Nhằm giúp các em có thể ghi nhớ bài một cách nhanh nhất, có hiệu quả nhất; Đồng thời hình thành cho các em thói quen tư duy logic, tránh học “vẹt”, học “ thuội”, qua đó, các em có thể tá
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRỰC QUAN ĐƠN GIẢN TRONG
GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI GDCD
LỚP 12
Trang 2A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết, tất cả các môn học được đưa vào giảng dạy đều có một ý
nghĩa riêng, mang một sắc thái riêng của nó, song môn giáo dục công dân(GDCD)
là môn học góp phần rất lớn trong việc đào tạo các thế hệ học sinh thành những con người có phẩm chất tốt đẹp, có lập trường chính trị vững vàng, có thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, có ý thức trách nhiệm cao đối với Tổ Quốc, đối với nhân dân, đối với gia đình và chính bản thân mình
Nhưng trên thực tế hiện nay, trở ngại lớn nhất đối với việc dạy môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Sinh Cung nói riêng và trường THPT nói chung là phần lớn học sinh đều cho rằng môn GDCD là “môn phụ”, không cần thiết phải học Đặc biệt
là học sinh khối 12, các em hầu như đặt hết thời gian và sự quan tâm của mình đối với các môn thi tốt nghiệp, đại học do vậy, một số em đã bàng quan với môn học, lười học bài, nếu học thì cũng chỉ mang tính chất đối phó, làm cho chất lượng và hiệu quả dạy học môn GDCD chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng: Không phải các em học sinh 12 đều “ quay lưng” lại với môn học này mà như các em nói: “ Em thích giờ học GDCD nhưng không thích việc học bài cũ ở nhà” hoặc là: “ Bài học GDCD dễ hiểu nhưng dài nên nhác học”…
Trước tình hình đó, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, ngoài việc lôi kéo các em vào mỗi tiết học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình khám phá tri thức tôi luôn cố gắng động viên, khuyến khích và tìm giải pháp để kích thích tính tích cực của học sinh trong việc học bài, ghi nhớ bài cũ Nhằm giúp các em có thể ghi nhớ bài một cách nhanh nhất, có hiệu quả nhất; Đồng thời hình thành cho các em thói quen tư duy logic, tránh học “vẹt”, học “ thuội”, qua đó, các em có thể tái hiện, vận dụng kiến thức một cách có hệ thống, đầy đủ, chính xác, tạo cho các em có cảm giác hứng thú hơn đối với việc học môn GDCD
Đó là lý do tôi chọn viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “ Sử dụng hình ảnh trực
quan đơn giản trong giảng dạy một số bài GDCD lớp 12”
II MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1 Mục đích: Nhằm góp phần giúp các em hình thành thói quen tư duy logic, ghi nhớ kiến thức bài học một cách nhanh nhất, có hệ thống, đầy đủ nhất, nhằm nâng cao hiệu quả của bài học GDCD
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài: Chỉ giới hạn trong một số bài GDCD 12 vì bản thân đang giảng dạy khối 12 và đã thử nghiệm thành công khi áp dụng
Trang 3B/ NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
Hình ảnh trực quan đơn giản là những hình ảnh có thể trình bày ngay, trình bày nhanh trong quá trình giảng dạy Hình ảnh trực quan đơn giản có thể được vẽ nhanh trên bảng bằng phấn màu hoặc phấn trắng, hoặc có thể vẽ trước trên giấy khổ lớn và được sử dụng khi giảng bài
Hình ảnh trực quan đơn giản có liên quan đến việc làm rõ bản chất của pháp luật, mối quan hệ giữa pháp luật với các yếu tố khác, hoặc để làm rõ nội dung của một số quyền được pháp luật quy định Đó có thể là một sơ đồ hoặc một bảng tóm tắt đơn giản
Sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản cho phép nâng cao hiệu quả bài dạy học
mà không cần phải tốn nhiều tiền để chuẩn bị đồ dùng dạy học, nhưng đòi hỏi giáo viên phải chịu khó tìm tòi để đưa ra được những hình ảnh trực quan đơn giản hiệu quả nhất
2 Cơ sở thực tiễn:
Sau hai năm đổi mới chương trình sách giáo khoa, gắn liền với đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, cùng với việc kết hợp các phương pháp dạy học như: Đàm thoại, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, phương pháp tình huống,…tôi cũng đã đưa vào sử dụng một số hình ảnh trực quan đơn giản
Sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ bài, sáng
tỏ được bản chất pháp luật, khắc sâu được kiến thức của các quyền cơ bản, giúp học sinh củng cố bài học, học bài, làm bài tập và vận dụng kiến thức tốt hơn
Cụ thể:
- Bằng một sơ đồ đơn giản có thể cho học sinh thấy được mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, hoặc mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế
- Bằng một bảng tóm tắt đơn giản có thể giúp học sinh nắm được nội dung của một số quyền của công dân
- Có thể sử dụng hình thức trực quan đơn giản để hướng dẫn cho học sinh làm bài tập ( Hướng dẫn hoàn thành nội dung bài tập theo mẫu tóm tắt có sẵn ở bảng hệ thống)
Trang 4VÍ DỤ:
*Ví dụ 1: Bằng một sơ đồ đơn giản có thể cho học sinh thấy được mối quan hệ
giữa pháp luật và đạo đức, hoặc mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế
Bài 1- PHÁP LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG
Tiết PPCT: 2
Nội dung tiết 2:
II Bản chất của pháp luật:
1 Bản chất giai cấp của pháp luật: Không áp dụng
2 Bản chất xã hội của pháp luật: Sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản
Cách thực hiện:
Giáo viên có thể sử dụng hệ thống câu hỏi:
1) Vì sao pháp luật lại quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi
trên mô tô, xe máy? ( Đặt câu hỏi tương tự với một số quy định luật khác)
2) Dựa vào đâu để Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật? ( Pháp luật bắt
nguồn từ đâu?)
3) Những quy định của pháp luật nhằm tác động vào đâu?
4) Có phải tất cả các quy định của pháp luật đều tác động tích cực đến đời sống
xã hội? Tại sao?
Trong quá trình học sinh trả lời, giáo viên(GV) ghi nhận, thể hiện ý kiến của học
sinh (HS) bằng cách hệ thống thành sơ đồ
Cụ thể:
HS trả lời câu 2), GV ghi nhận: Xây dựng HS trả lời câu 3), GV ghi nhận: Xây dựng
Tác động HS trả lời câu 4), GV ghi nhận:
Xây dựng
Tiêu Tích Thực tiễn
xã hội Pháp luật Thực tiễn
xã hội Pháp luật Thực tiễn
xã hội
Pháp luật
Trang 5cực cực
Tác động Trên cơ sở sơ đồ GV mời một HS trả lời tại sao nói pháp luật mang bản chất xã hội?
HS dựa vào sơ đồ, kết luận: Pháp luật mang bản chất xã hội vì:
- Các quy phạm pháp luật bắt nguồn từ thực tiễn đời sống xã hội;
- Các quy phạm pháp luật được thực hiện trong thực tiễn đời sống xã
hội vì sự phát triển của xã hội
- Sự tác động của pháp luật đối với đời sống xã hội diễn ra theo hai
hướng: tích cực (nếu phù hợp), tiêu cực ( nếu không phù hợp)
HS chỉ cần vẽ sơ đồ vào vở
III Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức:
1 Quan hệ giữa pháp luật với kinh tế: Sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản
GV giảng: Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế là mối quan hệ biện chứng, hai
chiều, xâm nhập vào nhau, tác động lẫn nhau, cùng thúc đẩy nhau phát triển Nhưng
trước hết, pháp luật phụ thuộc vào kinh tế
Ví dụ: Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa các chủ thể kinh tế là quan hệ
