Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây tình hình tội phạm nước ta đang có chiềuhướng gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp Phổ biến hiện nay là những vụ
án nghiêm trọng có nhiều bị cáo tham gia, nhất là trong các vụ án tham nhũngxẩy ra gần đây đang được dư luận xã hội quan tâm theo dõi, lên án Trongđồng phạm, mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm có thể có vai trò khác nhau Sựliên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người phạm tội càng củng cố quyết tâmphạm tội của cả họ Điều đó giúp chúng ta nhận ra sự nguy hiểm của loại tộiphạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, đặc biệt là phạm tội có tổchức Chính vì vậy, việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và tộiphạm dưới hình thức đồng phạm nói riêng là việc làm cấp bách luôn đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng
Hiện nay trong Bộ Luật hình sự năm 1999 vấn đề đồng phạm chỉ được
đề cập đến ở Điều 20 Quy định này còn mang tính chung chung, chưa đề cậptới nhiều vấn đề cụ thể khác liên quan đến đồng phạm Thực tế từ trước đếnnay vấn mặc nhiên thừa nhận hướng giải quyết trách nhiệm hình sự chonhững người đồng phạm như được nêu trong các tài liệu giảng dạy đã có,xung quanh vấn đề trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm còn cónhiều quan điểm khác nhau chưa có sự thống nhất Việc giải quyết vấn đề này
là cơ sở để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn xét xử hiện nay Bộluật hình sự hiện hành hiện vẫn chưa quy định cụ thể các vấn đề như: phạmtội có tổ chức, các giai đoạn thực hiện tội phạm, về hành vi chuẩn bị và chưađạt đối với từng loại hành vi đồng phạm Đó là những cơ sở pháp lý đầy đủcho việc thực hiện nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự cho những ngườiđồng phạm Để giải quyết những vấn đề còn vướng mắc trong lý luận cũngnhư trong thực tiễn xét xử liên quan đến đồng phạm và trách nhiệm hình sự
Trang 2của những người đồng phạm cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc về vấn đềnày Đó là lý do tác giả khoá luận chọn và nghiên cứu đề tài:
“Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn trên cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Nghệ An”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về đồngphạm: bản chất, tính chất và mức độ nguy hiểm của đồng phạm; tính chất vàhành vi của từng loại người đồng phạm; các nguyên tắc xác định trách nhiệmhình sự (TNHS) cụ thể cho từng người đồng phạm và thực tiễn xử lý các vụ
án đồng phạm trên địa bàn tỉnh Nghệ An Từ đó đánh giá tình hình tội phạmnói chung, đồng phạm nói riêng trong giai đoạn hiện nay, đưa ra kiến nghị, đềxuất góp phần hoàn thiện chế định đồng phạm của Bộ luật hình sự trongtương lai
3 Ý nghĩa của đề tài
Việc nghiên cứu vấn đề đồng phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cơbản sau đây:
- Về lý luận, nghiên cứu đồng phạm giúp chúng ta xác định chính xác
cơ sở pháp lý của đồng phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cứu TNHScủa người đồng phạm
- Nghiên cứu vấn đề hình sự có ý nghĩa đặc biệt lớn trong công tác đấutranh, phòng ngừa tội phạm, giúp Toà án xét xử đúng người, đúng tội và đúngpháp luật, không bỏ lọt tội phạm Việc xác định TNHS cho từng người đồngphạm còn giúp cơ quan tư pháp xác định đúng tội danh và hình phạt tươngứng trong vụ án có nhiều người tham gia
Trang 34 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến việcxác định TNHS của những người đồng phạm, đồng thời nghiên cứu thực tiễnxét xử những vụ án đồng phạm trên địa bàn tỉnh Nghệ An
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của Chủ nghĩaMác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm,đường lối và chính sách của Đảng Và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tộiphạm Bên cạnh sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật, đề tài còn
sử dụng các phương pháp so sánh, lôgic, phân tích, chứng minh và tổng hợp
6 Kết cấu khoá luận
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khoáluận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý luận của đồng phạm
