Vì vậy việc tổ chức và quản lý hệ thống kênh phân phối hiệuquả là vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt trong xuthế hội nhập khi các đối thủ cạnh tranh đang mạnh
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI 3
1.1 Kênh phân phối 3
CTCP Bánh kẹo Hà Nội (trước đây là xí nghiệp bánh kẹo Hà Nội ) là một Công ty trực thuộc Sở công thương – Thành 14
Bảng 4 Tình hình tài chính CTCP Bánh kẹo Hà Nội năm 20010 23
23
CHƯƠNG III 45
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI CỦA CTCP BÁNH KẸO HÀ NỘI 45
KẾT LUẬN 53
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1: Tình hình tổ chức Bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực năm 2011 .Error: Reference source not found Bảng 2 Hệ thống dây chuyền của CTCP Bánh kẹo Hà Nội Error: Reference source not found
Bảng.3.Hệ thống ĐL phân phối của CTCP Bánh kẹo Hà Nội Error: Reference source not found
Trang 2Bảng 4 Tình hình tài chính CTCP Bánh kẹo Hà Nội năm 20010 Error:Reference source not found
Bảng 5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Bánh kẹo Hà Nội trong 5năm gần đây Error: Reference source not foundBảng 6:Thị phần của thị trường bánh kẹo Việt Nam Error: Reference sourcenot found
Bảng 7 Mức chiết giá của CTCP Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 8 Mức chiết khấu giảm giá một số sản phẩm của CTCP Bánh kẹo HàNội Error: Reference source not foundBảng 9 Chính sách khuyến mại của công tyError: Reference source not foundBảng 10 Mức hỗ trợ vận chuyển cho ĐL Error: Reference source not foundBảng 11 Hệ số tính thưởng cho ĐL Error: Reference source not found
Sơ đồ 1: Cơ cấu sản xuất của CTCP Bánh kẹo Hà Nội Error: Reference sourcenot found
Sơ dồ 2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của CTCP Bánh kẹo Hà Nội Error:Reference source not found
Sơ đồ 3: Hệ thống kênh phân phối của CTCP Bánh kẹo Hà Nội Error:Reference source not found
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống kênh phân phối là môt phần của Maketing mix, hệ thống phânphối càng rộng và sâu thì sản phẩm của doanh nghiệp càng tới được với nhiềungười tiêu dùng Trong khuôn khổ của đề tài này tôi chỉ tập trung phân tíchkênh phân phối truyền thống của công ty, đây cũng đang là thế mạnh của củadoanh nghiệp vì kênh hiện đại hiện nay đang chiếm một phần rất nhỏ trong cơcấu phân phối hàng hóa của công ty Có thể nói kênh phân phối như huyếtmạch của một cơ thể sống, nếu thiếu hệ thống kênh phân phối thì doanh nghiệpkhó có thể tồng tại và phát triển Việc xây dựng và hoàn thiên hệ thống kênhphân phối giúp doanh nghiệp tạo lập và duy trì được lợi thế canh tranh dài hạntrên thị trường Vì vậy việc tổ chức và quản lý hệ thống kênh phân phối hiệuquả là vấn đề cấp bách đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt trong xuthế hội nhập khi các đối thủ cạnh tranh đang mạnh lên từng ngày và không chỉcác đối thủ trong nước mà còn là các doanh nghiệp mạnh của nước ngoài.CTCP Bánh kẹo Hà Nội cũng không phải là ngoại lệ
Đề tài “Hoàn thiện tổ chức và quản lý hệ thống kênh phân phối của CTCP Bánh mứt kẹo Hà Nội” phân tích, đánh giá hiện trạng và các đặc điểm
cơ bản của hệ thống kênh phân phối của CTCP Bánh mứt kẹo Hà Nội ( sau đâygọi là CTCP Bánh kẹo Hà Nội ) trong một số năm gần đây, từ đó phát hiệnnhững mâu thuẫn, những điều còn bất hợp lý, điểm mạnh, điểm yếu kém của
hệ thống kênh phân phối của Công ty Trên cơ sở lý luận và thực tế, đề tài đềxuất một số quan điểm, nguyên tắc, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức
và quản lý kênh phân phối CTCP Bánh kẹo Hà Nội
Đề tài được thực hiện với mong muốn phát hiện đặc điểm, đánh giá thựctrạng tổ chức, chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân cần khắc phục trong tổ chức
và quản lý kênh phân phối; đề xuất những quan điểm nguyên tắc và giải pháp
Trang 4đồng bộ có cơ sở khoa học và tính khả thi cho công tác tổ chức và quản lýkênh phân phối của CTCP Bánh kẹo Hà Nội.
