Việc đi sâu tìm hiểu vềkiến trúc Phố Cổ qua những thăng trầm biến cố của lịch sử Thăng Long làvấn đề rất cần được quan tâm nhất là trong không khí chuẩn bị kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thăng Long là mảnh đất kinh kỳ có hàng nghìn năm văn hiến Đây làmột trong những vùng đất giàu giá trị văn hoá bậc nhất Bởi nó không chỉ lànơi lưu giữ di sản văn hoá mà còn là nơi hội tụ toả sáng giá trị văn hoá cỏcvùng miền khác nhau trong cả nước
Thăng Long một vùng đất có thế “ tựa nỳi, nhỡn sụng” địa linh nhânkiệt( Chiếu Dời Đô- Lý Công Uẩn), dân cư đông đúc, hội tụ nhân tài bốnphương, giao thông thuận lợi, từ thế kỷ XI vào thời Lý Thái Tổ đã chọn nơiđây làm trung tâm của đất nước Vùng đất thánh địa ấy đã sớm trở thànhtrung tâm chính trị và kinh tế từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam Mộtnơi phố phường buôn bán sầm uất đông vui, nơi có truyền thống lịch sử vănhoá lâu đời do những người giàu lòng yêu nước, yêu lao động tạo nên
Nằm trong lòng thủ đô Phố Cổ Hà Nội hiện lên với vẻ trang nghiêm,
cổ kính đó là một không gian lịch sử có bề dày tính bằng thiên niên kỷ, là sựkết hợp hai mặt vật thể và phi vật thể Phố Cổ linh hồn của đất Thăng Longtrải qua bao thăng trầm của lịch sử đến nay Phố Cổ vẫn là nơi lưu giữ bảo tồnnhiều dấu tích kiến trúc
Ngày nay trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá với sự du nhập của cáckiểu kiến trúc mới lạ đã phần nào làm mai một đi những kiến trúc truyềnthống của Phố Cổ
Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng long – Hà Nội, nhìn lại chặngđường xây dựng và phát triển của thủ đô đã qua chúng ta thấy Thăng Long –
Hà Nội có nhiều phát triển Đời sống vật chất của người Hà Nội không ngừngđược nâng cao, bộ mặt của Thủ đô thay đổi theo chiều hướng hiện đại, có thểsánh vai với các nước trong khu vực Đi cùng sự thay đổi tốt đẹp đó còn là sựxuống cấp nghiêm trọng về môi trường sống và những giá trị văn hoá nghệthuật truyền thống mà sự mai một của kiến trúc Phố Cổ là minh chứng cho sự
Trang 2thay đổi đó Làm thế nào để góp phần xây dựng thủ đô Hà Nội nghìn nămvăn hiến, phát triển văn minh hiện đại nhưng vẫn lưu giữ và làm giàu thêmgiá trị di sản văn hoá ? Đó là câu hỏi đồng thời là trách nhiệm đặt ra với mỗichúng ta.
Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“Kiến trúc Phố Cổ trải qua thăng trầm lịch sử Thăng Long – Hà Nội”.
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội đã có nhiều nhà nghiên cứutìm hiểu như: “ Hà Nội qua những năm thỏng” của tác giả Nguyễn VinhPhúc, “ Thăng Long – Hà Nội” tác giả Nguyễn Thừa Hỷ Đặc biệt tìm hiểunhững di sản văn hoá của Thăng Long – Hà Nội có một số tác giả như:Nguyễn Viết Chức với tác phẩm “ Những giá trị văn hoá 1000 năm ThăngLong – Hà Nội”, tác giả Nguyễn Khắc Đạo với tác phẩm “ Thành luỹ phốphường và con người Hà Nội”, tác giả Doãn Đoan Chinh ghi dấu ấn vềThăng Long trong tác phẩm “ Hà Nội di tích lịch sử văn hoá danh thắng”
Viết về những di sản văn hoá đất Thăng Long các tác giả không quên
đề cập đến Phố Cổ Hà Nội – Hà Nội 36 phố phường Việc đi sâu tìm hiểu vềkiến trúc Phố Cổ qua những thăng trầm biến cố của lịch sử Thăng Long làvấn đề rất cần được quan tâm nhất là trong không khí chuẩn bị kỷ niệm đại lễ
1000 năm Thăng Long – Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu nét độc đáo riêng biệt trong kiến trúc phố cổ
Hà Nội Đồng thời nghiên cứu sự thay đổi của nó qua từng thời kỳ lịch sửgắn với các biến cố của thời đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở hình thành kiến trúc phố cổ và giá trị của nó đốivới văn hoá Việt Nam
Trang 3- Xem xét những sức sống của các giá trị văn hoá và những biếnđộng của nó theo tiến trình lịch sử.
- Nghiên cứu xu hướng vận động, biến đổi của nó trong thời đại ngàynay
4 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của triết học Mỏc- Lờnin
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát và trừu tượng hoá khoahọc
- Kế thừa những thành tựu nghiên cứu trong và ngoài nước vềPhố Cổ Hà Nội
5 Ý nghĩa của đề tài
- Tái hiện diện mạo, kiến trúc phố cổ qua những thăng trầm lịchsử
- Khẳng định giá trị văn hoá độc đáo trong kiến trúc phố cổ
- Khuyến nghị về việc lưu giữ, bảo tồn văn hoá dân tộc nói chung,Thăng Long nói riêng hướng tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 chương 7 tiết
Chương 1: T ầm quan trọng của việc nghiên cứu kiến trúc phố cổThăng Long - Hà Nội
Chương 2: Kiến trúc phố cổ trải qua những thăng trầm lịch sử củaThăng Long - Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản bảo tồn, phát huy giá trị kiến trúcphố cổ Hà Nội
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU KIẾN TRÚC PHỐ
CỔ THĂNG LONG – HÀ NỘI
1.1 Khái quát về Thăng Long - Hà Nội
1.1.1 Sơ lược về địa giới Thăng Long-Hà Nội
Theo từ điển dựa vào định nghĩa của các tác giả nghiên cứu trước đóxin định nghĩa “Thành Thăng Long”là kinh thành hoàng thành và các phốphường, hợp thành một đô thị
Trong lịch sử thành Thăng Long, địa giới của Thăng Long là một yếu
tố quan trọng để xác định vị trí địa lý, địa phận, diện tích thành Thăng Long
Thăng Long - Hà Nội thuộc đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đõy đósớm trở thành một trung tâm chính trị, tôn giáo ngay từ những ngày đầu củalịch sử Việt Nam
Năm 1010 Lý Công Uẩn vị vua đầu tiên của nhà Lý quyết định xâydựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long Trong suốt thời kỳcủa các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán,trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễnlên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầumang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới đời vua Minh Mệnh Năm 1902, Hà Nộitrở thành thủ đô của liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng,quy hoạch lại Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắcrồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho đến ngày nay
Nằm ở phía Tây Bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội
có vị trí từ 22.53’ đến 21.23’ vĩ độ Bắc và 105.44’ đến 106.02’ kinh độ Đông.Tiếp giáp với các tỉnh Thỏi Nguyờn, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, HòaBình ở phía Nam, Bắc Ninh, Bắc Giang ở phía Đông, Hòa Bình và Phú Thọ ởphía Tây
Trang 5Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008 thành phố
có diện tích là 3.324,92 km2, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng nhưng tậptrung chủ yếu ở bên hữu ngạn
Có thể nhận thấy địa hình Hà Nội thấp dần theo chiều từ Bắc xuốngNam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mựcnước biển Nhờ phù sa bồi đắp, 3/4 diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồngbằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu của các consông khác Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc huyện Sóc Sơn, Ba Vì,Quốc Oai, Mỹ Đức với các đỉnh như Ba Vì 1281m, Gia Dê 707m, ChânChim 462m, Thanh Lanh 427m, Thiờn Trự 378m,…Khu vực nội ô thành phốcũng có một số gò đồi thấp như gò Đống Đa, Nỳi Nùng
1.1.2 Dân số
Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng mạnh mẽ trongnửa thế kỷ gần đây Vào thời điểm 1954 khi quõn Đòng Minh tiếp quản HàNội, thành phố có 53 nghìn dõn trờn 1 diện tích bằng 152 km2 Đến 1961,thành phố được mở rộng diện tích lên tới 584 km2 với số dân 91.000 người.Năm 1978 quân đội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tựnhiên là 2.136 km2 dân số là 2,5 triệu người Tới 1991 địa giới Hà Nội tiếptục thay đổi chỉ còn 924 km2 nhưng dân số vẫn ở mức trên 2 triệu người.Trong thập niên 1990 cùng với các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân
số Hà Nội tăng đều đặn đạt con số 2672122 người, sau đợt mở rộng địa giớihành chính gần đây nhất tháng 8 năm 2008 thành phố Hà Nội có 6,233 triệudân nằm trong số 17 nước có thủ đô rộng nhất thế giới Theo kết quả điều tradân số ngày 1/4/2009 dân số của Hà Nội là 6.448.837 người
Mật độ dân số Hà Nội hiện nay cũng như trước khi mở rộng địa giớihành chính không đồng đều giữa các quận nội ô và khu vực ngoại thành.Trên toàn thành phố mật độ dân cư trung bình là 1.779 người/km2 Nhưng tạiquận Đống Đa mật độ lên tới 1000 người/km2
Trang 6Sự khác biệt giữa nội ô và ngoại thành còn thể hiện ở mức sống, điềukiện y tế, giáo dục …
Về kết cấu dân số theo số liệu 1/4/1999 dân cư Hà Nội và Hà Tây khi
đó chủ yếu là người kinh chiếm tỷ lệ 99,1% các dân tộc khác như Dao,Mường, Tày chiếm 0,9%
Theo số liệu của tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009 toàn thành phố HàNội có 2.632.087 cư dân thành thị chiếm 41,1%, 3.816.750 cư dân nông thônchiếm 58,1%
1.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội 1.1.3.1 Thời kỳ tiền Thăng Long
Lên ngôi năm 208 TCN đến 179 TCN Thục Phán bị Triệu Đà, tướngnhà Hán lừa lấy mất lẫy nỏ và bị diệt vong Từ đó Âu Lạc sa vào ách thốngtrị của triều đại phong kiến Trung Hoa, nước Âu Lạc thời Hán thuộc bị chiathành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Hà Nội thuộc Giao Chỉ, giữathế kỷ thứ V (454-456) Hà Nội được ghi là trung tâm huyện Tống Bình, ít lâusau được nâng lên thành quận
Năm 544 Lý Bí khởi nghĩa, dựng thành ở cửa sông Tô đánh đuổi quân
đô hộ nhà Lương xưng đế đặt tên quốc hiệu là Vạn Xuân Ông dựng nhà ởchùa mở nước khai quốc bờn sụng Hồng sau đó chuyển vào hồ Tây thành chùaTrấn Quốc Chỏu ụng là Lý Phật Tử chuyển sang đóng đô ở Cổ Loa, tồn tạiđến năm 602 mới bị nhà Tùy đánh bại Nhà Đường (618-907) thay nhà Tùyđặt (đô hộ phủ) đất Việt gọi là An Nam với 12 châu, 50 huyện, (671) trung tâm
An Nam là đô hộ phủ Tống Bình Vào khoảng giữa đời Đường Tống Bình cótên mới là Đại La do Cao Biền (866) đã đắp thành Đại La ở đây
Nhưng cõi Nam không an với bọn xâm lược, khởi nghĩa Phùng Hưng(766-779) đã giải phóng Tống Bình, khởi nghĩa Dương Thanh (819-820)cũng vậy Năm 938 Nam Hán sang xâm lược bị Ngô Quyền đánh tan sau đóông xưng vương và định đô ở Cổ Loa