Chương 2: Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm
Chương 3: Thực tiễn xử lý các vụ án đồng phạm tại địa bàn tỉnh Nghệ
An từ năm 2005 đến năm 2008
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỒNG PHẠM
1.1 Những vấn đề chung về đồng phạm.
1.1.1 Khái niệm đồng phạm.
Tội phạm có thể do một chủ thể thực hiện cũng có thể là sự phối hợpcùng tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Khi một tội phạm được thực hiệnbởi nhiều người phạm tội thì việc xác định TNHS đối với họ là rất phức tạp.Một trong những cơ sở quan trọng để chúng ta xác định được đúng người đúngtội chính là những quy định đã được pháp điển hoá trong Bộ Luật hình sự
Lụât hình sự các nước trên thế giới đều có quy định về đồng phạm.BLHS của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 1979 tại điều 22 quy định:
“Hai hay nhiều người người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm” [6, 14] Theo điều 33 BLHS của Liên Bang Nga cũng có quy định: “Hai hay nhiều người cùng cố ý thực hiện một tội cố ý là đồng phạm” [6, 58] Pháp luật
hình sự của các nước trên thế giới có những quy định rất đa dạng về đồngphạm Nhưng điều mà chúng ta quan tâm hơn cả đó chính là những quy địnhtrong pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp nhiều người cùng tham gia
vụ đồng phạm
Trên lãnh thổ của nước Việt Nam trước đây, trong thời kỳ Phong kiếncũng đã có các quy định sơ khai về đồng phạm Luật hình sự Phong kiến hìnhthành và phát triển trên cơ sở của nhiều chế định khác nhau, thì vấn đề đồngphạm đã bước đầu được đề cập tới Bộ “Quốc triều hình luật” năm 1483 đã đề
cập đến vấn đề nhiều người cùng phạm tội Điều 454 quy định “Những kẻ đồng mưu với nhau đi ăn cướp nhưng khi đi thì lại không đi, người đi lấy được của về chia nhau, mà kẻ đồng mưu ở nhà cũng lấy phần, thì xử tội như
Trang 5là có đi ăn cướp (ăn trộm cũng vậy) Nếu không lấy được phần chia thì xử lưu đi châu gần Trước kia vẫn từng đi ăn cướp mà khi ấy không đi, dù không lấy phần cũng xử tội như đi ăn cướp” Hoặc điều 539 quy định: “Những kẻ xúi giục cho người ta không biết là phạm pháp, hay là biết phép mà cứ xúi giục họ làm trái phép, cũng là để người ta phạm pháp rồi bất ngờ tố cáo hay
là để người khác bắt, hay tố cáo, chủ ý để lấy thưởng hay hiềm khích mà xúi dục để cho người ta phạm tội thì cũng bị xử như người phạm pháp” Việc ghi nhận TNHS đối với “kẻ đồng mưu” hay “Người xúi dục kẻ khác phạm pháp”
trong hai điều luật trên cho thấy chế định đồng phạm đã được đề cập đếntrong luật hình sự Phong kiến Việt Nam Bộ “Quốc triều hình luật” thể hiệnđường lối xử lý của Nhà nước Phong kiến dưới triều Lê; Điều 35 quy định:
“Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc Nếu tất cả người một nhà cùng phạm một tội, chỉ bắt người tôn trưởng”
Sau ngày thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản phápluật liên quan đến đồng phạm Sắc lệnh số 233 - SL (17/11/1946) quy định: “
Nhiều người phạm tội đưa hối lộ và hối lộ có thể bị xử lý tịch thu nhiều nhất là 3/4 tài sản, những người đồng phạm cũng bị xử như trên” Sắc lệnh số 133 -
SL (20/1/1959) và pháp lệnh ngày 30/10/1967 về trừng trị những tội phản cáchmạng cũng quy định những trường hợp phạm tội của nhiều người trong đó baogồm bọn chủ mưu, bọn cầm đầu và bọn tham gia tổ chức phản cách mạng
Ở giai đoạn này chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất vềđồng phạm Thành tựu lập pháp mới chỉ dừng lại ở quy định các trường hợp
phạm tội có đồng phạm như: “Phạm tội có tổ chức”, “Phạm tội có móc ngoặc” hay quy định những loại người cụ thể trong vụ phạm tội có nhiều
người cùng liên kết thực hiện như bọn chủ mưu, bọn cầm đầu hay người xúidục Có thời điểm đã có quan niệm việc nhiều người cố ý cùng phạm một tội
Trang 6được coi là “cộng phạm” và đến năm 1963 khái niệm này đã được khẳng định lại trong báo cáo tổng kết ngành Toà án:“Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc là tổ chức hoặc là xúi giục hoặc giúp sức hoặc tham gia thực hiện tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội”.