Đề tài được kết cấu thành bốn chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về tổ chức và quản lý hệ thống kênh phân phối Chương II: Tổng quan về công ty CP Bánh kẹo Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý hệ
thống kênh phân phối của Công ty CP bánh kẹo Hà Nội
Trang 5CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG
KÊNH PHÂN PHỐI1.1 Kênh phân phối
Kênh phân phối chính là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường vàkhách hàng Với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì kênh phân phối là một phầnrất quan trọng trong chính sách marketing và ngày càng được quan tâm đầu tưnhiều hơn vì trong nhiều trường hợp nó trở thành một lợi thế cạnh tranh rất lớncho doanh nghiệp ở trên thị trường
Mục tiêu chính của kênh phân phối hiện nay của công ty là phân phối cácsản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng, mặt khác đây cũng chính là kênhgiúp công ty có thể đánh giá cũng như tìm hiểu nhu cầu thị trường Thông quacác đại lý công ty có thể tìm hiểu về những phản hồi của khách hàng về sảnphẩm của công ty Không những thế nếu có chính sách đãi ngộ tốt với các đại
lý thì có thể biến họ như một kênh quảng bá các sản phẩm của doanh nghiệp vìkhách hàng thì có xu hướng tham khảo ý kiến của người bán hàng Và cuốicùng lượng đặt hàng của các đại lý cũng là căn cứ để công ty ước đoán nhu cầucủa thị trường
Các kênh phân phối không chỉ là sự tập hợp thụ động các tổ chức có liênquan với nhau trong phân phối lưu thông sản phẩm dịch vụ mà chúng là những
hệ thống hoạt động phức tạp trong đó các thành viên kênh tương tác lẫn nhau
để đạt được những mục tiêu riêng của mình Một số hệ thống kênh chỉ cónhững quan hệ kết nối lỏng lẻo giữa các thành viên, một số hệ thống kênh kháclại có những quan hệ chính thức và sự kết nối chặt chẽ cao độ Các hệ thốngkênh cũng không cố định mà thường xuyên có những thay đổi như xuất hiệnnhững tổ chức trung gian mới hay hình thành những cấu trúc kênh mới
Trang 61.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức và quản lý hệ thống kênh phân phối.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kênh phân phối baogồm cả các nhân tố bên chủ quan bên trong của công ty và các nhân tố bênngoài công ty Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng giúp doanh nghiệp có cơ
sở lựa chọn và tổ chức được hệ thống kênh phân phối có khoa học và hiệu quả
1.2.1 Các nhân tố bên trong
Những mục tiêu của kênh phân phối
Mục tiêu của kênh phân phối thể hiện mong muốn mục tiêu, chiến lượccủa công ty trong từng giai đoạn cụ thể Điểm khác biệt ở đây là việc lựachọn kênh phân phối đem đến sự khác nhau về cấu trúc kênh và cách thứcquản lý khác nhau Mục tiêu có thể là mức dịch vụ khách hàng, yêu cầu mức
độ hoạt động của các trung gian, phạm vị bao phủ thị trường Các mục tiêuđược xác định phụ thuộc mục tiêu của Marketing – Mix và mục tiêu chiếnlược của công ty
Đối với CTCP Bánh kẹo Hà Nội mục tiêu phân phối của công ty là baophủ rộng khắp thị trường miền Bắc ( thị trường truyền thống ) tiến tới thịtrường cả nước ( mục tiêu tới năm 2015 mặt hàng của công ty sẽ có mặt tại64/64 thành ) nhằm vào đối tượng khách hàng là những người có thu nhậpthấp và trung bình trong xã hội đồng thời bên cạnh đó phát triển một số sảnphẩm cao cấp dành cho đối tượng khách hàng có thu nhập khá và cao Chính vìvậy hệ thống phân phối của công ty theo lộ trình đã được phê duyệt đòi hỏiphải được xây dựng rộng khắp không chỉ ở các thành phố lớn mà ở mọi địa bàncác tỉnh thành, từ các thành phố đến các vùng miền nông thôn ở cả ba miền.Đặc điểm của sản phẩm
Một số các chỉ số của sản phẩm như kích cỡ sản phẩm, trọng lượng sảnphẩm, quy cách đóng gói, tính dễ hư hỏng, giá trị đơn vị… cũng là những vấn
đề cần xem xét khi phát triển cấu trúc kênh
Trang 7Thể tích và trọng lượng: Các sản phẩm của công ty Bánh kẹo Hà Nội
được đóng trong các hộp Catton và trong các túi nilong có kích thước vừa phải
từ 50g đến 360g/túi sản phẩm, mỗi một thùng catton có từ 10 đến 60 túi sảnphẩm tương đương với từng mã, trọng lượng nhẹ tương ứng với giá trị của cácsản phẩm Do vậy việc vận chuyển chúng từ công ty bằng ôtô tải đến các đại lý
ở các địa bàn các tỉnh xa là rất thuận tiện và chi phí ở mức chấp nhận được
Tính dễ hư hỏng: Các sản phẩm của công ty có thời hạn sử dụng từ 6
tháng đến 8 tháng Do đó, hệ thống phân phối của công ty có thể được tổ chứcrộng và sâu mà không sợ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Ngoài ra đểphục vụ riêng thị trường Hà Nội, công ty cung cấp thêm sản phẩm bánh nướng,bánh dẻo Thời hạn sử dụng của những sản phẩm này ngắn chỉ từ 14 đến 18ngày So với đối thủ cũng sản xuất sản phẩm cùng loại như Bảo Minh thì vòngđời sản phẩm của công ty ngắn hơn từ 30 đến 45 ngày Từ đó ta cũng có thểhiểu rằng đó là sự khác nhau giữa sản phẩm công nghiệp và sản phẩm truyềnthống mà công ty cam kết mang lại cho khách hàng trên đất Hà Thành
