Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn... -Doanh nghiệp liên doanh Trong luật ĐT nước ngoài quy địn
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Những tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối vớinền kinh tế Việt Nam trong hơn 10 năm qua là điều không thể phủ nhận FDI
đã đóng góp lượng vốn đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, gópphần thúc đẩy, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ góp phần nângcao năng lực xuất khẩu, tạo ra những cơ hội và ưu thế mới để tham gia cóhiệu quả vào quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu và khu vực
Riêng Vĩnh Phúc, một tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, cửa ngõ tây
- bắc của Thủ đô Hà Nội, trong vùng lan toả của tam giác phát triển kinh tếtrọng điểm phía bắc, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tếcủa đất nước Vĩnh Phúc là 1 tỉnh non trẻ, mới thành lập (7/1997 trước đó sápnhập chung với Việt Trì và Phú Thọ và gọi chung là tỉnh phú Thọ) Nhưngnhìn chung, Vĩnh Phúc là một tỉnh có nền kinh tế mang đặc trưng của mộttỉnh nông nghiệp, điểm xuất phát thấp, nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ chưa thểđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Vì vậy nguồn vốn FDI đóng một vai tròhết sức quan trọng đảm bảo cho tỉnh phát triển kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá - hiện đại hoá
Nhận thức được tầm quan trọng đó của FDI, Vĩnh Phúc cũng như cáctỉnh khác trong cả nước đã tích cực đẩy mạnh công tác kinh tế đối ngoại vàthực hiện nhiều biện pháp nhằm thu hút các dự án FDI và đã đạt được nhữngkết quả đáng khích lệ Song những năm gần đây, do bối cảnh trong nước vàquốc tế gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn FDI vào tỉnh có xu hướng chững lại
và có biểu hiện giảm sút Điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và sựphát triển kinh tế của Vĩnh Phúc trong những năm tới
Từ thực tế đó, em đã chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010”
Em xin gửi lời cảm ơn tới thạc sĩ BÙI THỊ THANH HUYỀN khoa kinh tế kế hoạch và phát triển trường đại học kinh tế quốc dân đã giúp
đỡ em hoàn thành đề án này!
Trang 3I-Khái Quát Chung Về Vai Trò Của Vốn Tại Việt Nam.
1 Khái niệm và phân loại.
1.1-Khái niệm: vốn trong kinh tế học là khái niệm để chỉ những vật thể có giá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng 1.2-Phân loại: gồm vốn sản xuất và vốn ĐT.
1.2.1-Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, gồm vốn cố định và vốn lưu động.
+ Theo cách phân loại của liên hợp quốc(UN) thì TSCĐ gồm: côngxưởng, nhà máy;trụ sở cơ quan,trang thiết bị văn phòng;máy móc thiếtbị,phương tiện vận tải; cơ sở hạ tầng TSLĐ gồm:tồn kho của tất cả các loạihàng hóa
+ Sự khác nhau trên nguyên tắc về mặt kinh tế TSCĐ và TSLĐ là tínhchất sử dụng nhiều lần của TSCĐ và tính chất sử dụng được 1 lần của TSLĐ,
từ đó thời hạn phục vụ của TSCĐ được qui định kéo dài hơn 1 năm,còn thờihạn phục vụ của TSLĐ là dưới 1 năm
+ Vốn phi sản xuất gồm: các công trình công cộng, các công trình kiếntrúc, nhà ở và các cơ sở quân sự Đều có tính chất chung là không tham giatrực tiếp vào quá trình sản xuất
+Ở giác độ vĩ mô, vốn sản xuất luôn được biểu hiện dưới dạng hiệnvật,phản ánh năng lực sản xuất của 1 nền kinh tế
1.2.2-Vốn ĐT là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định.Vốn ĐT thường thực hiện qua các dự án ĐT
và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung TSCĐ và TSLĐ.
- Vốn ĐT sản xuất gồm:vốn ĐT sản xuất và vốn ĐT phi sản xuất Vốn
ĐT sản xuất được chia thành vốn ĐT vào TSCĐ và vốn ĐT vào TSLĐ Đếnlượt mình,vốn ĐT vào TSCĐ lại chia thành vốn ĐT cơ bản và vốn ĐT sửachữa lớn.Vốn ĐT cơ bản làm tăng khối lượng thực thể của TSCĐ, bảo đảm
bù đắp số TSCĐ bị hao mòn và tăng thêm phần xây lắp dở dang Còn vốn sửachữa lớn không làm tăng khối lượng thực thể của TS,do đó nó không có trong
Trang 4thành phần của vốn ĐT cơ bản.Nhưng vai trò kinh tế của vốn sửa chữa lớnTSCĐ cũng giống như vai trò kinh tế của vốn ĐT cơ bản là nhằm bảo đảmthay thế TS bị hư hỏng.
