1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC

63 445 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 573 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thực trạng đó, em đã chọn đề tài cho chuyên đề thực tập cuối khóa của mình là « Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt N

Trang 1

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4

1.1 LÝ THUYẾT VỀ MUA BÁN NỢ 4

1.1.1 Thế nào là mua bán nợ? 4

1.1.2 Các bên tham gia trong hoạt động mua bán nợ 4

1.1.3 Vai trò của hoạt động mua bán nợ 5

1.2 LÝ THUYẾT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 8

1.2.1 Doanh nghiệp Nhà nước là gì ? 8

1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước 9

1.2.2.1 Đặc điểm chung với các loại hình doanh nghiệp khác 9

1.2.2.2 Đặc điểm riêng của doanh nghiệp Nhà nước 10

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ CỦA DOANHNGHIỆP NHÀ NƯỚC 11

1.3.1 Nhân tố bên ngoài 11

1.3.2 Nhân tố bên trong 13

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ XỬ LÝ NỢ TẠI DATC 14

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DATC 14

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 14

2.1.2 Mục tiêu hoạt động 15

2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh của công ty 15

2.1.4 Sự cần thiết phải có hoạt động mua bán và xử lý nợ của DATC đối với cácdoanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam 16

2.2 QUY TRÌNH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ XỬ LÝ NỢ ĐỐIVỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA DATC 20

Công ty Đường Kon Tum33

Công ty Xây dựng công trình đường thủy II 40

Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và xây dựng sông Hồng 46

Trang 2

2.3.2 Đánh giá kết quả hoạt động mua, bán và xử lý nợ của DATC đối với doanhnghiệp Nhà nước 50

2.3.3.1 Những thành quả đạt được 50

2.3.3.2 Hạn chế trong hoạt động mua bán và xử lý nợ cho các doanh nghiệp Nhànước trước và sau Cổ phần hoá 51

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIÁI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ MUA BÁN

VÀ XỬ LÝ NỢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI DATC 55

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ CỦA DATC 55

3.2 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI DATC 55

3.3 KIẾN NGHỊ 57

3.3.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động mua bán nợ 57

3.3.1.1 Đối với Bộ Tài chính: 57

3.3.1.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 59

3.3.1.3 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế 60

LỜI KẾT 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, thành phầnkinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thể hiện ở việc các ngành trọng tâm, then chốt củađất nước đều do khối doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ Tuy nhiên, do nặng tâm lý chủquan, ỷ lại- hậu quả của một nền kinh tế quan liêu bao cấp đã được duy trì một thời giandài trong quá khứ mà thời kỳ đổi mới hiện nay vẫn chưa xóa được hoàn toàn dấu vết của

nó, các doanh nghiệp Nhà nước đang dần dần thể hiện rất nhiều yếu kém của mình so vớicác doanh nghiệp thuộc những thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế Nếu không cónhững biện pháp hỗ trợ từ phía chủ sở hữu và sự tích cực vận động của chính các doanhnghiệp này, thì thành phần kinh tế Nhà nước sẽ không thể duy trì vai trò được giao của

nó, để đất nước ta có thể thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóatrong ngắn hạn và tiến lên nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa trong dài hạn

Tình trạng các doanh nghiệp Nhà nước đầu tư dàn trải, vượt quá khả năng cân đốicủa Ngân sách đã diễn ra từ lâu và trên phạm vi rộng Hơn nữa, do có sự bảo lãnh củaNhà nước, có một thực tế khách quan là doanh nghiệp Nhà nước càng làm ăn kém hiệuquả lại càng vay nợ nhiều, và không có khả năng tìm ra nguồn để thanh toán các khoản nợnày Trong bối cảnh phức tạp như thế, rất cần sự chia sẻ trách nhiệm của các cơ quanquản lý Nhà nước vĩ mô, của địa phương và của doanh nghiệp, để từng bước xử lý dứtđiểm nợ đọng, tránh để tình trạng này kéo dài, càng để lâu càng khó khăn hơn

Việc Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng Việt Nam (DATC) ra đời chính lànhằm mục đích cứu giúp các doanh nghiệp Nhà nước đang làm ăn kém hiệu quả, đứngbên bờ vực phá sản Nhờ có hoạt động mua bán và xử lý nợ của DATC, doanh nghiệpNhà nước có thể giảm bớt rủi ro tài chính, quản lý nguồn vốn hiệu quả, tạo thêm nguồnvốn và góp phần rất lớn vào công cuộc Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, theo chủtrương của Đảng và Chính phủ Chính vì thực trạng đó, em đã chọn đề tài cho chuyên đề

thực tập cuối khóa của mình là « Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC », với mong muốn có thể

đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động mua bán nợ của DATC, góp phầnvực dậy và hoàn thành cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam

Chuyên đề của em được chia thành 3 phần chính :

Chương I : Lý luận về mua bán nợ của doanh nghiệp Nhà nước.

Chương II : Thực trạng hoạt động mua bán và xử lý nợ tại DATC.

Chương III : Các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý

nợ đối với các doanh nghiệp Nhà nước tại DATC

Trang 4

Đã có rất nhiều khái niệm về mua bán nợ được đưa ra Tuy nhiên, khái niệm sau đâyđược các nhà kinh tế học công nhận một cách rộng rãi :

Mua bán nợ là hoạt động kinh tế được thực hiện nhằm trao đổi và chuyển giao các khoản nợ phải thu từ đối tượng này sang đối tượng khác

Từ khái niệm trên đây, có thể rút ra bản chất của hoạt động mua bán nợ, đó là việcchuyển nhượng lại quyền thu hồi nợ từ một khoản nợ phải thu của bên bán nợ đối vớikhách nợ sang cho bên mua nợ để bên mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên khách nợ Trên thực tế, hoạt động mua bán nợ xấu tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Mọi rủi ro của việckhông thu được nợ đều do chủ nợ mới gánh chịu Đây chính là nguyên nhân khiến chonhững người mua nợ sẽ trả giá mua rất thấp cho hàng hoá được giao dịch, ở đây chính làcác khoản nợ Giá cả các khoản nợ phụ thuộc vào chất lượng khoản nợ hoặc chất lượngtài sản bảo đảm dựa trên nguyên tắc rủi ro càng lớn giá mua càng thấp Thông thường, giácủa các khoản nợ trong hoạt động mua bán này sẽ thấp hơn giá trị thực của khoản nợ đó.Phần chênh lệch do bên mua nợ được hưởng

1.1.2 Các bên tham gia trong hoạt động mua bán nợ

 Bên chủ nợ cũ (bên bán nợ): là các đơn vị sản xuất hàng hoá, kinh doanhdịch vụ, các tổ chức tài chính, ngân hàng là người sở hữu hợp pháp những khoản nợchưa đến hạn thanh toán

 Bên khách nợ: là các đơn vị sản xuất kinh doanh, đó chính là người muahàng hoá hay nhận các dịch vụ cung ứng, là người có nghĩa vụ phải thanh toán cáckhoản nợ cho chủ sở hữu khoản nợ đó

Trang 5

 Bên chủ nợ mới (bên mua nợ): là người thực hiện việc mua bán các khoản

nợ, bao gồm: các ngân hàng, công ty tài chính, những công ty đặc thù chuyên muabán và xử lý nợ

1.1.3 Vai trò của hoạt động mua bán nợ

1.1.3.1 Về phía bên bán nợ

Mua bán nợ giúp giải phóng được lượng vốn chết, đó chính là các khoản nợ chưađược thu hồi được hoặc khó có khả năng thu hồi, trở lại thành vốn hoạt động Một trongnhững nguyên nhân gây nên tình trạng phá sản ở một số công ty là việc bị chiếm dụngvốn do khách hàng không thanh toán các khoản nợ Do đó, việc quản lý rủi ro các khoản

nợ không có khả năng thanh toán của khách hàng trong quan hệ tín dụng là một trongnhững mối quan tâm hàng đầu của các công ty Tuy nhiên, rủi ro này có thể tránh đượckhi công ty chuyển giao các khoản nợ của mình cho một công ty chuyên biệt chuyên muacác khoản nợ - đó là các công ty mua nợ Công ty mua nợ sẽ trả tiền ngay tức thì khi đượcchuyển quyền sở hữu các hoá đơn tạo điều kiện cho lượng vốn chết có khả năng sinh lời,giúp công ty không bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh mới

Hầu như, các công ty mua bán nợ tiến hành mua lại các khoản nợ với giá chiết khấukhông cao Do vậy, rất nhiều công ty đã để mắt tới dịch vụ này Không những vậy, cónhiều khách hàng còn sẵn sàng trả phí để nhờ các công ty mua bán nợ điều tra và cungcấp thông tin nhằm đảm bảo quản lý tín dụng một cách hiệu quả nhất, từ đó tăng vòngluân chuyển vốn cũng như hạn chế rủi ro tài chính Ngoài ra, một số công ty mua bán nợcòn có dịch vụ theo dõi các khoản kỳ hạn thanh toán, kiểm tra các quy định thanh toán,nhắc nhở, quản lý các khoản nợ khó đòi Việc làm này của công ty đã góp phần tạo thóiquen cho người mua hàng thanh toán đúng hạn

1.1.3.2 Về phía bên mua nợ

Hoạt động mua bán nợ tạo ra một cơ hội đầu tư có chi phí thấp nhưng thu nhậptrong tương lai sẽ rất khả quan, nếu bên mua nợ đã nghiên cứu về rủi ro của khoản nợ đãmua Ngoài ra, với các nghiệp vụ kinh doanh chuyên nghiệp của mình, các công ty này sẽđược hưởng lợi nhuận chênh lệch từ việc mua các khoản nợ thấp hơn giá trị thực của cáckhoản nợ đó và lợi nhuận từ việc cung cấp các dịch vụ tài chính, như thu hồi nợ; bảo lãnhtín dụng, bảo lãnh phát hành cổ phần lần đầu cho doanh nghiệp Nhà nước khi cổ phầnhoá; môi giới tư vấn mua bán, xử lý nợ; tư vấn về định giá, đấu giá Dịch vụ của các công

ty mua bán nợ không giống nhau mà có thể có những khác biệt về điều khoản, điều kiện

Trang 6

mua bán nơ cũng như tỷ lệ chiết khấu tuỳ theo nhu cầu của khách hàng, con số nợ nần,khả năng thu hồi nợ.