Trang 71.1.3.2 Thăng Long thời Lý (1009 - 12250)
Lý Công Uẩn (974-1028) lên ngôi năm 1009 sáng lập ra triều đại nhà Lý
Lý Công Uẩn quê ở làng Cổ Pháp (Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh) thủanhỏ theo học và làm con nuôi nhà sư Lý Khỏnh Võn nờn lấy họ Lý Làmquan nhà tiền lê đến chức điện tiền chỉ huy sứ, có uy tín và thế lực trongtriều Năm 1010, Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư về Đại La vàđặt tên là Thăng Long
“Chiếu dời đụ” hay Thiên đô chiếu là chiếu do vua Lý Thái Tổ tự tayviết và ban hành vào mùa xuân năm 1010 để chuyển kinh đô của nước ĐạiViệt từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (Hà Nội) Chiếu rời đụ đỳng 214chữ Bài chiếu dời đô là một văn kiện lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đánhdấu bước tiến quyết định của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước
và giữ nước Bản dịch tiếng Việt có nội dung như sau:
“Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà chu đến đờiThành Vương ba lần dời đụ, hỏ phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tựtiện rời đô Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn chỗ ở giữa, làm kế chocon cháu muôn đời, trờn kớnh mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thìdời đô, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh Thế mà hai nhà Đinh
Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo lệ cũ Thương Chu,
cứ chịu yên đóng đô ở nơi đây đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi,trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp Trẫm rất đau đớn không thể không dời
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trờiđất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc tõy đụng, tiện nghi núisông sau trước Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sángsủa, dân cư không khổ đất trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồnthịnh Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chốn tụ hội trọng yếucủa bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sử mãi muôn đời
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”(NXB KHXH, Hà Nội 1993 bản dịch cua viện khoa học xã hội Việt Nam introng Đại Việt Sử Ký toàn thư)
Trang 8Về mặt địa lý Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô vì nơi đó là
“trung tâm trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi Đó đỳng ngụi nam Bắc Đông Tâylại tiện hướng nhỡn sụng dựa núi Địa thế rộng mà bằng phẳng, đất đai cao
mà thoáng Dân cư khỏi cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mựcphong phú tốt tươi Xem đất Việt ta chỉ có nơi này là thắng địa Thật là chốnhội tụ của bốn phương trời đất cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vươngmuôn đời” Như vậy có thể nói chọn Thăng Long làm kinh đô, mà kinh đôcủa quốc gia phong kiến là trung tâm chính tri, văn hóa và kinh tế, là đầu mốicủa sự liên kết cả nước Lý Công Uẩn đã khẳng định ý thức, tư tưởng về việcxây dựng một quốc gia phong kiến độc lập Việc dời đô về Thăng Long phảnánh yêu cầu phát triển mới về đất nước, chứng tỏ khả năng, lòng tin và quyếttâm của cả dân tộc giữ vững nền độc lập
Theo truyền thuyết phổ biến, khi tới Đại La Lý Công Uẩn nhìn thấymột con rồng bay lên vì vậy đặt tên kinh thành mới là Thăng Long Kinhthành Thăng Long khi ấy có giới hạn bởi 3 con sông: sông Hồng, (phíaĐông), sụng Tụ (phía Bắc), sông Cửu Ngưu (phía Nam) Khu Hoàng Thànhđược xây dựng gần Hồ Tây với cung điện Hoàng gia cựng cỏc công trìnhchính trị Phần còn lại của đô thị là khu dân cư bao gồm cả nông nghiệp vàthương nghiệp Ngay thế kỷ X nhiều công trình tôn giáo được xây dựng, chựaDiờn Hựu phía Tõy Hoàng Thành xây dựng năm 1049, chựa Bỏo Thiờn xõy
1057, Văn Miếu 1070, Quốc Tử Giám dựng năm 1076,… chỉ sau một thế kỷThăng Long trở thành trung tâm văn hóa chính trị của cả quốc gia
1.1.3.3 Thăng Long thời Trần (1226 - 1400)
Nhà Trần nối bước nhà Lý cai trị Đại Việt, kinh thành Thăng Long tiếptục được xây dựng, Hoàng Thành được củng cố xuất hiện nhiều cung điệnmới Năm 1230 Thăng Long chia thành 61 phường, kinh thành đông đúc hơn
dù địa giới không thay đổi Giai đoạn này cũng ghi nhận sự xuất hiện cư dânngợi quốc: người Hoa, người Ấn Độ Nền kinh tế công thương nghiệp cũng
Trang 9sản sinh tầng lớp thị dân và Thăng Long còn là nơi quy tụ nhiều học giả, tríthức như Hàn Thuyên, Chu Văn An, Lê Văn Ngưu.
1.1.3.4 Thăng Long chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc)
Cuối thế kỷ XIV, thời nhà Trần suy vi một quý tộc ngoại thích là HồQuý Ly thâu tóm quyền lực bắt vua Trần chuyển kinh đô về Thanh Hóa Khi
Hồ Quý Ly lên ngôi lập nên nước Đại Ngu năm 1400, kinh đô mới mang tờnTõy Đô Thăng Long đổi tên thành Đông Đô Nhưng vương triều nhà Hồ chỉtồn tại trong thời gian ngắn ngủi Năm 1406 nhà Minh xâm lược Đại Ngu,Thăng Long bị chiếm đóng đổi tên là thành Đông Quan, chúng tàn phá di sảnvăn hóa: Chuông Quy Điền, Chùa Một Cột, thỏp chựa của chựa Bỏo Thiờn,sách vở bị thiêu, bia đá bị dập Năm 1418 khởi nghĩa Nam Sơn bùng nổthắng lợi Ngày 3/2/1428 quân Minh rút khỏi Đông Quan
1.1.3.5 Thăng Long thời Lê Sơ (1428 - 1527)
Với Thăng Long của khởi nghĩa Lam Sơn, triều Lê chính thức đượcthành lập
Tháng 4 -1428 Lê Lợi từ dinh Bồ Đề chuyển vào thành Đụng Đụ, ngày
29 lên ngôi Năm 1430 đổi Đong Đô thành Đông Kinh Năm 1466 đổi thànhPhủ Trung Đô Năm 1490 trong bản đồ là Cấm Thành, cửa chính là ĐoanMôn Bên cạnh có cung điện mà thõn nghiờm nhất là Kớnh Thiờn Năm 1467
có việc làm hai lan can bằng đá ở thềm điện
Bao bọc thành này là một tòa thành cũng bằng gạch trờn cú trụ bắn vìbản đồ về theo lối ước lệ nên chỉ có thể đoán rằng mặt phía Đông gần trùngvới phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da ngày nay
Nhà Lê đưa Nho giáo lên địa vị chính thống và đề cao chế độ khoa cử
do đó Văn Miếu Quốc Tử Giám được chăm lo mở mang nhiều Năm 1487bắt đầu cho dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu
1.1.3.6 Thăng Long thời Mạc - Lê Trung Hưng - Lê Mạc (1527 - 1788)
Chế độ quân chủ chuyên chế theo mô hình Nho giáo làm phát sinh hailoại mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa cỏc phờ cầm quyền và mâu thuẫn giữa nhà
Trang 10nước và nhân dân Thế kỷ XVI bủng nổ cả hai loại mâu thuẫn làm sụp đổ nhà
Lê Năm 1527 nhà Mạc lên thay nhà Lê, Phật giáo và Đạo giáo phục hưng.Khởi nghĩa Lê - Trịnh kéo dài đến năm1786
Đông Kinh trở lại tên gọi Thăng Long vẫn là kinh đô
Một nét mới trong kiến trúc Thăng Long là bên cạnh Hoàng thành củavua Lê xuất hiện phủ Chúa Trịnh Đó là tòa thành hình chữ nhật mà hai cạnhngang là phố Tràng Thi và phố Trần Hưng Đạo Hồ Gươm rộng gần hai phần
tả vọng và hữu vọng Nhiều công trình được xây dựng quanh hồ và trên hồ
Thăng Long là trung tâm văn hóa lớn và Thăng Long tự hào về nếpsống thanh lịch với nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật: đền, chựa, đỡnh,
am, miếu với những tượng hương án, y môn, cửa võng, chạm khắc dòngtranh tự pháp sau gọi là dòng tranh Hàng Trống đặc sắc
1.1.3.7 Thăng Long thời Tây Sơn (1788 - 1802) và nhà Nguyễn
Mùa hè năm 1786, quõn Tõy Sơn tiến ra Đàng Ngoài lật đổ chế độChúa Trịnh tồn tại 241 năm trong đó 194 năm ở Thăng Long Phong tràoTây Sơn đã kiểm soát cả nước, xóa bỏ tình trạng chia cắt Đàng Trong - ĐàngNgoài kéo dài hơn hai thế kỷ
Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Huệ đỏnh quõn Thanh tại Ngọc Hồi,Đống Đa thắng lợi oanh liệt
Diện mạo chùa Kim Liên đẹp và thanh nhã bên Hồ Tây như hiện nay
là có từ thời Tây Sơn
So với trước sự phát triển kinh tế của Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIXkhông được đều Các phường, thôn phía Tây và Nam có xu hướng nông thônhóa chuyên về nghề nông kết hợp thủ công Bộ mặt đô thị Hà Nội dồn về khuphía Đông Nam, khu phủ Chúa Trịnh và vùng quanh Hồ Gươm nhanh chóngtrở thành khu dân cư buôn bán và thủ công
Các công trình văn hóa và sinh hoạt văn hóa cũng có những biến đổi.Quốc Tử Giám được chuyển vào Huế, Văn Miếu thuộc Hà Nội quản lý.Trường thi Hương nay thuộc phố Tràng Thi Một số cửa ô được dựng lại
Trang 11trong đó cú ụ Quan Chưởng(1817) Đặc biệt một số tư nhân đứng ra quyêngóp xây dựng một số công trình như Nguyễn Văn Siêu với quần thể đềnNgọc Sơn, Nguyễn Đăng Giác với Chùa báo Ân 108 gian bên cạnh HoànKiếm Cùng với Nguyễn Văn Siêu, Hà Nội còn có nhiều nhà văn hóa nổitiếng khác:
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Chẳng thanh lịch cũng là người Tràng An”
1.1.3.8 Thăng Long những năm đầu Hà Nội chống Pháp đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
Ngay khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, toàn thể thí sinhtrường thi Hương Hà Nội khoa 1864 đến Văn Miếu xin đi đánh giặc
Bắc Kỳ dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, nhân dân Hà Nội đứnglên khởi nghĩa chứ không chịu khuất phục Phong trào Đông kinh nghĩathục lan rộng
Năm 1925 Hà Nội diễn ra sự kiện chính trị quan trọng đó là chống xửPhan Bội Châu
Năm 1926 nhân dân Hà Nội tiến hành tang lễ Phan Chu Trinh
Cuộc khởi nghĩa ngày càng dâng cao: sự kiện chi bộ Đảng họp 3-1929tại nhà 5D phố Hàm Long cả nước một khí thế đánh giặc Phong trào Xô ViếtNghệ Tĩnh, truyền đơn, báo chí, cờ đỏ búa liềm xuất hiện khắp nơi trongthành phố Tổng bí thư đầu tiên của Đảng đã viết luận cương chính trị ngaytrong nhà công chức cao cấp Pháp giũa Hà Nội Phong trào của Đảng Cộngsản Đông Dương có khi lên xuống nhưng không bao giờ tắt
Tháng 9-1940 Nhật kéo vào Đông Dương và Việt Nam nhân dân taphải chịu cảnh một cổ hai tròng dưới hai tầng áp bức Pháp - Nhật
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác Hồ và tinh thầnyêu nước của toàn thể nhân dân cùng với sự giúp được của bạn bè quốc tế khithời cơ chín muồi đã làm nên cách mạng tháng Tám 1945
Trang 12Ngày 19-8-1945 cuộc mít tinh quy mô lớn diễn ra tại quảng trườngNhà Hát Lớn Hà Nội.