-Vốn ĐT: được sử dụng thông qua các hoạt động ĐT Đó là hoạt động sửdụng vốn ĐT để phục hồi năng lực sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuấtmới hoạt động ĐT là cần thiêt vì:
+Phải tiến hành ĐT để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn và duy trì dự trữnguyên vật liệu cho quá trình sản xuất tiếp
+Cần mở rộng quy mô sản xuất để phụ vụ nhu cầu xã hội
+Tiến hành ĐT mới, nhằm thay thế các tài sản sản xuất đã bị haomòn vô hình
-Hoạt động ĐT gồm:
+ĐT trực tiếp: là hoạt động ĐT mà người có vốn tham gia trực tiếp vàoquá trình hoạt động và quản lý ĐT, họ biêt được mục tiêu ĐT cũng nhưphương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra Các dạng: hợp đồng,liêndoanh,công ty cổ phần, công ty TNHH
+ĐT gián tiếp: Hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lạihiệu quả cho bản than người có vốn cũng như cho xã hội,nhưng người có vốnkhông trực tiếp tham gia quản lý hoạt động ĐT Hình thức ĐT:cổ phiếu, tráiphiếu Hình thức ĐT này gặp ít rủi ro hơn so với ĐT trực tiếp
2 Vai trò của vốn với tăng trưởng, phát triển kinh tế Việt Nam.
2.1-Phân tích mô hình Harrod – Domar
Trong hệ thống lý thuyết tăng trưởng kinh tế vào cuối những năm 30 đãxuất hiện một học thuyết kinh tế mới, đó là học thuyết kinh tế của J.Maynard Keynes Khác với tư tưởng của các nhà kinh tế học cổ điển và tân
cổ điển, Keynes cho rằng, nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì sự cân bằngdưới mức sản lượng tiềm năng Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy xu hướngphát triển của nền kinh tế là đưa mức sản lượng thực tế càng về gần mức sảnlượng tiềm năng càng tốt Để có được sự chuyển dịch này thì đầu tư đóngvai trò quyết định
Trang 5Khi nghiên cứu mô hình kinh tế do hai nhà kinh tế hoạc là Roy Harrod ởAnh và Evsay Domar ở Mỹ đồng thời đưa ra được dựa trên tư tưởng củaKeynes, chúng ta đã biết đến hệ số ICOR Mô hình này cho rằng, đầu ra củabất kỳ đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành hay toàn bộ nền kinh
tế sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho đơn vị đó
Nếu gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghĩa là:
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong đầu tư sẽlà:
Vì tiết kiệm là nguồn đầu tư của đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn bằngtiết kiệm (St = It), do đó cũng có thể viết:
Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên It = Kt Nếu gọi k là tỷ sốgia tăng giữa vốn và sản lượng (còn gọi là hệ số ICOR), ta có:
Do đó chúng ta có:
Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng nhàmày, trang thiết bị là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, các khoản tiết kiệm củadân cư và các công ty chính là nguồn gốc cơ bản của vốn đầu tư
2.2.Tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu Do đó những thayđổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản
Trang 6lượng và công ăn, việc làm Khi đầu tư tằng lên, có nghĩa là nhu cầu về chi
tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật liệu xây dựng …
tăng lên Sự thay đổi này làm cho đường tổng cầu dịch chuyển Trong hình
7.1 mô tả khi đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1 làm cho mức sản
lượng tăng từ Y0 đến Y1 và mức giá cũng biến động từ P0 đến P1
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy, thiết bị, phươngtiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế
Sự thay đổi này tác động đến tổng cung Trong hình 7.2 mô tả khi vốn sản xuất tăng
sẽ l m cho à đường tổng cung dịch chuyển từ AS0 đến AS1 l m cho mà ức sản lượngtăng từ Y0 đến Y1 và mức giá giảm từ P0 đến P1
Điều cần lưu ý là sự tác động của vốn đầu tư và vốn sản xuất đến tăng trưởng kinh
tế không phải là quá trình riêng lẻ mà nó là sự kết hợp, đan xen lẫn nhau, tác độngliên tục vào nền kinh tế
Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của
quá trình sản xuất Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đầu
ra của quá trình sản xuất Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản
xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn
Trang 7là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, góp phần đáng kể vàoviệc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất Việc tăng vốn đầu
tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao độngkhi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất Cuối cùng,
cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyểndịch cơ cấu nền kinh tế đất nước
II- Khái Quát chung về FDI
1 Khái niệm
Trong các hoạt động ĐT quốc tế thì FDI là một kênh chủ yếu của ĐT tưnhân FDI là một loại di chuyển vốn quốc tế dài hạn trong đó chủ vốn ĐTcũng đồng thời là người tham gia trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sửdụng đồng vốn của mình nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và những mụctiêu kinh tế - xã hội nhất định Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư bản,một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá
2-Phân Loại.
-Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức ĐT được nhà nước ta cho phép theo đó bên nước ngoài
và bên Việt Nam cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bênTrong thời gian thực hiện hợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi vànghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mỗi bên mà không tạo ra một pháp nhânmới và mỗi bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là phổ biến và có nhiều ưu thếđối với việc phối hợp sản xuất các sản phẩm có tính chất phức tạp và yêu cầu
kỹ thật cao đòi hỏi sự kết hợp thế mạnh của nhiều quốc gia
-Doanh nghiệp liên doanh
Trong luật ĐT nước ngoài quy định rõ doanh nghiệp liên doanh là doanhnghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác ký kết với nhau trong đó có một bên lànước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh và hợp tác ký kết giữa chính phủcủa nước sở tại với bên nước ngoài hay doanh nghiệp của nước sở tại vớidoanh nghiệp nước ngoài
Trang 8Theo hình thưc kinh doanh này hai hay nhiều bên tham gia góp vốn vìthế quyền hạn của các bên là khác nhau tuỳ thuộc vào số vốn mà mình đãtham gia vào hợp đồng liên doanh Bên nào nhiều vồn bên đó có quyền lớnhơn trong các vấn đề của doanh nghiệp cũng như được hưởng % ăn chiatrong các dự án Trong luật đầu tư nước ngoài quy đinh bên đối tác liên doanhphải đóng số vốn không dưới 30%vôn pháp định của doanh nghiệp liên doanhhoặc có thể nhiều hơn tuỳ theo các bên thoả thuận và bên Việt Nam có thể sửdụng mặt bằng và tài nguyên thiên nhiên để tham gia gốp vốn.Vốn pháp định
có thể được góp trọng một lần khi thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặctừng phần trong thời gian hợp lý Phương thức và tiến độ góp vốn phải đượcquy định trong hợp đồng liên doanh và phải phù hợp với giải trình kinh tế kỹthuật trường hợp các bên thực hiện không đúng theo thời gian mà không trìnhbày được lý do chính đáng thì cơ quan cấp giấy phép đầu tư có quyền thu hồigiấy phép đầu tư của doanh nghiệp đó.Trong quá trình kinh doanh các bênkhông có quyền giảm vốn pháp định
-Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Luật ĐT nước ngoài của Việt Nam quy định doanh nghiệp 100%vốnnước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay tổ chứcnước ngoài và tổ chức thành lập theo quy định pháp luật nước ta cho phéptrên cơ sở tự quản lý
Doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài được thành lập theo hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ta
đã ban hành Doanh nghiệp 100%vốn ĐT nước ngoài được thành lập sau khi
cơ quan có thẩm quyền về hợp tác ĐT nước sở tại cấp giấy phép và chứngnhận doanh nghiệp đã tiến hành đăng ký kinh doanh hợp pháp
Người đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn ĐT nước ngoài là Tổnggiám đốc doanh nghiệp Nếu Giám đốc doanh nghiệp không thường trú tạinước sở tại thì phải uỷ quyền cho người thường trú tại nươc sở tại đảmnhiệm Trong thực tế các nhà ĐT thường rất thích ĐT theo hình thức này nếu
có điều kiện vì rất nhiều lý do khác nhau trong đó quan trọng nhất là quyền tự
Trang 9quyết trong mọi vấn đề ,ít chịu sự chi phối của các bên có liên quan ngoại trừviệc tuân thủ các quy định do luật ĐT của nước sở tại đưa ra
3- Tác Động của ĐT Trực tiếp nước ngoài.