1.1.3.3 Về phía bên khách nợ

Nhờ mua bán nợ, bên khách nợ có thể tránh khỏi nguy cơ lâm vào phá sản do không

có khả năng trả nợ Từ đó, doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt động, tạo ra lợi nhuận

Ngoài ra, hoạt động này còn thúc đẩy quá trình sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu doanhnghiệp, tăng giá trị doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh để phát triển

Các công ty mua bán nợ với đặc thù là các công ty tài chính chuyên biệt, đã manglại một giải pháp toàn diện cho việc quản lý nguồn vốn cho nhiều công ty đang trên bờvực phá sản Công ty mua nợ sẽ cung cấp những nhận định phân tích một cách toàn diệncũng như xác định những bất thường, từ đó đưa ra những ý kiến tư vấn về mặt tài chínhcho cả hai bên có quan hệ đối với khoản nợ: bên chủ nợ cũ và bên khách nợ

1.1.3.4 Về phía thị trường

Mua bán nợ thúc đẩy tiến trình phát triển và tạo thêm nguồn hàng hoá cho thị trườngtài sản và thị trường vốn Qua đó, thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các yếu tố thị trườngtrong nền kinh tế quốc dân đi đôi với việc tạo lập khung pháp luật đảm bảo sự quản lý,giám sát và hỗ trợ doanh nghiệp của Nhà nước

Ngoài ra, những công ty mua bán nợ tiên phong còn tạo ra và thúc đẩy một hướngkinh doanh mới cho một số định chế tài chính trung gian như các công ty mua bán nợ,dịch vụ đòi nợ thuộc các thành phần kinh tế; góp phần vào việc hình thành các tổ chứcđịnh giá tài sản, định giá doanh nghiệp và các công ty dịch vụ tư vấn tài chính Thông qua

đó, những nghiệp vụ kỹ thuật đơn thuần được chuyển giao, cải tiến và phát triển bởi các

tổ chức kinh tế đa dạng độc lập hoạt động có tính chuyên nghiệp cao theo cơ chế thịtrường

1.1.3.5 Về mặt xã hội

Một lượng lớn lao động sẽ tránh được thất nghiệp do doanh nghiệp phá sản thôngqua mua bán nợ, tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội Dân cư sinh sống trong khu vực,nơi doanh nghiệp hoạt động sẽ chịu ảnh hưởng từ hoạt động của các doanh nghiệp này.Khi doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản, sẽ tạo ra công ăn, việc làm cho họ Khimức sống của người dân tăng và ổn định sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền cho các hoạt động

Trang 7

khác như nâng cao đời sống văn hóa, giáo dục, y tế, ổn định dân cư, ổn định an ninh - xãhội, tạo ra công ăn việc làm cho các lao động gián tiếp tại địa phương.

Nhà nước còn có thể giữ lại một nguồn thu trong tương lai thông qua thuế, do cácdoanh nghiệp sẽ vẫn có cơ hội tiếp tục hoạt động, tạo lợi nhuận Ngoài ra, hoạt động muabán nợ còn giúp Nhà nước tiết kiệm được những khoản chi phí để xử lý các vấn đề chínhtrị, xã hội, đặc biệt là chi phí giải quyết việc làm, lao động dôi dư phát sinh từ việc phásản doanh nghiệp, ngăn chặn việc phát sinh thêm những tổn thất tài chính đối với Nhànước, giúp cho các khoản nợ đọng thuế, nợ bảo hiểm xã hội và kinh phí cho hoạt độngđoàn thể của người làm công đều được giải quyết và thanh toán triệt để

1.1.4 Các hình thức mua bán nợ

1.1.4.1 Phân loại theo sự hoàn thành nghĩa vụ thanh toán của bên khách nợ

 Mua bán nợ truy đòi là hình thức mua bán nợ, trong đó đơn vị mua bán nợ

có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không

có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Vì vậy, trong mua bán

nợ truy đòi, tổn thất chỉ thực sự xảy ra trong trường hợp khoản phải thu không đượcthanh toán và người bán không thể bù đắp khoản thiếu hụt

 Mua bán nợ miễn truy đòi là hình thức mua bán nợ, trong đó đơn vị muabán nợ chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụthanh toán khoản phải thu Đơn vị mua bán nợ chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứngtrước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua từ chối thanh toán khoản phải thu

do bên bán giao hàng không đúng hợp đồng hoặc vì lý do khác không liên quan đếnkhả năng thanh toán của bên mua hàng

1.1.4.2 Phân loại theo sự độc lập trong hoạt động mua bán nợ

 Mua bán nợ theo thoả thuận là hình thức mua bán và xử lý nợ mà trong đócông ty mua nợ các chủ nợ, chủ tài sản trực tiếp liên hệ nhau để tìm hiểu nhu cầumua, bán nợ, việc mua bán nợ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa haibên

 Mua bán theo chỉ định: là hoạt động mua bán nợ được tiến hành dưới sự chỉđịnh, điều hành, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền

Trang 8

1.2 LÝ THUYẾT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.2.1 Doanh nghiệp Nhà nước là gì ?

Theo Luật Doanh nghiệp 2005:

Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.

Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003:

Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều

lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.

Công ty Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này Công ty Nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước độc lập, Tổng Công ty Nhà nước.

Nếu phân loại doanh nghiệp Nhà nước theo lĩnh vực hoạt động, sẽ có 2 loại doanhnghiệp Nhà nước :

 Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh, với các đặc điểm :

 Mục tiêu chính của loại hình doanh nghiệp này là lợi nhuận, giống như bất

cứ các doanh nghiệp nào khác trong nền kinh tế

 Được sử dụng vốn và các quỹ của doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhucầu trong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả;

 Tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh, nhưng không thay đổi hình thức

sở hữu; được phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật; được thế chấp giá trịquyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại cácngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật;

 Được sử dụng quỹ khấu hao cơ bản của doanh nghiệp; mức và tỷ lệ trích quỹkhấu hao cơ bản, chế độ sử dụng và quản lý quỹ khấu hao cơ bản do Chính phủ quyđịnh;

 Sau khi đã làm đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, lập quỹ đầu tư phát triển vàcác quỹ khác theo quy định, doanh nghiệp được chia phần lợi nhuận còn lại chongười lao động theo cống hiến của mỗi người vào kết quả kinh doanh trong năm vàtheo cổ phần;

Trang 9

 Được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhànước khi thực hiện các nhiệm vụ sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ phục vụ quốcphòng, an ninh, phòng chống thiên tai, hoạt động công ích hoặc cung cấp sản phẩm,dịch vụ theo chính sách giá của Nhà nước không đủ bù đắp chi phí sản xuất, sảnphẩm, dịch vụ này của doanh nghiệp;

 Được hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư hoặc tái đầu tư theo quy định của Nhànước

 Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh thực hiện các nghĩa vụ nộpthuế và các khoản nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật

 Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, với các đặc điểm:

 Loại hình doanh nghiệp Nhà nước này ra đời và hoạt động chủ yếu với mụcđích xã hội, nhằm bảo đảm an sinh qua việc thực hiện các mục tiêu, yêu cầu màchính phủ trực tiếp đề ra

 Được Nhà nước cấp kinh phí theo dự toán hàng năm hoặc theo đơn đặt hàngcủa Nhà nước do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền duyệt, phù hợp với nhiệm vụ kếhoạch Nhà nước giao cho doanh nghiệp;

 Được huy động vốn, gọi vốn liên doanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đấtgắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng củaViệt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật khiđược cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép;

 Doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm hoặc dịch vụ có thu phí được sử dụngphí theo quy định của Chính phủ để phục vụ hoạt động của doanh nghiệp

 Có nghĩa vụ nộp Ngân sách các khoản thu về phí và các khoản thu khác (nếucó)

 Trường hợp doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích có thực hiện hoạtđộng kinh doanh thì phải tổ chức hạch toán riêng và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đốivới hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước

1.2.2.1 Đặc điểm chung với các loại hình doanh nghiệp khác

Các doanh nghiệp Nhà nước đều có tư cách pháp nhân như các doanh nghiệp kháctrong nền kinh tế, theo điều 94- Bộ luật Dân sự, một doanh nghiệp được coi là có tư cáchpháp nhân khi:

Trang 10

 Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,đăng ký hoặc công nhận.

Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

 Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản đó

 Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

1.2.2.2 Đặc điểm riêng của doanh nghiệp Nhà nước

 Các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực trọngyếu của nền kinh tế Do chủ sở hữu là Nhà nước, nên doanh nghiệp này được hưởngnhiều ưu đãi và lợi thế hơn những doanh nghiệp thuộc các thành phần khác trong nềnkinh tế, đặc biệt là những quốc gia lựa chọn phát triển nền kinh tế thị trường có địnhhướng của Nhà nước như Việt Nam

 Chủ sở hữu: Nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc một phần vốn trong doanhnghiệp

 Vốn khi thành lập doanh nghiệp Nhà nước là vốn do Nhà nước cấp Về việcchuyển nhượng, tăng giảm vốn:

Đối với doanh nghiệp Nhà nước họat động kinh doanh: Tự huy động vốn để hoạtđộng kinh doanh, nhưng không thay đổi hình thức sở hữu; được phát hành trái phiếu theoquy định của pháp luật; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộcquyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theoquy định của pháp luật (điều 8, Luật Doanh nghiệp Nhà nước)

Đối với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích: Được huy động vốn, gọi vốnliên doanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý củadoanh nghiệp tại các ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công íchtheo quy định của pháp luật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép (điều 8-Luật Doanh nghiệp Nhà nước)

 Cách thức huy động vốn: doanh nghiệp Nhà nước được phép thế chấp giátrị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại cácngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của phápluật khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng không thay đối hình thức

sở hữu Riêng doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh được phép phát hành tráiphiếu để huy động vốn

Trang 11

 Hội đồng thành viên: Hội đồng quản trị gồm chủ tịch, tổng giám đốc hoặcgiám đốc và một số thành viên khác Tuỳ theo quy mô, loại hình doanh nghiệp, Chínhphủ quy định số lượng thành viên Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị có thành viênchuyên trách và thành viên kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị là thành viên chuyêntrách.