Ngày 2-9-1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tạiquảng trường Ba Đình khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa
1.1.3.9 Thăng Long - Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Sau chiến tranh Hà Nội tiếp tục giữ vai trò là quốc gia của nước ViệtNam thống nhất Ngày 21 tháng 12 năm 1979 Quốc hội phê chuẩn mở rộngđịa giới Hà Nội, sáp nhập thêm năm huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ,Đan phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây của huyện Hà Sơn Bỡnh cựng haihuyện của tỉnh Vĩnh Phúc là Mê Linh, Sóc Sơn Dân số Hà Nội lên tới con số2,5 triệu người Bên cạnh lượng dân cư các tỉnh đang định cư tại thànhphố,trong khoảng thời gian từ 1977t ới 1984 Hà Nội cũng đưa 12.861 hộ,21.587 nhân khẩu tới Lâm Đồng theo chính sách xây dựng kinh tế mới Năm
1991, ranh giới Hà Nội lại được điều chỉnh, trả lại năm huyện và một thị xãlấy của Hà Sơn Bình năm 1978 cho Hà Tây và Mê Linh nhập vào Vĩnh Phú
Hà Nội còn lại 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với diện tích đ ất tựnhiờn 924 km2
Sau thời kỳ bao cấp từ cuối thập niờn 90 đến nay, sự phát triển về kinh
tế dẫn đến các khu ngoại ô nhanh chóng được đô thị hoá Những cao ốc mọclên ở khu vực nội ô và các trung tâm công nghiệp cũng được xây dựng ởnhững huyện ngoại thành Sự phát triển cũng kéo theo những hệ luỵ Dokhông được quy hoạch tốt giao thông thành phố thường xuyờn ùn tắc khi sốlượng xe máy tăng cao, nhiều khu phố phải chịu tình trạng ngập úng mỗi khimưa lớn Mật độ dân số quá cao khiến những dân cư nội ô phải sống trongtình trạng chật chội và thiếu tiện nghi
1.2 Kiến trúc phố cổ Hà Nội
1.2.1 Một số khái niệm
- Kiến trúc phố cổ Hà Nội
+ Sự hình thành kiến trúc phố cổ Hà Nội
Trang 13Lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa phong phú giúp Hà Nội có được kiếntrúc đa dạng và mang dấu ấn riêng.
Cùng với Thăng Long thời nhà Lý, nhà Trần phố cổ Hà Nội bao gồmnhiều phường trong tổng số 61 phường thời đó Dưới thời Lê đầu thế kỷ XVI,
Hà Nội trở thành Đông Kinh, khắp nơi đổ về buôn bán làm ăn trong 36 phốphường lúc bấy giờ và dần dần nơi đây trở thành khu vực phố cổ ngày nay
Nói đến kiến trúc phố cổ Hà Nội là nói đến một quần thể không gian
đô thị cổ - đó là mạng lưới phố nhỏ, ngõ nhỏ có hình thái tự nhiên với cáchchia nhỏ mặt đứng kiến trúc đường phố
Cấu trúc của phố cổ Hà Nội theo ông Nguyễn Quốc Thống – Đại họcKiến trúc Hà Nội: thuộc loại hình kiến trúc có nguồn gốc dân gian thể hiệnrất rõ trong cách tổ chức khu phố trên cơ sở đơn vị “phường nghề” vớiphương thức sản xuất tổ chức xã hội và các thiết chế văn hóa tín ngưỡng vàđương nhiên cả cách xây dựng có nguồn gốc từ nông thôn, mà ở phố xuấthiện sau phường
+ Sơ lược về kết cấu kiến trúc phố cổ Hà Nội
Khu phố cổ khi Pháp xâm chiếm đều có chung một dáng dấp: các phốchi chít, dọc ngang kiểu bàn cờ, phần lớn mang tên gọi của các mặt hàng sảnxuất hay kinh doanh tại những nơi đó
Nét đặc trưng nhất của phố cổ là những ngôi nhà thấp, hẹp chiều ngangnhưng rất dài, rất sâu, xếp sát gần nhau, có khi thông ra một ngừ khỏc, phốkhác là nhà ống Những ngôi nhà này không phát triển chiều cao mà pháttriển chiều sâu với các lớp sân ngăn cách
Bố cục của nhà ống thường như sau: gian ngoài là chỗ bán hàng hoặclàm hàng, tiếp đó là một khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng Trờn sõn cú bểcạn (trong đó cú hũn non bộ, có cá vàng, để thu gom thiên nhiên vào cănnhà) Trong cùng mới là nơi ăn ở và tiếp theo là khu phụ
Đa số nhà một tầng, lợp bằng những viờn ngúi nhỏ nhắn với hai bứctường hồi vượt cao khỏi mỏi, xõy dật cấp như những bậc thang, đầu nóc nhàphía trên là hai trụ đấu rất đặc trưng
Trang 14Cũng có một số nhà xõy thờm tầng gác nhưng thấp và không mấy khitrổ cửa sổ, nếu có thì rất nhỏ (vì luật lệ cũ cấm dân không được đứng cao hơnvai kiệu của vua, quan đi qua đường).
Kiến trúc ngôi nhà ống là một biến thể của ngôi nhà nông thôn ViệtNam trong điều kiện đô thị
Nói về phố cổ Hà Nội nhiều người vẫn hình dung ra chiếc giếng khơinằm trong sân, những tấm cửa gỗ, cỏi gỏc lững và lan can gác tẩu mã ănthông từ phố mặt nhà trước ra tới cổng hậu ở phố nhà sau Cách chia lô đất,cách phát triển ngôi nhà hình ống như thế đã tạo nên những đặc trưng kháriêng biệt của kiến trúc đô thị Hà Nội cổ ngày xưa
Như vậy, nhà ống ở khu phố cổ Hà Nội bé bỏng bình dị, vừa là xưởngsản xuất thủ công, vừa là cửa hàng, vừa là nơi sinh hoạt gia đình Người luitới bán mua từ sáng đến tối đem lại cảnh tượng tấp nập
Nhà cạnh nhà, liền mái, liền tường xum vầy nâng đỡ nhau Cái hấp dẫncủa khu phố cổ chính là ở chổ này: cái tổng thể do người xưa đã sắp đặtthành một cơ thể đầy sống động, khăng khít, gò bó kề tựa nhau mà tồn tại
Gọi 36 phố phường Hà Nội bởi ngoài nhà ở buôn bán cũn cú 54 ngụiđỡnh, 6 chùa, 22 đền, 3 miếu tổng cộng là 58 công trình tôn giáo tín ngưỡng
Những công trình này trước hết nơi thờ tự của các phường, thôn, làng
cũ, như đỡnh Nhõn Hội (33 Bát Đàn), là đình làng Hữu Đụng Mụn, đềnThuận (25 Hàng Than) đều là lấy tờn cỏc làng làm tên đền, chùa Một sốcông trình tôn giáo, tín ngưỡng còn phản ánh gốc gác của một số bộ phận cưdân Thăng Long vốn là từ nhiều miền quê Đông, Nam, Đoài, Bắc Họ ở cáctỉnh khác di cư về Thăng Long - Hà Nội làm ăn sinh sống rồi lập gia đình,đền thờ vọng về quê hương như:
Đỡnh Trỳc Lõm (40 Hàng Hành) là của dõn cỏc làng Chắm Trên,Chắm Dưới (Hải Dương) làm nghề giầy gia mà lập nên
Đình Hoa Lộc (90 Hàng Đặc) là của dân nhuộm màn ở Đan Loan –Hải Dường dựng ra
Trang 15Đỡnh Tú Đinh (2A ngừ Yờn Thỏi) nơi thờ ông tổ nghề thêu là của dânlàng Quất Động (Hà Tây).
Mặt khác, sự tồn tại của cỏc đỡnh, chùa, đền, miếu này còn là minhchứng của tâm linh người Hà Nội cũ bên cạnh sự hòa đồng với tự nhiên vàcộng đồng xã hội người Thăng Long cũn luụn tìm cách hòa đồng với một thếgiới tâm linh, vì cùng với một không gian đô thị vật chất còn tồn tại mộtkhông gian đô thị huyền thoại, ẩn chìm và thiêng liêng, ở đó có thể giao hòacùng quá khứ và tìm được ở đó một nguồn sinh lực khác
Phần lớn các công trình này có lịch sử khởi dựng cũng từ lâu mang dấu
ấn của các phường xưa Với lối kiến trúc thông dụng từ gỗ, gạch và các hệkết cấu vì kèo gỗ của nhiều thời kỡ, cỏc không gian đình đền chùa này Theophó giáo sư tiến sĩ - kiến trúc sư Nguyễn Bá Đang kiến trúc đó là không giantâm linh mang tính cộng đồng, nó cú mối quan hệ vô hình với các không giantâm linh riêng của từng ngôi nhà trong khu vực này Các không gian cổ này
từ khi khởi dựng đến nay vẫn đang hoạt động và ngày nay có xu hướng quay
về với triết học Phương Đông
Điều dễ nhận thấy ở khu phố cổ là nơi tập trung nhiều di tích thờ các vị
tổ nghề Có thể kể đến “Chõu Khờ Vọng Từ” – ngôi đền của những ngườidân Chõu Khờ làm nghề kim hoàn và vàng bạc Ngôi Vọng Từ này là nơi họ
tổ chức cúng lễ, tế vong vị thần thành hoàng ngay tại đất kinh đô
Phần đông các vị thành hoàng được lập vọng tại Thăng Long là các vị
tổ nghể như đình phủ Trỳc Lõm (40 Hàng Hành), đình Hài Tượng (16 ngõHải Tượng) thờ tiến sĩ Nguyễn Thời Trung – tổ nghề da; đền thờ Vọng NhịKhê (11 Hàng Hòm) thờ ông tổ nghề tiện gỗ
Điều đặc biệt là, phần lớn di tích trong khu phố cổ đều không tách biệtvới khu vực dân cư như vẫn thường thấy ở cỏc vựng nông thôn mà đình, đền,chùa đều liền kề với các kiến trúc dân gian khác, thậm chí, không gian thờcúng của nhiều ngụi đỡnh, đền được đặt trên gác của một ngôi nhà, như đìnhTrung Yên, thờ vị tiến sĩ triều Mạc
Trang 16- Khái niệm Phố cổ:
+ Sự ra đời của thuật ngữ khu phố cổ ở Việt Nam và Hà Nội.