Trong nội tại các văn bản pháp luật trên quy định về đồng phạm chúng
ta chưa thể tìm thấy sự phân hoá TNHS đối với những kẻ cùng thực hiện tộiphạm nhưng qua đó chúng ta đã có được tư duy để phân biệt giữa trường hợpphạm tội riêng lẻ và trường hợp phạm tội có sự tham gia cùng thực hiện củanhiều người là đồng phạm Những quy định trên đây sẽ là nguồn tài liệu quantrọng và thực sự quý báu để nhà làm luật tiếp tục hoàn thiện chế định đồngphạm trong giai đoạn sau
Pháp luật hình sự giai đoạn sau này có những bước tiến nhảy vọt với sự
ra đời của BLHS 1985 Tại đây, lần đầu tiên khái niệm đồng phạm đã chính
thức được sử dụng Khoản 1 Điều 17 BLHS 1985 nêu rõ: “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”. BLHS 1999 ra đời,
điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Từ những quy định trên đây chúng
ta có thể nhận ra điểm tương đồng so với khái niệm đồng phạm đã được quyđịnh trong BLHS năm 1985 và BLHS 1999
Như vậy quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đã cho chúng ta khái niệm đầy
đủ và thống nhất về đồng phạm Đó là đồng phạm là trường hợp có hai ngườitrở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm, hay nói cách khác, khi một tội phạmđược thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và hai chủ thể đó thoả mãn dấu hiệu
“cùng cố ý” thì trường hợp đó được coi là đồng phạm Để hiểu rõ hơn bảnchất pháp lý của đồng phạm chúng ta tiếp tục nghiên cứu mặt chủ quan vàmặt khách quan là thuộc tính cơ bản của đồng phạm
Trang 71.1.2 Dấu hiệu pháp lý của đồng phạm
1.1.2.1 Mặt khách quan của đồng phạm
Để xác định bản chất của đồng phạm chúng ta cần nghiên cứu dấu hiệu vềmặt khách quan So với trường hợp phạm tội riêng lẻ thì tội phạm khi được thựchiện bằng hình thức đồng phạm luôn có những dấu hiệu cơ bản bắt buộc sau:
a) Có ít nhất hai người có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện tội phạm.
Yếu tố chủ thể tham gia thực hiện tội phạm là cơ sở quyết định tínhchất của đồng phạm Thực tế cho thấy nhìn nhận trực quan có trường hợp mộttội phạm được thực hiện chỉ do một người nhưng cũng có thể nó là kết quảcủa sự liên kết phối hợp giữa nhiều chủ thể khác nhau Sự tham gia của nhiềungười vào việc gây án đã làm cho tội phạm thay đổi về chất và có tính nguyhiểm cho xã hội cao hơn hẳn trường hợp phạm tội riêng lẻ Khi tội phạm cónhiều người cùng tham gia thì những người phạm tội có tâm lý dựa vào sứcmạnh tập thể nên liều lĩnh và táo bạo hơn, quyết tâm phạm tội cao hơn Do
đó, tội phạm có khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội cao hơn
Ví dụ: Tại bản án số 29/2007/HSST ngày 29/9/2007 do TAND huyệnThanh Chương tỉnh Nghệ An xét xử cho thấy: Nguyễn Tuấn Anh, Lê VănThái, Lê Văn Dương và Ngũ Văn Truyền lợi dụng lúc gia đình chị Hoàng Thị
Hà ở khối 10 Thị Trấn Thanh Chương đi vắng đã lén lút đột nhập vào nhà chị
Hà lấy đi 8.525.000 đồng và 4 cây thuốc lá ngựa trắng và 2 cây thuốcVinataba
Trong vụ án này Nguyễn Tuấn Anh nhờ có sự cảnh giới của Ngũ VănTruyền, sự tham gia tích cực của Thái và Dương đã nhanh chóng thực hiệnđược hành vi trộm cắp theo kế hoạch đã vạch ra từ trước Điều này càngchứng tỏ tính nguy hiểm cao của loại tội phạm được thực hiện bởi nhiều
Trang 8người cùng tham gia Tuy vậy không phải mọi trường hợp cứ có nhiều ngườicùng thực hiện một tội phạm đều là đồng phạm.