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Mua bán nợ là hoạt động kinh tế có tác động tích cực tới tình hình tài chính, sảnxuất- kinh doanh của cả bên khách nợ và chủ nợ liên quan tới khoản nợ được mua bán Vìthế, mua bán nợ ra đời chính là tất yếu khách quan khi doanh nghiệp gặp phải khó khăntrong việc thanh toán, xử lý các khoản nợ khó đòi

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế và hiệu quả của hoạt động mua bán và xử

lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước Cụ thể như sau:

1.3.1 Nhân tố bên ngoài

Những yếu tố kinh tế vĩ mô: lạm phát, lãi suất, tỷ lệ tăng trưởng

Đối với nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định, lạm phát ở mức an toàn, cáchoạt động tài chính, điển hình ở đây là hoạt động mua bán nợ sẽ có điều kiện để phát triểnmạnh mẽ và đa dạng dưới nhiều hình thức hơn Vì thế, không có gì là khó hiểu khi muabán nợ - công cụ giúp các doanh nghiệp Nhà nước thoát hiểm lại được tiến hành rộng rãitại các nước có nền kinh tế phát triển, còn tại Việt Nam vẫn đang là một hoạt động hếtsức mới mẻ đối với các doanh nghiệp

Yếu tố lãi suất cũng có ảnh hưởng rất lớn trong việc mua bán các khoản nợ Vì cómột điều tất yếu là các bên tham gia giao dịch sẽ phải tham khảo lãi suất trên thị trườngtrước khi đưa ra giá cả cho các khoản nợ được mua, bán

Chính sách của cơ quan quản lý vĩ mô về kinh tế cũng có tác động không nhỏ tới cơchế mua bán và xử lý nợ

Hoạt động mua bán nợ tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì thế không phải bất cứ một tổ chức tàichính nào cũng có đủ khả năng tham gia và hoạt động hiệu quả Tại Việt Nam, do nềnkinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của Nhà nước, nên hoạt động muabán nợ đầy rủi ro được Nhà nước trực tiếp quản lý Mặt khác, thành phần kinh tế Nhànước chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, để tiến lên Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa,quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đang tiến hành Cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà

Trang 12

nước làm ăn kém hiệu quả, vì thế, mua bán nợ được thực hiện trực tiếp lên khối doanhnghiệp Nhà nước, nhằm vực dậy những doanh nghiệp lớn, đang trên bờ vực phá sảnthông qua việc tái cấu trúc doanh nghiệp

Trên thế giới, có nhiều ý kiến khác nhau về tái cấu trúc, song những định nghĩađược đưa ra hầu hết đều có chung một bản chất Theo từ điển kinh tế học:

Tái cơ cấu là quá trình tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhằm tạo ra trạng thái tốt hơn cho doanh nghiệp để thực hiện những mục tiêu đề ra Tái cơ cấu công ty là việc khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới Việc tái cấu trúc có thể làm thay đổi hoàn toàn bộ máy hoặc chỉ làm thay đổi một phần.

Cần phân biệt khái niệm “tái cấu trúc” và “tái lập”

“Tái lập” là quá trình thiết kế lại tận gốc các quá trình hoạt động trong một doanhnghiệp, đặc biệt là các quá trình kinh doanh nhằm giúp cho tổ chức hoạt động hiệu quảhơn Mục tiêu của “tái lập” là tạo ra những quy trình được thiết kế lại tốt hơn, giúp doanhnghiệp hoạt động hiệu quả hơn, cũng dựa trên những nền tảng về sứ mệnh, tầm nhìn, địnhhướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp

Các lợi ích của việc tái cơ cấu phải được kể tới như:

 Nắm bắt và tận dụng tốt hơn những cơ hội kinh doanh, vượt qua đc những tháchthức ngày càng khốc liệt, để sống còn trước những thay đổi mạnh mẽ trong mội trườngkinh doanh

 Có đủ khả năng để thực hiện những công việc của mình một cách hiệu quả và bềnvững, thoả mãn những lợi ích nhiều khi xung đột nhau

Phát triển kinh tế.

Khi nào doanh nghiệp cần tái cấu trúc:

 Khi thiếu hụt các chiến lược và kế hoạch

Khi cơ cấu vốn, cơ cấu tài chính chưa phù hợp và thiếu các kiểm soát tài chính.

 Khi quản trị nguồn nhân sự yếu

Các công việc cần làm khi tái cấu trúc:

 Điều chỉnh cơ cấu các hoạt động: điều chỉnh cơ cấu các mục tiêu chiến lược,ngành nghề kinh doanh, chủng loại sản phẩm hàng hóa, địa bàn hoạt động

 Điều chỉnh cơ cấu tồ chức bộ máy: tái bố từ phân công chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của các bộ phận, các cấp quản lý, các chức danh

 Điều chỉnh cơ cấu thể chế: điều chỉnh các cơ chế, chính sách thông qua sự rà soát,thay đồi hợp lý hóa từ các quy trình công việc đến các quy chế, quy định

Trang 13

 Điều chỉnh cơ cấu các nguồn lực: điêu chỉnh cơ cấu đầu tư tạo lập các nguồn lực

và tái phân bổ sử dụng các nguồn lực

Khi tiến hành tái cấu trúc, doanh nghiệp có thể mắc phải rất nhiều sai lầm Mua bán

và xử lý nợ đối với các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam cần chú ý để tránh mắc phảimột trong những sai lầm đáng tiếc có thể làm giảm hiệu quả của hoạt động này Cụ thểnhư sau:

 Không hiểu rõ những nguyên nhân, tồn tại dẫn tới việc phải tái cấu trúc Việc ápdụng một cách máy móc mô hình tái cấu trúc đã được thực hiện của những doanh nghiệp

có đặc thù hoàn toàn khác vào trường hợp của mình, khiến cho nhiều doanh nghiệp khôngnhững tái cấu trúc không hiệu quả mà còn dẫn tới nhiều sai lầm nghiêm trọng hơn

 Tái cấu trúc thiếu phương pháp và kế hoạch

 Nôn nóng, đốt cháy giai đoạn mà nhiều doanh nghiệp quên mất rằng việc tái cấutrúc doanh nghiệp là cá một quá trình lâu dài và gian khổ

 Chưa chuẩn bị tinh thần cho nhân viên về một cuộc thay đổi

1.3.2 Nhân tố bên trong

Tác động của các nhà quản trị: Các nhà quản trị phải chịu trách nhiệm rất cao trongviệc huy động và sử dụng nguồn vốn Khi doanh nghiệp gặp phải các vấn đề tài chính, họthường không muốn công khai một cách minh bạch, do lo sợ ảnh hưởng tới hoạt độngcũng như các dự án đang tiến hành của doanh nghiệp Điều đó, có thể sẽ khiến cho tìnhhình của doanh nghiệp ngày càng khó cứu vãn, và hậu quả nặng nề nhất đó là dẫn đến phásản Trong trường hợp này, nếu các nhà quản lý vẫn muốn duy trì hoạt động của doanhnghiệp, họ phải cùng với bên chủ nợ của mình chấp nhận hợp tác với các công ty chịuchấp nhận đứng ra mua bán các khoản nợ nhằm tiến hành cơ cấu lại nguồn vốn, tiếp tụchoạt động sản xuất- kinh doanh của đơn vị mình Từ đó, hoạt động mua bán và xử lý nợmới được tiến hành với các cơ quan chuyên môn theo nguyện vọng của doanh nghiệp.Còn nếu doanh nghiệp chọn phương án tiêu cực hơn, đó là tuyên bố phá sản, thì hoạtđộng mua bán nợ của doanh nghiệp sẽ không thể ra đời

Trang 14

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ XỬ LÝ NỢ TẠI DATC

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DATC

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Để đẩy mạnh tiến trình sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, góp phần lành mạnh hoátình hình tài chính của doanh nghiệp, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã banhành nhiều chủ trương, chính sách về cơ cấu lại tài chính của doanh nghiệp Nhà nước,trong đó có các quy định về xử lý nợ tồn đọng Theo đó, doanh nghiệp có thể xử lý cáckhoản nợ tồn đọng, thông qua hoạt động mua bán nợ Sau khi được Nhà nước mở đường,nhiều doanh nghiệp đã tìm được lối thoát, tránh khỏi phá sản, tiếp tục hoạt động sản xuấtkinh doanh

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

IX về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhànước, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 109/2003/QĐ - TTg ngày 05/06/2003thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, với vốn điều lệ là 2

tỷ đồng, do Ngân sách Nhà nước cấp và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004,được công nhận doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt theo Quyết định số 55/2004/QĐ -TTg ngày 06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu xử lý các khoản nợ tồn đọng

và tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, vật tư ứ đọng kém, mất phẩm chất (gọi tắt là nợ

và tài sản tồn đọng), góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, thúcđẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước

Năm 2010, Công ty đã đệ trình Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính phê duyệt kếhoạch chuyển đổi loại hình kinh doanh sang Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,

và đổi tên gọi thành “Công ty Mua bán nợ Việt Nam”

Kể từ khi thành lập tới nay, với tiềm năng sẵn có với sự nhiệt huyết, sáng tạo củađội ngũ cán bộ nhân viên và sự nhạy bén, dày dạn kinh nghiệm từ Ban Lãnh đạo, Công ty

đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, đổi mới, ngày một lớn mạnh với từng bước đi vữngchắc, gây dựng niềm tin ở các nhà đầu tư, tạo sự tín nhiệm đối với khách hàng, đáp ứngđược những mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đảng và Chính phủ đã đề ra Hiện nay, phạm vihoạt động của Công ty đã được mở rộng, ngoài Trụ sở chính tại Hà Nội còn có thêm Chinhánh, Trung tâm tại Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh và các đơn vị thành viên khác trênkhắp địa bàn trong cả nước

Trang 15

2.1.2 Mục tiêu hoạt động

 Hỗ trợ các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại lành mạnh hóa tình hìnhtài chính trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hoạt động muabán nợ

 Góp phần giải quyết những tồn tại về tài chính nhằm thúc đẩy quá trình sắpxếp, cổ phần hóa, giao, bán, khoán và cho thuê doanh nghiệp thông qua việc xử

lý các khoản nợ tồn đọng trước khi thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp; xử lý cáckhoản nợ được loại trừ khi xác định giá trị doanh nghiệp

 Thúc đẩy sự hình thành và phát triển của thị trường nợ, tạo thêm nguồn hàngcho thị trường tài chính Qua đó thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các yếu tố thị trườngtrong nền kinh tế quốc dân đi đôi với việc tạo lập khung pháp luật đảm bảo sự quản

lý và giám sát của Nhà nước

 Xây dựng mô hình mẫu và định hướng cho việc hình thành và phát triển củamột số định chế tài chính trung gian (thuộc các thành phần kinh tế) như các công tymua bán nợ, dịch vụ đòi nợ, các công ty dịch vụ tư vấn tài chính