Hà Nội hiện nay đang có một “khu phố cổ”(KPC) Thuật ngữ này thật
ra mới được dùng phổ biến và tương đối nhất trí từ hơn chục năm nay.Nguyên do là khi đất nước thống nhất; việc bảo tồn các di sản văn hóa(DSVH), kiến trúc mới được đặt ra, và ngay sau đó đá trở nên cấp thiết
Ngoài đình, chùa, đền, miếu … Hà Nội có một DSVH lâu đời là khuvực phố phường đã được hình thành từ xa xưa, có thể trước cả khi Lý Thái
Tổ định đô, tức là từ thời Bắc thuộc
Trong cuốn “viện điện u linh” được soạn vào cuối đời Trần (thế kỷXIV) đã từng ghi việc cao Biền (một viên quan đời nhà Đường cai trị đấtGiao Chỉ từ 866 và đóng đô ở Đại La) chỉ huy xây dựng đền Bạch Mã để thờthần Long Đỗ Đền Bạch Mã nay ở 77 Hàng Buồm
Cũng tại sách này kể rằng “đến thời Lý, Đông Đô ở đây vua Thỏi Tụngcho mở phố chợ về cửa Đông, hàng quán chen chúc sát đới bến đền”
Sách “Dư địa chớ” Nguyễn Trãi soạn thảo vào giữa thế kỷ Xv thì ghi
cụ thể hơn: Đất thượng kinh (tức Thăng Long) có phường Hàng Đào, phườngĐường Nhõn(khu vực hàng ngang và chung quanh đó), phường Tả Nhất lamquạt, phường Tàng Kiếm làm kiệu, ỏo giỏp…
Khu vực ấy nằm giữa sông Hồng và tường Đông thành Hà Nội gồmđại bộ phận các phố cổ có tên gọi bằng chữ Hàng Khu vực đó tương ứng vớiphía Bắc quận Hoàn Kiếm, chính là khu phố cổ theo cách nói hiện nay
Về phạm vi phố cổ có người đế xuất hễ chỗ nào có chữ hàng thì đó làphố cổ Vậy khu phố cổ kéo xuống hẳn chỗ Hàng Bài, Hàng Chuối, Hàng Bột(ngày nay là phố Tôn Đức Thắng)
Ở Hà Nội cần chú ý phân biệt khu phố cổ và khu phố cũ Khu phố cổchỉ là khu vực tạm thời được khoanh vùng như đã nói ở trên
Khu phố cũ hiện được tạo khoanh lại do người Pháp quy hoạch và xâydựng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhưng cũng chỉ mang tính ước lệ thôi
Trang 17Khái niệm phố trong thuật ngữ “khu phố cổ” khác hẳn với khái niệmphường nếu phường là đơn vị hành chính, thời Lê, phường ngoài nội dungchỉ các tổ chức của những người cùng làm một nghề (phường chèo, phườnghội…) Thỡ cũn một nội dung nữa, là chỉ những khu vực địa lí được coi làđơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long.
- Thời Lê Thăng Long có 36 phường (sự phân định này giữnguyên 3 thế kỷ)
- Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đổi gọi Thăng Long là phủ HoàiĐức và chia nhỏ làm nhiều đơn vị mới, có tên gọi là phường, thôn, trại.Huyện Thọ Xương bị chia làm tám tổng, 183 phường, thôn, trạm HuyệnVĩnh Thuật bị chia làm 5 tổng, 56 phường, thôn, trại
- Đến cuối thế kỷ XIX, huyện Thọ Xương và tỉnh Vĩnh Thuận vẫn
y nguyên 13 tổng nhưng Thọ Xương có 113 phường, thôn, trại và VĩnhThuận có 40 phường, thôn, trại
- Thời Minh Mệnh Hà Nội có 239 phường, thôn, trại
- Thời Tự Đức có 153 phường, thôn, trại
- Ngày nay nội thành Hà Nội có 102 phường với trên 400 phố,ngõ
“Phố” nguyên nghĩa là chỗ bán hàng, nơi bày hàng mà cũng có thể banđầu là nơi bày hàng hóa để buôn bán Chẳng hạn như cụm từ “phố HàngTrống” nguyờn nghió chỉ là một ngôi nhà, một cửa hàng bán mặt hàng trống.Cũng như thế, hàng Chiếu cũng chỉ là một cửa hàng bán chiếu…
Rồi theo thời gian, các phố tập trung san sát nhau thành một dãy cửahàng, cửa hiệu và được gọi là phố Từ phố lúc này đã biến nghĩa từ phốnguyên nghĩa
+ Phác họa về không gian, kết cấu khu phố cổ ở Hà Nội.
Trang 18Phố cổ Hà Nội là một không gian lịch sử có bề dày thời gian tính bằngthiên niên kỷ Trong những nhân tố làm nên cái hồn, phần hồn của khônggian phố cổ Hà Nội thì lịch sử là phần quan trọng vào bậc nhất.
Về tổ chức hành chính:
Khu phố cổ theo quyết định số 70 BXD-KT ngày 30/03/1995 của bộXây Dựng được giới hạn như sau
Phía Bắc: phố hàng Đậu
Phía Tây: phố Phùng Hưng
Phía Nam: phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng
Phía Đông: phố Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật
Trong phạm vi không gian trên, nay có 76 tuyến phố thuộc 10 phường(cửa Đông, Đồng Xuân, Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Buồm, HàngĐào, Hàng Gai, Hàng Mã, Lý Thái Tổ) Trong đó khu vực bảo vệ, tôn tạo cấp
1 là tứ giác gồm các phố Hàng Chiếu (phía Bắc), Hàng Đường, Hàng Ngang(phía Tây), Hàng Bạc, Hàng Mắm (phía Nam), Trần Nhật Duật (phía Đông).Vào đầu thế kỷ XIX (theo các tổng trấn xã danh, Bị Lãm), huyện Thọ Xương(tương đương với quận Hoàn Kiếm và phần phía Bắc quận Hai Bà Trưng)bao gồm 8 tổng, trong đó thuộc khu vực phố cổ gồm 4 tổng là Hữu Túc (18đơn vị, 3 phường, 15 thôn) Tả Túc (29 đơn vị, 6 phường, 23 thôn) và TiềnTúc (29 đơn vị, 4 phường, 25 thôn), tổng cộng là 91 đơn vị, trong đó có 15phường và 86 thôn Về sau (có thể từ năm Minh Mệnh thứ 2, năm 1821,muộn nhất là năm 1837, thời điểm lập địa bạ), các tổng đều được đổi tên,nhiều phường, thôn cũng được sáp nhập và đổi tên: tổng Hữu Túc đổi thànhtổng Đông Thọ (còn 13 đơn vị gồm 2 phường và 11 thôn), tổng Hậu Túc đổithành tổng Đồng Xuõn (cũn 14 đơn vị gồm 2 phường, 12 thôn), tổng Tả Túcđổi thành tổng Phỳc Lõm (cũn 18 đơn vị gồm 18 thôn, bỏ hết các phường),tổng Tiền Túc đổi thành tổng Thuận Mỹ (còn 22 đơn vị gồm 3 phường, 19
Trang 19thôn) Số lượng thôn giảm từ 91 xuống còn 67 trong đó số phường giảm từ
15 xuống còn 7, quá một nửa
Tuy nhiên, không phải toàn bộ 4 tổng trên đều thuộc khu phố cổ Haitổng Đông Thọ và Đồng Xuõn thỡ gần như nằm trọn trong khu vực phố cổ.Nhưng hai tổng Phỳc Lõm và Thuận Mỹ thì chỉ khoảng trên dưới một nửa làthuộc khu phố cổ (tổng Phỳc Lõm 9/18 phường, thôn, tổng Thuận Mỹ 13/22phường, thôn)
Vào thời điểm lập địa bạ năm 1837, cuộc cải cách hành chính củaMinh Mệnh đã cơ bản hoàn thành Nếu vào đầu thế kỷ XIX người đứng đầucác phường, thôn gọi là phường trưởng, thôn trưởng thì đến lúc này đồng loạtđổi là lý trưởng Phần lớn các phường, thôn đều có một lý trưởng Một sốphường thôn lớn cú thờm một đến hai phó lý Thôn Dũng Thọ (Hàng Bạc, TạHiện) cú thờm hai phó lý, các phường Hà Khẩu (Hàng Buồm), Đồng Xuân(Đồng Xuân, Hàng Giấy) và Trừng Thanh Trượng (Hàng Muối) cú thờm mộtphó lý Phần lớn cỏc thụn, phường đều có chức hương trưởng (trừ cỏc thụnGia Ngư, Hương Minh) thuộc Cầu Gỗ, Trung Yên (Trung Yên, Đinh Liệt)tổng Đông Thọ, thôn Mỹ Lộc (Hàng Mắm, Hàng Bạc), tổng Phỳc Lõm,phường Đồng Xuân (Đồng Xuân, Hàng Giấy), thôn Phủ Từ (Hàng Lược),tổng Đồng Xuõn, cỏc thụn Yờn Thỏi (Yờn Thỏi, Tam Thương), Nhân Nội(Hàng Bồ, Bát Đàn), Hữu Đụng Mụn (Hàng Cõn), Tụ Tịch, phường Đông Hà(Hàng Gai), tổng Thuận Mỹ Hai thôn Hương Minh và Trung Yên không cóchức hương trưởng nhưng lại có chức cán đương (Hương Minh, Trung Yên),trong khi các phường, thôn còn lại không có chức vụ này
Nhìn bề ngoài, với tên gọi các đơn vị hành chính cơ sở phần nhiều làthôn cũng có một số phường nhưng có xu hướng giảm mạnh trong cải cáchhành chính Minh Mệnh Với chức danh người đứng đầu là lý trưởng (về mặthành chính), hương trưởng (về mặt tự quản), phố cổ hay Thăng Long – Hà Nộinói chung chẳng khác là bao so với khu vực nông thôn Điều đó một mặt xuấtphát từ quyết tâm của nhà Nguyễn, rõ hơn là Minh Mệnh muốn “nhất thể húa”
Trang 20hệ thống hành chính quốc gia nhưng mặt khác là một đặc trưng của xã hội ViệtNam truyền thống khi thành thị - nông thôn “hũa tan” hay một thể thống nhất.Nhưng đó là nhìn bề ngoài, còn thực chất thì khu vực này cho đến giữa thế kỷXIX đã thực sự đô thi hóa, một không gian đô thị điển hình của Thăng Long –
Hà Nội, cho dù ở đâu đó vài sắc thái nông thôn vẫn còn được duy trì
là đô thị hóa phát triển nhất của Thăng Long – Hà Nội, vài hình ảnh đặctrưng của cảnh quan nông thôn vẫn được duy trì Vẫn chưa hết cảnh nhữngcây cổ thụ, những hàng tre xanh, những hồ ao và những cột đá được dựng lênlàm mốc giới Một vài ví du dưới đây phần nào giúp chúng ta cảm nhận vềkhung cảnh phố cổ giữa thế kỷ XIX
Đây là mô tả về giáp giới thôn Dũng Thọ (Hàng Bạc, Tạ Hiện)
Đụng giáp chân thành Đại La và quan lộ, đối diện với địa phận cỏcthụn, phường Hà Khẩu, Nam Hoa bản tổng, cùng lấy nửa đường làm giới, lạigiáp dân cư thôn Trường An bản tổng, đều lấy tường gạch làm giới, lại giápđường nhỏ thôn Gia Ngư và ao thôn Ngư Vừng cựng quan lộ, đối diện dân cưphường Diên Hưng, cùng lấy nửa đường làm giới, lại giáp dân cư thụn XuõnYờn tổng Thuận Mỹ, lấy tường gạch thôn ấy và tường gạch dân cư bản thônlàm giới
Tõy giáp dân cư cỏc thụn Xuõn Yờn, Nhõn Nội tổng Thuận Mỹ cùnglấy tường gạch cỏc thụn ấy và tường gạch bản thôn làm giới, lại giáp địa phậncỏc thụn, phường Gia Ngư, Nhiễm Thượng, Trung An, Diên Hưng bản tổng
Trang 21cùng lấy tường gạch bản thôn làm giới, lại giáp ao thôn Ngư Võng bản tổng vàquan lộ, đối diện phường Đồng Lạc tổng Thuận Mỹ và địa phận phường HàKhẩu bản tổng, cùng lấy nửa đường làm giới Nam giáp địa phận cỏc thụnDiờn Hưng, Nam Hoa, Gia Ngư, Trường An, Nhiễm Thượng bản tổng đều lấytường gạch dân cư bản thôn làm giới, lại giáp địa phận cỏc thụn, phường ĐồngLạc, Tô Lịch, Xuõn Yờn, Thuận Mỹ của tổng Thuận Mỹ, cùng lầy tường gạchcỏc thụn phường ấy và tường gạch bản thôn làm giới, lại giáp quan lộ, đối diệnđịa phận thụn Đụng An bản tổng, cùng lấy nửa đường làm giới.