Giá trị đơn vị sản phẩm: Giá trị đơn vị sản phẩm của Công ty tương đối
thấp thấp chỉ từ 5.000 đồng/sản phẩm đến 33.000 ngàn đồng/sản phẩm tùy từngtrọng lượng khác nhau vì vậy kênh phân phối của Công ty cần có nhiều cấp độtrung gian hơn
Đặc điểm doanh nghiệp
Đây cũng chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới tổ chức thiết kế kênhphân phối Qui mô của doanh nghiệp sẽ quyết định quy mô của thị trường vàkhả năng của doanh nghiệp tìm được các trung gian thương mại thích hợp.Nguồn lực của doanh nghiệp sẽ quyết định nó có thể thực hiện các chức năngphân phối nào và phải nhường cho các thành viên kênh khác những chức năngnào Các nhân tố quan trọng của doanh nghiệp ảnh hưởng đến thiết kế kênh là:quy mô, khả năng tài chính, kinh nghiệm quản lý, các mục tiêu và chiến lược
Trang 8Quy mô: Nhìn chung, việc lựa chọn các cấu trúc kênh khác nhau phụ
thuộc vào quy mô công ty Một công ty lớn sẽ cần phải có một hệ thống kênhphân phối tương xứng để phân phối tiêu thụ lượng sản phẩm của Công ty Vềqui mô, Công ty bánh kẹo Hà Nội là một doanh nghiệp có qui mô tương đốilớn trong thị trường sản xuất bánh kẹo do vậy Công ty xác định cần xây dựngcho mình một hệ thống kênh phân phối đảm bảo qui mô cả về chiều rộng lẫnchiều sâu để đáp ứng với sản lượng sản xuất của Công ty
Khả năng tài chính của công ty: Khả năng tài chính của công ty càng lớn,
càng ít phụ thuộc vào các trung gian Để bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuốicùng hoặc sử dụng công nghiệp, công ty thường cần lực lượng bán của chính
nó và các dịch vụ hỗ trợ hoặc cửa hàng bán lẻ, kho hàng và các khả năng tốthơn để trang trải các chi phí cao cho các hoạt động này Hiện nay, tiềm lực tàichính của Công ty Bánh kẹo Hà Nội so với các đối thủ cạnh tranh trên thịtrường còn đứng sau một số công ty như Kinh Đô, Hải Hà …do vậy, sức mạnhthị trường của Công ty còn chưa đủ mạnh để quản lý hệ thống phân phối mộtcách kiên quyết, triệt để, Công ty còn phụ thuộc nhiều vào các trung gian Vớitiền lực tài chính không được mạnh, và đang lấy lại hình ảnh vì vậy hệ thốngquản lý, chăm sóc các cửa hàng ( shops ), chỉ tại khu vực Hà Nội mới có nhânviên bán hàng của công ty trực tiếp quản lý, các khu vực khác phụ thuộc hoàntoàn vào các đại lý, công ty chỉ quản lý các danh sách khách hàng do đại lýcung cấp trên khu vực của mình Hàng tháng, nhân viên của công ty sẽ có kếhoạch tới kiểm tra và đánh giá tính trung thực danh sách khách hàng do các đại
lý cung cấp
Kinh nghiệm quản lý: Để thực hiện các công việc phân phối, các doanh
nghiệp cần phải có các kỹ năng quản lý cần thiết Công ty càng có ít kinhnghiệm quản lý càng phải phụ thuộc vào các trung gian và ngược lại Do đội ngũquản lý kênh của Công ty còn thiếu và yếu về kinh nghiệm quản lý nên Công ty
Trang 9còn phụ thuộc nhiều vào các đại lý đặc biệt là các đại lý lớn Mặt khác do đặcđiểm của thị trường hàng thực phẩm, cụ thể là trong mấy năm gần đây, đội ngũquản lý của bộ phận bán hàng liên tục thay đổi và không ổn định, nhân viên kinhdoanh một phần vì không đáp ứng được công ty cũng cho nghỉ, một phần nhânviên kinh doanh cũng có những lựa chọn công việc khác cho phù hợp với mụctiêu nghề nghiệp của mình cũng xin nghỉ Điều này phần nào cũng đã tạo hìnhảnh không tốt đối với các khách hàng ( shops ) trên địa bàn Hà Nội.
Mặt khác đối với những đại lý hiện nay, sự khuyến khích và tạo hammuốn ( lợi nhuận ) của công ty là không được tốt Chiến lược của công ty trongnăm nay là đang tìm hiểu, đánh giá và đưa ra thêm những sản phẩm mới chophù hợp hơn với thị hiếu của người tiêu dùng Xu thế của người tiêu dùng hiệnnay là tìm tới những sản phẩm có thương hiệu và uy tín Theo dự báo thì xuhướng này sẽ ngày càng gia tăng trong thời gian tới khi vấn đề khủng hoảngkinh tế, lạm pháp phần nào được kiềm chế và đi vào ổn định
CTCP Bánh kẹo Hà Nội hiện là một trong những doanh nghiệp bánh kẹolớn của cả nước, tuy nhiên khả năng tài chính của công ty so với các đối thủcạnh tranh chỉ ở mức trung bình Từng bước khắc phục khó khăn, công ty đãxây dựng được mạng lưới tiêu thụ khá hoàn chỉnh rộng khắp Các thành viênkênh của công ty đã và đang hoạt động tích cực
1.2.2 Các nhân tố bên ngoài
Đặc điểm thị trường mục tiêu
Định hướng khách hàng là nguyên tắc cơ bản của quản trị Marketing nóichung và quản trị kênh phân phối nói riêng Các nhà quản lý doanh nghiệpphải đưa ra được các giải pháp cơ bản nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốncủa thị trường mục tiêu Do vậy, từ các quyết định về sản phẩm đến giá bán vàcác hoạt động xúc tiến của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu Trong tổchức kênh phân phối cũng vậy, các đặc điểm của thị trường mục tiêu là yếu tố
Trang 10cơ bản nhất định hướng cho các thiết kế cấu trúc và kiểu quan hệ trong kênhphân phối Cấu trúc kênh phân phối phải đáp ứng được nhu cầu và mong muốncủa người tiêu dùng cuối cùng, đem đến lợi ích cơ bản người tiêu dùng mongmuốn nhận được từ các kênh phân phối bao gồm thông tin, sự tiện dụng, đadạng và dịch vụ khách hàng kèm theo