2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh của công ty

 Mua các khoản nợ và tài sản tồn đọng của các doanh nghiệp (bao gồm

cả tài sản và quyền sử dụng đất được sử dụng để đảm bảo cho khoản nợ) bằng cáchình thức thoả thuận trực tiếp, đấu giá, hoặc theo chỉ định của các cấp có thẩmquyền

 Tiếp nhận, xử lý các khoản nợ và tài sản đã loại trừ không tính vàogiá trị doanh nghiệp khi tiến hành chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước

 Xử lý các khoản nợ và tài sản tồn đọng đã mua và tiếp nhận bằng cáchình thức sau:

- Tổ chức đòi nợ trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tài chính trung gian

- Bán các khoản nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (bao gồm cả tài sản vàquyền sử dụng đất (được sử dụng để đảm bảo cho khoản nợ) bằng các hình thức thoảthuận trực tiếp, đấu thầu, đấu giá

- Sử dụng các khoản nợ và tài sản đã mua, tiếp nhận để đầu tư dưới các hình thức:Góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh, hợp tác kinh doanh

 Bảo quản, sửa chữa, nâng cấp tài sản đã mua, tiếp nhận để bán, cho thuê,

đầu tư, tổ chức sản xuất kinh doanh, liên doanh khai thác tài sản Huy động vốn

Trang 16

bằng hình thức phát hành trái phiếu mua nợ để mua một khoản nợ nhất định có giátrị lớn, có tài sản đảm bảo.

 Tư vấn, môi giới xử lý nợ và tài sản tồn đọng:

- Tư vấn, môi giới cho các doanh nghiệp đòi nợ và xử lý các khoản nợ, tài sản tồnđọng

- Tư vấn xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến việc xử lý, cơ cấu lại các khoản

nợ để làm lành mạnh tài chính và sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp theo yêu cầucủa doanh nghiệp hoặc theo nhiệm vụ Nhà nước giao

 Được sử dụng vốn để đầu tư bằng các hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu,góp vốn liên doanh và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

 Tái cơ cấu doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ tài chính cho nền kinh tế

 Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để thúc đẩy xử lý nợ

 Kinh doanh những ngành nghề khác theo quy định của pháp luật

2.1.4 Sự cần thiết phải có hoạt động mua bán và xử lý nợ của DATC đối với các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam

Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam được hưởng rất nhiều ưu đãi về đất đai, vềvốn, thị trường Số lượng các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam không lớn nhưng quy

mô cả về vốn và lao động lớn hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh(không kể các doanh nghiệp nước ngoài hay có vốn đầu tư nước ngoài)

Theo như ghi nhận, có khoảng 89% doanh nghiệp Nhà nước có địa điểm kinh doanh

ở địa điểm cố định, hay nói cách khác mặt bằng dành cho doanh nghiệp Nhà nước gầnnhư được cấp sẵn, trong khi đó, các doanh nghiệp ngoài Nhà nước thì có tới 51% sốdoanh nghiệp phải sử dụng nhà ở và 31% số doanh nghiệp phải đi thuê địa điểm làm mặtbằng sản xuất – kinh doanh

Mặc dù được hưởng rất nhiều ưu đãi để tiến hành sản xuất – kinh doanh, song cơcấu trong tổng doanh thu cả nước của doanh nghiệp Nhà nước chỉ ở mức thấp Ngoài ra,

cơ cấu trên tổng lao động của doanh nghiệp Nhà nước cũng không cao Theo số liệu từTổng Cục thống kê, trong tỷ lệ đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế, đóng gópcủa doanh nghiệp Nhà nước chỉ ở mức 27% trong năm 2008 Ngoài ra, doanh nghiệp Nhànước cũng không tạo thêm công ăn việc làm, làm mất đi hơn 182.000 việc làm từ năm

2000 tới 2006 Giá trị sản xuất công nghiệp doanh nghiệp Nhà nước tạo ra cũng chỉ chiếm20% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các thành phần kinh tế

Trang 17

Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, thành tích nộp Ngân sách Nhà nước của doanhnghiệp Nhà nước cũng khá khiêm tốn Từ năm 2000 tới 2008, thu Ngân sách từ các doanhnghiệp Nhà nước giảm từ 21,7% xuống còn 16,43%.

Theo Báo Lao Động số ra ngày 06/11/2009, đã có bài nói về thực trạng của các

doanh nghiệp Nhà nước như sau: “Về hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, theo báo cáo có tới 45,05% các tập đoàn, Tổng Công ty hoạt động hiệu quả thấp (tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%” Có thể thấy, chính điều này làm ảnh hưởng đến hiệu quả

chung của khu vực kinh tế Nhà nước

So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp ngoài Nhà nước, cácdoanh nghiệp có vốn FDI thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước tại Tập đoàn,Tổng Công ty còn thấp, chưa tương xứng với quy mô, nguồn lực tài chính của Nhà nước,

vị trí và vai trò trong nền kinh tế

Cơ cấu trên tổng lao động của doanh nghiệp Nhà nước cũng không cao, năm 2005 là32,67%, 2006 là 28,29% và 2007 là 23,88%

Tóm lại: Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước chưa cao, chưa tươngxứng với quy mô, vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế

Việc sản xuất- kinh doanh không hiệu quả chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng

nợ nần của các doanh nghiệp Nhà nước

Trong năm 2009, năm mà cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu diễn ra vớinhững hậu quả rất nhanh, mạnh và ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam, theobáo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 01/11/2010 thì nợ của 81/91 Tập đoàn, TổngCông ty Nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.Đặc biệt, những doanh nghiệp Nhà nước bị tác động nhiều nhất của khủng hoảng nằmtrong nhóm: chế biến nông- lâm- thủy sản, xuất khẩu, xây dựng, giao thông, vì khi khủnghoảng thì luồng tiền vào doanh nghiệp này giảm đi rất lớn, hàng hóa không thể xuất khẩuđược Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo Báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ đồng, thì

nợ của khu vực doanh nghiệp Nhà nước đến cuối năm 2009 (không kể chín Tập đoàn,Tổng Công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009

Nhìn vào những số liệu trên, có thể thấy nợ của cả doanh nghiệp Nhà nước và Chínhphủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vựcdoanh nghiệp Nhà nước thật sự đáng lo ngại Đối với hệ thống ngân hàng, theo thống kê,quy mô nợ xấu khoảng 60-70 tỷ đồng Nếu theo tiêu chuẩn quốc tế có thể còn cao hơn.Nhưng điều đáng chú ý, đa số khoản nợ này lại nằm trong các ngân hàng thương mại Nhànước và khách nợ chủ yếu vẫn là doanh nghiệp Nhà nước

Trang 18

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với nhữngtính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực doanh nghiệp Nhà nước chiếmkhông dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế Đây làbằng chứng cho thấy các doanh nghiệp Nhà nước là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất

từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009

Trong cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Nhà nước, khi nợ tồn đọng của các doanhnghiệp còn ở mức khá cao, khả năng trả nợ thấp, gây nên hệ số nợ và rủi ro của doanhnghiệp tăng cao Nợ và tài sản tồn đọng là một thực trạng nan giải, gây cản trở và làmgiảm hiệu quả của tiến trình chuyển đổi hình thức sở hữu và cải cách doanh nghiệp Nhànước

Theo một cách tiếp cận khác để đánh giá các khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước,

số nợ phải trả của doanh nghiệp Nhà nước thường gấp 1,2-1,5 lần vốn Nhà nước tạidoanh nghiệp, thậm chí có nhiều doanh nghiệp nợ gấp vài lần đến hàng chục lần vốn chủ

sở hữu Số nợ phải thu cũng chiếm từ 50-60% vốn chủ sở hữu, đặc biệt nợ khó đòi chiếmđến 15-20% lợi nhuận hàng năm, nhưng lại không được ghi đầy đủ trong sổ sách kế toándoanh nghiệp Đến thời điểm này, việc xử lý các khoản nợ tồn đọng của khối doanhnghiệp Nhà nước mà Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước đưa ra biện pháp chủ yếu vẫn làgiãn nợ, khoanh nợ

Ví dụ: Các Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vậntải là nhóm doanh nghiệp có số nợ quá hạn lớn nhất, kéo dài nhất và nan giải đối với cácngân hàng thương mại Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thương mại, dịch vụ, côngtrình giao thông, xây dựng, chế biến nông sản, may mặc, cung ứng vật tư nông nghiệp, in

ấn và bao bì, mía đường cũng có số nợ quá hạn ở mức cao Tính đến ngày 31/12/2008,một số đơn vị có tỷ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu trên 10 lần là: Tổng Công tyXây dựng công trình giao thông 1 (21,6 lần), Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (17,4 lần),Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4 (14 lần), Tổng Công ty Thành An (13,9lần), Tổng Công ty Xây dựng công nghiệp Việt Nam (12,9 lần), Tổng Công ty Cổ phầnXuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (12,2 lần), Tổng Công ty Xây dựng Công trìnhGiao thông 8 (12 lần), Tổng Công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng (11,3 lần), Tập đoànCông nghiệp Tàu thủy Việt Nam Vinashin (10,9 lần)

Những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên tại doanh nghiệp Nhà nước là:

* Tính kém minh bạch trong công bố thông tin Trong các doanh nghiệp Nhà nước ởnước ngoài, công khai thông tin về tình hình tài chính và tình hình hoạt động một cáchđầy đủ và thường xuyên như một doanh nghiệp niêm yết, chịu sự giám sát, chất vấn từ

Trang 19

các cổ đông thông qua nhiều hình thức, thì tại Việt Nam, chưa có cơ chế để doanh nghiệpNhà nước phải công bố báo cáo tài chính lên website và các phương tiện thông tin đạichúng, trừ lĩnh vực tài chính- ngân hàng Rất ít có doanh nghiệp Nhà nước tự nguyệncông bố báo cáo tài chính lên website, và do đó rất khó nắm bắt được tình hình tài chính

và tình hình hoạt động một cách chi tiết

* Nguyên nhân từ các nhà quản lý doanh nghiệp: như năng lực yếu kém Đội ngũcán bộ trong nhiều doanh nghiệp Nhà nước thiếu những kiến thức căn bản trong quản lý

và điều hành, trình độ chuyên môn không đáp ứng được nhu cầu công việc Sự bao cấp và

cơ chế điều hành mang nặng tính hành chính của Nhà nước khiến cho nhiều doanh nghiệp

ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mình Cơ cấu tàichính của doanh nghiệp Nhà nước không hợp lý có một phần lỗi từ các nhà quản lý.Đối với vấn đề huy động vốn, trong khi doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam có thểđược Nhà nước cấp vốn và không thể huy động được vốn cổ phần thì ở nước ngoài doanhnghiệp Nhà nước có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn từ cổ đông Nhà nước và tưnhân, vì hầu hết doanh nghiệp Nhà nước đều là những doanh nghiệp lớn và phải thực hiệnniêm yết Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ phụ thuộc vào nợ vay, mà không chú ýtới việc tự chủ tài chính và cân đối các khoản mục trong cơ cấu nguồn vốn của mình

* Quản lý vĩ mô không nhất quán, gây cản trở cho sự phát triển doanh nghiệp TạiViệt Nam, tiến trình ra quyết định của doanh nghiệp Nhà nước hiện cũng ghi nhận sựkhác biệt đáng kể Tại Việt Nam, những quyết định quan trọng phải xin phê chuẩn từ cơquan đại diện Nhà nước và tiến trình thông qua quyết định mất nhiều thời gian Trong khi

ở nước ngoài, Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối những hoạt động như một cổ đông lớn

và cổ đông nhỏ lẻ có thể phủ quyết những quyết định không có lợi cho doanh nghiệp hoặccho họ

Hậu quả trực tiếp của những tồn tại trên, đó là việc các doanh nghiệp Nhà nước đưa

ra các quyết định đầu tư kém hiệu quả, nợ chồng lên nợ

Các doanh nghiệp nhà nước cần phải đánh giá tình trạng nợ tại các doanh nghiệpmột cách toàn diện, chặt chẽ và nghiêm túc để có thể kiểm soát thời điểm doanh nghiệpbắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn trong việc thực hiện các nghĩa vụ nợ Cơ chế chủ quan

đã ngày càng bộc lộ những nhược điểm lớn kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế ViệtNam

Lịch sử đã cho thấy, các cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-1998 vàkhủng hoảng toàn cầu hiện này cũng có nguyên nhân từ các khoản nợ xấu Nếu Nhà nướctiếp tục để tình trạng các doanh nghiệp Nhà nước tồn tại kém hiệu quả, nợ đọng tràn lan

Trang 20

sẽ gây nguy hại cho nền kinh tế Thực trạng này dẫn tới một yêu cầu bức thiết đó là táicấu trúc doanh nghiệp Nhà nước, mà trong đó, đa dạng hóa sở hữu của doanh nghiệp Nhànước chính là biểu hiện sinh động nhất.

Tuy nhiên, nhìn vào hiện trạng các doanh nghiệp Nhà nước, nhiều doanh nghiệpchưa đủ điều kiện để Cổ phần hóa do âm vốn, hoặc có những doanh nghiệp tuy đã Cổphần hóa xong nhưng hết vốn và nợ nần chồng chất Theo Hiệp hội Các nhà đầu tư tàichính (VAFI), tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp Nhà nước hiện có trên 1.000 doanhnghiệp không cổ phần hóa, trong khi đó các nước phát triển (như nhóm G7) còn rất ítdoanh nghiệp Nhà nước hoặc chỉ tồn tại ở những lĩnh vực cực kỳ quan trọng như dầu khí,xăng dầu, vận tải công cộng

Để tiến hành Cổ phần hóa thành công, các doanh nghiệp Nhà nước, vấn đề ở đây làcần xử lý xong âm vốn chủ sở hữu (mà nguyên nhân chính dẫn đến là nợ vay quá lớn).Hoạt động mua bán nợ của DATC đặc biệt hiệu quả với các doanh nghiệp Nhà nướckhông đủ điều kiện Cổ phần hóa, hoặc đã Cổ phần hóa không triệt để nhưng có tiềm năngphát triển Do đó, có thể nói rằng, DATC đã góp phần rất lớn vào việc cứu nhiều doanhnghiệp sắp phá sản

2.2 QUY TRÌNH CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ XỬ LÝ NỢ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA DATC

2.2.1 Nguyên tắc thực hiện

* Hồ sơ của chủ nợ, chủ tài sản đề nghị bán nợ gửi cho Công ty hoặc các Chi nhánh,trung tâm thuộc Công ty phải tuân theo đúng thủ tục đã được đề ra đối với các văn bảnđến

* Các cá nhân đơn vị tham gia hoạt động mua, xử lý nợ phải chủ động tiếp cậnthông tin, khai thác thị trường mua, xử lý nợ

* Các khoản nợ được xem xét xây dựng phương án mua, xử lý (trừ trường hợpmua, bán theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ) phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:Khoản nợ có hồ sơ đảm bảo tính pháp lý, không có tranh chấp, khách nợ phải còn tồn tại

và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam

* Trong thời hạn tối đa 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị bán

nợ hoặc tài sản của khách hàng, cá nhân được giao nhiệm vụ xử lý hồ sơ mua, xử lý nợchủ động liên hệ với các bên có liên quan thu thập thông tin cần thiết theo quy định đểxây dựng phương án mua, xử lý nợ báo cáo Trưởng phòng, Giám đốc chi nhánh, Giám

Trang 21

đốc trung tâm xem xét, quyết định theo phân cấp của Tổng giám đốc hoặc trình Tổnggiám đốc xem xét, quyết định để trả lời bằng văn bản cho khách hàng.

* Trường hợp khách hàng có nhu cầu mua bán nợ liên hệ trực tiếp với Công ty, cánhân được giao tiếp khách hàng có trách nhiệm giới thiệu, giải thích rõ cho khách hàng vềtrình tự, thủ tục mua bán, xử lý nợ

* Việc thành lập DATC thực chất không phải là để Nhà nước xoá nợ cho các doanhnghiệp Nhà nước làm ăn không hiệu quả

Kinh doanh hoạt động mua bán nợ là loại hình kinh doanh khá là phức tạp, đặc biệt

là khi khoản nợ được mua bán vốn đã là các khoản nợ xấu- việc mua nợ gắn với việc cơcấu lại doanh nghiệp Mua bán nợ và sau đó cơ cấu lại doanh nghiệp khách nợ là hoạtđộng kinh doanh của DATC, vì vậy hiệu quả kinh tế phải được đặt lên hàng đầu, mọiphương án mua bán nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp đều được DATC nghiên cứu kỹ đểđảm bảo đạt được hiệu quả, không để xảy ra tình trạng doanh nghiệp tiếp tục hoạt độngkhông có hiệu quả sau khi được tái cơ cấu lại Có nhiều tiêu chí cần phải được xem xéttrước khi quyết định mua bán nợ:

Một là, doanh nghiệp có tiềm năng phát triển và có thể phát triển có hiệu quả nếu

được hỗ trợ giải quyết những khó khăn tạm thời đang gặp phải

Hai là, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan (như các chủ nợ khác, cơ quan chủ

quản của doanh nghiệp) sẵn sàng hợp tác với DATC trong việc áp dụng các biện phápthích hợp nhằm xử lý khó khăn cho doanh nghiệp, để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại, pháttriển có hiệu quả hơn

Ba là, phải xem xét tác động tích cực đối với xã hội của việc mua và xử lý nợ (như

việc góp phần thúc đẩy quá trình sắp sếp lại, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước,tạo công ăn việc làm cho một bộ phận lớn người lao động, ổn định chính trị - xã hội)

DATC đã phân loại 2 hình thức mua, bán nợ nói chung Đó là:

 Mua, bán nợ theo thoả thuận: đối với hình thức này, DATC, các chủ nợtrực tiếp liên hệ nhau để tìm hiểu nhu cầu mua, bán nợ, việc mua bán nợ được thựchiện trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên Việc mua, bán nợ thực hiện theo cơchế thị trường, giá cả được thực hiện theo phương thức thỏa thuận, đấu giá, đấuthầu Khi mua các khoản nợ và tồn đọng theo hình thức thoả thuận, Công ty Muabán nợ được quyền chủ động sử dụng nguồn vốn hoạt động của mình để tiến hànhkinh doanh theo nguyên tắc hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Các hình thức xử

lý nợ trong mua bán nợ theo thoả thuận là: xử lý nợ thông qua xử lý các tồn tại tàichính và tái cơ cấu doanh nghiệp, chuyển nhượng tài sản đảm bảo để thanh toán nợ

Trang 22

do khách nợ tự thực hiện hoặc phối hợp cùng Công ty thực hiện, bán nợ thông quađấu giá hoặc thoả thuận, thu nợ theo phương án thoả thuận với khách nợ, thu hồi nợ

có chiết khấu, hoán đổi nợ lấy tài sản, thoả thuận để khách nợ hoán đổi nghĩa vụ trả

nợ cho bên thức ba, cơ cấu lại giá trị và thời gian trả nợ, kể cả việc ân hạn nợ gốc vàlãi với lãi suất ưu đãi, chuyển nợ thành vốn góp cổ phần theo thoả thuận, chứngkhoán hoá khoản nợ, khởi kiện ra Toà án để áp dụng các biện pháp tố tụng thu hồinợ

 Mua, bán nợ theo chỉ định: đây là hình thức mua bán nợ được thực hiện khi

có sự ban hành chỉ thị bằng văn bản của Thủ tướng Chính phủ hoặc cấp có thẩmquyền chỉ định đối tượng bán nợ DATC sẽ liên hệ với chủ nợ, đề nghị cung cấp các

hồ sơ cần thiết liên quan tới khoản nợ Công ty Mua bán nợ chỉ là người đại diện choNhà nước để quản lý, theo dõi, đề xuất và thực hiện các biện pháp xử lý cụ thể đốivới khoản nợ đã mua nhằm thu hồi lại phần vốn mà Nhà nước phải bỏ ra để chỉ địnhviệc mua bán nợ

Còn trong hoạt động xử lý nợ, DATC tập trung chủ yếu vào thực hiện ba hình thức Cụ thể như sau:

Tổ chức thu hồi nợ thông qua các biện pháp đòi nợ, phát mại tài sản

 Tái cơ cấu lại doanh nghiệp khách nợ để giúp doanh nghiệp khôi phục lạihoạt động sản xuất- kinh doanh, tạo nguồn trả nợ

 Bán nợ để chủ nợ mới thực hiện thu hồi nợ

Việc áp dụng biện pháp nào trong các biện pháp xử lý nợ nêu trên sẽ tùy thuộc vàođặc điểm, trình độ môi trường pháp lý và tập quán kinh doanh của mỗi nước cũng nhưđiều kiện cụ thể trong từng giai đoạn của nền kinh tế Ở Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay, biện pháp xử lý khoản nợ đã mua bán gắn với tái cơ cấu lại doanh nghiệp khách nợ

là biện pháp có tính khả thi cao, đảm bảo thực hiện tốt nhất mục tiêu hoạt động của Công

ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng nói riêng và mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước nóichung

2.2.2 Quy trình mua bán và xử lý nợ

Quy trình mua bán và xử lý nợ được tiến hành với nhiều bước và thủ tục tuân theođúng những nguyên tắc đã được đề ra Song, có thể tóm tắt quy trình đó thông qua cácbước chủ yếu sau đây:

Trang 23

2.2.2.1 Khảo sát doanh nghiệp để đánh giá tiềm năng phát triển và khả năng tái cơcấu (đối với các khoản nợ có phương án xử lý gắn với tái cơ cấu), sau đó đàm phán vớingân hàng để ký hợp đồng mua bán nợ.