3.1.Đối với nước chủ ĐT.
- Các tác động tích cực
Đối với nước ĐT, FDI đem lại lợi nhuận cao hơn trong nước Đây là vấn
đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà ĐT Việc ĐT ra nước ngoài của cácnhà ĐT làm cho yêu cầu tương đối về lao động trong nước giảm hay năngsuất giảm.Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được khi đầu tư ra nước ngoài tăng,lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và tư bản tăng Vậy thu nhập từ việc ĐT
ra nước ngoài có sự tái phân phối thu nhập trong nước từ lao động thành tưbản FDI kích thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc Đặc biệt là khi
ĐT vào các nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu, khi công
ty mẹ cung cấp cho công ty con ở nước ngoài máy móc, linh kiện,phụ tùng,thiết bị…Nếu công ty của nước ĐT muốn chiếm lĩnh thị trường thì FDI tácđộng vào việc xuất khẩu các linh kiện tương quan, các sản phẩm tương quan
để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu.Đối với nhập khẩu, các nước ĐT ĐT trựctiếp vào ngành khai thác của nước chủ nhà sẽ có được nguyên liệu giá rẻ, vậtliệu dồi dào, ổn định với giá rẻ Trong điều kiện nhập khẩu ngang nhau, họ cóthể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác Nếu sử dụng giá laođộng rẻ từ nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuấtthành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhậpkhẩu Trong dài hạn, việc ĐT ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cựcđến cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư Đó là do việc xuất khẩu thiếtbị…và một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem ngoại tệ trở lại chonước ĐT, theo ước tính của các nhà chuyên môn thời gian hoàn vốn cho mộtdòng tư bản trung bình từ 5-10 năm FDI cho phép chủ ĐT bành trướng sứcmạnh về kinh tế, tăng cường khả năng ảnh hưởng của mình trên thị trườngquốc tế, nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được hàngrào bảo hộ mậu dịch của nước nhận đầu tư, giảm giá thành sản phẩm, tăng sứccạnh tranh với các hàng hóa nhập từ các nước khác
Trang 10- Các tác động tiêu cực: Nếu ĐT vào nơi có môi trường bất ổn về kinh tế
và chính trị, thì nhà ĐT nước ngoài dễ bị mất vốn FDI giúp cải thiện cán cânthanh toán quốc tế của nước đi ĐT nhưng đó là tác động trong dài hạn Trongngắn hạn, do sự lưu dộng vốn ra nước ngoài mà việc ĐT gây ra ảnh hưởngtiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế Nguyên nhân do trong năm
đó, chi tiêu bên ngoài của nước ĐT tăng lên và gây ra sự thâm hụt tạm thờitrong cán cân thanh toán ngân sách Vì vậy, nó khiến một số ngành trongnước sẽ không được ĐT đầy đủ Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo thấtnghiệp ở nước ĐT Do các nhà tư bản ĐT ra nước ngoài nhằm sử dụng laođộng không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển Điều này tấtyếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước
ĐT Và nước sở tại có thể xuất khẩu sang nước ĐT hoặc thay cho việc nhậpkhẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất hàng hóa cho mình càng làmcho guy cơ thất nghiệp này tăng lên Tóm lại, có một số tác động không tốttới cán cân thanh toán quốc tế hay làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của việc cácnhà tư bản đầu tư ra nước ngoài…song không vì thế mà khuynh hướng này cóchiều hướng bị giảm sút Để đáp ứng yêu cầu thực tế và vì những lợi ích tolớn và lâu dài mà hình thức ĐT này mang lại, nhất định FDI vẫn ngày càngđược phát triển mạnh mẽ
3.2- Đối với nước tiếp nhận ĐT.
