1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Thường Xuân- Thanh Hóa

50 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 413,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghèo đói không chỉ làm cho con người ta không được thụ hưởng những văn minh tiến bộ của loài người, gay hậu nghiêm trọng về kinh tế xã hội trong việc phát triển đất nước.. Xóa đói giảm

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC VIẾT TẮT

UBND : Ủy ban nhân dânHĐND : Hội đồng nhân dânMTTQ : Mặt trận tổ quốcGDTX : Giáo dục thường xuyên

KT – XH : Kinh tế xã hội

THPT : Trung học phổ thông

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số liêu cơ cấu kinh tế Error: Reference source not foundBảng 2.2 Số liệu diện tích trên địa bàn huyện Error: Reference source not foundBảng 2.3 Tổng hợp hộ nghèo qua các năm trên địa bàn huyện Error: Referencesource not found

Bảng 2.4: số liệu điều tra hộ cận nghèo giai đoạn 2010- 2011 Error: Referencesource not found

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài

Xóa đói giảm nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu đang được thực hiện theo con đường đổi mới Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến việc xoá đói, giảm nghèo, coi đó là một nội dung của nhiệm

vụ cách mạng, một nhu cầu bức thiết của nhân dân, nhất là khi đất nước ở trong tình trạng nghèo nàn và trải qua chiến tranh

Nghèo đói không chỉ làm cho con người ta không được thụ hưởng những văn minh tiến bộ của loài người, gay hậu nghiêm trọng về kinh tế xã hội trong việc phát triển đất nước Nếu không giải quyết được vấn đề nghèo đói thì vấn đề tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, hòa bình ổn định, đảm bảo quyền con người, công bằng xã hội sẽ gặp không ít khó khăn

Xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội mang tính cơ bản hướng vào sự phát triển của con người nhất là người nghèo, nhằm tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội, phát triển sản xuất, giúp họ cải thiện được cuộc sống và thoát được nghèo đói

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, một trong những chủ trương hàng đầu của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là “diệt giặc đói” Sau khi lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước Đảng ta lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới Để thực hiện thành công nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, Đại hội VI của Đảng

đã đề ra mục tiêu là “bảo đảm nhu cầu ăn của toàn xã hội và bước đầu có dự trữ Vấn đề lương thực phải được giải quyết một cách toàn diện” Đại hội IX Đảng đã đưa nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo vào trong chính sách phát triển văn hóa - xã hội của đất nước Đại hội chỉ rõ: “Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm đối với những vùng nghèo, xã nghèo, nhóm dân cư nghèo” Đến Đại hội X của Đảng, vấn đề xóa đói

Trang 5

giảm nghèo trở thành một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: “Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức thực hiện xóa đói, giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế” Đại hội XI của Đảng, tiếp tục nhấn mạnh phải “Tập trung triển khai có hiệu quả Chương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” Đảng và Nhà nước ta coi việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thể hiện ưu việt của chủ nghĩa xã hội Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định chủ nghĩa xã hội là làm cho nhân dân thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, là “Người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu có thêm”, “Là làm sao cho dân giàu, nước mạnh làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”

Do đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là đối tượng chính của nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, bởi vì họ còn ở trình độ dân tri thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường Huyện Thường Xuân là huyện miền núi, vùng cao của tỉnh Thanh Hóa có tỷ lệ hộ nghèo cao 51,66% năm 2007 và là huyện nằm trong 61 huyện nghèo của cả nước Do vậy cùng với HĐND- UBND đã sớm triển khai thực hiện xóa đói, giảm nghèo, thành lập ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo từ huyện đến xã, thị trấn Như vậy công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện Thường Xuân là vấn đề cấp thiết, không chỉ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống mỗi gia đình mà còn góp phần không nhỏ vào việc đẩy mạnh sự phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Thường Xuân nói riêng.Tuy nhiên trước yêu cầu của tình hình mới, công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Thường Xuân còn bộc lộ nhiều hạn chế, do đặc điểm địa trình độ dân trí thấp, cấp

ủy Đảng chính quyền các cấp có lúc, có nơi chưa thật sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư đúng mức về các chính sách về xóa đói giảm nghèo

Xuất phát từ những vấn đề trên nên em chọn chủ đề“Đánh giá công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Thường Xuân- Thanh Hóa ” làm đề tài nghiên

cứu cho mình

Trang 6

2.Mục đích nghiên cứu

Đi sâu vào nghiên cứu công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn toàn huyện Thường Xuân, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo đói trên địa bàn huyện Thường Xuân, giúp tăng trưởng kinh tế góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân trên địa bàn huyện

3.Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Nghiên cứu trên 16 xã và 1Thị trấn trong địa bàn huyện Thường

Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Thời gian: Tập trung nghiên cứu các chương trình xóa đói giảm nghèo giai

đoạn 2007- 2008- 2009- 2010 và 2011

3.2 Phương pháp nghiên cứu.

- Phân tích và xử lý số liệu

Trang 7

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1 Nghèo đói

1.1.1 các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm nghèo của thế giới

Hiện nay có nhiều hướng để tiếp cận vấn về đói nghèo Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất

cho rằng:"Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn

những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục

ấy được xã hội thừa nhận".