Trong bước này, DATC sẽ tiến hành thu thập, kiểm tra hồ sơ khoản nợ Đối với muabán nợ theo thoả thuận, hồ sơ khoản nợ bao gồm: các tài liệu chứng minh quyền sở hữukhoản nợ, các biện pháp đảm bảo cho khoản nợ, báo cáo tài chính của khách nợ 03 nămtrước, liền kề (nếu có) hoặc báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất kể từ thời điểm chàobán nợ của chủ nợ, hồ sơ pháp lý của khách nợ, các giấy tờ khác liên quan tới khoản nợ.Đối với mua bán nợ theo chỉ định, hồ sơ khoản nợ bao gồm: phương án trình cấp cóthẩm quyền về việc bán nợ theo chỉ định, văn bản đề nghị bản nợ, các tài liệu được yêucầu trong hình thức mua bán nợ theo thoả thuận

Tiếp theo, DATC sẽ tiến hành thu thập thông tin về tài sản, qua việc tiếp xúc vớichủ nợ, chủ tài sản, khách nợ và các cơ quan hữu quan Sau khi kết thúc quá trình này,DATC sẽ lập phương án sơ bộ để mua khoản nợ Hợp đồng mua bán nợ sẽ được đàmphán, ký kết đồng thời với việc chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ đó Việc ký kết nàyphải được thông báo cho tất cả các bên có liên quan tới khoản nợ được biết

2.2.2.2 Tiến hành xác định giá trị doanh nghiệp (nếu là doanh nghiệp Nhà nước)hoặc kiểm toán độc lập (nếu là công ty cổ phần) để làm rõ những tồn tại tài chính cần xử

lý Bước này chỉ áp dụng đối với những quy trình xử lý nợ gắn với tái cơ cấu doanhnghiệp

Tiếp sau đó, đối với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước: DATC sẽ giảm trừ tráchnhiệm trả nợ tương ứng với số âm vốn chủ sở hữu trên cơ sở giá trị doanh nghiệp đã đượckiểm toán Đối với doanh nghiệp khác, dựa vào kết quả kiểm toán mà áp dụng các hìnhthức xử lý như: giảm trừ trách nhiệm trả nợ tương ứng với số lỗ luỹ kế của doanh nghiệp,giảm trừ trách nhiệm trả nợ tương ứng số âm vốn chủ sở hữu, giảm trừ trách nhiệm trả nợtương ứng với phần nợ lãi phát sinh từ số nợ gốc mua từ chủ nợ cũ

2.2.2.3 Lập phương án xử lý nợ và tái cơ cấu (đối với xử lý nợ gắn với tái cơ cấudoanh nghiệp) theo mẫu

Trong phương án này, phải chứa các nội dung phù hợp với quy trình xử lý nợ đãđược lựa chọn Nếu chọn xử lý nợ bằng hình thức chuyển nhượng tài sản bảo đảm đểthanh toán nợ, thì phương án phải bao gồm các thông tin về khoản nợ, thông tin chi tiết vềtài sản, cách thức xử lý tài sản, đề xuất chi phí xử lý tài sản, phương thức chuyển nhượng

Trang 24

tài sản, đề xuất giá khởi điểm và định giá tài sản trên cơ sở kết quả thẩm định và định giácủa các tổ chức, cơ quan chức năng, kèm theo cơ sở pháp lý cho việc chuyển nhượngNếu chọn xử lý nợ bằng hình thức bán nợ, phương án phải gồm các nội dung sau:thông tin về khoản nợ, thông tin chi tiết về tài sản đảm bảo (nếu có), cơ sở pháp lý choviệc bán nợ, phương thức bán nợ, đề xuất giá khởi điểm và định giá khoản nợ.

2.2.2.4 Phê duyệt phương án xử lý nợ và phương án tái cơ cấu (đối với xử lý nợ gắnvới tái cơ cấu doanh nghiệp) để thực hiện

Việc trình duyệt phương án phải được thực hiện theo quy trình chung của Công tyMua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, thực hiện từ các nhân xử lý hồ sơ trựctiếp tới Trưởng đơn vị và từ Trưởng đơn vị đến Tổng giám đốc Trước khi trình Tổnggiám đốc, các phương án do Chi nhánh, Trung tâm xây dựng phải có ý kiến thẩm địnhcủa đơn vị đầu mối theo phân công của Tổng giám đốc Tổng giám đốc có thể trực tiếp kýtrình hoặc uỷ quyền cho cấp phó hay Trưởng đơn vị ký trình cấp có thẩm quyền phêduyệt phương án

2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ XỬ LÝ NỢ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA DATC

2.3.1 Những thành tựu đã đạt được của DATC trong hoạt động mua bán và xử

lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước

Do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam,cùng với những chủ trương của Đảng và Nhànước, hoạt động của DATC tập trung phần lớn vào việc giúp đỡ các doanh nghiệp Nhànước trong công cuộc tái cấu trúc Nguyên nhân sâu xa ở đây là do:

* Những khoản nợ Ngân hàng muốn bán trên thực tế đều là những khoản nợ đãđược ngân hàng sử dụng các biện pháp đòi nợ, phát mại tài sản nhưng vẫn không thựchiện được Vì vậy, mục tiêu mua nợ để sau đó đòi nợ, phát mại tài sản là hoạt động rấtkhó thực hiện trên thực tế Số lượng khoản nợ có thể thực hiện được với mục đích này sẽkhông nhiều, nên nó không thể góp phần vào xử lý dứt điểm các khoản nợ và tài sản tồnđọng của các ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước Mặt khác, mua nợ để xử lý theo hìnhthức này nếu thực hiện được chỉ có tác dụng giúp các chủ nợ sớm thu hồi được vốn,nhưng chưa có tác dụng giúp các doanh nghiệp khách nợ khắc phục được những tồn tạitài chính nên chưa thực sự góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính, thúc đẩy quá trìnhsắp xếp và chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước

Trang 25

* Hiện nay thị trường mua bán nợ ở nước ta chưa phát triển, nên việc tìm người mua

để bán lại nợ là rất khó khăn Như vậy, cũng tương tự như việc mua nợ để sau đó đòi nợ,phát mại tài sản, việc mua nợ để sau đó bán lại có tính khả thi rất thấp, không thực sự đápứng được mục tiêu mà DATC đã đề ra

* Khi xử lý nợ theo phương án tái cơ cấu doanh nghiệp thì DATC sẽ giúp đượcdoanh nghiệp khách nợ cơ cấu lại tài chính để đảm bảo cho doanh nghiệp có vốn tiếp tụchoạt động, đủ điều kiện để chuyển đổi sở hữu thông qua việc giảm một phần nghĩa vụ trả

nợ và chuyển nợ thành vốn góp tại doanh nghiệp, đồng thời DATC tìm kiếm các nhà đầu

tư chiến lược tham gia đầu tư vốn, hỗ trợ về kỹ thuật và quản lý để giúp doanh nghiệp cơcấu lại tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động sản xuất- kinh doanh để doanh nghiệp có thểphát triển có hiệu quả sau khi được chuyển đổi sở hữu, từ đó có nguồn trả nợ Biện pháp

xử lý nợ này vừa giúp cho chủ nợ (thường là các ngân hàng thương mại Nhà nước) thuhồi được vốn vay, từ đó góp phần đẩy nhanh quá trình Cổ phần hóa Ngân hàng thươngmại Nhà nước, vừa giúp cho doanh nghiệp khách nợ lành mạnh tài chính, tiếp tục tồn tại

và phát triển tốt hơn

Hoạt động tái cơ cấu thông qua nghiệp vụ mua và xử lý nợ xấu là sự tương tác giữaDATC với các doanh nghiệp DATC tiến hành xử lý nợ xấu cho các doanh nghiệp thôngqua các hoạt động như sau :

* Giảm trừ một phần nghĩa vụ trả nợ và chuyển nợ thành vốn góp tại doanh nghiệp,đây chính là bản chất của hoạt động mua bán và xử lý nợ của DATC đối với doanh

nghiệp Đối với một doanh nghiệp doanh nghiệp thì một trong những điều kiện tiên quyết

để có thể Cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu được là phải xử lý triệt để số âm vốn chủ

sở hữu, bởi lẽ không nhà đầu tư nào sẵn sàng bỏ vốn ra để bù đắp những tổn thất tài chínhtrước đó của doanh nghiệp mà người được lợi lại là chủ nợ của doanh nghiệp đó Mặtkhác, đối với chủ nợ, số âm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cũng chính là phần giá trịcác chủ nợ đã thực tế bị mất đi nếu thanh lý toàn bộ tài sản của doanh nghiệp Như vậy,việc miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ cho doanh nghiệp khách nợ để doanh nghiệp đókhông còn âm vốn chủ sở hữu - xét về bản chất - thì chỉ là thủ tục mang tính hình thức, vì

đó chỉ là việc miễn giảm phần giá trị không còn tồn tại, cũng tương tự như việc đánh giálại giá trị của khoản nợ theo giá trị thị trường

Tuy nhiên, việc miễn giảm này lại cho phép DATC quyền được chuyển nợ thànhvốn góp tại doanh nghiệp theo mức giá hợp lý, quyền được tái cơ cấu lại doanh nghiệp

