Do đó, hệ thống tài khoản quốc gia SNA đã chia các ngành kinh tế, các đơn vị kinh tế thành những nhóm, những khu vực tạo sự tương đồng và đơn giản hơn trong khi nghiên cứu nền kinh tế..
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế và phân theo ngành kinh tế 2006-2010 Error: Reference source not found Bảng 2 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế và phân theo ngành kinh tế 2006-2010 Error: Reference source not found Bảng 3 Tổng sản phẩm trong nước theo khu vực thể chế 2006-2010 Error:
Reference source not found Bảng 4 Cơ cấu kinh tế theo khu vực thể chế 2006-2010.Error: Reference source not
found Bảng 5 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 phân theo ngành công nghiệp 2006-2010 Error: Reference source not found Bảng 6 Cơ cấu các giá trị doanh nghiệp phi tài chính phân theo thành phần kinh tế 2006-2009 Error: Reference source not found Bảng 7 Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước 2006-2010 Error: Reference
source not found
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế bao gồm rất nhiều yếu tố và thành phần kinh tế hoạt động theo những tiêu chí vừa nhất quán vừa đối lập Các đơn vị kinh tế khi tham gia hoạt động kinh tế luôn chịu rất nhiều sự ràng buộc của các mối quan hệ kinh tế khác nhau Do vậy, để nghiên cứu đánh giá và tính toán được nó trong giá trị của tổng thể nền kinh
tế đặt ra yêu cầu cần phải phân chia chúng vào những nhóm kinh tế lớn có tính chất
và đặc điểm giống nhau Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc tiết kiệm thời gian, công sức cho công tác quản lý nhà nước, mà còn đem lại cái nhìn tổng quan, chính xác và logic cho các nhà quản lý ra quyết sách cải thiện nền kinh tế
Do đó, hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) đã chia các ngành kinh tế, các đơn
vị kinh tế thành những nhóm, những khu vực tạo sự tương đồng và đơn giản hơn trong khi nghiên cứu nền kinh tế Và một trong những cách phân chia quan trọng giúp phát huy được nhiều ưu điểm trong quản lý, xem xét đánh giá và điều chỉnh trong nền kinh tế quốc dân là phân chia nền kinh tế theo các khu vực thế chế Đây là cách phân chia được ứng dụng rất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay, một nước vẫn đang trong thời kì quá độ và còn nặng tư tưởng về phân chia kinh tế theo các thành phần
Từ những lý do trên, nhóm 4 phân tích đề tài: “phân tích cơ cấu kinh tế theo các khu vực thể chế của Việt Nam giai đoạn 2006-2010”
Trang 4I PHÂN TÍCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO KHU VỰC THỂ CHẾ CỦA VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010 1.Cơ sở lý thuyết:
Trong SNA chia nền kinh tế thành 6 khu vực thể chế theo 5 đặc điểm lớn của các đơn vị tham gia hoạt động kinh tế.
Khu vực thể chế là cách phân chia các đơn vị hoạt động kinh tế, ngành kinh tế theo các mối quan hệ kinh tế chủ yếu của nền kinh tế
Sự phân loại này xét theo các tiêu chí :
○ Nguồn vốn hoạt động
○ Lĩnh vực hoạt động
○ Tư cách pháp nhân
○ Mục đích hoạt động
○ Đơn vị thương trú
Theo những tiêu chí này , hoạt động kinh tế ở Việt Nam được chia thành 6 khu vực thể chế :
○ Khu vực nhà nước
○ Khu vực phi tài chính
○ Khu vực tài chính
○ Khu vực hộ gia đình
○ Khu vực vô vị lợi
○ Khu vực nước ngoài
Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ tài khoản sản xuất, khu vực thể chế nước ngoài sẽ không được tính đến
Khu vực nhà nước bao gồm những hoạt động có nguồn vốn từ ngân sách
nhà nước Khu vực này bao gồm các đơn vị quản lí nhà nước, an ninh, quốc phòng, các tổ chức giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao Thu nhập chủ yếu của các đơn
vị trong khu vực này là được chi qua ngân sách nhà nước
Khu vực phi tài chính bao gồm các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất hàng hóa và dịch vụ phi tài chính Thu nhập chủ yếu dựa vào kết quả kinh
Trang 5doanh hàng hóa dịch vụ Đây là bộ phận đóng góp tỉ trọng lớn nhất vào thu từ thuế của nhà nước và chiểm tỉ trọng cao nhất trong đóng góp vào tổng sản phẩm xã hội
