Tìm hiểu làng và văn hoá làng.Trong truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc, có rất nhiều thành tố văn hoá như: văn hóa biển, văn hoá cung đình, văn hoá TâyNguyên… Nhưng văn hoá làng là
Trang 11 Tìm hiểu làng và văn hoá làng.
Trong truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc, có rất nhiều thành
tố văn hoá như: văn hóa biển, văn hoá cung đình, văn hoá TâyNguyên… Nhưng văn hoá làng là một thành tố có vị trí đặc biệt quantrọng, được đánh giá “là cái gốc của văn hoá dân tộc”.Không phải chỉ có
ở Việt Nam mới có làng, nhưng văn hoá làng là một đặc điểm độc đáocủa văn hoá truyền thốngViệt Nam
Cho đến ngày nay, các nhà nghiên cứu sử học vẫn chưa xác định rõlàng xuất hiện từ khi nào nhưng một điều chắc chắn làng hình thành từ rất
xa xưa, có cội nguồn từ chính đời sống Việt, được biểu đạt trong ngônngữ thuần Việt Thuật ngữ này phản ánh sự tồn tại của một kiểu cộngđồng cố kết trên cơ sở một vùng địa lý với các thành viên riêng biệt của
nó Những thành viên khẳng định vai trò của mình thông qua vị trí là dânbản quán hay dân ngụ cư, gắn kết về mặt huyết thống nhiều hay ít với các
cư dân khác trong làng Cộng đồng này có lối sống riêng và thường là cóđặc trưng riêng về tâm lý, đặc điểm và truyền thống so với các cộng đồngkhác
Trong lịch sử làng không phải là một đơn vị hành chính Xã mới làđơn vị hành chính Xã không phải là từ thuần Việt mà là từ Hán Việt Xã
có thể chỉ bao gồm một làng nhưng thường thường xã bao gồm vài ba
Trang 2làng Xã không phải là cái gì đó cao hơn hoặc quyền uy hơn làng mà làmột thực thể xã hội khác, mang cấu trúc chính trị xã hội khác với làng.Người xưa có câu “phép vua thua lệ làng” là để nói lên vai trò cũng nhưquyền lực của làng.
Về kinh tế: làng là một đơn vị quản lý và phân cấp công điền, côngthổ cho dân bản quán Có làng còn có những nghề thủ công riêng, giữ bímật nghề nghiệp với người làng khác
Về bình diện hành chính, xã là thiết chế có tính chất pháp lý Cònđối với người dân bình thường của hàng bao thế kỷ thì người ta chỉ biết
có làng Các chỉ dụ, luật pháp…của triều đình, các thể chế, quy định của
xa, thôn… đều thể hiện sức mạnh thông qua làng
Làng có bộ máy kỳ hào, chức dịch trông coi mọi việc trong làng,đối nội và đối ngoại Làng có luật lệ riêng,có khi trái cả với luật phápnhà nước: phép vua thua lệ làng, kỳ hào có thể tổ chức thành một thứpháp định riêng của làng để phạt vạ… Tập tục làng, truyền thống làng làchất keo đặc thù gắn kết mọi thế hệ thành viên của làng Làng có thànhhoàng làng, có đình miếu có ruộng tế, có kho đồ tế, thành một đơn vị cótính tôn giáo Làng không chỉ được duy trì bằng tổ chức chặt chẽ (sổđinh, công điền, bộ máy quản chế, tôn giáo) mà còn bằng tình nghĩa làngxóm láng giềng Và trong nội bộ làng còn có tổ chức họ, ràng buộc với
Trang 3nhau không những bằng tình máu mủ mà còn bằng tổ chức nội bộ(hương hoả, tự điền, tộc trưởng, các bậc cha chú…) Làng - họ được tổchức như vậy có quy mô vừa phải để tổ chức việc tương trợ nhau tronghoạn nạn, khó khăn (ốm đau, ma chay, cưới xin…) Đó cũng là đơn vị
để làm nghĩa vụ với nhà nước: đi phu, đi lính, nộp thuế Khi có chiếntranh làng và luỹ tre làng bao bọc, với nền kinh tế tự túc, với lực lượngtrai tráng được các bô lão chỉ dẫn, thành một chiến luỹ…
Làng ổn định rất lâu dài Dù dưới triều đại nào, dù phải ứng xử vớingười cai trị là bản địa hay người ngoại bang, theo văn minh phươngĐông hay phương Tây, làng vẫn tồn tại một cách tự nhiên với sự cố kếtcộng đồng đầy bản sắc của nó Cái làm nên sự cố kết cộng đồng đặc thù
ấy chính là văn hoá làng
Văn hoá làng được hiểu là tổng thể các biểu hiện và các giá trị vănhoá được thể hiện trong một nhóm người cùng chung một không giancộng cư được gọi là làng
Do vị trí của làng trong đời sống mà văn hoá cũng có đơn vị làlàng, có quy mô làng xã Với đơn vị là làng, văn hoá làng mang một sốnét đặc thù sau :
Trang 4 Ý thức đoàn kết cộng đồng rất cao và thể hiện ở nhiều mặt củacuộc sống (trong lao động sản xuất cũng như trong sinh hoạt tinhthần…), từ ý thức này đã thúc đẩy tính dân chủ làng xã.