Những yếu tố quan trọng cần xem xét về đặc điểm của thị trường mục tiêu
là quy mô, cơ cấu, mật độ và hành vi khách hàng
Địa lý thị trường: Địa lý thị trường thể hiện ở vị trí của thị trường và
khoảng cách từ người sản xuất đến thị trường Địa lý thị trường là cơ sở để pháttriển một cấu trúc kênh phân phối bao phủ hoàn toàn thị trường và cung cấpdòng chảy sản phẩm hiệu quả cho các thị trường đó Khoảng cách giữa nhà sảnxuất và thị trường của nó càng lớn thì càng có khả năng sử dụng các trung gian
sẽ có chi phí thấp hơn phân phối trực tiếp
Với CTCP Bánh kẹo Hà Nội khoảng cách từ công ty đến khách hàng làkhá lớn do khách hàng của công ty ở khắp các tỉnh thành trong cả nước Dovậy, kênh phân phối chủ yếu của công ty được tổ chức bao gồm cả các đại lý( ĐL ) bán buôn, ĐL bán lẻ …để đảm bảo kênh phân phối đủ độ dài và rộng.Bên cạnh đó công ty cũng còn có một số kênh phân phối khác để phù hợp vớicác thị trường gần Cụ thể hiện nay công ty có 73 đại lý bán buôn và 28 đại lýbán lẻ ( không tính các shop – vào khoảng gần 15.000 shop )
Quy mô thị trường: Số lượng khách hàng xác định quy mô của thị
trường Thị trường có số lượng khách hàng càng lớn thì việc sử dụng trunggian lại càng cần thiết Ngược lại, nếu thị trường có số lượng khách hàngnhỏ nhưng quy mô của mỗi khách hàng lớn, công ty nên bán trực tiếp tránh
sử dụng trung gian
Đối với công ty, lượng khách hàng là rất lớn và không tập trung, đồngthời quy mô của khách hàng lại là rất nhỏ (thường mua hàng với số lượng nhỏ)
Trang 11do vậy công ty bắt buộc phải sử dụng các trung gian trong tổ chức kênh phânphối của mình để đưa sản phẩm của công ty đến với người tiêu dùng cuối cùng.Đặc thù sản phẩm và kinh doanh của công ty là hàng tiêu dùng nhanh Đối vớihàng tiêu dùng nhanh thì mức độ lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm là thấp,nhưng vòng đời sản phẩm được quay vòng nhanh, thị phần khách hàng muanhiều, nhưng nhiều công ty có thể tham gia vào phân phối và sản xuất đượcnhững sản phẩm này Vì vậy kênh phân phối của công ty càng sâu và rộng thìngười tiêu dùng càng có khả năng tiếp cận được với sản phẩm của công ty
Mật độ thị trường: Số lượng khách hàng trên một đơn vị diện tích xác
định mật độ thị trường Mật độ thị trường càng thấp thì phân phối càng khókhăn và tốn kém Nói cách khác, thị trường càng phân tán thì càng cần sử dụngcác trung gian và ngược lại, thị trường càng tập trung thì càng nên sử dụng íttrung gian Với khách hàng mục tiêu là những người tiêu dùng thu nhập trungbình và thấp trong xã hội nên mật độ khách hàng của Công ty Bánh kẹo Hà Nội
có mật độ khá cao và rộng khắp nên hệ thống phân phối của Công ty đòi hỏiphải đảm bảo cả về chiều sâu và chiều rộng, sử dụng nhiều trung gian để đưasản phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng do lượng khách hàng Về vấn đề nàycông ty cũng đã xác định chiến lược ngay từ đầu, trong năm 2011 tới 2013 tậptrung vào thị trường Hà Nội, Các tỉnh Đông Bắc, các tỉnh đồng bằng sôngHồng, các thị trường lớn ở Miền Trung như Vinh, Huế…cần phải ổn định cáckênh phân phối Mục tiêu trong các năm tiếp theo đến năm 2015 sẽ mở rộngthêm ra toàn bộ các tỉnh thành nhưng thứ tự ưu tiên là phải ở các vùng tậptrung dân cư trước
Hành vi của thị trường: Hành vi thị trường thể hiện ở 4 loại sau: Người
tiêu dùng mua như thế nào? Mua ở đâu? Mua khi nào? Ai mua? Mỗi ngườihành vi của khách hàng có thể có những ảnh hưởng khách nhau đến cấu trúckênh Khách hàng của công ty thường mua hàng với số lượng nhỏ, việc mua
Trang 12mang tính thời vụ, tại các cửa hàng bán lẻ, đối tượng mua rất đa dạng do vậykênh phân phối của công ty phải dài, cần nhiều trung bán buôn, bán lẻ Quathống kê ở các điểm bán hàng của công ty trong những đợt điều tra đánh giánăm 2009 thì 72 % khách hàng hỏi mua sản phẩm của công ty là nữ, số kháchhàng tìm hiểu và biết đến thương hiệu sản phẩm của công ty là 52 %, trong đó
65 % người từ 40 tuổi trở lên Điều này đã chỉ ra rằng thương hiệu sản phẩmcủa công ty chưa tới được nhiều với những người trẻ tuổi, những người có xuhướng tiêu dùng thông thoáng hơn, ít tiết kiệm hơn so với bố mẹ và cha ôngcủa họ Với số liệu điều tra từ năm 2009, nhưng hiện nay công ty vẫn chưa có
sự thay đổi mang tính chiến lược nào, điều này phải nhanh chóng được điềutra đánh giá mang tính cụ thể hơn nữa để có thể đưa ra được những chiến lược
cụ thể
Các đặc điểm môi trường marketing
Các nhân tố môi trường như công nghệ, đối thủ cạnh tranh, môi trườngvăn hóa, xã hội, cơ cấu thu nhập và hành lang pháp lý có thể ảnh hưởng đến tất
cả các mặt tổ chức và quản lý kênh Vì vậy hệ thống kênh phân phối phải liêntục thay đổi, vấn đề không thích ứng nhanh với sự vận động của môi trường sẽgây thiệt hại rất lớn cho công ty và tạo cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh dànhlấy thị phần