Đây là mô tả về giáp giới thôn Đồng Thuận (Hàng Cá)
Đụng giáp chân thành Đại La và địa phận cỏc thụn, phường Hoa Môn,Đồng Xuân bản tổng, lại giáp cửa cống và quan lộ, giỏp Tụ Lịch, đối ngạn bờbên kia là địa phận cỏc thụn, phường Vĩnh Trù, Phủ Từ, lấy chân thành vàcửa cống thôn Hoa Môn, đường nhỏ bản thôn, tường gạch, giữa sông, nửacửa cống, nửa quan lộ, nửa tường gạch phường Đồng Xuân, đường gạch bảnthôn và gia thổ Lưu Kim Nho làm giới
Tõy giáp thành hào ngoài và địa phận cỏc thụn Tiền Trung, An Phú,Thanh Hà bản tổng, lại giáp quan lộ, đối ngạn với địa phận thôn An Phú, lấycột đá liền bờ hồ Thanh Hà, bờ tường gạch Hàng Tre bản thụn cựng nưa quan
Bắc giáp thành hào ngoại và địa phận thôn Tiền Trung bản tổng, lạigiỏp sụng Tụ Lịch và quan lộ, đối ngạn bờ bên kia là dân cư cỏc thụn An
Trang 22Phú, Vĩnh Trù, và dân cư phường Cận Nhai của huyện Vĩnh Thuận, lấy hàngtre bản thôn và giữa sông, nửa quan lộ làm giới.
Về hệ thống địa danh:
Địa danh là một phần của lịch sử và văn hóa, mang trong bản thân nónhiều thông tin giá trị Hệ thống địa danh phố cổ bao gồm cả tên gọi cácphường, thôn và tên gọi các khu xứ
Trong khi tên gọi các phường, thôn đầu thế kỷ XIX có nhiều tờn Nụm,sau đó được chuyển nghĩa phần lớn sang tên Hán Việt thì tên gọi các khu xứlại hầu hết có tờn Hán Việt Trong số địa danh - các khu xứ, chỉ có hai địadanh mang tờn Nụm, đó là xứ Trong Làng, phường Diên Hưng (nay là phốHàng Ngang), và xứ Cửa Cống (thôn Đồng Thuận nay là phố Hàng Cá) Đây
là một khác biệt lớn so với khu vực nông thôn Khu vực nông thôn, tên đơn
vị hành chính cơ sở thường có tên Nôm (có trước được duy trì), nhưng xuhướng hầu hết được thay bằng một tờn Hỏn Việt Cũn cỏc khu xứ (trong làng
và ngoài đồng) thì phần lớn có tên Nôm
Ngày nay, hầu hết các địa danh phố cổ, cả tên gọi các đơn vị hànhchính và khu xứ dân gian không còn được dùng Cũng chả mấy người HàNội, kể cả những người đang sinh sống ở khu vực phố cổ, nhất là nhữngngười mới nhập cư vào, những người trẻ tuổi còn biết được, nhớ được tại nơimình đang sinh sống đây ngoài tên phố, tên phường hiện tại, thì trong lịch sử
đã từng mang những tên gọi gì Chuyện có lẽ chẳng có gì quan trọng Nhưng,nếu ta biết rằng, địa danh, một tên gọi từ nước đến vùng, cho đến từng thôn,phường bao giờ cũng chứa đựng những nội dung lịch sử, những nét văn hóa,thì việc khôi phục lại hệ thống địa danh chính là góp phần vào việc khôi phụclại lịch sử và làm giàu thêm yếu tố phi vật thể của văn hóa khu phố cổ Vớinhững dữ liệu đó, chưa tính đến việc đặt lại một số tên phố, tên phường,nhưng ở một cấp độ thấp hơn, chẳng hạn như những cửa hàng, cửa hiệu thay
vì những tên gọi mới nhiều khi rất phản cảm mà đặt bằng tên một địa danh,tại chính nơi đó, của hàng mấy trăm năm về trước Phố cổ Hà Nội không thật
Trang 23giàu văn hóa vật thể thì phải thật giàu về bề dày lịch sử và văn hóa phi vậtthể Từ địa danh cổ được khảo cứu, được tập hợp, được khôi phục là gópphần làm sống dậy một phần của hồn phố cổ - hồn lịch sử văn hóa.
Không gian phố cổ giữa thế kỷ XIX, với mấy nét phác họa như thế, chỉ
là một trang trong ký ức lịch sử hàng ngàn năm Tuy nhiên, nó cũng đó gúpmột viên gạch nhỏ làm dầy thêm lịch sử, cũng tức là làm giàu thêm giá trịlịch sử, văn hóa của phố cổ - một di sản
1.2.2 Giá trị văn hoá của kiến trúc phố cổ Hà Nội
Nói đến quá trình lịch sử phát triển “Thăng Long – Hà Nội” không thểkhông nói đến phố cổ Hà Nội Ngày nay không chỉ nhân dân Việt Nam màngay cả bạn bè quốc tế cũng quan tâm đến khu phố cổ Hà Nội, coi đó nhưmột di sản văn hoá, một đặc trưng của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến
- Giá trị về kiến trúc của Phố Cổ Hà Nội
Khu phố cổ được gọi là "Hà Nội 36 phố phường", hình thành từ đầuthế kỷ 15, giới hạn bởi phía Bắc là đường Hàng Đậu, phía Nam là các đườngphố Hàng Bông - Hàng Gai - Cầu Gỗ và Hàng Thùng, phía Đông là đườngTrần Nhật Duật - Trần Quang Khải và phía Tây là đường Phùng Hưng Đây
là một quần thể kiến trúc độc đáo với những mái ngói rêu phong cổ kính,những ngôi nhà nhỏ hình ống xen kẽ, hòa quyện vào nhau, tạo nên khônggian kiến trúc cổ sinh động, đa dạng Khu vực này hiện còn 79 công trình, ditích văn húa-lịch sử, tôn giáo (trong đó có khoảng 60 đình, dấu ấn tổ nghề) và
859 công trình kiến trúc có giá trị (245 ngôi nhà cổ và 614 ngôi nhà cũ), vàđặc biệt là Ô Quan Chưởng (cửa Đông Hà), di tích khá nguyên vẹn của kinhthành Thăng Long xưa Đặc điểm chung của các phố cổ Hà Nội là nhiều tênphố bắt đầu bằng từ "Hàng", tiếp đó là một từ chỉ một nghề nghiệp nào đónhư Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Mã, Hàng Thiếc
Với một diện tích khoảng 100ha, nhưng đã tích tụ rất nhiều những yếu
tố kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống Nhưng nổi bật hơn cả là các yếu
tố, những vẻ đẹp vừa rất giản dị, mộc mạc, vừa rất đặc thù về bản sắc của
Trang 24một dân tộc có nền văn hoá, kiến trúc, tâm linh rất riêng thông qua mộtkhông gian tổng thể với cái tên rất ẩn tượng: “Khu Phố cổ Hà nội” Đó là cáitên mà ngày nay, mỗi khi nhắc đến, dù là người trong nước hay người nướcngoài đều nghĩ đến một cái gì đó rất đáng trân trọng Bởi lẽ, tại đây đã chứađựng và phản ảnh khá đầy đủ về các loại hình kiến trúc như nhà ở, đỡnh,chựa, chợ búa, đường đi lối lại, đại diện cho một thời kỳ hình thành và xâydựng của Thủ đô chúng ta, Thủ đô Hà Nội
Kiến trúc đô thị là biểu hiện văn hoá vật chất của cộng đồng được hìnhthành qua quá trình phát triển liên tục và tuân theo qui luật tiếp biến văn hoá
Vì vậy, nhận diện bản sắc văn hoá đô thị, có một phần quan trọng thông quacác giá trị của kiến trúc đô thị
Khu Phố Cổ là thành phần quan trọng trong hệ thống trung tâm lịch sửcủa Hà Nội - nơi tập trung cao nhất mọi hoạt động của đô thị, là hình ảnh đạidiện các giá trị văn hoá đô thị của Hà Nội
Các giá trị văn hoá của khu Phố cổ Hà nội được nhận biết đồng thờiqua các đặc trưng hình thái kiến trúc, cảnh quan đô thị và qua ý nghĩa tượngtrưng của kiến trúc đô thị vốn được tạo thành bởi phương thức tổ chức, đặcthù về hoạt động kinh tế xã hội và văn hoá của cộng đồng dân cư Hai yếu tốnày luôn đi cùng nhau và kết hợp hữu cơ với nhau để tạo nên giá trị thốngnhất của kiến trúc đô thị Giá trị hình thái và ý nghĩa tượng trưng của kiếntrúc đô thị vừa tác động, vừa bị chi phối bởi trạng thái tâm lý của con ngườikhi sử dụng và nhân thức về không gian kiến trúc đô thị Rõ ràng, yếu tốtượng trưng hay cao hơn là yếu tố biểu tượng của kiến trúc liên hệ chủ yếuđến di sản văn hoá và kiến trúc, tạo nên ấn tượng sâu sắc trong cảm nhận cácgiá trị của kiến trúc
Do đó có thể nói, đặc trưng văn hoá đô thị Hà Nội dễ dàng được cảmnhận trong cấu trúc chức năng và không gian 36 phố phường, trước hết thôngqua các công trình kiến trúc có giá trị lịch sử cùng những huyền thoại lốisống và nhiều biểu thị văn hoá vốn trải thời gian đã được định hình
Trang 25Đặc điểm dân gian thể hiện rất rõ trong cách tổ chức khu phố trên cơ
sở đơn vị phường nghề với phương thức sản xuất, tổ chức xã hội và các thiếtchế văn hoá, tín ngưỡng và đương nhiên là cả cách thức xây dựng có nguồngốc từ nông thôn
Phố xuất hiện sau phường do nhu cầu trao đổi thương nghiệp tăng dần.Phố là bộ phận của phường, thuộc về phường và là bộ mặt của phường Đồngthời phố là thành phần liên kết các phường khác nhau trong mối quan hệ hỗtương và tạo nên một mạng lưới Đó là cấu trúc đô thị
Sự hình thành tuyến phố quyết định sự hình thành ô phố Sở dĩ mạnglưới đường phố và ô phố trong khu 36 phố phường cú kớch thức nhỏ vàkhông đồng đều về hình dạng bởi vì quá trình hình thành và phát triểnphường, phố là quá trình mang tính tự phát, phát triển theo nhu cầu, dườngnhư không dự kiến trước và hoàn toàn bị chi phối bởi điều kiện địa hình tựnhiên Các tuyến phố hình thành từ chính những con đường nhỏ vốn kiêmchức năng thuỷ lợi thường có hình dáng tự nhiên, quanh co
Việc hình thành các đơn vị phường đã tác động tới kiến trúc của khuPhố Cổ Chúng ta có thể thấy điều này qua sự phát triển của các nhà hình ống
đó là nhà dài có mặt tiền hẹp gọi là nhà ở hàng phố, phòng quay ra phố dùnglàm cửa hàng và làm hàng
Nhà ở trong khu “36 phố phường”cú đặc trưng mặt tiền hẹp và chiềusâu nhà rất dài vì thế có tên gọi phổ biến là “nhà hình ống” Chúng cũng cònđược gọi là “nhà ở hàng phố” Phần lớn các kiểu nhà truyền thống mà ngàynay chúng ta vẫn có thể thấy trong khu vực phố cổ được xây từ cuối thế kỷXIX hoặc được xây lại vào đầu thế kỷ XX
Nhà hình ống quay mặt ra mặt phố, chiều rộng trung bình của mặt tiền
từ 2m tới 4m, trong khi đó chiều dài có thể từ 20m tới 60m và có một sốtrường hợp lên tới 150m
Nhà có nhiều lớp và cách nhau bằng những sân trong, các sân trongthông thoáng để lấy ánh sáng tự nhiên Sân trong còn là nơi diễn ra các hoạt