so với các khu vực thể chế khác Các doanh nghiệp,công ty phi tài chính lại được chia làm 3 loại:
○ Các doanh nghiệp phi tài chính công cộng là các doanh nghiệp do chính phủ kiểm soát, Chính phủ chi phối trên 50% cổ phần
○ Các doanh nghiệp phi tài chính tư nhân
○ Các doanh nghiệp phi tài chính do nước ngoài kiểm soát
Khu vực tài chính gồm các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền
tệ như các ngân hàng , các công ty xổ sổ kiến thiết , công ty bảo hiểm v.v…
Khu vực thể chế hộ gia đình bao gồm các đơn vị sản xuất, kinh doanh
nhỏ, thường dưới hình thức hộ gia đình Quy mô sản xuất của những đơn vị kinh tế này tương đối nhỏ và không có tư cách pháp nhân
Khu vực thể chế vô vị lợi gồm các đơn vị sản xuất hàng hoá, dịch vụ mang
tính nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận v.v như các tổ chức tôn giáo, các hội nhân đạo, từ thiện… Nguồn kinh phí cho hoạt động của các đơn vị là từ sự đóng góp tự nguyện của mọi thành viên trong xã hội
5 khu vực thể chế trên khu vực thể chế trên được phân bổ ở nhiều nhóm ngành kinh tế khác nhau
- Trong các nhóm ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản và công nghiệp có 2 khu vực thể chế chính là khu vực phi tài chính và khu vực thể chế hộ gia đình Khu vực thể chế hộ gia đình ở đây chính là thành phần cá thể tiểu chủ
- Đối với nhóm dịch vụ, các ngành lại thuộc 3 khu vực thể chế chủ yếu là tài chính, phi tài chính và nhà nước Thông qua mối quan hệ này, chúng ta sẽ có các thông số về khu vực kinh tế như dưới đây
2 Tổng sản phẩm trong nước và cơ cấu kinh tế theo khu vực thể chế 2006-2010
Trong giai đoạn 2006-2010, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể
Dù gặp khủng hoảng tài chính, bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm kinh tế toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng GDP trung bình vẫn đạt 6,9%/năm Dù khó đạt được mục tiêu kế hoạch 5 năm đề ra (7,5-8%/năm), nhưng so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đây vẫn là một con số đáng khen ngợi
Trang 6Bảng 1 Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần kinh
tế và phân theo ngành kinh tế 2006-2010
Tỷ đồng
2010
(tăng 6,5%
so với năm 2009)
Phân theo thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước 364250 410883 527732 582674
Kinh tế ngoài Nhà nước 444560 527432 683654 771688
Kinh tế tập thể 63622 71059 84025 90410
Kinh tế tư nhân 91710 116505 155905 182684
Kinh tế cá thể 289227 339868 443724 498594
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 165456 205400 273652 304027
Phân theo ngành kinh tế
Nông nghiệp và lâm nghiệp 160462 186462 271477 285030
Công nghiệp khai thác mỏ 99702 111700 146607 165310
Công nghiệp chế biến 207027 243142 302136 333166
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và
Thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ,
mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia
Khách sạn và nhà hàng 35861 44992 57067 67394
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 43825 51118 66359 72412
Tài chính, tín dụng 17607 20756 27215 31617
Hoạt động khoa học và công nghệ 6059 7065 9296 10581
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh
tài sản và dịch vụ tư vấn 36814 43509 53743 60234
Quản lý Nhà nước và ANQP, đảm bảo
xã hội bắt buộc 26737 31310 41279 47042
Giáo dục và đào tạo 30718 34843 38261 42780
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 14093 16160 19178 21537
Hoạt động văn hoá và thể thao 4617 5200 5842 6964
Hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội 1217 1425 1909 2046
Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng
Hoạt động làm thuê công việc gia đình
Trang 7Bảng 2 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành
phần kinh tế và phân theo ngành kinh tế 2006-2010
%
Phân theo thành phần kinh tế
Phân theo ngành kinh tế
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước 3.43 3.49 3.18 3.53
Thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ,
mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình 13.63 13.68 14.29 14.77
Vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 4.50 4.47 4.47 4.37
Các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài
Quản lý Nhà nước và ANQP, đảm bảo xã
Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng 1.93 1.92 1.93 2.04 Hoạt động làm thuê công việc gia đình
Trang 8Dựa vào mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, ngành kinh tế và khu vực thể chế như đã phân tích ở trên, nhóm đã tổng hợp được số liệu về kinh tế của các khu vực thể chế như sau
Bảng 3 Tổng sản phẩm trong nước theo khu vực thể chế 2006-2010
Tỷ đồng
GDP( theo giá thực tế) 974266 1143715 1485038 1658389 1951200 Khu vực thể chế nhà
Khu vực thể chế phi tài
Khu vực thể chế tài
Khu vực thể chế hộ gia
Khu vực thể chế vô vị lợi 1217 1425 1909 2046 2183.082
Trang 9Bảng 4 Cơ cấu kinh tế theo khu vực thể chế 2006-2010
%
Khu vực thể chế nhà
Khu vực thể chế phi tài
Khu vực thể chế tài
Khu vực thể chế hộ gia
3 Các khu vực thể chế chủ yếu trong nền kinh tế:
Trong hệ thống tài khoản quốc gia việc phân chia hoạt động của nền kinh tế
theo khu vực thể chế là nội dung rất được quan tâm Đứng dưới góc độ tài khoản
sản xuất có thể chia nền chủ thể của kinh tế thành bốn khu vực thể chế gồm có: khu
vực thể chế tài chính, khu vực thể chế phi tài chính, khu vực thể chế Nhà nước, khu
vực thể chế hộ gia đình (Ở Việt Nam hiện nay hoạt động của khu vực vô vị lợi còn
rất nhỏ bé, do đó, số liệu của khu vực này trường được gộp chung vào khu vực hộ
gia đình)
3.1 Khu vực thể chế phi tài chính
Trong nền kinh tế, khu vực thể chế phi tài chính bao gồm các đơn vị hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa, dịch vụ phi tài chính là khu vực chiếm tỷ
trọng lớn nhất Hiện nay theo thống kê của Việt Nam con số tương đối vào khoảng
6000 doanh nghiệp Trong giai đoạn 2006-2009, đóng góp GDP theo giá hiện hành tăng 17-21%/năm cao nhất
Trang 10Trong thực tế năm 2006 thì 60,56% tương đương với 590.050 tỷ đồng là con
số mà khu vực phi tài chính đóng góp cho GDP Và đó là nhờ vào sự phát triển của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp khai thác mỏ và công nghiệp chế biến … Những năm tiếp theo 2007, 2008, 2009 thì con số đó lần lượt là 60,69% , 61,12% và 60,67% Đặc biệt trong năm 2010 khu vực này có sự phát triển vượt trội hơn hẳn với 64,26% tương đương với 1 253 836,419 tỷ đồng Tổng cục thống kê nhận định: mặc dù chịu khó khăn từ việc một số cân đối vĩ mô và thiên tai trong nước nhưng được sự lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, sự chủ động vượt khó của các doanh nghiệp và cả cộng đồng nên sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực cho tới nay năm 2010 vẫn tiếp tục phát triển theo hướng tích cực như sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng khá
Về nông nghiệp, cùng với việc gieo cấy và thu hoạch lúa mùa, cả nước đã thu hoạch xong lúa hè thu chính vụ với diện tích đạt 2104,5 nghìn ha, bằng 98,5%
so với cùng kỳ năm trước Về lâm nghiệp, nhìn chung, cây lâm nghiệp trồng mới tại các địa phương hiện đang sinh trưởng và phát triển tốt Về thủy sản, tính chung 10 tháng năm 2010, sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 4240,5 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2009
Ngoài ra, tính chung 10 tháng đầu năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 645,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, công nghiệp chế biến với các ngành điển hình như ngành sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm dệt vẫn giữ vai trò chủ chốt! Đây là
xu hướng chung của bất kì quốc gia nào trên thế giới: công nghiệp khai thác sẽ giảm dần và thay thế vào đó là các ngành công nghiệp chế biến
Trang 11Bảng 5 Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 phân theo
ngành công nghiệp 2006-2010
tỷ đồng
2010
Công nghiệp khai thác 37803,5 37086,1 35841,4 39119,1 43813,4