Ví dụ: A có hiềm khích với gia đình anh B đã xúi dục bé C (mới 7 tuổi)dùng lửa đốt cháy nhà anh B
Để xác định A và C có phải là đồng phạm trong vụ đốt nhà anh B haykhông, trước hết phải xác định điều kiện chủ thể thực hiện tội phạm của A và C
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự(NLTNHS) đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể
NLTNHS chỉ được hình thành khi con người đạt độ tuổi nhất định.Điều 12 BLHS năm 1999 quy định:
1 Người từ đủ 18 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS
về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Trong trường hợp này A và C không phải là đồng phạm vì C chưa đạt
độ tuổi theo luật định và không có năng lực trách nhiệm hình sự
Như vậy NLTNHS và độ tuổi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thểtội phạm Trong một số trường hợp chủ thể của tội phạm đòi hỏi phảỉ có thêmmột số dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ khi thoả mãn những dấu hiệu đó nhữngngười thực hiện hành vi phạm tội mới được coi là chủ thể của tội phạm
b) Những người đồng phạm phải cùng thực hiện một tội phạm.
Dấu hiệu cùng thực hiện tội phạm có nghĩa là những người tham giatrong một vụ đồng phạm bằng hành vi của mình đều góp phần thực hiện tộiphạm hoặc thúc đẩy việc thực hiện một tội phạm với một hoặc một số hành visau: Hành vi thực hành, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức.Tương ứng với bốn loại hành vi này là bốn loại người đồng phạm, đó là:người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức và người thực hành
Trang 9Thực tế cho thấy trong một vụ án đồng phạm có thể có đủ bốn loạihành vi nhưng cũng có thể chỉ có một trong bốn hành vi đó Những ngườiđồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi hoặc với nhiều loại hành vikhác nhau Họ có thể cùng nhau tham gia thực hiện tội phạm ở thời điểm tộiphạm bắt đầu cho tới khi tội phạm đã hoàn thành và kết thúc cũng có trườnghợp người tham gia vào hành vi phạm tội khi tội phạm đã được thực hiệnnhưng chưa kết thúc.
Bằng những hành vi cụ thể những người tham gia vào vụ án đồng phạmđều hướng tới một hậu quả nguy hiểm cho xã hội Những hành vi đó đượcthực hiện trong mối liên kết thống nhất với nhau, hành vi của mỗi người làđiều kiện cần thiết cho hoạt động phạm tội chung Trong đó hành vi thực hànhtrực tiếp phát sinh hậu quả còn các hành vi khác như hành vi xúi giục, hành vigiúp sức không trực tiếp làm phát sinh hậu quả nhưng hành vi của họ có quan
hệ nhân quả với hậu quả chung
Ví dụ: A rủ B cùng đi ăn trộm Điện thoại Di động ở cửa hàng MinhChâu Vào lúc 11 giờ 45 phút cả A và B cùng đi tới cửa hàng, lúc này C đang
đi trên đường trước cửa hàng Minh Châu A và B đã rủ C canh chừng để A và
B cạy khóa lấy điện thoại di động và sẽ chia phần cho C
Ở đây hành vi của A và B đã trực tiếp làm phát sinh hậu quả còn riêng hành
vi của C là hành vi giúp sức không trực tiếp làm phát sinh hậu quả, mà thông qua
sự tác động lên hành vi của người thực hành là A, B phát sinh hậu quả
Như vậy tìm hiểu dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm ta cầnphải xác định được những người tham gia thực hiện tội phạm đó có đủ điềukiện của một chủ thể tội phạm hay không và những người đó phải cùng thamgia, cùng cố ý thực hiện tội phạm Hành vi của mỗi người có mối liên hệthống nhất với nhau, hậu quả của tội phạm phải là kết quả hoạt động chungcủa tất cả những người đồng phạm
Trang 101.1.2.2 Mặt chủ quan của đồng phạm.