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau:

"Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại"

Tổ chức World Bank thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo trong "Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói, năm

2000", như sau: Đói nghèo "không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được

đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế" Báo cáo đã mở rộng quan niệm về đói

nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo

Báo cáo nêu bật "nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không

ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường" Báo cáo chỉ ra "người nghèo

đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ,

bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó"

Trang 8

Để đánh giá cụ thể hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành 2 loại, đó là: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối:

Nghèo tuyệt đối (nghèo thu nhập): Đo lường mức chi tiêu cần thiết để đảm

bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm tương đương

2100 - 2300 kcalo/người/ngày Mức nghèo tuyệt đối là thước đo dễ lượng hoá để

mô tả tình trạng đói nghèo

Nghèo tương đối: Theo Robert Mc Namara - nguyên Tổng giám đốc WB,

thì nghèo ở mức độ tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta

Như vậy, nghèo tương đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp mà còn bao gồm cả mức hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác của sự phát triển con người Đặc biệt, nghèo tương đối còn đề cập đến "sự thiếu quyền lực và tiếng nói, cũng như tính chất dễ bị tổn thương và đe doạ của người nghèo" Trong những hoàn cảnh nhất định, họ không có tiếng nói chính trị, thậm chí còn bị tẩy chay sống biệt lập với xã hội

Mức nghèo tuyệt đối có phương pháp tính toán riêng nên ranh giới nghèo tuyệt đối được xác lập cụ thể Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi không có một tiêu chuẩn chung áp dụng Nó phụ thuộc chủ yếu vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và mức độ quan tâm, điều chỉnh của chính quốc gia đó

Các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo:

- Thứ nhất, không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu

dành cho con người

- Thứ hai, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư

- Thứ ba, thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng.

Nói một cách chung nhất, nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư vì những lý do nào đó không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu mà xã hội thừa

Trang 9

nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó Biểu hiện của việc không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản đó, là tình trạng thiếu ăn, thiếu nước sinh hoạt, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường suy thoái, tuổi thọ trung bình thấp, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội

1.1.1.2 Khái niệm về nghèo đói của Việt Nam

Ở Việt Nam, công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở nước ta được Đảng và Nhà nước khởi xướng từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước Trong nhận thức của người Việt Nam khi đề cập đến đói nghèo, mọi người đều hiểu rằng đó

là tình trạng người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa tạm bợ

Các tài liệu và các công trình nghiên cứu hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với định nghĩa chung do Uỷ ban Kinh tế xã hội Châu Á và Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (ESCAP) đưa ra tại Hội nghị Băng Cốc - Thái Lan năm 1993

Ngoài định nghĩa chung về đói nghèo, nước ta còn sử dụng rộng rãi hai định nghĩa về cơ bản cũng đều bắt nguồn từ WB

- Nghèo đói lương thực, thực phẩm (tương đương với nghèo tuyệt đối, nghèo

về thu nhập của World Bank)

- Nghèo đói chung (tương đương với nghèo tương đối, nghèo về con người).

Điểm khác biệt so với nhiều nước là bên cạnh khái niệm nghèo, chúng ta còn sử dụng khái niệm đói để phân biệt mức độ nghèo của một bộ phận dân cư

Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối

thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó

là những bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 2 tháng, thường vay

nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả

Hiện nay, tình trạng đói đã không được nhắc tới trong các văn kiện chính thức của Đảng từ năm 2001 Mặc dù vậy, cụm từ "xóa đói giảm nghèo" vẫn được

sử dụng khi nói về đấu tranh để giảm nghèo, tiến tới xoá nghèo

Trang 10

Dựa trên cách tiếp cận đói nghèo trên, thước đo sử dụng phổ biến để đánh

giá nghèo khổ về thu nhập là đếm số người dưới chuẩn nghèo Gọi là "chỉ số

đếm đầu người" (HC - Head count index) Từ đó xác định tỉ lệ nghèo (tỷ lệ đếm

đầu - HCR)