đó Như vậy, đây thực chất là sự trao đổi để Công ty có quyền đầu tư vào và quản lýdoanh nghiệp theo điều kiện phù hợp với Công ty Điều này hoàn toàn khác với việc xóa

Trang 26

nợ mà Nhà nước thực hiện đối với các tổ chức, cá nhân - một hình thức mà Nhà nước từ

bỏ quyền của mình đối với khoản nợ, nhưng không nhận lại bất kỳ quyền lợi nào khác từphía tổ chức, cá nhân được xóa nợ Vấn đề đặt ra là việc miễn giảm này có phải là việchợp thức hóa những sai phạm dẫn đến những tổn thất tài chính trước đây ở doanh nghiệpkhách nợ hay không Một điều rất rõ ràng là việc miễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ nêutrên không làm thay đổi được quá khứ của doanh nghiệp, không làm thay đổi được số liệu

và hồ sơ tài liệu về hoạt động kinh doanh trước đây của doanh nghiệp khách nợ Vì vậy,các cơ quan quản lý Nhà nước vẫn có đầy đủ căn cứ để xem xét, đánh giá và truy cứutrách nhiệm của những tổ chức, cá nhân đó sau khi doanh nghiệp khách nợ được miễngiảm một phần nghĩa vụ trả nợ Do vậy, để DATC có thể chuyển đổi sở hữu được nhữngdoanh nghiệp Nhà nước đã âm vốn chủ sở hữu thông qua hoạt động mua bán nợ, thì việcmiễn giảm một phần nghĩa vụ trả nợ cho doanh nghiệp khách nợ cần được coi là thẩmquyền cần thiết của DATC

* Tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược tham gia đầu tư góp vốn

* Hỗ trợ về kỹ thuật và quản lý để giúp doanh nghiệp cơ cấu lại tổ chức bộ máyquản lý và hoạt động sản xuất- kinh doanh

Kể từ thời điểm thành lập cho tới nay, DATC đã tiến hành mua bán và xử lý thànhcông nhiều khoản nợ xấu, vực dậy nhiều doanh nghiệp bên bờ vực phá sản, giúp cácdoanh nghiệp khách nợ lành mạnh hóa tài chính

DATC được Chính phủ thành lập với chức năng chủ yếu là tiếp nhận, mua bán, xử

lý nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, nhằm góp phần thúc đẩy quá trình sắp xếp lại,chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước Nhưng DATC không phải là một kênh để tiếptục thực hiện sự bao cấp của Nhà nước cho các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn khônghiệu quả DATC là doanh nghiệp hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính

Trong hoạt động xử lý nợ, trước hết, DATC thường bắt đầu từ việc tái cấu trúc lạivấn đề tài chính, cân đối lại, xác định lại quy mô, mời đối tác Trên thực tế, cơ hội luôn đikèm rủi ro Mặc dù những doanh nghiệp nhà nước được DATC cứu đều là những doanhnghiệp đang “hấp hối”, nhưng đối với những doanh nghiệp này, họ vẫn có rất nhiều tiềmnăng phát triển nhưng họ không thể biến tiềm năng đó thành cơ hội để phát triển vì nhữngtrục trặc tài chính, quản trị điều hành Nếu tập trung tái cấu trúc thì cơ hội đó có thể sẽđược hiện thực hóa

Từ tháng 2/2004, DATC đã nhanh chóng triển khai các nhiệm vụ được giao ngaysau lễ chính thức ra mắt thành lập công ty Ngay từ khi mới đi vào hoạt động, DATC đãchủ động làm việc với các Bộ, ngành, các địa phương và Tổng Công ty

Trang 27

Trong 3 năm đầu hoạt động (từ 2004 tới 2006), công ty tập trung chủ yếu vào ổnđịnh bộ máy tổ chức, và hoạt động tiếp nhận, xử lý nợ theo chỉ định của Chính phủ.Trong thời gian đầu này DATC đã rất chú trọng đến công tác tuyên truyền để mọi doanhnghiệp đều dễ dàng hiểu về nghiệp vụ này và từ đó có thể chủ động tham gia Bên cạnh

đó, công ty cũng luôn chuẩn bị lực lượng sẵn sàng thực hiện tốt hoạt động mua, bán nợtheo chỉ định của Chính phủ Đến cuối năm 2006, Công ty đã cơ bản hoàn thành việc tiếpnhận nợ của các doanh nghiệp Cổ phần hóa

Việc thành lập chi nhánh đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh đã vừa giúp công tyđẩy mạnh hoạt động tại vùng trọng điểm lớn nhất nước ta, vừa là cầu nối để DATC có thểphủ sóng ra vùng Đông Nam bộ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long

Từ năm 2007, Công ty đã mở rộng hoạt động mua và xử lý nợ theo cơ chế thịtrường, trong đó, chủ yếu là mua nợ gắn với xử lý tài chính thực hiện chuyển đổi sở hữu

và phục hồi hoạt động doanh nghiệp Nhà nước Ngoài ra, cũng từ năm này, Công ty thựchiện phương châm phát sinh nợ loại trừ đến đâu sẽ tiếp nhận để xử lý ngay đến đó Thực

tế cho thấy đây là hướng đi đúng và khả thi, vừa tạo hiệu quả kinh tế cho công ty, vừa đểthực hiện tốt hơn mục tiêu thành lập góp phần thúc đẩy các chương trình phát triển kinhtế- xã hội của Đảng và Chính phủ

Từ cuối năm 2007, DATC đã kết hợp chặt chẽ với khối ngân hàng thương mại Nhànước như Vietcombank, BIDV, Agribank và Vietinbank, để giúp xử lý dứt điểm một sốkhoản nợ xấu khá lớn DATC đã giúp các ngân hàng này cắt giảm được tỷ lệ nợ xấu, lànhmạnh lại một phần tình hình tín dụng để củng cố tốt cho quá trình hội nhập và chuyển đổi

cổ phần hoá của họ

Lũy kế đến hết năm 2008, công ty đã tiếp nhận nợ loại trừ của 2.215 doanh nghiệptrong cả nước, trong đó 874 doanh nghiệp trung ương và 1.341 doanh nghiệp địa phương.Giá trị sổ sách của nợ loại trừ đã tiếp nhận là 1.238 tỷ đồng

Số nợ đã mua luỹ kế đến hết năm 2008, công ty đã mua 5.883 tỷ đồng giá trị sổ sách

nợ tồn đọng, trong đó 336 tỷ đồng mua theo chỉ định của Chính phủ, số còn lại mua theo

cơ chế tự thoả thuận với các ngân hàng Trong tổng số nợ đã mua nêu trên, chiếm phầnlớn là nợ được mua trong 2 năm 2007 và 2008 (chiếm khoảng 91%)

Giá mua nợ luỹ kế đến hết năm 2008, tổng số tiền đã chi để mua nợ là 1.992 tỷđồng, trong đó 336 tỷ đồng để mua nợ tồn đọng theo chỉ định của Chính phủ, số còn lại

để mua nợ tồn đọng theo cơ chế thị trường Bình quân giá mua trên giá trị sổ sách củakhoản nợ đạt tỷ lệ 34%

Trang 28

Số tiền thu hồi từ xử lý nợ đã mua: luỹ kế đến hết năm 2008, công ty đã thu hồi, xử

lý dưới các hình thức (bao gồm cả chuyển nợ thành vốn góp) được 1.178 tỷ đồng, bằng59% tổng số tiền đã chi để mua nợ, trong đó 70,8% được thu hồi trong năm 2007 và2008

Cũng tới năm 2008, tổng số nợ mà DATC đã chuyển thành vốn góp cổ phần: tổng

số tiền thu hồi nêu trên có 211 tỷ đồng là nợ tồn đọng được xử lý thu hồi theo phươngthức chuyển nợ thành vốn góp cổ phần tại 11 doanh nghiệp Nhà nước được Công ty xử lýtồn tại tài chính và tái cơ cấu, chuyển đổi sở hữu và phục hồi hoạt động

DATC đã tham gia hợp tác tích cực không chỉ với các ngân hàng thương mại mà cảvới Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và một số cơ quan hữuquan để xem xét đến phương án xử lý nợ, sắp xếp và tái cấu trúc lại cho một số lượng khálớn doanh nghiệp có vốn của SCIC

Theo những số liệu đã phân tích, số doanh nghiệp đã và đang thực hiện tái cơ cấu:đến cuối năm 2008, công ty đã và đang xử lý tài chính để thực hiện tái cơ cấu, chuyển đổi

sở hữu và phục hồi hoạt động cho tổng số 58 doanh nghiệp Trong đó, đã hoàn tất tái cơcấu thành công 8 đơn vị, đang triển khai phương án tái cơ cấu 3 đơn vị, 47 đơn vị còn lạiđang xây dựng phương án tái cơ cấu lại (có danh sách kèm theo) Trong số 11 doanhnghiệp đã tái cơ cấu, có 9 doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ, âm vốn chủ sở hữu dokhông đủ điều kiện cổ phần hoá, 2 đơn vị còn lại là doanh nghiệp Nhà nước đã được cổphần hoá nhưng tiếp tục hoạt động thua lỗ sau cổ phần do gặp khó khăn tài chính Trong

số 47 phương án tái cơ cấu đang xấy dựng có 24 đơn vị là doanh nghiệp Nhà nước không

cổ phần hoá được, 20 đơn vị là công ty cổ phần chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nướcnhưng hoạt động kém hiệu quả do những tồn tại tài chính trước cổ phần hoá không được

xử lý triệt để

Nhìn chung, tình hình hoạt động của doanh nghiệp sau tái cơ cấu có những chuyểnbiến tích cực sau một thời gian ngắn được xử lý tài chính và tái cơ cấu: lợi nhuật khá tốt,tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, đóng góp thuế cho Ngân sách địaphương, góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địabàn, cụ thể ở một số đơn vị như sau

Mặc dù các hoạt động kinh doanh của Công ty có tính đặc thù, nhưng Công ty luôn

cố gắng đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội thông qua các chỉ tiêu tài chính luôn được giữ ởmức tăng trưởng tốt, lãi năm sau tăng cao hơn năm trước, vốn được bảo toàn, ngoài vốnđiều lệ là 2000 tỷ đồng, Công ty đã bổ sung nguồn vốn Nhà nước tại công ty được thêm

