em dới 13 tuổi trong mọi trờng hợp đều phải bị truy cứu TNHS về tộihiếp dâm trẻ em đợc quy định tại Điều 112 BLHS 1999
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm đợc thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp Ngời phạm tội biết rõ mình với ngời thuận tình giao cấu có mối quan hệhuyết thống nhng vẫn mong muốn thực hiện hành vi giao cấu nhằm thỏa mãnnhu cầu tình dục Đối với những trờng hợp mặc dù có mối quan hệ huyếtthống với nhau nhng vì một lý do nào đó mà họ không thể biết đợc Ví dụ:ngời bố bỏ rơi vợ khi vợ đang mang thai và bỏ đi một nơi khác sinh sống màkhông quan tâm tới tình hình cuộc sống của ngời vợ trớc và cũng không biết
là mình đã có con với ngời vợ này Còn ngời con cũng không đợc biết mặt bố
và tên bố là gì vì ngời mẹ không nói cho biết bố là ai và sau này hai cha congặp lại nhau, mà đồng tình giao cấu với nhau thì không bị coi là phạm tộiloạn luân
Trang 38Nhóm các tội xâm phạm quan hệ gia đình
1- Tội ngợc đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, ngời có công nuôi dỡng mình (Điều 151BLHS 1999)
Sự đối xử bình đẳng giữa vợ chồng và thơng yêu nuôi nấng, giáo dụccon cái cũng nh việc kính yêu, chăm sóc nuôi dỡng cha mẹ là một trongnhững nét đẹp truyền thống của gia đình Việt Nam, đồng thời cũng là nghĩa
vụ có tính đạo lý giữa những ngời thân trong gia đình đã đợc luật hóa thànhnghĩa vụ pháp lý trong pháp luật HN&GĐ
Điều luật quy định hai tội: tội ngợc đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng, concháu, ngời có công nuôi dỡng mình và tội hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng,con cháu, ngời có công nuôi dỡng mình
Khách thể của tội phạm: khách thể của hai tội phạm này là nghĩa vụ
đạo lý giữa những ngời thân trong gia đình, sức khỏe, phẩm giá của ngời bịhại, hạnh phúc gia đình, cũng nh đạo đức XHCN
Đối tợng tác động của tội phạm là ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháucũng nh ngời nuôi dỡng của ngời phạm tội này, đó cũng là những ngời thâncủa ngời phạm tội Theo TTLT số 01/2001 ngày 25-09-2001 của Bộ T pháp,
Bộ Công an, TANDTC, VKSNDTC, đối tợng tác động của tội phạm bao gồm:
ông bà nội, ông bà ngoại; cha mẹ, bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dợng,
mẹ kế; vợ chồng theo quy định của pháp luật HN&GĐ; con, bao gồm con đẻ(con trong giá thú, con ngoài giá thú), con nuôi, con rể, con dâu, con riêng của
vợ hoặc con riêng của chồng; cháu bao gồm cháu nội, cháu ngoại; ngời cócông nuôi dỡng mình là anh chị em, cô dì chú bác, bà con thân thích hoặcnhững ngời khác đã và đang nuôi dỡng ngời thực hiện hành vi ngợc đãi, hànhhạ
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là những ngời đủ tuổi
chịu TNHS, có năng lực TNHS, đồng thời có mối quan hệ về HN&GĐ hoặcchịu sự nuôi dỡng của nạn nhân
Trang 39Mặt khách quan của tội phạm: Theo Thông t số 01, hành vi ngợc đãi,
hành hạ đợc hiểu là việc đối xử tồi tệ về ăn mặc, ở và về các mặt sinh hoạtkhác đối với ngời thân nh nhiếc móc, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặcrách một cách không bình thờng hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thểngời bị hại nh đánh đập, giam cầm làm cho ngời bị hại đau đớn về thể xác
và tinh thần
Việc đối xử nh trên bị coi là phạm tội khi nó thể hiện rõ nét sự trái
ng-ợc với điều kiện sống của gia đình họ nh có đầy đủ chỗ ở, nhng lại đa ngời bịhại ra ở chuồng dành cho súc vật Trờng hợp gia đình họ thực sự nghèo khổ,thiếu thốn, thì không bị coi là phạm tội này
Theo quy định tại Điều 151 BLHS 1999, chỉ có thể truy cứu TNHS vềtội phạm này khi thuộc một trong các trờng hợp sau:
- Hành vi ngợc đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm chongời bị hại bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, nhân phẩm hoặc
bị thơng tích, tổn hại đến sức khỏe Hậu quả thơng tích hay tổn hại đến sứckhỏe là do lỗi vô ý, nếu ngời thực hiện hành vi này dẫn đến chết ngời, thì ngời
đó phải bị truy cứu TNHS về tội vô ý làm chết ngời đợc quy định tại Điều 98BLHS 1999 Trong trờng hợp thơng tích, tổn hại đến sức khỏe hoặc chết ngờixảy ra do lỗi cố ý, thì tùy trờng hợp cụ thể bị truy cứu TNHS về tội cố ý gâythơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác đợc quy định tại Điều
104 hoặc về tội giết ngời đợc quy định tại Điều 93; nếu làm cho nạn nhân uất
ức mà tự sát, thì có thể bị truy cứu TNHS về tội bức tử đợc quy định tại Điều
100 BLHS 1999
- Ngời thực hiện hành vi ngợc đãi, hành hạ đã bị xử phạt hành chính vềhành vi này mà còn vi phạm
Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm đợc thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp Ngời phạm tội nhận thức đợc hành vi ngợc đãi, hành hạ ngời thân trong
Trang 40gia đình hoặc ngời đã nuôi dỡng mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhngmong muốn thực hiện hành vi đó.
2- Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dỡng (Điều 152 BLHS 1999)
Theo quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, nghĩa vụ cấpdỡng đợc đặt ra giữa cha mẹ con cái, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bànội ngoại với cháu, giữa vợ và chồng để tạo điều kiện cho các thế hệ trong gia
đình chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đìnhViệt Nam Vì vậy, những hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ cấp dỡng -nghĩa vụ đạo lý cũng là nghĩa vụ pháp lý, phải bị xử lý đúng mức
Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến nghĩa vụ
cấp dỡng do pháp luật HN&GĐ quy định, nói cách khác xâm hại quyền đợcngời khác cấp dỡng Đó là quyền đảm bảo cho sự phát triển bình thờng về thểchất và tinh thần của ngời đợc cấp dỡng trong đời sống cộng đồng
Theo TTLT số 01/2001 ngày 25-09-2001 của Bộ T pháp, Bộ Công an,TANDTC, VKSNDTC, nghĩa vụ cấp dỡng là nghĩa vụ của một ngời phải đónggóp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của ngời có quan hệhôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dỡng theo quy định của pháp luật HN&GĐ
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là những ngời đủ tuổi
chịu TNHS, có năng lực TNHS, có nghĩa vụ cấp dỡng đối với ngời mà theoquy định của pháp luật có nghĩa vụ phải cấp dỡng Theo quy định của LuậtHN&GĐ 2000, nghĩa vụ cấp dỡng đợc thực hiện giữa: vợ và chồng; cha mẹ vàcon; ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; anh chị em với nhau
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa
vụ cấp dỡng đợc hiểu là không chịu đóng góp tiền, tài sản để cấp dỡng mặc dù
có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó
Cần lu ý rằng ngời có hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp ỡng chỉ bị truy cứu TNHS khi ngời đó phải có khả năng thực tế để thực hiện