Trang 26động đa năng của nhà Ngoài sân trong, trong các ngôi nhà này trước đây cũn
cú cỏc mảnh vườn nhỏ
Trong khu phố cổ ngoài nhà ở buôn bán của dân cư hiện còn 54 ngụiđỡnh, 6 chùa, 22 đền, 3 miếu tổng cổng là 85 công trình tôn giáo tín ngưỡngtrên khu vực khoảng 100ha, có thể nói mật độ công trình tôn giáo tín ngưỡngtrong khu Phố Cổ thuộc loại cao Phần lớn các công trình này có lịch sử khởidựng cũng đã lâu mang dấu ấn của các thời xưa Với lối kiến trúc truyềnthống dựng từ gỗ, gạch với các hệ kết cấu vì kèo gỗ của nhiều thời kỳ, cáckhông gian đình, đền, chùa.v này là các không gian tâm linh mang tínhcộng đồng, nó cú mối quan hệ vô hình với các không gian tâm linh riêng củatừng ngôi nhà, trong khu 36 phố phường Các không gian văn hoá cổ này từkhi khởi dựng đến nay vẫn đang hoạt động, và ngày nay với xu thế quay vềvới triết học phương Đông, coi trọng tâm linh, các không gian văn hoá cổ đãgóp phần tạo nên đặc trưng của khu 36 phố phường
- Giá trị về nghệ thuật của Phố Cổ Hà Nội
Khu 36 phố phường xưa nổi tiếng là đất “ngàn năm văn vật”; “Thứnhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”, với nhiều hoạt động sôi nổi cả ngày lẫnđêm; “dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước, áo quần như nờm” Nơiđây, không chỉ đã từng là một trung tâm kinh tế mà còn là một trung tâm vănhoá đa dạng; văn hoá ẩm thực phong phú với nhiều tiệm cao lâu nổi tiếng củangười Hoa, tiệm ăn của người Việt Sau này là các hoạt động biểu diễn củacác đoàn Quảng Lạc, Chuông Vàng, Kim Chung, Kim Phụng, hoạt động sôinổi của các rạp chiếu phim…
Do vậy nhìn nhận khu 36 phố phường không nên chỉ đơn thuần là khíacạnh văn hoá vật thể (đánh giá đơn thuần về công trình kiến trúc), mà còn làkhía cạnh văn hoá phi vật thể, đú chớnh là cái hồn của phố cổ
Nếu vật thể là những cái nhìn thấy được như: đình, chùa, đền,miếu thỡ phi vật thể là những cái không có hình hài vật chất: ca dao, truyện
cổ, tín ngưỡng, tâm linh, cách sống, phong cách làm ăn, buôn bán song thực
Trang 27tế không có sự khác biệt rành rọt như vậy Ca dao tục ngữ là truyền miệng, là
vô hình nhưng sách sưu tầm và in ra các ca dao tục ngữ lại là vật hữu hình.Hay tín ngưỡng, lễ nghi, thờ phụng, cúng bái, là vô thể, song chúng diễn ra ởnhà thờ, đình, đền, miếu một cách hữu hình Như vậy văn hoá phi vật thểphải dựa vào vật thể để lưu hành và lưu truyền cho các thế hệ
Phong cách buôn bán cổ thể hiện đầy đủ tính chất chợ, tức là thị, của
đô thị một nước mới thoát khỏi chế độ phong kiến chưa lõu, cú nền sản xuấtmanh múm chưa được công nghiệp hoỏ và sự lưu thông hàng hoỏ cũn nhỏ lẻ
Hà Nội là đất Kinh Đô ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ kết tinh, tinh tuýcủa mọi miền Di sản văn hoá phi vật thể Hà Nội có trữ lượng khá lớn, nó đóphản ánh một cách phong phú, đa dạng và chân thực truyền thống sinh hoạtvăn hoá của người Hà Nội Một số loại hình của bộ phận di sản này trongnhững năm qua đã được sưu tầm, nghiên cứu như làng nghề phố nghề, sinhhoạt lễ hội, nghề, phong cách sống, ẩm thực Văn hoá phi vật thể Hà Nội làtổng hoà các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hoà, tiếp biến, cởi mở, linh hoạt,
để tạo nên bản sắc Thăng Long - Hà Nội, một vùng đất “hội thuỷ, hội nhân
và hội tụ văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng”
Một trong những giá trị quan trọng là ở đây đã hình thành những mảngtruyền thuyết già đời như truyền thuyết cổ đại của cả nước ta Từ thời HùngVương thứ VI, trước cả ông Thánh Gióng của làng Phù Đổng quá ư nổi tiếng,tại trung tâm khu Phố cổ Hà nội, tại bến Tiên Ngư (Cá tươi) trên bờ sụng TụLịch đã hình thành câu truyện của ông Lý Tiến chống giặc Ân khi chúngxâm lược nước Văn Lang đã bị tử thương trong chiến đấu Lý Tiến đã hy sinhkhi về đến làng quê Tiên Ngư trên bờ sụng Tụ Lịch này Sau khi mất, ụng đóbáo mộng vua Hựng khuyờn vua rao mõ cầu hiền, do đó đã phát hiện ThỏnhGiúng Sự tích Lý Tiến được ghi trong Thần phả và trong sỏch Tõy Hồ Chí
Có thể nói đây là một trong những vị anh hùng chống ngoại xâm đầu tiên củadân tộc và đã hy sinh anh dũng ngay trên địa phận khu Phố Cổ Đền thờ naycòn dấu vết ở phố Hàng Cá, số nhà 27
Trang 28Lễ hội dân gian Hà Nội cổ truyền trước cách mạng tháng Tám nhất là
từ thế kỷ 19 trở về trước không những có một quá trình lịch sử lâu dài mà cònphát triển mạnh mẽ và giữ vai trò của một loại hình sinh hoạt văn hoá cộngđồng quan trọng ở Kinh Đô
Hạt nhân của lễ hội Hà Nội là nghi thức, lễ tiết nông nghiệp, thờ nước,thờ lỳa cựng cỏc sản phẩm của cây lúa Điều này không chỉ diễn ra ngay ởnội thành (nhất là khu phố cổ hiện nay), giữa vùng tụ cư thị dân đông đúc vớinhững lễ tiết nông nghiệp điển hình như “lễ tế xuân ngưa” với tục “Đả xuânngưu” của phường Đông Hà xưa mà không gian của lễ hội trải dài trờn cỏcphố từ Hàng Chiếu đến tận Hàng Gai bây giờ
Hà Nội xưa tuy giữ vị trí đô thị hàng đầu nhưng vẫn không thoát khỏi
sự phát triển yếu ớt và chậm chạp của các đô thị cổ Việt Nam cũng như các
đô thị của Phương Đông Vì thế không có văn hoá đô thị rạch ròi mạnh mẽ vàtất yếu lễ hội cổ truyền Hà Nội phải mang đậm tính chất nông thôn nôngnghiệp, bên cạnh chất nông thôn nông nghiệp, lễ hội cổ truyền Hà Nội cònđậm đà màu sắc lịch sử, bởi không đâu khác Hà Nội là trung tâm, là nơi tậptrung các nhân vật lịch sử và những sự kiện lịch sử, những dấu ấn lịch sử củamôi trường văn hoá đô thành
Tuy Hà Nội xưa kém phát triển theo kiểu một đô thị trung cổ phươngĐông nhưng không ở đâu có điều kiện phát triển văn hoá qua lễ hội bằng HàNội Bởi vì lễ hội phải được xây dựng trên một tổ chức cao, có được phươngtiện, điều kiện vật chất và có xã hội phát triển Với những điều kiện như thế,
Hà Nội xưa đã đáp ứng tốt hơn tất cả mọi nơi Vì Hà Nội là Kinh Đô của cảnước; Hà Nội có vua, có triều đình, có văn hoá bác học, coi trọng văn hoá lễhội Đặc biệt Hà Nội có cỏc phố phường thủ công, thương nghiệp dịch vụtạo được những điều kiện vật chất cao cho lễ hội Có lẽ bởi vậy điều ta rất dễthấy ở nhiều lễ hội cổ truyền Hà Nội là quy mô lớn và đồ sộ, Song lại rấtthanh lịch
Trang 29Lễ hội dân gian xưa của Hà Nội chiếm vị trí rất lớn và có tác động tíchcực, sâu sắc đến đời sồng tinh thần, đời sống văn hoá của người Hà Nội.Thông qua lễ hội và trong lễ hội mọi hành động đều chứa đựng ý nghĩathiêng liêng đặc biệt Nó là thời điểm gắn bó các thành viên của cộng đồnglại với nhau Nó là thời điểm mà đời sống văn hoá của mọi người được tổchức chặt chẽ và có quy mô, do đó được nâng lên một trình độ cao hơn so vớinhững ngày thường, và đó còn là thời điểm hội tụ các khả năng sáng tạo hội
tụ các thể loại văn nghệ, đưa lại niềm phấn khởi hào hứng cho mọi người
Qua điều tra về các lễ hội Hà Nội, riêng ở nội thành thì lễ hội ở “ThăngLong tứ trấn” là đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên và Quán (hayĐền) Trấn Vũ đều diễn ra hàng năm với nghi thức ngày một trang trọng
Trong khu Phố Cổ cũn cú một số đình đền như đình Đồng Lạc số 38Hàng Đào, đình Đại Lợi số 50 Gia Ngư, đình Trang Lâu số 77 Nguyễn HữuHuõn, đỡnh Đụng Hà số 46 Hàng Gai cỏc truyền thuyết đú đó hàng bao đời
in sâu vào trí óc, tình cảm của nhân dân và do đó đó cú một sức sống mạnh
mẽ Vừa có thể coi như một tư liệu bổ sung cho chính sử và nhất là đã trởthành một thế giới tâm linh mà mọi người có thể tìm được ở đó một nguồnnăng lượng vô hình nhưng đầy tin tưởng
Một di tích nữa chứng minh lịch sử lâu đời và đồng thời cũng là mộtkhía cạnh của tâm linh người Hà Nội thời cổ sơ là đền Hương Nghĩa, số 13Bphố Đào Duy Từ Đền thờ Cao Tử, em con chú ruột ông Cao Thông, tức Cao
Lỗ, người đã chế tạo ra chiếc nỏ thần kỳ giúp vua Thục An Dương Vươngđánh quân xâm lược Triệu Đà Cao Tử có tài võ nghệ, từng thi diễn tại thành
Cổ Loa và được vua Thục gả công chúa Phương Minh là con gái thứ ba, emcủa Mỵ Châu Ông chỉ huy quân Thuỷ và đã đánh bại Triệu Đà nhiều lần, saukhi Trọng Thuỷ đánh lừa Mỵ Châu lấy cắp được bí mật nỏ thần và phản bộiđem quân xâm lấn Cao Tử dàn bày thế trận ở Khu Kiên Nghĩa trên bờ sụng
Tụ, ngồi trên voi chửi mắng Trọng Thuỷ và thỳc quõn tiến đánh Vì lựclượng chênh lệch nên bị thua Cao Tử đã hy sinh ở trong dòng sông “Tụ Lịch
Trang 30cùng voi chiến” Sau khi mất, ông được thờ ở Hương Nghĩa và đình NgũĐằng, phố Hàng Bè Đền Ngũ đằng có cả tượng voi đá và trước đây còn giữđược đôi câu đối khá tiêu biểu:
“Tụ chữ mô ba đào, nhất phiến tinh trung truyền Thục sử
Lao thành huyền nhật nguyệt, cửu trùng hoa cổn tự Đinh triều”
Dịch là:
“Sụng Tô nổi dậy sóng căm hờn, tấc dạ tinh trung truyền sửThụcThành Loa treo cao vầng nhật nguyệt, áo hoa phong tặng vi triềuĐinh”(Đền Hương Nghĩa nay còn giữ được tương đối tốt, còn đền Ngũ Đằng
Thành Loa treo cao vầng nhật nguyệt, áo hoa phong tặng vi triều Đinh”(Đền Hương Nghĩa nay còn giữ được tương đối tốt, còn đền Ngũ Đằng rấttiếc đã bị biến thành cửa hàng!)