Ý thức tự trị thông qua các lệ làng và hương ước
Diện mạo văn hoá: Tuỳ vào điều kiện môi trường tự nhiên, nềnếp sinh hoạt và cách ứng xử riêng của từng làng mà mỗi làng sẽ có đặcđiểm để tự hào (đất lề quê thói)
Đa thần giáo là đặc điểm nổi bật trong đời sống tín ngưỡng ởlàng Mỗi làng thường có đình, chùa, miếu…
Làng không chỉ là sản phẩm của một nền tổ chức chính trị nhànước mà nó còn là sản phẩm văn hoá mang bản sắc người Việt Từ baođời nay, văn hoá làng vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn, biểu hiệnthông qua yếu tố: văn hoá vật chất (ẩm thực, chợ làng, làng nghề truyềnthống,…) và văn hoá tinh thần (gia phả, hương ước, hội hè đình đám,những làn điệu dân ca dân vũ, phong tục tập quán,…) (việc phân chiacác yếu tố trên chỉ mang tính chất tương đối) Đó là những nhân tố tạonên bản sắc văn hoá làng
2 Biểu hiện cụ thể của văn hoá làng.
2.1.Văn hoá vật chất.
Trang 5a Làng nghề truyền thống.
Ở các làng quê Việt Nam có rất nhiều làng nghề truyền thống như:làng gốm Phù Lãng, làng gò giát đồng Đại Bái, làng đúc đồng Đề Cầu,làng ép dầu Đại Bình, làng tranh Đông Hồ, làng giấy gió Phong Khê,làng rèn Đa Hội… Mỗi làng nghề đều có bí quyết công nghệ và quy ướctruyền nghề riêng Nếu trước đây gốm Thổ Hà thường để mộc thì gốmPhù Lãng được phủ một lớp men có màu da lươn hoặc quy trình và kỹthuật làm tranh của làng Đông Hồ cũng không giống với cách làm tranhcủa các nghệ nhân Hàng Trống (Hà Nội)… Có thể nói rằng nghề thủcông thể hiện một phương diện của truyền thống văn hoá làng Gĩư gìn
và phát huy nghề thủ công truyền thống cổ truyền là góp phần giữ gìntruyền thống văn hoá dân tộc
Ngày nay có nhiều làng nghề, do nắm được nhu cầu và thị hiếu củakhách hàng, do áp dụng khoa học kỹ thuật nên làng nghề đã khôngnhững tồn tại mà còn phát triển, trở thành những làng giàu có như lànggốm Phù Lãng, làng làm đồng Đại Bái… Như vậy, làng nghề thủ côngtruyền thống phát triển đã tạo ra việc làm cho người dân; góp phần giữgìn truyền thống văn hoá làng
b Văn hoá ẩm thực
Trang 6Từ bao đời nay cư dân các làng xã đã biết tận dụng những sản vậtsẵn có của địa phương để chế biến thành các món ăn phục vụ cho bữa ănhàng ngày Ngoài các món ăn bình thường, nhiều làng còn có các món
ăn đặc sắc, góp phần tạo nên sắc thái văn hoá thiêng liêng của làngmình: bánh xu xê Đình Bảng, chả chó làng Dền, cỗ làng Cựu Tự, tômchua Đồng Hới, bánh đậu xanh Hải Dương,… Những món ăn này, ngàynay dân làng vẫn duy trì, có món ăn được khách nước ngoài rất ưachuộng
Ta có thể thấy các món ăn thường là những món ăn bình dị nhưngrất đậm đà phong vị làng quê Việt Nam, ngon miệng lại giàu chất dinhdưỡng
c Chợ quê.