Các yếu tố thuộc môi trường kinh tế như lạm phát, suy thoái kinh tế, sựthiếu hụt, tình hình ngân sách nhà nước, cán cân buôn bán quốc tế, nợ nướcngoài có ảnh rõ nét nhất, và rất lớn đến các kênh phân phối Ở Việt Nam, nênkinh tế phát triển khá ổn định với tăng trưởng kinh tế ổn định và đạt mức cao
so với các nước ở châu lục thường dao động trên 6 - 9% /1 năm do vậy đờisống nhân dân luôn được cải thiện và nâng cao, đó là điều kiên thuận lợi choCông ty phát triển hệ thống kênh phân phối Tuy nhiên, trong một số năm gầnđây tỉ lệ lạm phát cũng tăng cao do vậy áp lực nên giá cả hàng hoá của Công ty
Trang 13là vấn đề khó khăn lớn khi mà các nguyên liệu cũng tăng giá, việc cạnh tranh
về giá trở lên gay gắt buộc Công ty phải tổ chức hệ thống kênh phân phối 1cách khoa học và hiệu quả để gianh ưu thế trên thị trường, ổn định thị phần.Vấn đề lạm pháp trong những năn gần đây công ty lại cho đây là một cơ hội
mở rộng thị phần, trong khi các đối thủ khác dù được cho là có nguồn lực kinh
tế mạnh nhưng vốn chủ yếu là đi vay, mặc dù nguồn tài chính không mạnh,nhưng nguồn vốn lại là tiền mặt điều này đã tạo lợi thế rất lớn cho công tytrong giai đoạn khủng hoảng hiện nay Các đối thủ khác đang xoay sở với bàitoán về vốn thì công ty đã tận dụng được giai đoạn này để dành thị phần vàphát triển sản lượng của công ty tăng khoảng trên 120% trong 2 năm trở lạiđây, mặt khác công ty lại tập trung chính vào thị trường truyền thống, các dòngtiền của thị trường này là dòng tiền mặt, bán hàng và thu tiền ngay, không nhưthị trường hiện đại ( các siêu thị và trung tâm thương mại ) Đây cũng là lý dotại sao trong giai đoạn này công ty đang tập trung chính vào thị trường truyềnthống, nhưng cũng không quên thị trường hiện đại
Các yếu tố thuộc môi trường văn hoá xã hội như: Sự thay đổi dân số củacác vùng, sự thay đổi cấu trúc gia đình và hộ gia đình Người quản lý kênhphân phối phải có nhận thức về môi trường văn hoá – xã hội ảnh hưởng đếnkênh phân phối khi các kênh hoạt động ở các nên văn hoá khác Điều này đượcthể hiện qua người miền trung có khẩu vị ăn cay hơn người miền bắc và ngườimiền nam có khẩu vị ăn ngọt hơn Điều này sẽ được phân tích kỹ hơn khi đưa
ra sản phẩm cho từng loại vùng miền Không chỉ khi mở rộng kênh phân phốisang các nước mới thấy sự thay đổi môi trường văn hoá – xã hội mà sự thay đổimôi trường văn hoá – xã hội có thể diễn ra ngay trong nước Trong xu hướng
đô thị hoá nhanh chóng việc chuyển dịch cơ cấu dân số của Việt Nam có rấtnhiều biến động lớn Người dân ở các vùng nông thôn ra thành phố làm việcngày càng nhiều, việc công nghiệp hoá hiện đại hoá khiến nguồn nhân lực đến
Trang 14sống tập trung tại các khu công nghiệp, tại các thành phố người dân lại tậptrung tại các trung cư cao tầng đã và đang được xây dựng Chính vì vậy, hệthống phân phối của Công ty cần phải được tổ chức rộng khắp tại các nơi tậptrung đông dân cư như các thành phố, các khu công nghiệp, các khu đô thị mới
đó sẽ là những địa bàn tiêu thụ chiến lược của công ty trong tương lai
Kênh phân phối và chính sách giá của đối thủ canh tranh
Trong ngành hàng thực phẩm, tiêu dung nhanh đặc biệt là thị trường bánhkẹo với sự tham gia của rất nhiều nhà sản xuất có uy tín và nhiều nhà phânphối, nhập khẩu các sản phẩm bánh kẹo nước ngoài thì việc nghiên cứu kênhphân phối và chính sách gía của họ là vô cùng quan trọng Trên thị trường bánhkẹo, đối thủ của Công ty Bánh kẹo Hà Nội hiện nay có rất nhiều với mạng lướiphân phối theo nhiều hình thức khác nhau có thể giống và khác với hệ thốngkênh phân phối của Công ty nên việc phân tích, nghiên cứu kênh phân phối củađối thủ cạnh tranh sẽ giúp Công ty có những chính sách quản lý phù hợp đốivới hệ thống kênh của chính doanh nghiệp mình trên cơ sở so sánh cấu trúc vàphương thức quản lý của đối thủ cạnh tranh nhằm tạo ra lợi thế trong tiêu thụsản phẩm
1.3.Nội dung của quản lý hệ thống kênh phân phối
Sau khi các kênh phân phối được lựa chọn, thì việc điều hành hệ thốngkênh là vô cùng quan trọng Việc quản lý kênh tập trung vào các hoạt độngđiều hành phân phối hàng ngày và khuyến khích các thành viên kênh hoạt độngdài hạn, giải quyết các vấn đề về sản phẩm, giá, xúc tiến qua kênh phân phối vàđánh giá hoạt động của các thành viên kênh
Quản lý kênh phân phối hàng ngày liên quan đến việc tiếp nhận, xử lý đơnhàng Mỗi doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế và quy trình thu nhập, tập hợp và
xử lý đơn đặt hàng rõ rang, đơn giản, gọn nhẹ, nhanh và chính xác cho từngkhách hàng
Trang 15Quản lý kênh phân phối về dài hạn liên quan đến việc xây dựng nhữngchính sách phân phối hợp lý để đảm bảo sự hợp tác lâu dài và hiệu quả của cácthành viên kênh, đảm bảo các dòng chẩy trong kênh thông suốt Nội dung chủyếu của quản lý kênh trong dài hạn là xây dựng những chính sách thúc đẩythành viên kênh hợp lý, sử dụng các công cụ marketing hỗn hợp khác nhautrong quản lý kênh một cách hiệu quả, đánh giá được hoạt động của từng thànhviên kênh và đưa ra những chính sách quản lý mới.