Trong khu phố cổ cũn cú một đình đền khác thờ Tản Viên và hai anh
em là Cao Sơn và Quý Minh, tượng trưng cho núi Ba Vì, từ xưa vẫn còn lànỳi thiờng của cả nước, đồng thời cũng được coi là bức chắn phía Bắc củakinh thành Thăng Long Như đình Đồng Lạc ở 38 Hàng Đào , đình Đại Lợi
ở số 50 Gia Ngư, đình Trang Lâu số 77 Nguyễn Hữu Huõn, đỡnh Đụng Hà
số 46 Hàng Gai các truyền thuyết đú đó hàng bao đời in sâu vào trí óc,tình cảm của nhân dân và do đó đó có một sức sống mạnh mẽ Vừa có thểcoi như tư liệu bổ sung cho chính sử và nhất là đã trở thành một thế giới tâmlinh mà mọi người có thể tìm được ở đó một nguồn năng lượng vô hìnhnhưng đầy tin tưởng
Ngoài ra khu phố cổ còn là nơi phát nguồn của sụng Tụ Lịch, nơi màsau này thành phường khương Giang Khẩu nổi tiếng Có thể tin chắc rằngchỗ ngã ba sông Cái và sụng Tụ là một địa điểm dân cư khá lâu đời
Của sụng Tụ lần đầu tiên được ghi trong sử như một vị trí chống ngoạisâm hiểm yếu vào năm 545 khi Lý Bí dựng thành luỹ tại đây để chống quânxâm lược Trần Bỏ Tiờn Bọn đô hộ sau đó đã nhận thấy vị trí chiến lược
Trang 31xung yếu của khu vực này nên đến năm 607, chỳng đó dời đô sở đô hộ từLong Biên (Bắc Ninh) sang nơi đây, mà chúng đặt tên là Tống Bình để đềphòng những cuộc tấn công của người bản địa, chúng bắt dân chúng xâydựng những thành kiên cố, bắt đầu từ Khâu Hoà năm 621 sau đến Trương BáNghi và cuối cùng là Cao Biền (Thế kỷ thứ IX) Thời gian này đã hình thànhmột tín ngưỡng thờ thần Long Đỗ, tương truyền đã hiện ra trên không, khiCao Biền, viên đô hộ đã đắp thành Đại La - Một buổi trưa ra chơi Cửa Đôngngoài thành, y đã sợ hãi, vội tìm đồng và sắt làm bùa yểm chôn xuống đất với
hy vọng chế ngự được thần Cao Biền phải than: “Đất nơi đây thật anh linh,
ta phải mau về phương Bắc” Và y đã dựng đền, đắp tượng thờ
Trong khu Phố Cổ cũn cú một truyền thuyết khá nổi tiếng kể rằng LýCông Uẩn khi chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra đây nhiều lần xây đắp thànhkhông xong, đã cầu đảo và thấy hiện ra một con ngựa trắng đi vòng quanhkhu vực định làm thành rồi vào trong đền biến mất Lý Công Uẩn đã dựa theodấu vết chân ngựa để xây thành và công trình đã thành công nhanh chóng
Đó là thần Long Đỗ đã hiện lên giúp vua Lý, được vua đặt tên là Bạch Mã
Hiện nay thần Long Đỗ tức Bạch Mã được thờ tại đền Bạch Mã ởHàng Buồm Tín ngưỡng Long Đỗ - Bạch Mó đó cựng tín ngưỡng các thiênthần, thiên thần thời Hùng Vương, nói lên tâm hồn người Thăng Long - HàNội yêu nước, yêu đồng bào thắm thiết Một khía cạnh văn hiến trong khuPhố cổ Hà nội của Thăng Long là tâm linh hướng tổ, tức lòng ngưỡng mộ tổtiên; hướng vào cội nguồn, không “xanh như lá bạc như vụi” Dự ở bốnphương, tứ trấn qui tụ về đây dân chúng vẫn luôn nhớ về làng quê gốc cũ Sựhiện diện của khá nhiều đình đền gọi là “vọng từ, vọng đỡnh” đó chứng minhđiều đó: Nhị Khê vọng từ phố Hàng Hành, Trõu Khờ vọng đình phố HàngGiày, hai đình Hàng Bạc ở phố Hàng Bạc(42 và 50), hai đình Hàng Giày ởngõ Hài Tượng và ở phố Hàng Hành, đình Hàng Quạt (Hàng Quạt), đình thợthêu (ngõ Tạm Thương), đình Thợ Nhuộm (phố Hàng Đào), hai đình thợ Rèn(phố Lò Rèn và Lò Sũ) v.v
Trang 32Ngoài làng nghề lại có cả làng văn (thực ra văn cũng là một nghề) Ởphố Hàng Bông, số 68 là đình Lương Ngọc do dân làng này vốn ở huyệnBình Giang (hải Dương) ra đây sinh sống và xõy nờn Lương Ngọc là quêcủa nhà thơ nổi tiếng Phạm Quý Thích từng mở một trường dạy học đào tạorất nhiều danh sĩ: Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siờu cú lẽ trường học ngayđình này, vì tại đây có một câu đối khá tiêu biểu:
“ Giáp khoa tạc vọng truyền kinh quốc
Văn hiến danh hương ngưỡng đẩu sơn”
Dịch là:
“ Tiếng đức lớn giáp khoa, truyền khắp kinh đô đất nước,
Chốn danh thơm văn hiến ngửa trông Bắc Đẩu Thái Sơn”
(Bắc Đẩu Thái Sơn là tượng trưng cho thầy dạy đáng kính trọng)
Ngõ phất lộc có ngôi đỡnh Tiờn Hạ của dân làng Phất Lộc Phất Lộcthuộc huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình có ông tổ họ Bùi ra Thăng Long học
ở trương Giám rồi định cư ra đây Họ này vừa buôn bán, vừa có nhiều ngườinổi tiếng về văn học như Bựi Tỳ Lĩnh, Bựi Khỏnh Diễn Chính họ này đã bỏtiền tậu đất, làm nhà dựng văn chỉ huyện Thọ Xương tại phố Bạch Mai
Không chỉ họ Bùi, trong ngõ này còn có nhà thờ họ Đinh, họ Lê cả
ba nhà thờ họ này là những dấu tích của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên củangười Việt
Những di tích trên, không những cho thấy sức hút của kinh đô ThăngLong và chủ yếu là trung tõm kinh tế của Thủ đô, tức khu phố cổ, đối với cáctỉnh khác của cả nước, mà mặt khác còn thể hiện một khía cạnh đáng yêu,đáng quớ của tâm hồn dân tộc, tình lưu luyến quê hương xứ sở, trước sau nhưmột, tình làng nước, đoàn kết giữa những người cùng một quê hương
Khu Phố Cổ chính là nơi đã lưu giữ - ngoài những công trình văn hoỏcũn có nhiều giá trị tinh thần mà ngày hôm nay có thể giúp chúng ta nhìn ranhững khía cạnh khác nhau của tâm hồn người Thăng Long xưa để lựa chọn,thừa kế, xây dựng một khu Phố Cổ trong lòng thành phố Hà Nội
Trang 33Ca dao Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có ghi lại
ca dao về 36 sáu phố ở Hà Nội như sau:
Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
Quanh đi đến phố hàng Da,
Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh
Trang 34Tranh của hoạ sỹ Bựi Xuõn Phỏi
- Giá trị thẩm mỹ của Phố Cổ Hà Nội
Qua tư liệu cũ để lại khu vực sầm uất đông vui nhất của Hà Nội xưa làhuyện Thọ Xương (tức quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng hiện nay) màngười ta quen gọi là khu phố cổ Nơi đây là cửa hàng cửa hiệu buôn bán haysản xuất hàng thủ công chen vai sát vách nhau tạo thành những dãy phố, mỗiphố bán một mặt hàng hay hành một nghề riêng biệt và người ta lấy luôn tênsản phẩm để đặt tên cho phố
Thương nhân và thợ thủ công sống rải rác trong tất cả các phố phường,phố giàu có như Mó Mõy tập trung khá nhiều nhà buôn lớn, nhất là thươngnhân Hoa Kiều Đường xã ở đây được lát sạch sẽ, giữa hơi nhô lên, hai bên
có ngòi sâu và hẹp để thoát nước mưa hoặc nước cống rãnh thải ra các
Các phố được ngăn với nhau bởi những chiếc cổng lớn xây như bứctường mà bề rộng chiếm cả mặt đường, ban đêm được đóng một cánh nghiêmngặt Trong mỗi phố là những dãy nhà san sát làm theo kiểu chồng diêm mànay ta còn thấy ở các phố Hàng Buồm, Hàng Bạc, Hàng Ngang, HàngĐào Nú vừa là nhà ở lại vừa là cửa hiệu
Phố cổ Hà nội sở dĩ chiếm được vị trí quan trọng trong lịch sử pháttriển của Thủ đô, trở thành niềm tự hào và say mê và quan tâm sâu sắc tronglòng mọi người của cả nước như ngày hôm nay, bởi vì trong Phố cổ Hà nội
Trang 35đã và đang chứa đựng được một hệ thống giá trị di sản lịch sử, văn hoá, nghệthuật, kiến trỳc to lớn.