Tỉ lệ nghèo được tính bằng tỉ lệ phần trăm của dân số Việc sử dụng chỉ số

này là cần thiết để đánh giá tình trạng nghèo và những thành công trong mục tiêu

"giảm nghèo" của quốc gia

Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo

với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo Khi so sánh các nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ của nghèo khổ khác nhau giữa các nhóm

1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá

Thứ nhất, các tiêu chí đánh giá đói nghèo của thế giới:

Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo Trải qua hơn một thế kỷ, trên thế giới đã hình thành 3 phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu, đó là: Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu; Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế và Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân Trong 3 phương pháp trên thì 2 phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phổ biến

Một là, chỉ tiêu thu nhập

Thu nhập bình quân theo đầu người là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh được quy mô, trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân trong một nước Hiện nay trên thế giới tồn tại hai phương pháp tính toán chủ yếu của WB

- Phương pháp Atlas (phương pháp theo tỉ giá hối đoái)

World Bank phân ra làm 6 loại nước (là mức thu nhập năm 1990) Nước cực giàu: > 25.000 USD/năm Nước giàu: 20.000 - < 25.000 USD/năm Nước khá giàu: 10.000 - < 20.000 USD/năm Nước trung bình: 2.500 - < 10.000 USD/năm Nước nghèo: 500 - < 2.500 USD/năm Nước cực nghèo: < 500 USD/năm

Trang 11

Theo phương pháp đánh giá này, Việt Nam có thu nhập 1.064 USD năm

2009, khoảng 1.200 USD năm 2010 thuộc nhóm nước nghèo

Tuy nhiên theo phương pháp trên, việc chuyển đổi thường bị sai lệch không phản ánh được tính ngang giá của sức mua Do đó từ đầu thập niên 90 của thế

kỷ XX, Liên hợp quốc (LHQ) đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP)

- Phương pháp sức mua tương đương (PPP)

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, nhằm đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất đồng USD

World Bank sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP) [10] Đối với các nước thu nhập thấp: < 1 USD/ngày Đối với các nước thu nhập trung bình thấp: < 2 USD/người/ngày

Hai là, chỉ tiêu dinh dưỡng

Nhu cầu về dinh dưỡng là nhu cầu cơ bản và tối thiểu của con người để tồn tại, hoạt động và tái tạo sức lao động Chỉ tiêu cơ bản nhất về lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calo tiêu dùng hàng ngày Để xây dựng một ngưỡng nghèo cần

phải xác định nhu cầu tiêu dùng của toàn bộ dân số Lượng dinh dưỡng 2.100 kcalo

mà tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra dựa trên nhiều lần đánh giá, kiểm nghiệm

Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định

như tổng số tiền chi cho giỏ tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực, thực phẩm và đồ dùng cá nhân cần thiết bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành và các khoản chi bắt buộc khác WB xây dựng ngưỡng nghèo trên cơ sở xác định nhu cầu tiêu dùng về lương thực của con người Cụ thể:

- Ngưỡng nghèo thứ nhất: Là số tiền cần thiết để mua số lượng lương thực Lượng lương thực này phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 kcalo cho mỗi

người mỗi ngày (gồm 40 loại sản phẩm), được gọi là ngưỡng nghèo lương thực.

Trang 12

HPI = {1/3(P1 3 + P2 3 + P3 3 )} 1/3

- Ngưỡng nghèo thứ hai: Bao gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực và phi

lương thực gọi là ngưỡng nghèo chung.

Nghèo đói chịu tác động của nhiều nhân tố nên chưa thể coi 3 phương pháp trên là căn cứ để đánh giá mức độ giàu nghèo của một quốc gia Vì vậy LHQ đã sử dụng chỉ số nghèo khổ Human Poverty Index (HPI) Các tính HPI dành cho các nước đang phát triển HPI -1 dựa vào chỉ số phát triển con người HDI

Chỉ số HPI được tính theo công thức:

Trong đó P1: Xác xuất những người không thọ quá 40 tuổi (x 100)

P2: Tỉ lệ người lớn mù chữ

P3: Giá trị bình quân phi gia quyền của tỉ lệ người dân không tiếp cận bền vững với nguồn nước sạch (1) và tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (2) (Giá trị bình quân phi gia quyền = 1/2 tỉ lệ (1) + 1/2 tỉ lệ (2))

Giá trị HPI càng cao thì mức độ nghèo khổ càng lớn và ngược lại Giá trị HPI của một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng lên bao nhiêu phần dân số nước đó

Hệ số GINI là thước đo được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu bất bình đẳng về phân phối thu nhập, hệ số này lượng hoá được mức độ bất bình đẳng về phân phối thu nhập, hệ số nhận giá trị biến thiên từ 0 đến 1 Chỉ số này càng lớn mức độ bất bình đẳng càng cao

Thứ hai, các tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam

Một là, tiêu chí của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.

Căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mức sống thực tế các địa phương, từ năm 1993 đến nay Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã 6 lần công

bố tiêu chuẩn cụ thể cho hộ nghèo Các tiêu chí này thay đổi theo thời gian, cùng với sự thay đổi mặt bằng thu nhập quốc gia

- Năm 2000: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số

1143/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 01/11/2000 đưa ra chuẩn nghèo mới áp dụng trong giai đoạn 2001-2005 trên phạm vi toàn quốc như sau:

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo là 80.000đ/người/tháng

Trang 13

+ Vùng nông thôn đồng bằng là 100.000đ/người/tháng

+ Vùng thành thị 150.000đ/người/tháng

- Năm 2005: Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số

170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 về chuẩn nghèo giai đoạn 2006 -

2010 Theo quyết định này, những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm

- Năm 2011: Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số

09/2011/QĐ -TTg ngày 30/01/2011 về chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 Theo quyết định này chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -

- Một cách tiếp cận khác cũng thường được sử dụng để xem xét nghèo đói là: chia toàn bộ dân cư thành 5 nhóm khác nhau Nhóm 1/5 nghèo nhất là 20% dân số, gồm những người sống trong các hộ gia đình có mức thu nhập (chi tiêu) thấp nhất

- Các tiêu chuẩn nghèo khác:

Theo cách đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, phạm vi đói nghèo có từng cấp độ khác nhau Mỗi cấp thể hiện những đặc điểm riêng biệt về mức độ nghèo

Trang 14

Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn

nghèo Trong hộ nghèo, lại có hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, đây là các hộ gia đình dân tộc sống vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa có mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo Các hộ này còn tồn tại "phong tục tập quán sản xuất mang nặng tính tự nhiên hái lượm" chủ yếu phát lương làm rẫy, tổng giá trị tài sản bình quân đầu người dưới 1 triệu đồng

Xã nghèo: Là xã có tỉ lệ hộ nghèo cao (> 25%), chưa đủ từ 3 trong 6 hạng

mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm: chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô

tô không đi lại được cả năm, số phòng học chỉ đáp ứng dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bằng tranh tre, nứa lá, chưa có trạm y tế hoặc có nhưng là nhà tạm, dưới 30% hộ sử dụng nước sạch, dưới 50% hộ sử dụng điện sinh hoạt ) Trong các xã nghèo, có các xã đặc biệt khó khăn - Đây là các xã được công nhận theo Quyết định số 135/1998/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ

Xã đặc biệt khó khăn: Xã đặc biệt khó khăn là xã đáp ứng 5 tiêu chí sau Vị

trí địa lý của xã ở xa trung tâm KT - XH, xa đường quốc lộ, giao thông đi lại khó khăn Môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân chí thấp, còn nhiều tập tục lạc hậu Trình độ sản xuất còn lạc hậu, chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, công cụ thô

sơ Hạ tầng cơ sở chưa phát triển, chưa đủ các công trình thiết yếu như: điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, chợ xã Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống thấp

Huyện nghèo: Là huyện có tỉ lệ hộ nghèo > 50% Thống kê huyện nghèo là

cơ sở để chính phủ có chính sách giảm nghèo thích hợp nhằm đưa các huyện nghèo

có mức thu nhập trong những năm tới ngang bằng mức thu nhập của cả nước

Hai là, tiêu chí của Tổng cục Thống kê ban hành:

Về cơ bản, chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê ban hành được xác định dựa trên cách tiếp cận của World Bank, gồm 2 mức: Mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung

- Mức nghèo lương thực, thực phẩm: Đây là chuẩn nghèo tính theo thu nhập

bình quân đầu người/tháng

Trang 15

+ Năm 1994: Khu vực thành thị: 102.000 đ, khu vực nông thôn: 76.000 đ;+ Năm 1995: Khu vực thành thị: 102.000 đ, khu vực nông thôn: 76.000 đ;+ Năm 1999: Khu vực thành thị: 146.000 đ, khu vực nông thôn: 112.000 đ;+ Năm 2004: Khu vực thành thị: 163.000 đ, khu vực nông thôn: 124.000 đ;+ Năm 2008: Khu vực thành thị: 370.000 đ, khu vực nông thôn: 290.000 đ.

- Mức nghèo chung: Tổng cục Thống kê dựa trên mức chi tiêu bình quân đầu

người/tháng làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo

Yếu tố nguy hiểm cho sự nghèo đói chính là thất nghiệp và thiếu việc làm, ngoài ra những yếu tố nguy hiểm khác là phân bố thu nhập quá mất cân bằng, thêm vào đó thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tính

1.1.3.2 nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam

Ở Việt Nam những nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo các nhóm như sau :

* Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm :

- Đông con, ít lao động

- Không có kinh nghiệm làm ăn, không biết cách sản xuất kinh doanh

Trang 16

- Thiếu hoặc không có vốn.