- Tác động tích cực:
+FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tíchlũy nội bộ thấp, cản trở ĐT và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹthuật thế giới phát triển mạnh.Nó cũng có tác động lớn lao đối với quá trìnhcông nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển
+ Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đãchuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho nước tiếpnhận ĐT, do đó nước tiếp nhận ĐT có thể nhận được những công nghệ, kỹthuật tiên tiến hiệm đại, những kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing, độingũ lao động được đào tạo, rèn luyện về mọi mặt……
Trang 11+ Đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúcđẩy tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tạo điều kiện khaithác có hiệu quả các tiềm năng của đất nước Điều đó có tác động mạnh mẽđến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
+ Với việc tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, khôngchịu những rành buộc về chính trị, xã hội FDI góp phần tăng thu cho ngânsách nhà nước thong qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài Thôngqua hợp tác với nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhậpvào thị trường thế giới Như vậy các nước có khả năng tốt hơn trong việc huyđộng tài chính cho các dự án phát triển
- Tác động tiêu cực: xét về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia đemvốn đến đầu tư và hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặngngoại tệ cho các nước này, đặc biệt là sau các công ty này thu hồi vốn
+ Gần đây, do sự phát triển của khoa học công nghệ, lao động không lànhnghề trở nên có hiệu quả thấp Thực tế, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít
sử dụng Lao động tại chỗ ( trừ những doanh nghiệp gia công xuất khẩu,doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao động giản đơn dễ đào tạo) và để
hạ giá thành sản phẩm, họ sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bảnnhiều hơn Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngược lại với chiến lượcviệc làm của các nước đang phát triển
+ Trong việc thu hút FDI, các nước tiếp nhận vốn cũng chịu nhiều thiệt thòi.Các nghành công nghiệp mới mẻ , hiện đại của các nước công nghiệp pháttriển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị cácnước đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng nghànhhàng sản xuất mà nước đầu tư quyết định kinh doanh Không chỉ có vậy, sựdịch chuyển những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến tiêu hao nhiều nănglượng từ các nước đầu tư đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tàinguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức…
Tóm lại, trong việc thu hút FDI, nước sở tại vừa được lợi vừa bị thiệt Giảiquyết vấn đề này hài hòa như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách,sách lược và chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nếu nước sở tại
Trang 12xây dựng được một kế hoạch đầu tư cụ thể và khoa học thì việc thu hút cũngnhư sử dụng vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả rất cao.
4- Các Nhân Tố Tác Động Đến Việc Thu Hút FDI.
- Tình hình chính trị
Các nhà đầu tư thường tìm đến những quốc gia mà họ cảm thấy yên tâmkhông có những biến động về chính trị vì chính trị không ổn định sẽ ảnhhưởng tới dự án của họ và nhất là xác suất về rủi ro là rất cao, có thể dự án sẽkhông tiếp tục được thực hiện và không có cơ hội sinh lời, thậm chí còn cóthể sẽ mất khả năng thu hồi vốn Các biến động về chính trị có thể làm thiệthại cho các nhà đầu tư do có những quy định đưa ra sẽ khác nhau khi cónhững biến động chính trị vì khí thể chế thay đổi thì các quy định và các luật
có liên quan cũng hoàn toàn thay đổi và những hiệp định ký kết giữa hai bên
sẽ không còn do đó các nhà đầu tư phải gánh chịu hoàn toàn những bất lợi khixảy ra biến động chính trị Khi có chiến tranh xảy ra sẽ khiến cho các hoạtđộng kinh doanh ngừng trệ và có thể gây ra thiệt hại về cơ sở vật chất
Đây là yếu tố thường được các nhà đầu tư nước ngoài phải thường xuyênquan tâm theo dõi trước khi có nên quyết định đầu tư vào quốc gia này haykhông Những bất ổn về chính trị không chỉ làm cho nguồn vốn đầu tư bị kẹt
mà còn có thể không thu lại được hoặc bị chảy ngựơc ra ngoài Trong giaiđoạn hiện nay nước ta được coi là một nước có tình hình chính trị ổn địnhnhất, đây là lợi thế rất lớn cho chúng ta và chúng ta phải luôn tạo ra được sựtin tưởng từ phía các đối tác
- Chính sách - pháp luật