- Nhà cổ trong Phố Cổ Hà Nội
Một đặc trưng nữa của khu phố cổ là kiến trúc nhà cổ trong khu phốbuôn bán Những nhà cổ chủ yếu là nhà ống, mái ngói nghiêng, mặt tiền làcửa hàng buôn bán thò thụt không đều Hình ảnh nhà cổ và mái ngói đã đivào hội họa, thơ ca Những ngôi nhà này chủ yếu được dựng vào thế kỉ XVIII
- XIX, trước đó hầu hết là nhà mái tranh, chỉ có một số nhà giàu có, nhà củaHoa kiều mới lợp mái ngói
Thời kì toàn quốc kháng chiến, để tránh đụng độ trực tiếp với quânPháp và lính Lê dương, người dân và Vệ quốc quõn đó đục thông tường từnhà này sang nhà khác Khi cần người ta có thể đi từ đầu đến cuối phố quanhững lỗ hổng giữa các ngôi nhà mà không cần phải xuống dần dần biến mất.Thay vào đó là các ngôi nhà ống xây mới phá vỡ cảnh quan vốn có của phố
cổ Tuy vậy, bên trong các ngôi nhà vẫn là hệ thống đường đi chằng chịt
Di tích
Trang 36Cửa ô Quan Chưởng
Trong khu vực phố cổ có rất nhiều di tích lịch sử lâu đời, gồm đình,đền, chùa, hội quán
Đình: mỗi phố nghề thường có một đình để thờ tổ nghề hoặc thànhhoàng làng nguyên quán Đình ở khu này đặc biệt là tầng dưới vẫn làm cửahàng cho thuê, tầng trên mới làm nơi thờ cúng Qua thời gian, cỏc đỡnh bị lấnchiếm nhiều, rất khó tìm ra dấu
Đền: tương tự như đình, nhiều đền cũng chỉ đặt trên tầng, phía dướilàm cửa hàng Một số đền còn giữ được là: đền Mó Mõy, đền Nhân Nội, đền
Tại khu vực khu phố cổ xưa kia cú cỏc cửa ô: ụ Phỳc Lõm, ụ Thanh
Hà (ô Quan Chưởng), ô Trừng Thanh, ô Mỹ Lộc Hiện chỉ còn lại ô QuanChưởng là còn nguyên vẹn
- Giá trị về văn hoá - lịch sử
Trang 37Với mỗi người Việt Nam hôm nay, Thăng Long – Đụng Đô Phố cổ
-Hà Nội vẫn còn rất bí ẩn và quyến rũ bởi những chứng tích lịch sử, nhữngdấu ấn về con người qua truyền thuyết huyền thoại di tích lịch sử, những khuphố cổ, ngôi nhà cổ, tường thành xưa, đường phố cổ, ngụi đỡnh, chựa, đền,miếu…nhưng có lẽ cỏi cũn ghi được nhiều dấu ấn lịch sử nhiều nhất, rõ nhất,sinh động nhất, trực tiếp nhất đó là kiến trúc đô thị Kiến trúc cổ Hà Nội gợinên một nền văn minh tinh thần, một nếp sống, văn hoá gia đình trong nhữngđường nét ấm nóng hơi thở của nhiều thế hệ
Mỗi tên phố, tên nhà trong khu phố cổ Hà Nội đều gợi bóng dáng xưavới những phường thợ làm ăn tấp nập: Hàng Đào, Hàng Lược, Hàng Gai,Hàng Thiếc, Hồng Hòm, Hàng Bạc…kiến trúc cổ của khu phố này là cácngôi nhà nhỏ bé với mái tranh hay mái ngói lô nhô nối tiếp nhau từ dãy phốnày đến dãy phố khác
Một sớm cuối thu, nắng vàng óng ngọt ngào toả sáng ngôi nhà cổ 13Hàng Đào như muốn đền trả con người sau những cơn giông bão mùa hè.Qua cầu thang ọp ẹp căn phòng nhỏ trên tầng hai hiện ra một không gian cổxưa, tỉnh lặng với vẻ kín đáo của cánh cửa vòm giáo đường, những đường néthoa văn tinh tế của kiến trúc Pháp thế kỷ XIX Giá trị phong cách kiến trúcnhà ở độc đáo của một Hà Nội cổ là kiểu nhà ống, một phong cách đặc sắcnhất chỉ có đô thị cổ Việt Nam mới cú Vỡ diện tích bề rộng nhô ra mặt phốhẹp nên ông cha ta đã tận dùng bề dài sâu vào trong, sáng tạo một kiểu nhàthích hợp, ở nơi bán hàng, nơi ở, nơi thờ phụng, nơi sinh hoạt cá nhân hết sứckhoa học Nhà càng dài càng tạo ra nhiều lớp sử dụng, bên trong có khoảngsân vườn Sân vườn chỉ chiếm một khoảng nhỏ nhưng là nơi đưa thiên nhiênluồn lách vào trong từng gia đình, được người xưa đặc biệt quan tâm, nó làmcho ngôi nhà thông thoáng, sáng sủa, có nắng ấm, gió trời Nơi đây hiện lênmột khoảng trời riêng của gia đình với cây cau giàn trầu, giếng nước, hũnnon bộ, cây cảnh, chậu cá, lồng chim…tỏch khỏi mặt phố náo động, giúp tinhthần con người thư giãn tĩnh lại Ngôi nhà cổ thuần chất Việt Nam của phố cổ
Trang 38Hà Nội có mái ngói lô xô, có vườn cây, giếng nước, bàn thờ, có khoảng mâytrời kéo không gian gần lại, có vẻ đẹp thầm kín, giàu chất trữ tình chứa tronglòng nó cả ngàn năm văn hiến.
Lịch sử kiến trúc phố cổ Hà Nội gắn liền với quá trình hình thành vàphát triển của lịch sử thủ đô Cùng với những công trình kiến trúc cổ có giátrị lớn về mặt lịch sử, văn hoỏ cũn lưu giữ như: Văn miếu Quốc Tử Giám,chùa Một Cột…đú là các khu phố cổ với những sắc thái riờng đó làm nênnhững dấu ấn của kiến trúc Hà Nội Nhiều công trình kiến trúc lớn được xâydựng trong thời kỳ này nằm rải rắc ở một diện tích khá rộng của Hà Nội nhưphủ Toàn Quyền (phủ Chủ Tịch nay), nhà khách chính phủ (1916), nhà Hátlớn Hà Nội (1911) cho đến nay còn nguyên vẹn giá trị
Phố cổ Hà Nội với lịch sử gần một nghìn năm tuổi luôn là niềm tự hào
về một di sản kiến trúc quý báu mang đậm bản sắc truyền thống văn hoá củadân tộc và xứng đáng tượng trưng cho cốt cách linh hồn của thủ đô ngàn nămvăn hiến Khu “36 phố phường” Hà Nội nằm ở phía Đông Bắc thành cổ tronggần mười thế kỷ đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộctrong sự nghiệp chống ngoại xâm giữ nền độc lập cho nước nhà Khu 36 phốphường xưa nổi tiếng là đất “ngàn năm văn vật” Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhìphố Hiến với nhiều hoạt động sôi nổi “dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe nhưnước áo quần như nờm” Với đây không chỉ là một trung tâm kinh tế mà còn
là trung tâm văn hoá đa dạng văn háo ẩm thực phong phú, nét văn hoá phi vậtthể - cái hồn của phố cổ
Lịch sử Hà Nội gần một nghìn năm văn hiến biểu hiện rõ nét côngtrình phố cổ Giá trị vượt thời gian đú nó phản ánh giá trị ở một thời đại một
xã hội nhất định Điều đó đã ảnh hưởng tới cách cấu tạo không gian, tới kiếntrúc, không khí đô thị và chi phối cuộc sống hàng ngày Bản sắc văn hoá củakhu phố cổ được tạo nên bởi toàn bộ những hoạt động và thói quen phi vậtchất Và hơn nữa thể hiện qua nghề truyền thống, những hoạt động của từng
Trang 39phố, những truyền thống và phong tục Việt Nam và ký ức của những ngườidân trong khu phố.
Khu phố cổ Hà Nội, trung tâm lịch sử của thành phố hiện nay vẫn làkhu vực đông dân cư nhất Địa giới không gian khu phố cổ có thể coi là mộttam giác cân với đỉnh là phố Hàng Than, cạnh phía Đông là đờ Sụng Hồng,cạnh phía Tây là Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Gia cũn đỏy là trục Hàng Bông– Hàng Gai - Cầu Gỗ Qua nhiều năm cư dân sinh sống trở thành những conphố nghề đặc trưng Tất cả các ngôi nhà đều theo kiểu nhà ống, mang nét đặctrưng: bề ngang hẹp, chiều dài sâu, đôi khi thông sang phố khác Khu thành
cổ tức hoàng thành Thăng Long nằm ở khoảng giữa Hồ Tây và Hồ HoànKiếm xuất hiện cùng với kinh đô Thăng Long Trải qua nhiều lần phá huỷ,xây dựng lại rồi tiếp tục tàn phá hoàng thành Thăng Long hiện chỉ lưu lại vàidấu nét Cột cờ Hà Nội xây dựng năm 1812 hiện nằm trên đường Điện BiênPhủ công trình cao 40 bao gồm ba nền thềm rộng và tháp cổ hình lăng trụ,bên trong có lầu thang xoắn ống dẫn lên kỳ đài Phía Nam thành cổ còn lưulại được một quần thể di tích đa dạng là Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đượcxây dựng từ đầu thế kỷ XI, gần hai di tích chính Văn Miếu – nơi thờ Khổng
Tử, các bậc hiền triết nho giáo và Chu Văn An, trường Quốc Tử Giám trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam – công trình không chỉ làđiểm du lịch hấp dẫn mà còn là nơi tổ chức hoạt động văn hoá
-Nếu như giá trị vật thể là những cái nhìn thấy được: đình, chùa, đền,miếu, nhà ở thì giá trị phi vật thể là những cái không có hình hài vật chất: cadao, truyện cổ, tín ngưỡng, tâm linh, cách sống, phong cách làm ăn buôn bán.Song thực tế không có sự khác biệt rành rọt như vậy Ca dao tục ngữ làtruyền miệng vô hình nhưng cách sưu tầm và in ra lại là hữu hình Hay tínngưỡng, lễ nghi, thờ phụng là vô thể, song chúng diễn ra tại nhà ở, đình đền,chùa, miếu một cách hữu hình Như vậy văn hoá phi vật thể phải dựa vào vậtthể để lưu hành và lưu truyền cho các thế hệ