bình đẳng, tự thỏa thuận thì nội dung của pháp luật cũng phải thể hiện nguyên tắc
bình đẳng, tự thỏa thuận của các chủ thể, không được quan hệ theo quan hệ hành
chính, mệnh lệnh
Thể hiện bằng sơ đồ:
Quy định Phù hợp Thúc đẩy kinh tế phát triển
Pháp luật Kinh tế
Tác động Không phù hợp Kìm hãm kinh tế phát triển
Nội dung giảng:
- Các quan hệ kinh tế quyết định nội dung của pháp luật, sự thay đổi các
quan hệ kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi nội dung của pháp luật;
- Pháp luật lại tác động ngược trở lại đối với kinh tế, có thể theo hướng
tích cực hoặc tiêu cực Nếu pháp luật có nội dung tiến bộ, được xây dựng phù hợp với các quy luật kinh tế, phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế thì nó có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, kích thích kinh tế phát triển; Ngược lại, nếu pháp luật có nội dung lạc hậu, không phù hợp với các quy luật kinh tế thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế
HS chỉ cần vẽ sơ đồ vào vở ghi bài
Giáo viên lấy ví dụ minh họa, giúp HS nắm kỹ bài hơn
Trang 62 Quan hệ giữa pháp luật với kinh tế: Không áp dụng
3 Quan hệ giữa pháp luật với đạo đức: Sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản
Nội dung: Trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, Nhà nước luôn cố gắng chuyển những quy phạm đạo đức có tính phổ biến, phù hợp với sự phát triển
và tiến bộ xã hội thành các quy phạm pháp luật Làm cho các quy phạm đạo đức ấy trở thành các quy phạm pháp luật
Cách thực hiện: GV hướng dẫn HS thực hiện tuần tự các bước sau:
1) GV sử dụng phương pháp động não: Cho hai dãy HS lên ghi ở hai phần bảng
* Phần bảng 1- dãy 1: Nêu các quy tắc xử sự của pháp luật mà thường
ngày chúng ta phải thực hiện?
* Phần bảng 2- dãy 2: Nêu các quy tắc xử sự của đạo đức mà thường ngày
chúng ta phải thực hiện?
2) GV cho cả lớp nhận xét các câu trả lời ở hai phần bảng
3) GV nhấn mạnh ở những quy tắc vừa là đạo đức, vừa là pháp luật Giải thích làm rõ
4) GV đặt câu hỏi: Theo các em, giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ như thế nào?
5) HS trả lời
6) GV hỏi: Nếu sử dụng hình vẽ để mô tả mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, em sẽ mô tả như thế nào?
7) HS sẽ thể hiện được bằng sơ đồ sau:
Với việc sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản, hiệu quả của bài dạy được nâng cao
rõ rệt, học sinh hứng thú với bài giảng hơn, các em nắm vững kiến thức dễ dàng hơn
Đạo đức
Pháp luật
Trang 7*Ví dụ 2: Bằng một bảng tóm tắt đơn giản có thể giúp học sinh nắm được nội
dung của một số quyền của công dân
Bài 8- PHÁP LUẬT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG DÂN
Tiết PPCT:24
I Quyền học tập, sáng tạo và phát triển của công dân:
1 Quyền học tập của công dân:Sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản
Cách thực hiện:
GV chuẩn bị bảng hệ thống kiến thức từ trước
GV: Tổ chức học sinh thảo luận nhóm Hướng dẫn HS sử dụng tài liệu tham
khảo trong quá trình thảo luận
Chia lớp thành 4 nhóm Nội dung thảo luận:
Nhóm 1: Em hiểu thế nào là quyền học không hạn chế? Văn bản pháp luật nào
quy định quyền này đối với mọi công dân?
Nhóm 2: Em hiểu thế nào là quyền học bất cứ ngành nghề nào? Văn bản pháp
luật nào quy định quyền này đối với mọi công dân?
Nhóm 3: Em hiểu thế nào là quyền học thường xuyên, học suốt đời ? Văn bản
pháp luật nào quy định quyền này đối với mọi công dân?
Nhóm 4: Em hiểu thế nào là quyền được đối xử bình đẳng về cơ hội học tập? Văn
bản pháp luật nào quy định quyền này đối với mọi công dân?