Nhắc đến làng quê không thể không nhắc đến cái chợ Chợ là nơilưu giữ tổng thể những nét văn hoá cũng như tục lệ của người dân nơiđó
Chợ quê không chỉ dừng lại ở việc trao đổi mua bán hàng hoá, đâycòn là những nét văn hoá làng được thể hiện qua đời sống hàng ngày củangười dân quê Thông qua hoạt động mua bán, trao đổi thông tin mà chợtrở thành nơi các phong tục văn hoá khác nhau tìm đến tiếng nói chung.Một phần đời sống của người dân quê được khắc hoạ và thể hiện qua cái
Trang 7chợ làng Những chuyện hàng ngày của mỗi gia đình, mỗi người đềuđược thông tin qua cái chợ Người làng đi chợ cũng là dịp để họ gặpnhau, hỏi thăm nhau.
Nhắc đến chợ làng phải nhắc đến chợ làng ngày Tết Chợ làngngày Tết còn là dịp gặp gỡ người xa xứ Người Việt có một đặc điểm dù
đi đâu, làm gì và ở đâu thì hết năm thường về quê ăn Tết Người xa quêthích nhất được đi sắm Tết ở chợ làng, họ muốn mua những nải chuốiquê, những quả cau, lá trầu để cúng tổ tiên Rồi họ rủ nhau đi mua ládong, lá chuối để gói bánh chưng, bánh gai, mớ rau củ hành để ăn trong
ba ngày Tết Tất cả đều là sản phẩm của người dân quê
Chợ quê đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và pháttriển văn hoá làng Nó không chỉ tồn tại như một sự vật được tái hiệnhàng ngày mà còn là một nét văn hoá được truyền từ đời này sang đờikhác
2.2 Văn hoá tinh thần.
Trang 8xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu Bởi thế, việc thờ cúng cha
mẹ, tổ tiên có ý nghĩa đặc biệt thiêng liêng Ngoài việc cúng giỗ thì việcthờ cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng 1, ngàyrằm, dịp lễ Tết và bất kỳ khi nào trong nhà có việc dựng vợ gả chồng,sinh con, làm nhà… đều thắp hương tưởng nhớ đến ông bà, tổ tiên cầumong phù hộ mọi việc đều tốt đẹp
*Thờ Thành Hoàng làng.
Thờ Thành Hoàng làng là thờ những người có công khai khẩn và
có những đóng góp to lớn cho làng Thờ Thành Hoàng làng được coi làbiểu tượng khởi nguyên của làng với những nghi lễ trọng thể nhất
* Thờ các vị thần khác.
Ngoài thờ Thành Hoàng làng, một số nơi dân làng còn tổ chức thờcác vị thần khác: thờ thần tự nhiên (trời, đất, sông, núi); thờ Thổ công;thờ Táo quân…Ở những làng nông nghiệp thì cư dân thường thờ thầnNông
Song song với việc thờ thần là việc sùng bái các hiện tượng tựnhiên Người dân còn có tục đặt lư hương ở các gốc cây đa, cây bồ đềcũng như cây cao bóng mát xung quanh đình (chùa, miếu, đền,…) Họcòn tôn thờ các con vật có liên quan đến công việc làm ăn như: ở các
Trang 9làng biển có tục thờ cúng cá voi (cá Ông); ở các làng miền núi thờ thầnNúi và ông Khái (cọp).
Qua việc đó chúng ta thấy được việc thờ cúng ở các làng chủ yếu
đề cao lòng kính trọng thiêng liêng của con người trong các hiện tượngcủa cuộc sống một cách sâu sắc hơn
b Các công trình kiến trúc, kiến trúc điêu khắc cộng đồng làng xã.