Trang 16CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO
HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về CTCP Bánh kẹo HÀ NỘI
CTCP Bánh kẹo Hà Nội (trước đây là xí nghiệp bánh kẹo Hà Nội ) là một Công ty trực thuộc Sở công thương – Thành
Tên công ty: Công ty cổ phần Bánh kẹo Hà Nội
Tên tiếng Anh: Hà Nội confectionery joint – stock Company
Tên giao dịch quốc tế: Ha Noi confectionery joint – stock Company.Hình thức pháp lý: Công ty cổ phần
Tên viết tắt: HANOIBACO.JSC
Ngành nghề kinh doanh: Lĩnh vực kinh doanh của công ty được xácđịnh là: Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm bánh kẹo, sản xuất kinh doanhbột gia vị các loại, kinh doanh mì ăn liền, các sản phẩm nước uống có cồn vàkhông có cồn
Đại lý bán buôn bán lẻ các loại hàng tiêu dung
Kinh doanh khách sạn và các dịch vụ du lịch lữ hành nội địa, quốc tế vàcác dịch vụ phục vụ khách du lịch
Kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà ở, văn phòng, phòng giới thiệusản phẩm
Kinh doanh vật tư nguyên liệu, bao bì của ngành công nghiệp thực phẩm,xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng Công ty được phép kinh doanh (theogiấy phép kinh doanh cấp ngày 29/11/1994) như: Vật tư, nguyên liệu củangành bột mì, sữa, mì chính không qua uỷ thác xuất khẩu và liên doanh liên kếtvới các thành phần kinh tế khác
Địa chỉ: 15 Mạc Thị Bưởi – Minh Khai – Quận Hai Bà Trưng – Hà Nội
Trang 17Điện thoại: 04.38621664 Fax: 04 3862520
2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của CTCP Bánh kẹo Hà Nội
Công ty cổ phần bánh mứt kẹo Hà Nội được thành lập từ tháng 8 năm
1964 Qua gần 50 năm thành lập và phát triển công ty đã có nhiều chuyểnbiến, thương hiệu bánh kẹo Hà Nội đã gắn bó với người dân Hà Thành vàngười dân miền Bắc nói chung, sản phẩm của công ty trong những năm gầnđay luôn là một trong những sản phẩm được bình chọn là hàng Việt Nam chấtlượng cao Sản phẩm của công ty liên tục lọt vào tôp 500 thương hiệu nổitiếng của Việt Nam
Ban đầu công ty có khoảng 200 nhân viên thuộc một số hộ công thương.Trong quá trình xây dựng và phát triển thì đến tháng 12 năm 1974 công ty đã cótới gần 700 cán bộ công nhân viên Tháng 1 năm 1975 theo chỉ thị của ủy banhành chính thành phố và sở thương nghiệp công ty lúc đó tách thành 2 phânxưởng là phân xưởng kẹo dịch vọng và đội cấn sang cục công nghiệp Hà Nội.Tháng 8 năm 1988 công ty được chuyển giao về liên hiệp thực phẩm visinh dưới sự lãnh đạo của UBND thành phố Hà Nội và được đổi tên thành Xínghiệp bánh mứt kẹo Hà Nội
Trang 18Sau khi xóa bỏ bao cấp xí nghiệp đã có nhiều lỗ lực và được nhà nước chothành lập lại xí nghiệp vào năm 1992 Đầu năm 1994 trụ sở công ty tại 19 chả
cá sau đó chuyển về số 5 láng trung, các điểm kinh doanh vẫn ở Hoàn Kiếm vàNguyễn Chí Thanh
Theo chủ trương của UBND thành phố Hà Nội và để mở rộng quy mô sảnxuất kinh doanh, năm 2004 công ty tiến hành cổ phẩn hóa năm 2009 công ty đãchuyển trụ sở về khu công nghiệp Thạch Thất, Quốc Oai, Hà Nội
2.3 Các đặc điểm kinh tế kỹ thuật của CTCP Hà Nội
2.3.1 Đặc điểm quy trình công nghệ của Công ty
Quy trình công nghệ của CTCP Bánh kẹo Hà Nội giống như nhiều doanhnghiệp sản xuất bánh kẹo khác, đó là sản xuất theo quy trình sản xuất giản đơn.Công ty có nhiều phân xưởng, mỗi phân xưởng có một quy trình sản xuất riêngbiệt và cho ra những sản phẩm khác nhau, trên cùng một dây chuyền công nghệ
có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm thuộc cùng một dây chuyền công nghệ cóthể sản xuất nhiều loại sản phẩm thuộc cùng một chủng loại Trong từng phânxưởng, việc sản xuất được tổ chức khép kín, riêng biệt và sản xuất là sản xuấthàng loạt, chu kì sản xuất rất ngắn, hầu như không có sản phẩm dở dang, sảnlượng ổn định Sau khi sản phẩm của phân xưởng sản xuất hoàn thành, bộ phậnKCS sẽ kiểm tra để xác nhận chất lượng của sản phẩm
2.3.2 Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm của Công ty được Công ty chia làm 6 nhóm chính: Bánh quy,bánh kem xốp, bánh mềm, lương khô, kẹo các loại, bột canh Chúng có một sốđặc điểm sau:
Sản phẩm bánh kẹo thuộc vào nhóm đồ ăn nhẹ, có giá trị đơn vị của sảnphẩm nói chung là nhỏ, và là sản phẩm được phân phối rộng khắp cả nước.Chính đặc tính cầu về sản phẩm này quyết định đến tốc độ và khả năng tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp
Trang 19Bánh kẹo là sản phẩm được chế biến từ nhiều nguyên vật liệu dễ bị vị sinhvật phá huỷ nên bánh kẹo có thời gian bảo quản ngắn yêu cầu vệ sinh nghiệpcao Đặc điểm này ảnh hưởng đến các quyết định về phương thức bảo quản,vận chuyển, cách thức tổ chức hệ thống kênh phân phối.