Tội phạm là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan Nếu mặtkhách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan làhoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội [11, 23]
Trong luật hình sự, đồng phạm được coi là hình thức phạm tội đặc biệt,
do vậy khi nghiên cứu về đồng phạm không thể tách rời hai mặt khách quan
và chủ quan
Mặt chủ quan của tội phạm nói chung, đồng phạm nói riêng bao gồmcác dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau: Lỗi, động cơ và mục đích
a) Dấu hiệu lỗi
“Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xãhội của mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hìnhthức là cố ý hoặc vô ý” [9, 101].
Điều 20 BLHS năm 1999 đã quy định đồng phạm chỉ được thực hiệnvới lỗi cố ý, mỗi người đồng phạm khi thực hiện hành vi phạm tội đều cố ývới hành vi của mình và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồngphạm khác Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai mặt lý trí và ýchí như sau:
Về lý trí:
Trong nhận thức của những người đồng phạm đều phải biết hành vi củamình là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời họ cũng phải biết rằng người kháccũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Mỗi người đồng phạmcòn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng nhưhậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện Nếu một người chỉbiết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người khác cũng cóhành vi nguy hiểm cho xã hội như mình thì chưa phải là cùng cố ý, do vậyđây không phải đồng phạm
Trang 11Ví dụ: Khi mượn xe cải tiến của B để đi trộm cắp phân đạm, A đã nóidối là cần xe để chở đất đắp nền nhà B biết ý định thật của A nhưng do thùtức thủ kho nên đã vờ vô tình cho mượn Trong vụ án này A chỉ biết mình cóhành vi trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết Bcũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình (là hành vi giúp sức).
Do vậy A và B không đồng phạm với nhau
Mặt khác mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho
xã hội do hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ thựchiện, và mục đích mà họ cùng mong muốn đạt được là thực hiện được kếhoạch vạch ra
sự chỉ đưa ra giới hạn “cùng cố ý”, tức lỗi của họ đều phải là lỗi cố ý chứ điều
luật không yêu cầu họ cùng có lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp [13, 23].Những trường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây rahậu quả nguy hiểm cho xã hội hay khi các hậu quả mà những người có hành
vi nguy hiểm cho xã hội mong muốn không đồng nhất với nhau thì khôngphải là đồng phạm Ví dụ: Nhiều người cùng ăn cắp lúa của Hợp Tác xãnhưng giữa họ không có sự rủ rê lôi kéo thì không phải là đồng phạm mà đâythuộc trường hợp phạm tội riêng lẻ Do đó điều mà chúng ta quan tâm khi tìmhiểu dấu hiệu ý chí trong đồng phạm là những người đồng phạm có cùngmong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh hay không?
Phân tích dấu hiệu lỗi trong đồng phạm trên hai mặt lý trí và ý chí cho
chúng ta đi đến thống nhất quan điểm: Đồng phạm là trường hợp mà những người tham gia thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính
Trang 12chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện, đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Bên cạnh dấu hiệu lỗi cùng cố ý, từ nội dung họ cùng cố ý thực hiện tộiphạm trong đồng phạm nêu trên, chúng ta có thể thấy trong mặt chủ quan củađồng phạm cần phải xem xét dấu hiệu động cơ, mục đích đối với những tộiphạm mà điều luật quy định là dấu hiệu bắt buộc
b) Dấu hiệu động cơ, mục đích.