- Rủi ro, ốm đau

- Ăn tiêu lãng phí, lười biếng lao động

* Nhóm nguyên nhân khách quan:

- Sản xuất phẩm phẩm thiếu nơi tiêu thụ

- Sự tác động của điều kiện tự nhiên : khí hậu khắc nghiệt, thiên tai bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp giao thông khó khăn

- Ngoài hai nhóm nguyên nhân trên có những nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách như : thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách về khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn khuyến lâm - khuyến ngư, thiếu sự đồng bộ về chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách giải quyết đất đai, định canh định cư, nguồn lực đầu tiên của nhà nước cho các vùng khó khăn còn hạn chế…

1.2 Xóa đói giảm nghèo

1.2.1 Khái Niệm

Nghèo đói là nhiều nguyên nhân, nó có thể là từ bản chất nguồn nhân lực, từ văn hóa xã hội hoặc từ bản chất kinh tế Xóa đói giảm nghèo chủ yếu là việc tổ chức thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho người dân hiểu biết về các chính sách xóa đói giảm nghèo, có nghĩa là phải tuyên tuyền cho họ hiểu rằng mực tiêu của những chính sách đó của Đảng, Nhà nước đối với họ là sự trợ giúp, ưu tiên và mong muốn người dân phải tự biết nhận thức được vấn đề của mình để từ đó vươn lên thoát nghèo có cuộc sống ấm no và khấm khá hơn

Như vậy công tác xóa đói giảm nghèo: Là quá trình đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, xã nghèo trên cả nước.

1.2.2 Vai trò

1.2.2.1 Xét về mặt kinh tế

Hiệu quả của công tác đói giảm nghèo có ý nghĩa rất quan trọng đến tăng trưởng của nền kinh tế đất, nó thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước do người nghèo, hộ nghèo họ hiểu được chủ trưởng, chính sách của Đảng, Nhà nước Từ đó làm cho họ chủ động tham gia các hoạt động sản xuất khi được

Trang 17

cung cấp những nhu cầu tối thiểu, đồng thời đó cũng là cơ sở lý luận để thay đổi phương thức sản xuất để mở rộng được quy mô sản xuất với nhiều ngành nghề khác nhau, tạo ra nhiều việc làm giúp người dân tăng thu nhập để thoát nghèo, cuộc sống được cải thiện, giảm được tỷ lệ hộ đói nghèo Đồng thời giảm được lượng ngân sách Nhà nước chi trả hàng năm cho công tác xóa đói giảm nghèo, góp phần làm giảm chi phí xã hội, tăng thêm nguồn vốn cho đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất Tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, ổn định phát triển kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác

1.2.2.2 Xét về mặt chính trị- xã hội

Hiệu quả của công tác đói giảm nghèo cũng góp phần ổn định chính trị- xã hội, hạn chế những tiêu cực nảy sinh do tình trạng đói nghèo gây ra Khi mức sống của nhan được nâng cao là điều kiện giữa vững và đảm bảo ổn định chính trị- xã hội, giúp người dân tiếp cận với những nhu cầu dịch thiết yếu của cuộc sống, đời sống vật chất, tinh thần được quan tâm và đầy đủ hơn Điều đó sẽ củng cố được lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Chính quyền và chế độ xã hội Ngược lại không làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, để tình trạng đói nghèo kéo dài, số hộ nghèo, người nghèo, xã nghèo ngày càng tăng sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong xã hội từ đó sẽ tạo ra kẻ hở cho những ý đồ xấu lợi dụng làm ảnh hưởng đến

sự đoàn kết trong nhân dân, cộng đồng, gây mất ổn định chính tri- kinh tê- xã hội

1.2.2.3 Xét về mặt văn hóa- giáo dục

Công tác xóa đói giảm nghèo cũng ảnh hưởng đến văn hóa- giáo dục khi thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo thì có điều kiện phát triển cơ sở trường lớp học, hỗ trợ những đồ dung cần thiết cho công việc giảng dạy và học tập, nhờ đó mà nhiều tre em được đến trường, đời sống nhân dân cũng được cải thiện và quan tâm hơn Thực hiện chính sách ưu tiên đối với những giáo viên vùng sau, vùng

xa sẽ phát huy được tinh thần trách nhiệm của họ một cách tốt nhất nó sẽ kéo theo chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng cao và chất lượng tốt hơn đáp ứng được

xu thế phát triển chung của toàn xã hội Đảm bảo xóa mù chữ nâng cao dân trí, người nghèo có cơ hội tiếp cận khoa học kỹ thuật với khả năng tiếp thu và vận dụng tốt nhất vào hoạt động sản xuất, chu động trong phát triển kinh tế