Luật pháp là những quy định đã được quốc hội thông qua, bắt buộc mọingười phải tuân theo và kể cả các đối tác tham gia đầu tư vào nước đó cũngphải tuân theo điều này Để quyết định tham gia đầu tư vào một nước nào đócác nhà đầu tư phải xem xét rất kỹ về yếu tố này vì nó liên quan trực tiếp tớicách thức thực hiện đầu tư dự án của mình mà còn ảnh hưởng tới phương ánkinh doanh của mình trong tương lai Các quốc gia muốn thu hút được cácnhà đầu tư tham gia đầu tư vào nước mình thì phải bằng cách nào đó từngbước hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình đặc biệt là hoàn thiện hệ thông
Trang 13luật đầu tư nước ngoài Ngoài sự kín kẽ không sơ xuất của hệ thống luật đầu
tư không có khe hở thì các nhà làm luật Việt Nam cũng còn phải chú ý tới cácquy định để không quá khắt khe đối với nhà đầu tư Các yếu tố quy địnhtrong pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn cho cácnhà đầu tư, bảo đảm pháp lý đối với tài sản tư nhân và môi trường cạnh tranhlành mạnh, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận về nước cho các nhà đầu tưđược dễ dàng Nội dung của hệ thống luật ngày càng đồng bộ , chặt chẽ ,không chồng chéo , phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả nănghấp dẫn các nhà đầu tư sẽ cao hơn hiện nay rất nhiều
Về mức độ hoàn thiện của chính sách
Qua thời gian thực hiện và điều chỉnh sẽ làm cho các chính sách dầnhoàn thiện và phù hợp.Với các nước mới thực hiện Chính sách đầu tư dokinh nghiệm còn ít trong lĩng vực này và chưa hoàn thiện chính sách thu hútvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì đóng góp của nó không phải nhiều songnhững gì mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại không phải là nhỏ, nếuđưa ra được chính sách đầu tư hợp lý không những sẽ thu hút được nhiều vốn
mà còn làm cho các dự án phát huy hết hiệu quả của mình, góp phần vào pháttriển kinh tế xã hội trong tương lai và từng bước tạo nền tảng kinh tế vữngtrắc phục vụ cho nền kinh tế có đà phát triển tốt hơn
Không chỉ chính sách đầu tư mà sự kết hợp chính sách này với nhữngchính sách khác một cách hợp lý và nhịp nhàng cũng ảnh hưởng không nhỏ đếncông tác thu hút vốn đầu tư Chính sách thương mại thông thoáng theo hướng
tự do hoá để bảo đảm khả năng xuất nhập khẩu về vốn cũng như về máy mócthiết bị, nguyên liệu sản xuất được tiến hành một cách dễ dàng hơn, giúp cácnhà đầu tư thực hiện các công đoạn đầu tư được một cách liên tục và không bịgián đoạn, điều này sẽ tạo ra được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Ngoài ra một vấn đề khác cũng được các nhà đầu tư nước ngoài quantâm, đó là định hướng đầu tư của nước chủ nhà Vì các nhà đầu tư nước ngoàithường có chiến lược kinh doanh dài hạn nên họ rất cần sự rõ ràng, ổn địnhtrong định hướng đầu tư của nước chủ nhà
Trang 14- Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tư nhiên bao gồm các yếu tố về khoảng cách,địa điểm, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số Đây là những yếu tố tácđộng quan trọng đến tính sinh lãi hay rủi ro của các hoạt động đầu tư
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vậnchuyển, đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệuphong phú với giá cả rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn Các yếu tố này khôngnhững làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tưtìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ Đây là lợi thế nổi bật củacác nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, mức độ hấp dẫncòn phụ thuộc vào chất lượng của thị trường lao động và sức mua của dân cư
- Trình độ phát triển kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế là các mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ
mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanhcủa nhà ĐTNN và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà Có thể nóiđây là các yếu tố có tác động mạnh hơn các chính sách ưu đãi về tài chính củanước chủ nhà đối với các nhà đầu tư
- Đặc điểm phát triển văn hoá - xã hội
Đặc điểm phát triển văn hoá - xã hội của nước chủ nhà được coi là hấpdẫn FDI nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ,tôn giáo, các phong tục tập quán với các nhà ĐTNN Các đặc điểm này khôngchỉ giảm được chi phí đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà ĐTNN mà còn tạođiều kiện thuận lợi cho họ hoà nhập vào cộng đồng nước sở tại
4-Vai Trò của FDI với nền kinh tế Việt Nam.
- Tạo vốn để phát triển, nâng cao trình độ quản lý, tạo công ăn việc làmcho người lao động
Trong vài năm gần đây, rất nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài đã bắt đầu có lãi Đó là một nhân tố đáng khích lệ trong 9 tháng đầunăm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,19
tỷ USD, bằng 87,3% so với cùng kỳ 2009
-Số vốn FDI thực hiện ở Việt Nam thời dian qua( nguồn: tổng cục thồng kê)