Công nghiệp chế biến 420943,6 500157,0 577059,4 618959,1 693234,2
Sản xuất và phân phối
điện, khí đốt và nước
27890,0 30897,5 34343,5 38569,5 43197,8
Xét trên một khía cạnh khác, các doanh nghiệp, công ty phi tài chính được chia ra làm ba loại: phi tài chính công cộng, phi tài chính tư nhân và phi tài chính do nước ngoài kiểm soát Theo xu hướng chung của thế giới, ở nước chúng ta hiện nay, các doanh nghiệp phi tài chính tư nhân và phi tài chính do nước ngoài vẫn chiếm phần lớn Các doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát chỉ chiếm khoảng 18-20 %, tuy nhiên, nó vẫn giữ một vai trò rất lớn, là công cụ mạnh giúp nhà nước định hướng thị trường trong những giai đoạn khó khăn
Bảng 6 Cơ cấu các giá trị doanh nghiệp phi tài chính phân theo thành phần
kinh tế 2006-2009
Các loại doanh nghiệp phi tài
chính
100,0% 100,0% 100,0% 100,0%
Khu vực có vốn đầu tư nước
3.2 Khu vực thể chế tài chính:
Trang 12Trong khu vực thể chế tài chính gồm có các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính Đây là các đơn vị, công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ với những chức năng cơ bản là kinh doanh tiền tệ, hoạt động tín dụng, xổ số kiến thiết, bảo hiểm, mua bán tài sản tài chính và mua bán ngoại tệ Đây là khu vực đóng vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng sự vận động của nền kinh tế về mặt giá trị đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển Chức năng này được xem xét thông qua sự đóng góp của khu vực thể chế tài chính trong GDP Thực tế trong năm 2006, khu vực tài chính chiếm 1,81% tương đương với 17 607 tỷ đồng Trong các năm tiếp theo sự đóng góp này có tăng lên cùng với
sự bùng nổ của các hệ thống ngân hàng đặc biệt do theo các cam kết trong WTO, kể
từ 1/4/2007, Việt Nam cho phép các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài được hoạt động, được đối xử bình đẳng và thực hiện phần lớn nghiệp vụ như ngân hàng nội.Cùng với đó là sự phát triển của thị trường chứng khoán,… dẫn tới sự phát triển chung của khu vực tài chính Trong các năm 2007,2008 và 2009, mức đóng góp vào GDP của khu vực này tăng dần và lên tới 1,91% tương ứng với 31.617 tỷ đồng mặc
dù năm 2009 là năm có những biến động với thị trường tài chính Việt Nam khi các lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối, thị trường vốn đều diễn biến phức tạp Tuy nhiên, đến năm 2010, con số đóng góp này giảm xuống chỉ còn 1,73% tương đương với 33 735,339 tỷ đồng
Nhìn chung, trong thực tế hiện nay tỷ trọng của khu vực tài chính đóng góp vào GDP của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé trong khi con số này phải đạt được ít nhất 3% trong GDP thì mới được coi là đảm bảo được hoạt động kinh tế về mặt giá trị
Sự phát triển khu vực tài chính Việt Nam chưa tương xứng với khu vực phi tài chính, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong cơ chế thị trường
Trang 133.3 Khu vực thể chế nhà nước:
Bảng 7 Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước 2006-2010.
ST
Dự toán
(350,842)
281,900 323,000
(548,529)
389,900 461,500
1 Thu nội địa (không kể dầu
thô)
132,000 151,800 189,300 233,500 294,700
B Kết chuyển năm trước sang 8,000 19,000 9,080 14,100 1000
C Tổng chi cân đối NSNN 294,400
(385,666)
357,400 398,980
(590,714)
491,300 582,200
1 Chi đầu tư phát triển 81,580 99,450 99,730 112,800 125,500
2 Chi trả nợ, viện trợ 40,800 49,610 51,200 58,800 70,250
3 Chi phát triển sự nghiệp kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, quản lý hành chính nhà
nước, đảng, đoàn thể
131,473 174,500 208,850 269,300 335,560
4 Chi cải cách tiền lương 29,197 25,100 28,400 36,600 35,490
5 Chi bổ sung quỹ dự trữ tài
chính
D Bội chi ngân sách nhà nước 48,500
(48,613)
56,500 66,900
(67,677)
87,300 119,700
(4,58%)
4,82% 6,20% Nguồn bù đắp bội chi
Nguồn vốn đầu tư của khu vực thể chế này lấy chủ yếu từ ngân từ ngân sách nhà nước , và các khoản vay trong và ngoài nước của chính phủ