Trang 18

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

CỦA HUYỆN THƯỜNG XUÂN- THANH HÓA

2.1 Khái quát chung về kinh tế - xã hội của Huyện

2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Thường Xuân là Huyện miền núi vùng cao, nằm ở phía tây nam thành phố Thanh Hóa, huyện Thường Xuân được xếp vào hàng khó khăn nhất, nhì tỉnh Thanh Hoá Thị trấn Thường Xuân là trung tâm kinh tế - văn hóa của huyện, nằm trên đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 15A, tỉnh lộ 507 Hiện nay Thường Xuân có 16 xã và

1 thị trấn với tổng số 142 thôn bản, dân số toàn huyện là 87.141 người gồm 3 dân tộc chủ yếu sinh sống là Thái, Mường, Kinh

Có tạo độ địa lý:

900- 42’- 45’’ đến 200- 07’- 15’’ vĩ độ Bắc

1040- 54’- 33’’ đến 1050- 23’- 55’’ kinh độ Đông

Phía Nam giáp Huyện Như Xuân và Tỉnh Nghệ An

Phía Tây giáp Tỉnh nghệ An và Tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào

Phía Đông giáp huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn của tỉnh Thanh Hóa

Phía Bắc giáp Huyện Ngọc Lạc và Lang Chánh của tỉnh Thanh Hóa

b) Địa hình

Địa hình huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phía Đông và Đông Nam,

có các dãy núi lớn như Bù Rinh, Tà Leo Độ cao tuyệt đối của địa hình Thường Xuân

từ trên 1.000m đến dưới 100m Do hệ thống núi vừa cao, vừa hiểm trở nên có nhiều hệ thống sông ngòi chia cắt địa hình đã gay ra nhiều khó khăn trong xây dựng các tuyến đường giao thông và sự giao lưu kinh tế giữa các vùng trên địa bàn huyện Thường Xuân nhất là mùa mưa lũ Do địa hình như vậy ta có thể chia thành 3 vùng địa hình sinh thái như sau:

Trang 19

- Vùng cao: Gồm 4 xã Bát Mọt, Yên Nhân, Xuân Lẹ, Xuân Chinh Với tổng diện tích tự nhiên là 49.936 ha, trong đó đất Nông nghiệp 1889,25ha; đất Lâm Nghiệp có rừng 20.034,12ha còn lại là đất khu dân cư.

- Vùng giữa: Gồm 8 xã Lương Sơn, Tân Thành, Xuân Thắng, Xuân lộc, Vạn Xuân, Luận Khê, Luận Thành và Xuân Cao Có tổng diện tích tự nhiên là 51.936,3ha trong đó đất nông nghiệp 3.115,44ha, đất trồng cây hàng năm 3.020,14ha còn lại là đất chuyên dùng và đất ở

- Vùng thấp: Gồm 5 xã, Thị Trấn: Xuân Cẩm, Thọ Thanh, Xuân Dương, Ngọc Phụng và Thị Trấn Thường Xuân Với tổng diện tích tự nhiện là 14.375,70ha trong đó đất nông nghiệp 1.921,13ha, phần còn lại là đất ở

Do sự chênh lệch về độ cao như vậy nên ở vùng cao và vùng giữa gặp không ít khó khăn về địa hình mà còn chịu sự khắc nhiệt của khí hậu mùa đông nhiệt độ xuống thấp đến 40c, mùa hè nhiệt độ có lúc lên tới 420c gây khó khăn cho đời sống nhân dân vốn nghèo lại còn nghèo hơn

Nhiệt độ trung bình năm 22 - 240C Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 200C (từ tháng 12 đến tháng 3) Biên độ nhiệt giao động ngày đêm 9- 120C Nhiệt độ cao nhất năm từ 370C – 380C ( tháng 6,7,8 ) Nhiệt độ thấp nhất nhiều năm xuống tới 40C - 30C ( tháng 1,2,3 )

Trang 20

2.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

a) Tài nguyên nước

Thường Xuân có hệ thống sông ngoài khá phong phú, là nguồn tài nguyên lớn về nguồn nước tưới đối với nông nghiệp; hàng năm tổng lượng nước sông, suối cung cấp cho vùng ước đạt 23 triệu m³ nước Tuy nhiên, do địa hình bị chia cắt nhiều, độ dốc lớn nên lượng nước phân bố không đều, có nơi thừa nhưng có nơi lại thiếu.gồm

có các sông như sau:

- Sông Chu bắt nguồn từ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chảy qua huyện có chiều dài 50km

- Sông Đặt chảy qua huyện có chiều dài 34km

- Sông Đằn chảy qua huyện có chiều dài 42km

- Sông Khao chảy qua huyện có chiều dài 40km

- Sông Âm chảy qua huyện có chiều dài 6km

Hiện nay, trên địa bàn huyện được đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thủy điện Cửa Đạt khánh thành tháng 10 năm 2010, đây là công trình đa chức năng vừa phục vụ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp các huyện đồng bằng, vừa phục

vụ phát điện cho nhà máy điện Cửa Đặt công suất trên 97MW đồng thời vừa thau chua rửa mặn vùng hạ lưu sông Mã

b) Tài nguyên khoáng sản

Trên địa bàn huyện có rất nhiều loại khoáng sản như: Thiếc, Sắt, Cao Lanh, đất Sét làm gạch, Cát sỏi, Đá vôi, vàng, sa khoáng đá quý nhưng trữ lượng ít

Trang 21

phong phú, đa dạng về họ, loài gỗ quý hiếm có Lim Xanh, Dôi, De, trò chỉ Cây luồng là cây trồng chính của rừng sản xuất (diện tích khoảng chiếm 22.000 ha), ngoài

ra còn một số cây nguyên liệu khác như: Nứa, Keo, Xoan và một số cây lấy gỗ khác phục vụ phát triển nông sản và nguyên liệu giấy Ngoài các loài thực vật, rừng của huyện Thường Xuân có nhiều loại động, thực vật quý hiếm như: Bò tót, nai, gấu, sói và loài linh trưởng, các loài chim,

d) Nguồn nguyên liệu.

Sự đa dạng về địa hình và có diện tích rộng lớn đã tạo cho huyện Thường Xuân

có nguồn nguyên liệu đa dạng và dồi dào Nguồn nguyên liệu từ rừng có thể khai thác phục vụ cho công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp phát triển Cụ thể như: Tổng diện tích rừng 90.417,96ha, đa số thuộc loại rừng hỗn giao Trong đó, cây quế 210,7 ha; cây luồng 3.967,6 ha; cây phân tán 1.583.000 cây; bảo vệ 52.700

ha, khoanh nuôi 14.300 ha, chăm sóc 4.413 ha

Thường Xuân là vùng nguyên liệu lớn các loại cây công nghiệp ngắn ngày: mía, sắn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Lam Sơn và nhà máy chế biến tinh bột sắn Như Xuân Hiện nay, huyện đang có chủ trương quy hoạch 1 phần diện tích đất có tầng canh tác dày, dộ dốc nhỏ sang trồng cây Cao su

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện

Thường Xuân là huyện miền núi đặc biệt khó khăn của Thanh Hóa, nền kinh

tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Cơ cấu kinh của huyện đã có

sự chuyển dịch theo hướng phù hợp với định hướng cơ cấu kinh tế chung của tinh

và cả nước song vẫn ở mức thấp so với mức tăng trưởng chung của toàn tỉnh Hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm Nông- lâm nghiệp, tăng Công nghiệp- xây dựng, Dịch vụ- thương mại

Trang 22

Bảng 2.1 Số liêu cơ cấu kinh tế

( Nguồn: Phòng Lao động thương binh và xã hội Thường Xuân )

Qua bảng số liệu về cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Thường Xuân, ta thấy tốc độ tăng trưởng kinh tê GDP ở mức khá, năm 2008 6,8 % đến năm 2011 đạt 14,5% tăng hơn gấp 2 lần Trong đó ngành Thương mai- Dịch vụ tăng nhiều hơn so với Công nghiệp- Xây dựng ( cụ thể năm 2008 TM- DV là 23,6% lên 30,2% năm

2011, còn Công nghiệp- XD năm 2008 24,1% lên 29,2% năm 2011 ) còn ngành Nông- Lâm nghiệp có xu thế giảm năm 2008 52,3% xuông còn 40,6% năm 2011

Bảng 2.2 Số liệu diện tích trên địa bàn huyện.