Bánh quy của Công ty gồm nhiều chủng loại khác nhau: Bánh quyHương thảo, Hướng dương, bánh quy sữa, bánh quy hoa quả, bánh quyMarie…
Bánh kem xốp là loại bánh cao cấp đang được người tiêu dùng ưa chuộng.Sản phẩm bánh kem xốp của Công ty gồm 6 loại: Lương khô ca cao, lương khôđậu xanh, lương khô dinh dưỡng, lương khô tổng hợp, lương khô 702 và lươngkhô 307
Kẹo gồm có kẹo cứng, kẹo mềm với nhiều hương vị đặc sắc (cam, táo,dâu, nho, ổi…) và kẹo Sôcôla có nhân phục vụ người có thu nhập cao.\
Công ty sản xuất 2 loại bột canh là bột canh thường và bột canh iốt có cáchương vị khác nhau như tôm, gà…
Sản phẩm của CTCP Bánh kẹo Hà Nội chủ yếu dành cho đối tượng có thunhập thấp và trung bình
2.3.3 Đặc điểm về lao động
Từ bảng 1 ta thấy:
Lao động gián tiếp: 150 người chiếm 22,7% số lao động của Công ty Laođộng có trình độ đại học chiếm 68%, trung cấp và cao đẳng chiếm 10%, còn lạichiếm trên 20% Tỷ lệ lao động gián tiếp của Công ty là tương đối cao đã ảnhhưởng đến tính cạnh tranh của Công ty do đội giá thành lên cao Do đó, Công
ty cần tinh giảm hơn nữa đội ngũ lao động cho phù hợp, đảm bảo cơ cấu laođộng hợp lý góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nângcao khả năng cạnh tranh về giá
Trang 20Bảng 1: Tình hình tổ chức Bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực năm 2011
Tt Các phòng ban lượng Số
Tỉ trọng (%)
Trình độ Đại
học
Cao đẳng
Trang 21Lao động trực tiếp: 510 người chiếm khoảng 67,3% tổng số lao động toànCông ty Tỷ lệ lao động nữ chiếm khoảng 70% Tỷ lệ này tương đối là caonhưng phù hợp với công việc sản xuất bánh kẹo ở các khâu bao gói thủ công,
vì công nhân nữ thường có tính bền bỉ, chịu khó và khéo tay Tuy nhiên côngnhân nữ nhiều cũng có mặt hạn chế do ảnh hưởng về nghỉ chế độ thai sản, nuôicon ốm … làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.Ngoài lực lượng lao động thường xuyên trên, do đặc thù của sản phẩm vàđặc thù mùa vụ, Công ty phải tuyển thêm lao động thời vụ Số lao động hợpđồng này có tay nghề không cao, không đủ để đảm bảo sản xuất, do đó làm ảnhhưởng xấu tới chất lượng sản phẩm Đây là điểm yếu trong lực lượng lao độngcủa Công ty Tuy nhiên biện pháp này cũng góp phần tiết kiệm chi phí nhâncông khi sản phẩm tiêu thụ chậm
Về chất lượng lao động, hầu hết các cán bộ quản lí, cán bộ kĩ thuật đều cótrình độ đại học, cao đẳng Lực lượng công nhân có bậc thợ trung bình là 4/7.Công ty không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân thông quaviệc thường xuyên mở các lớp đào tạo tại doanh nghiệp hoặc gửi đi học vềquản lý kinh tế và an toàn lao động ở bên ngoài
2.3.4 Đặc điểm về nguyên vật liệu
Nguyên liệu dùng trong sản xuất bánh kẹo của Công ty rất đa dạng, một
số chiếm tỷ trọng lớn như: đường, bột mỳ, nha, gluco, sữa, váng sữa, bơ,hương liệu … và chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm (kẹo cứng 73,4%kẹo mềm 71,3%, bánh 65%)
Trang 22Nước sản xuất
Công suất
Năm sản xuất
Công dụng
kẹo cứng
Đức
3400tấn/năm
gói Dây chuyền sản xuất
bánh mềm
Qua bảng trên ta thấy đã gần 10 năm nay công ty chưa trang bị đầu tưthêm dây chuyền sản xuất mới, trong thị trường bánh kẹo phát triển và hội nhậpnhư hiện nay đỗ chễ này này quá lâu Vấn đề này nếu có điều kiện sẽ đượcphân tích trong một chuyên đề khác, trong khuôn khổ của đề tài chúng takhông đi sâu vào phân tích vấn đề này mà chỉ dừng lại ở mức độ nêu ra vấn đề
2.3.6 Thị trường tiêu thụ của Công ty
Để đưa sản phẩm tiêu thụ trên mọi miền đất nước, CTCP Bánh kẹo HàNội đã tổ chức mạng lưới tiêu thụ trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Do đặcđiểm địa lý và phân bố vùng miền do đó thị trường miền Bắc vẫn là thị trườngtrọng điểm của Công ty với khối lượng tiêu thụ chiếm khoảng 70% tổng khốilượng tiêu thụ cả năm của Công ty, thị trường miền Trung và miền Nam vẫn
Trang 23chỉ dừng lại ở mức độ tiềm năng Cụ thể, các khu vực thị trường của Công tynhư sau:
Bảng.3.Hệ thống ĐL phân phối của CTCP Bánh kẹo Hà Nội
Tuyên
Quang
Thái
Nguyên