Cùng với quá trình hình thành làng xã đã có những công trình kiếntrúc phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng và tôn giáo của công đồng cư dân
Ở mỗi làng quê Việt Nam đều có một cái đình, một ngôi đền, ngôi chùathờ Phật và các vị thần khác
Đình làng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng bàn việc làng (chứcnăng hành chính); tổ chức lễ hội, sinh hoạt văn hoá (chức năng văn hóa)
và cũng là nơi thờ Thành Hoàng làng hay tiền khai canh của làng (chứcnăng tâm lý) Các công trình đình làng đều có kiến trúc khá lớn, thườngxây dựng ở vị trí có cảnh quan sơn thuỷ hữu tình, ngoại mục thể hiệnược vị thế và ý chí thăng trưởng Chùa là kiến trúc thứ 2 sau đình làng…
Ví dụ: Ví dụ đình Diềm (Viêm Xá), đình chùa Đồng Kỵ, đình chùaHồi Quan, đình Đình Bảng…với hàng ngàn tấm bia, cây hương, câu đối,hoành phi mang giá trị tư liệu về lịch sử, phong tục, địa lý…rất quý màchúng đã được làng lưu giữ từ đời này sang đời khác Gỉa sử nếu không
Trang 10được những người dân trong làng bảo vệ, giữ gìn thì đến các thế hệ saukhó mà được chiêm ngưỡng các tác phẩm : Tượng A Di Đà ở chùa PhậtTích, Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay….
c Phong tục tập quán làng xã.
Trong đời sống cộng đồng làng xã Việt Nam, có lẽ không có mộtnơi nào là không có lễ hội (hội làng) Lễ hội là hình ảnh thu nhỏ nét vănhoá làng người Việt nói chung và từng làng từng xóm nói riêng
Hội làng ở các làng quê Việt Nam thường được tổ chức vào mùaxuân Như thường lệ cứ mỗi độ xuân về, khi đất trời giao hoà, thiênnhiên tươi tốt, khi con người tạm khép lại những vất vả lo âu của cuộcsống đời thường sau một thời gian lao động mệt nhọc, người dân lại háohức trong không khí đón xuân
Lễ Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc ViệtNam Có thể nói hội làng mang tính cộng đồng sâu sắc, đó là đỉnh caocủa sự hoà hợp, đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinhcủa làng xã
Theo quan niệm truyền thống của văn hoá làng, ngày Tết đầu xuân
là ngày hội tụ đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng,ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình gia đình, tìnhxóm làng, bạn bè… Tết cũng là dịp tổng kết mọi hoạt động của một năm
Trang 11qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm mới với hy vọng tốt lànhcho cả nhân và cộng đồng.
Lễ hội mùa xuân của từng làng quê hiện nay thường được mởtrong 3 ngày Ngày đầu là lễ nhập tịch (mở cửa đình), ngày thứ hai(chính hội) gồm các nghi lễ như: Rước ngai kiệu, tế lễ, dâng hương vàcác trò vui Ngày thứ ba: Làm lễ tế dã, hoặc rước lại (kết thúc hội).Trong những ngày “đại sự” của làng, nội dung chủ yếu được chia ralàm hai phần rõ rệt: Phần lễ và phần hội
Phần lễ cơ bản là giống nhau: rước bài vị Thành Hoàng làng, rướcnước, tắm Phật, tế lễ
Trong tiếng trống hội xuân rộn rã thúc giục, khắp xóm ngõ làngquê bừng lên một niềm vui nhộn nhịp Người người tấp nập đội lễ rađình, đền, chùa thành tâm cung kính Với niềm tâm linh, hoài vọngtưởng nhớ người xưa, với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, ai đứngtrước đình cũng muốn bày tỏ tấm lòng chân thật tôn kính Mặc dù làđời sống tâm linh tín ngưỡng, song việc “làm lễ” trong ngày hội lànglại có ý nghĩa giáo dục cao! Nó làm cho con người ta gạt bỏ đi hết mọiđiều ác mà hướng thiện Làm tan biến những nỗi ưu tư, phiền muộn,
lo lắng, những toan tính trong cuộc sống thường ngày để có được nỗilòng thanh thản, vô tư, đồng thời cũng nhắc nhở cho bản thân và cũng
Trang 12răn dạy cho con cháu làng mình biết nhớ và tôn kính các vị thánhhiền, tiền nhân đã có công với nước, với dân Đó cũng là niềm tự hàocủa gia đình, dòng họ và quê hương làng xóm mình Tất cả mọi nghi
lễ, rước, tế, dâng hương tưởng niệm, đều nói lên tấm lòng thànhkính, biết ơn của dân làng đối với người xưa
Phần lễ ở trong đình (đền, chùa) trang trọng và tôn nghiêm làvậy, ngược lại ở bên ngoài thì phần hội thật là vui nhộn, sôi nổi Phầnhội là phần có nội dung phong phú, có sức hấp dẫn và thể hiện rất rõ bảnsắc văn hoá làng Phần hội mỗi làng một khác nhau: nơi tổ chức thi nấucơm (Đình Bảng), nơi tổ chức thi pháo (Đồng Kỵ), nơi tổ chức bơi chải(Vọng Nguyên), nơi thi dệt vải (Đại Mão), nơi tổ chức thi hát quan họ(Viêm Xá)… và các trò chơi khác như: đánh đu, đánh vật, đánh cờngười, bắt trạch trong chum… Hiện nay các làng Việt hầu hết người tacòn giữ được nội dung của lễ hội xưa
Như vậy thông qua các hình thức lễ hội đó, đời sống sinh hoạtcũng trở nên phong phú, góp phần phong phú văn hoá của làng Nếu vănhoá làng là hình thức thì hội làng chính là nội dung tái hiện lại nét vănhoá truyền thống của làng Từ hội làng ta có thể thấy bản sắc văn hoácủa làng và chính văn hoá làng tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam
d Văn hoá dân gian.