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Thường Xuân )

Qua đây ta thấy rằng diện tích đất chưa sử dụng con chiếm diện tich nhiều 50.515,83ha chiếm 45,07% và diện tích đất lâm nghiệp 50.747,07ha chiếm 46% trong khi đó đât chuyên dùng 1.411,80ha chiếm tỷ lệ khá nhỏ 1,64% vì vậy chúng

ta khai thác diện tích chưa sử dụng để phát tăng tỷ trọng phát triển kinh tế xã hội giúp nhân dân có cuộc sống khá hơn và đặc biệt giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện Thường Xuân

Trang 23

2.2 Phân tích thực trang xóa đói giảm nghèo của huyện Thường Xuân

2.2.1 Thực trạng đói nghèo của huyện qua các năm

Bảng 2.3 Tổng hợp hộ nghèo qua các năm trên địa bàn huyện

S

TT Xã, Thị Trấn

Tổng số hộ

Tổng số hộ nghèo

Tổng

số hộ

Tổng số hộ nghèo

Tổng

số hộ

Tổng số hộ Nghèo

Tổng

số hộ

Tổng số hộ nghèo

Trang 25

Qua bảng số liệu về tỷ lệ hộ nghèo từ năm 2008 đến 2011 ta thấy

- Xã Bát Mọt: Có tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, tuy đã giảm nhưng giảm không đáng kể cụ thể: năm 2008 là 94,37% giảm xuống 92,29% năm 2011 chỉ giảm được 2,05% trong 4 năm

- Xã Yên Nhân: Đây là một trong những xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, Năm

2008 tỷ lệ hộ nghèo là 91,86% giảm xuống 88,76% năm 2009 nhưng đến năm 2010

tỷ nghèo này lại tăng lên 91,14 % (tăng 2,38% ) và đến 2011 giảm 86,74 %

- Xã Lương Sơn: qua số liệu trên bảng xã đã giảm từ 70,93% 2008 xuống 58,79% năm 2011, ước tính mỗi năm toàn xã giảm được 3,035% trên năm

- Xã Ngọc Phụng: Tỷ lệ hộ nghèo cũng đã giảm năm 2008 là 21,55% xuống 14,64% năm 2011, mỗi năm xã giảm được 1,73% tỷ lệ nghèo

- Xã Xuân Cẩm: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2008 là 32,10% giảm xuống 18,22% năm 2011, giai đoạn giảm nhiều nhất là 2009- 2010 (giảm từ 28,06% xuống còn 19,58%)

- Thị Trấn: Trong 4 năm từ 2008 đến 2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 23,28% xuống 14,08%, giảm 9,2%

- Xã Thọ Thanh: Tỷ lệ hộ nghèo giảm không đáng kể tuy đã giảm nhưng lượng giảm không đáng kể năm 2008 là 29,02% và năm 2011 là 24,44%

- Xã Xuân Dương: Tỷ lệ hộ năm 2008 là 38,29% giảm xuống 29,43% năm

2011, giai đoạn giảm 2008- 2009 có tỷ lệ nghèo giảm nhiều nhất ( giảm 5,18% )

- Xã Xuân Cao: Tỷ lệ hộ nghèo gần như giữ nguyên trong 4 năm từ 2008 đến 2011 chỉ giảm được 1,14%

- Xã Luận Khê: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2008 là 76,63% giảm 68,49% năm

2009, nhưng tỷ lệ này vẫn giữ nguyên trong năm 2010 không tăng và cũng không giảm và đến năm 2011 tỷ lệ nghèo là 61,68%

- Xã Luận Thành: Năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo là 38,83% đã giảm xuống 25,60% năm 2011, năm giảm nhiều nhất là 2009 đến 2010 ( giảm 13,23% )

- Xã Tân Thành: Trong 4 năm từ 2008 đến 2011 tỷ lệ hộ nghèo giảm được 11,98%

Ngày đăng: 20/04/2015, 00:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội- 2011 Khác
2. Báo cáo tổng kết công tác xóa đói giảm nghèo các năm 2007, 2008, 2009, 2010,2011 của UBND huyện Thường Xuân Khác
3. Tài liệu giảm nghèo bền vững Bộ Lao động TBXH tháng 3/2008 Khác
4. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng xóa đói giảm nghèo, NXB Thống kê, Hà Nội T8/2003 Khác
5. Số liệu thống kê phòng lao động và thương binh xã hội huyện Thường Xuân Khác
6. Tài liệu tập huấn cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo ở cấp thôn, ban chỉ đạo XĐGN tỉnh thanh hóa Khác
7. Đề án đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo theo hướng bền vững ở huyện Thường Xuân giai đoạn 2006-2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Tổng hợp hộ nghèo qua các năm trên địa bàn huyện - Đánh giá công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Thường Xuân- Thanh Hóa
Bảng 2.3. Tổng hợp hộ nghèo qua các năm trên địa bàn huyện (Trang 23)
Bảng 2.4: số liệu điều tra hộ cận nghèo giai đoạn 2010- 2011 - Đánh giá công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Thường Xuân- Thanh Hóa
Bảng 2.4 số liệu điều tra hộ cận nghèo giai đoạn 2010- 2011 (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w