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Trang 242.3.7 Đặc điểm về tài chính
Vốn điều lệ của Công ty tại thời điểm thanh lập là 30.000.000.000 đồng.Theo quyết định số 3656/QĐ/BNN-TCCB ngày 22 tháng 10 năm 2004của UBND thành phố Hà Nội, tỷ lệ vốn điều lệ của CTCP Bánh kẹo Hà Nộinhư sau:
Tỷ lệ cổ phần Nhà nước:
= 58% VĐL = 17.400.000.000 đồng = 174.000 cổ phần
Tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp:
= 3.3% VĐL = 995.000.000 đồng = 9.950 cổ phần
Trang 25Bảng 4 Tình hình tài chính CTCP Bánh kẹo Hà Nội năm 20010
(Nguồn: phòng tài chính - kế toán)
2.4 Cơ cấu sản xuất và quản trị của CTCP Bánh kẹo Hà Nội
2.4.1 Cơ cấu sản xuất của CTCP Bánh kẹo Hà Nội
Cơ cấu sản xuất của CTCP Bánh kẹo Hà Nội gồm 6 phân xưởng sản xuấtchính và 1 phân xưởng phụ
Phân xưởng bánh I: Sản xuất bánh Hương Thảo, lương khô, bánh quy hoaquả trên dây chuyền của Trung Quốc
Phân xưởng bánh II: Sản xuất vánh kem xốp các loại, kem xốp phủ sôcôlatrên dây chuyền của CHLB Đức
Trang 26Phân xưởng bánh III: Sản xuất bánh quy hộp, bánh Sampa, bánh xốp
vừng, xốp dừa, trứng nhện, bánh quy Marie, Petit,… trên dây chuyền Đài
Loan
Phân xưởng bột canh: Chuyên sản xuất bột canh các loại trên dây chuyền
Việt Nam Do chúng ta tự thiết kế và đưa vào vận hành
Phân xưởng bánh mềm: Sản xuất bánh mềm cao cấp trên dây chuyền bánh
mềm của Hà Lan
Phân xưởng phục vụ sản xuất: Đảm nhiệm sửa chữa bảo dưỡng máy,…
phục vụ bao bì, in ngày tháng sản xuất, hạn sử dụng của các sản phẩm
Sơ đồ 1: Cơ cấu sản xuất của CTCP Bánh kẹo Hà Nội
PX bột canh
PX kẹo
PX bánh mềm
PX bánh III
Kẹo cứng
Bánh quy
Lương khô
xốp
Bánh custar
Bánh tulip
Kẹo mềm
Kẹo xốp
BC iốt
Trang 27Công ty đã kết hợp giữa hình thức quản lý trực tuyến và chức năng để
quản lý và xây dựng hoạt động kinh doanh Hình thức quản lý này đã tận dụng
được ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của cả hai phương thức
trực tuyến và chức năng Từ sự kết hợp giữa hai hình thức quản lý trên, bộ máy
tổ chức cũng được xây dựng sao cho phù hợp nhất, đảm bảo sự quản lý thông
suốt và hiệu quả, tránh chồng chéo giữa các phòng ban, bộ phận trong tổ chức
Sơ dồ 2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của CTCP Bánh kẹo Hà Nội
Hồ Chí Minh
Phòng KHVT
Phòng
tổ chức
Phòng tài chính
kế toán
Ban XDCB
Phòng
kỹ thuật
VP đại diện Đà Nẵng
Ban bảo vệ
PX bột canh
PX kẹo
PX bánh mềm
PX bánh III
PX phục vụ
Trang 28(Nguồn: phòng tổ chức)
Trong cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty Bánh kẹo Hà Nội cấp caonhất là Hội đồng quản trị của Công ty, dưới Hội đồng Quản trị là Ban giámđốc, song song với ban giám đốc là Ban kiểm soát Của Công ty được Đại hội
cổ đông bầu ra nhằm giám sát các hoạt động của các phòng ban trong quá trìnhhoạt động Dưới ban giám đốc là Giám đốc kinh doanh và Giám đốc kỹ thuật.Giám đốc kinh doanh phụ trách chỉ đạo các phòng như phòng Hành chính quảntrị, phòng kế hoạch vật tư, Trung tâm giới thiệu sản phẩm và các chi nhánh củaCông ty tại Đà nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc kỹ thuật phụ tráchchỉ đạo phòng kỹ thuật và các phân xưởng sản xuất, các phòng ban còn lại doban giám đốc trực tiếp chỉ đạo
Để quản lý phân xưởng, trong các phân xưởng còn có bộ phận quản lýgồm có:
Quản đốc phụ trách hoạt động chung của phân xưởng
Phó quản đốc phụ trách về an toàn lao động, vật tư thiết bị
Nhân viên kỹ thuật chịu trách nhiệm về quy trình kỹ thuật và công nghệsản xuất
Nhân viên thống kê ghi chép số liệu phục vụ tổng hợp số liệu trên phòngtài vụ
2.5 Tình hình hoạt động kinh doanh của CTCP Bánh kẹo Hà Nội 2.5.1 Kết quả hoạt dộng kinh doanh của Công ty trong một số năm gần đây
Hoạt động kinh doanh của Công ty không được ổn định, sản lượng trong
3 năm liên tục tăng tuy từ 136393 tấn năm 2006 đến 178893 tấn năm 2008, đặcbiệt trong 2 năm 2009 (210357 tấn) và 2010 (245465) tăng trên 120 % Trongnăm 2011 thì từ đầu năm đến nay do vấn đề di chuyển nhà máy ra khỏi nộithành đã làm ảnh hưởng lớn tới tình hình sản xuất kinh doanh của công ty