Sau khi HS trình bày, GV nhận xét, sử dụng sơ đồ kết luận
QUYỀN HỌC TẬP CỦA CÔNG DÂN
Mọi
công
dân đều
có
quyền
Học không hạn chế Học từ mầm non đến tiểu
học, đến trung học, đến cao đẳng, đại học, cao học…
Điều 36 Hiến pháp 1992- sửa đổi;
nghề nào
Có thể học ngành kỹ thuât, ngành y, ngành luật…; hoặc học nghề, trung cấp chuyên nghiệp…
Điêù 59 Hiến pháp 1992- sửa đổi; Chương
II Luật giáo dục 2005.Quy định
về hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 8Học thường xuyên, học suốt đời
Học ở hệ chính quy hoặc không chính quy xuyên, học tập trung hoặc không tập trung, học ban ngày hoặc ban đêm; học ở trường quốc lập, trường dân lập hay trường tư thục…
Chương II Luật giáo dục 2005.Quy định về hệ thống giáo dục quốc dân
Được đối xử bình đẳng về cơ hội học tập
Không phân biệt bởi dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, nguồn gốc gia đình
địa vị xã hội họăc hoàn cảnh kinh tế
Điều 10 Luật giáo dục năm 2005
3 Quyền sáng tạo của công dân:Không áp dụng
Với bảng tóm tắt trên, HS dễ nắm bắt nội dung một cách đầy đủ, có hệ thống và
dễ nhớ bài hơn
*Ví dụ 2:Có thể sử dụng hình thức trực quan đơn giản để hướng dẫn cho học
sinh làm bài tập
Bài 2- THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
Bài tập câu 1.Phân tích những điểm giống và khác nhau giữa các hình thức thực
hiện pháp luật
GV: Chia lớp thành 4 nhóm Mỗi nhóm hoàn thành một nội dung theo mẫu:
Nhóm
Sử dụng
pháp luật
Trang 9Nhóm
2:
Nhóm
3:
Nhóm
4:
Sau khi bổ sung, nhận xét phần thảo luận của các nhóm, GV khái quát lại bằng sơ
đồ:
CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
Sử dụng pháp luật Cá nhân, tổ chức Thực hiện quyền, làm
những gì mà pháp luật
cho phép
Anh An tham gia bầu cử
Thi hành pháp
luật:
Cá nhân, tổ chức Thực hiện nghĩa vụ, chủ
động làm những gì mà
pháp luật quy định phải
làm
Doanh nghiệp X nộp thuế
Tuân thủ pháp
luật:
Cá nhân, tổ chức kiềm chế không làm
những điều mà pháp luật
cấm
Ban Lan không đi xe máy đến trường
Áp dụng pháp
luật:
Cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền
Căn cứ vào pháp luật để
ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt việc thực hiện các quyền, nghiã vụ cụ thể
CSGT ra quyết định
xử phạt B vì đã không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên
xe mô tô
Thi hành
pháp luật
Tuân thủ
pháp luật
Áp dụng
pháp luật
Trang 10của các cá nhân, tổ chức
Trên cơ sở bảng hệ thống, làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa các hình
thức thực hiện pháp luật
Với cách sử dụng bảng hệ thống này HS giải quyết nội dung bài tập dễ dàng, nhanh chóng và có thể khắc sâu kiến thức tại lớp, đạt được hiệu quả cao
C/ KẾT LUẬN
Tôi đã tiến hành sử dụng một số hình ảnh trực quan đơn giản vào giảng dạy một số bài GDCD 12 với mục đích phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình học và ghi nhớ bài.Qua đó tôi thấy hiệu quả bài dạy có nhiều chuyển biến tích cực Khắc phục được phần nào cách học “vẹt”, học “thuội”, khắc phục quan niệm cho rằng GDCD đơn thuần chỉ là môn học thuộc lòng, mất nhiều thời gian Giúp các
em chủ động, tích cực hơn trong việc ghi nhớ bài, đồng thời làm cho bài giảng đi vào trí nhớ của các em nhẹ hàng hơn, logic hơn
Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học, tôi tin tưởng việc sử dụng hình ảnh trực quan đơn giản sẽ giúp các em có hứng thú hơn đối với việc học môn
GDCD, giúp chất lượng dạy học GDCD ngày càng đạt hiệu quả tốt hơn
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình sử dụng hình ảnh trực quan đoqn giản để giảng dạy một số bài GDCD 12, với tư cách cá nhân nên trong quá thình thực hiện còn có nhiều thiếu sót, hạn chế nhất định Vì vậy, rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp, xây dựng của quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn và có thể phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Vang, ngày 14 tháng 4 năm 2010
Người thực hiện
Nguyễn Thúy Hằng