Trang 29

237 tỷ đồng từ lợi nhuận giữ lại Mức dự phòng tài chính được trích lập cũng tăng caotheo các năm Cụ thể như sau:

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu tài chính của DATC giai đoạn 2004-2008

(Nguồn: DATC- Báo cáo Tổng kết 5 năm hoạt động của DATC)

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo và công nhân viên Công ty đã tích luỹ được nhiều kinhnghiệm trong hoạt động mua, bán, xử lý nợ nhất là trong lĩnh vực tái cơ cấu lại hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp khách nợ

Năm 2009 là năm thứ 6, Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệpđược thành lập và đi vào hoạt động Đây là năm tình hình kinh tế trên thế giới nói chung

và tình hình kinh tế Việt Nam nói riêng đã gặp phải những khó khăn rất lơn do ảnh hưởng

từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 Tốc độ tăngtrưởng kinh tế những tháng cuối năm tuy đã hồi phục song vẫn có những diễn biến rấtphức tạp và khó lường, vì vậy đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinhdoanh của Công ty

Doanh số mua nợ đạt 37,11% so với năm 2008, đạt 45,53% chỉ tiêu đề ra Doanhthu từ xử lý nợ bằng 119,29% năm 2008, đạt 95,96% kế hoạch đề ra của năm So với năm

2008, DATC đã thực hiện chuyển nợ thành vốn góp được 132.141 tỷ đồng, thì năm 2009

đã có sự tăng nhẹ lên 136.667 tỷ đồng, tuy nhiên chỉ đạt 48.98% so với kế hoạch đã đề ra.Một số doanh nghiệp được DATC chuyển nợ thành vốn góp đó là: Công ty Cà phêMascopex, Công ty cổ phần Cầu 14, Công ty cổ phần khai thác đá 621 (do phòng Muabán nợ thực hiện), Công ty cổ phần Xi măng Bak kan, Công ty cổ phần Tàu quốc và xâydựng, Công ty cổ phần Xây dựng công trình giao thông 838 (do Trung tâm Hà Nội thựchiện), Công ty cổ phần Sứ Cosani, Công ty cổ phần Dệt Hoà Khanh, Công ty cổ phầngạch men Cosevco, Công ty mía đường Kiên Giang, Nhà máy đường Thới Bình, Công ty

cổ phần Đầu tư và xây dựng 44, và rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phầnkhác

Trang 30

Năm 2010 là năm thứ 7 DATC được thành lập và đi vào hoạt động, và cũng là nămđược Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hàng Quyết định số 1494/QĐ-BTC ngày 20/06/2010 vềviệc phê duyệt đề án chuyển đổi Công ty (đoanh nghiệp Nhà nước) thành Công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán Nợ Việt Nam do Nhà nước quản lý Trong nămnày, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 33/2010/TT-BTC ngày 11/03/2010 về Điều lệ

tổ chức và hoạt động của Công ty, bước đầu đã tháo gỡ được một số vướng mắc, khókhăn Trong năm này, lợi nhuận trước thuế của công ty đạt 175 tỷ đồng, đạt 116,7% sovới kế hoạch, tăng 15,9% so với năm 2009

Về công tác tiếp nhận, xử lý và thu hồi nợ loại trừ, Công ty đã ký biên bản tiếp nhận

nợ với 51 doanh nghiệp, với tổng giá trị tiếp nhận là 20,474 tỷ đồng Lũy kế từ năm 2004tới 31/12/2010, Công ty đã ký biên bản tiếp nhận nợ của 2.332 doanh nghiệp, (gồm 935doanh nghiệp Trung ương và 1.397 doanh nghiệp địa phương), với tổng giá trị tiếp nhận

nợ là 1.313,975 tỷ đồng Trong năm 2010, công ty đã thu hồi nợ loại trừ được tiếp nhậnvới tổng giá trị 12,352 tỷ đồng, trên tổng số 566,2 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi chỉ đạt 2,2%, đây

là những khoản nợ chủ yếu thuộc nhóm nợ có hồ sơ, khách nợ còn tồn tại theo hồ sơ

Về hoạt động mua bán nợ, năm 2010, Công ty đã ký được 13 hợp đồng mua bán nợ,với giá trị các khoản nợ là 357,147 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 101,36 tỷ đồng, đạt 46%

so với kế hoạch năm 2010 Doanh thu từ hoạt động mua bán nợ là 393,113 tỷ đồng, trongtổng doanh thu là 580,331 tỷ đồng, đạt 106,7% so với kế hoạch năm 2010, tăng 15,8% sovới thực hiện năm 2009 Theo đó, luỹ kế từ năm 2004 tới hết năm 2010, Công ty đã thựchiện tổng cộng 100 phương án mua bán nợ Tổng giá trị các khoản nợ theo mệnh giá sổsách kế toán là 6.419,404 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 1.805,775 tỷ đồng, tỷ lệ mua nợbình quân là 28,1% Tỷ lệ thu hồi đạt 84,52%, được thực hiện bằng hai biện pháp là: mua

nợ, xử lý thu hồi nợ thông qua tái cơ cấu doanh nghiệp và mua nợ để thu hồi nợ

Thông qua hoạt động mua bán nợ, xử lý tài chính, chuyển nợ thành vốn góp cổphần, Công ty đã hoàn thành việc tái cơ cấu 12 doanh nghiệp khách nợ, trong đó, gồm 3doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 9 công ty cổ phần Luỹ kế từ năm 2007 tới hết năm

2010, thông qua hoạt động mua bán nợ, tiến hành xử lý tài chính, chuyển nợ thành vốngóp cổ phần, Công ty đã hoàn thành việc tái cơ cấu 34 doanh nghiệp khách nợ Trong đó

14 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, kinh doanh thua lỗ, âm vốn chủ sở hữu, không đủđiều kiện để Cổ phần hoá, được công ty xử lý tài chính đã đủ điều kiện chuyển đổi thànhcông ty cổ phần và tái cơ cấu lại tài chính được 20 công ty cổ phần, là những công tyđược cổ phần hoá từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước nhưng chưa xử lý triệt để về tàichính nên kinh doanh vẫn bị lỗ

Trang 31

Trong giai đoạn 3 năm trở lại đây, Công ty cũng triển khai thực hiện 62 phương ánmua nợ để tái cơ cấu doanh nghiệp khách nợ (gồm 34 phương án đã hoàn thành và 28phương án đang triển khai), với giá trị các khoản nợ theo sổ sách kế toán là 5.255,996 tỷđồng, giá vốn mua nợ là 1.425,721 tỷ đồng, tỷ lệ mua nợ bình quân là 28,8% Đã thu hồiđược 1.165,528 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt 81,5%.

Trong đó:

* Các phương án tái cơ cấu đã hoàn thành: Gồm 34 phương án, với giá trị các khoản

nợ theo sổ sách kế toán là 3.167,733 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 911,064 tỷ đồng, tỷ lệmua nợ bình quân là 28,8% Đã thu hồi được 926,311 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi đạt 101,67%.Trong các doanh nghiệp được công ty tái cơ cấu hoàn thành, có một số doanhnghiệp đã trả hết nợ cho công ty, một số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, các chỉtiêu kinh doanh như: doanh thu, lợi nhuận, cổ tức, nộp Ngân sách Nhà nước, thu nhập vàgiải quyết việc làm cho người lao động năm sau cao hơn năm trước, điển hình là cácdoanh nghiệp sau: Công ty cổ phần Intimex Nha Trang (giá mua nợ là 18,814 tỷ đồng, đãthu được 23,482 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt 124,8%), Công ty cổ phần Cơ khí 4 và xâydựng Thăng Long (giá mua nợ là 20,94 tỷ đồng, đã thu được 31,276 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi

nợ đạt 149,4%, đã bán cổ phần thoái vốn thu 7,5 tỷ đồng), Công ty cổ phần Xây dựng vật

tư vận tải (giá mua nợ là 19,160 tỷ đồng, đã thu được 23,576 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt128,3%)

* Các phương án tái cơ cấu đang triển khai: Gồm 28 phương án, với giá trị cáckhoản nợ theo sổ sách kế toán là 2.088,263 tỷ đồng, giá vốn mua nợ là 514,657 tỷ đồng,

tỷ lệ mua nợ bình quân là 24,6% Đã thu hồi được 235,217 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt45,7%

Trong các doanh nghiệp đang được công ty triển khai tái cơ cấu, một số doanhnghiệp đã trả vượt và hết nợ cho Công ty, đó là : Công ty Nông lâm sản xuất khẩu PraoQuảng Nam (giá mua nợ là 14,525 tỷ đồng, đã thu được 20,681 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợđạt 142,4%), Công ty Công trình giao thông 86 (giá mua nợ là 15,596 tỷ đồng, đã thuđược 15,589 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt 101,7%), Công ty Xây dựng công trình 507 (giámua nợ là 11,388 tỷ đồng, đã thu được 12,833 tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt 112,7%),Công ty Sản xuất vật liệu giao thông 529 (giá mua nợ là 3,126 tỷ đồng, đã thu được 3,126

tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi nợ đạt 100%)

Có thể kể tới một số trường hợp tiến hành mua bán nợ với DATC và được xử lý tàichính thành công như:

Ngày đăng: 20/04/2015, 00:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.6. Kết quả hoạt động của KTS sau chuyển đổi - Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC
Bảng 2.6. Kết quả hoạt động của KTS sau chuyển đổi (Trang 38)
Bảng 2.8. Các khoản nợ phải trả của WAIJCO II trước khi tái cơ cấu - Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC
Bảng 2.8. Các khoản nợ phải trả của WAIJCO II trước khi tái cơ cấu (Trang 41)
Bảng 2.11. Tình hình tài chính của INCOMEX trước khi thực hiện mua bán nợ - Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC
Bảng 2.11. Tình hình tài chính của INCOMEX trước khi thực hiện mua bán nợ (Trang 45)
Bảng 2.12. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính của INCOMEX trước khi mua   bán nợ - Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC
Bảng 2.12. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính của INCOMEX trước khi mua bán nợ (Trang 46)
Bảng 2.14. Cơ cấu nguồn vốn của INCOMEX sau tái cơ cấu - Hoàn thiện cơ chế mua bán và xử lý nợ đối với doanh nghiệp Nhà nước của Công ty Mua bán nợ Việt Nam- DATC
Bảng 2.14. Cơ cấu nguồn vốn của INCOMEX sau tái cơ cấu (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w