Trang 13Người Việt ở các làng trong quá trình lao động sản xuất ra của cảivật chất đã sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần rất phong phú vàđặc sắc, mang đậm màu sắc dân gian truyền thống của từng làng quê.Làng Việt chính là nơi lưu giữ được các sinh hoạt văn hoá dân giantruyền thống Đó là làng tuồng Tấn Bào, làng tuồng Đa Hội (Tiên Sơn),làng múa rối nước Đồng Ngư (Thuận Thành), các làng quan họ, háttrống quân, hát đối trên đình, đền, chùa và dưới thuyền, tối có “chiếuchèo” hoặc giao lưu văn nghệ, thơ ca Nói chung có nhiều hình thứcsinh hoạt văn hóa mang đậm màu sắc dân gian truyền thống Nhữngchàng trai, cô gái làng quê, thường ngày là những thợ cày, thợ cấykhỏe mạnh, đảm đang, đêm hội làng hóa thân thành những ông hoàng,
bà chúa oai phong, lộng lẫy hoặc trở thành những liền anh, liền chịquan họ đã hát hay, múa dẻo, lại rất thạo việc ruộng đồng
Nhìn chung các loại hình văn hoá dân gian trên đều nhằm hướngtới một đời sống tinh thần phong phú, làm cho con người quên đinhững nỗi nhọc nhằn trong lao động, sự khổ ải trong cuộc sống vàvững tin hơn trong cuộc đấu tranh với tự nhiên – xã hội Qua đó, họcầu mong một mùa làm ăn mưa thuận gió hoà, sóng yên biển lặng,khoai lúa đầy đồng, tôm cá đầy khoang, cuộc sống may mắn ấm nohạnh phúc
Trang 14e Luật tục cổ truyền.
Ra đời cùng với sự phát triển của làng xã, Hương ước, Khoánước, Hương lệ, Lệ làng có vai trò to lớn trong đời sống xã hội Có thểnói đó là “cương lĩnh và nếp sống” của từng cộng đồng dân cư, là sợidây cố kết các tổ chức và thành viên trong làng, góp phần xác định vàđiều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên trong làng với cộngđồng và các thành viên trong cộng đồng với nhau
Quan hệ xã hội giữa người dân trong làng được quy định bởinhững quy ước về việc cư xử giữa người với người trong làng xã.Những điều khoản này chiếm phần lớn trong các bản Hương ước Nộidung chủ yếu của những điều khoản đó đề cao tinh thần đoàn kếttương thân tương ái, gìn giữ quan hệ tốt đẹp, không làm gì xấu ảnhhưởng tới cả làng
Ví dụ: Điều 71 Hương ước làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) quy định:mọi người phải đến giúp đỡ người khác lợp nhà, đưa ma… mà khôngcần lời mời; Điều 83 lại ghi ai gặp người già mà không giúp sức mangvác thì bị phạt
Lệ làng còn có những điều khoản quy định hạn chế hiện tượngkéo bè kéo cánh, cậy quyền ỷ thế trong việc giải quyết các công việccủa làng, chống vu cáo như: Khoán ước làng Dương Liễu (Hà Tây)