Ngoài dấu hiệu lỗi là cùng cố ý, trong một số trường hợp đồng phạmcòn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích, nên mục đích là dấu hiệu bắt buộc trongCTTP Ví dụ: Những tội thuộc chương XI Các tội phạm an ninh quốc gia.Mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc làm suy yếu chính quyền là dấuhiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tất cả các tội phạm Nếu không thoảmãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm trong trường hợp này,những người tham gia sẽ chịu TNHS độc lập với nhau
Ví dụ: B là nhà báo, A là cấp trên của B, A thường xuyên giao cho Bnhiệm vụ thu thập những tin tức liên quan đến hoạt động tôn giáo tại miềnNam, A đã sử dụng những tin tức mà B đã thu thập được để cung cấp cho một
tổ chức phản động ở nước ngoài với mục đích chống chính quyền nhân dân
Giữa A và B không có đồng phạm mà chỉ A mới phải chịu TNHS độclập về tội gián điệp theo điều 80 BLHS Hành vi của B tuy có tạo điều kiệncho việc phạm tội của A nhưng do A và B không có sự thống nhất mục đíchnên không được coi là đồng phạm tội gián điệp
Xuất phát từ quy định của BLHS về đồng phạm và thực tiễn phạm tội
dưới hình thức này chúng ta thấy được rằng: Đồng phạm là một dạng đặc biệt
Trang 13sự liên kết hành vi phạm tội của những người đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm, biểu hiện ở mặt chủ quan là sự liên kết cùng cố ý phạm tội của họ.
1.2 Các loại người đồng phạm.
Đồng phạm là sự cố ý cùng phạm một tội của nhiều người, song biểuhiện hình thức của hành vi thực hiện, tính chất và mức độ tham gia thực hiệntội phạm của mỗi người đồng phạm có thể là không giống nhau Do vậy, sựphân định rõ các loại người đồng phạm sẽ là cơ sở quan trọng để chúng tađánh giá một cách khách quan về hành vi phạm tội của từng người, xác địnhchính xác, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tạo cơ sở cho việc cá thểhoá hình phạt Luật hình sự Việt Nam năm 1999 chia các chủ thể trong đồngphạm thành bốn loại người đồng phạm: người thực hành, người tổ chức,người xúi dục, người giúp sức
Trường hợp thứ nhất là người phạm tội tự mình thực hiện hành vi được
mô tả trong CTTP Tự mình thực hiện hoặc có thể không sử dụng công cụphương tiện có thể là sử dụng công cụ, phương tiện, kể cả sử dụng cơ thểngười khác và súc vật như là công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm.Trong một vụ đồng phạm có thể có nhiều người cùng tự mình thực hiện hành
vi được mô tả trong CTTP Trong trường hợp này không đòi hỏi mỗi ngườiphải thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP, mà có thể mỗi người chỉ thựchiện một phần hành vi đó, nhưng đòi hỏi hành vi tổng hợp của họ là hành vi
có đủ dấu hiệu của CTTP
Trang 14Ví dụ: A, B, C, D cùng bàn bạc thống nhất với nhau vào nhà anh T lấytrộm chiếc xe máy Dream Đến khoảng 1 giờ sáng cả bốn người đã tiến hànhthực hiện hành vi A, B và C cùng vào nhà D dứng gác ở cổng A dõi đèn pincho B dùng kìm cộng lực mở khoá cửa, C vào nhà dắt xe ra Hậu quả chúng
đã lấy được chiếc xe Dream của nhà anh T bán được 5 triệu đồng để tiêu xài
Trong vụ án này, hành vi độc lập của mỗi người chưa phản ánh đầy đủbản chất hành vi khách quan quy định trong CTTP của tội trộm cắp tài sản B
có hành vi cắt khoá, C dắt xe ra, B dõi đèn pin và D chỉ đứng canh gác cảnhgiới Thế nhưng tổng hợp hành vi của bốn đối tượng phản ánh đầy đủ bảnchất của hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tàisản của người khác một cách bí mật
Đối với những tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt thì người thực hành trongđồng phạm thực hiện chỉ có thể là những người có đủ dấu hiệu của chủ thểđặc biệt Nếu không họ chỉ có thể là người giúp sức hoặc cá biệt có thể phạmtôị khác [9, 135]
Ví dụ: Trong trường hợp chị B đã dùng vũ lực để cho A giao cấu với nạnnhân C thì B chỉ có thể là người giúp sức Hoặc trường hợp A là đại đội trưởng
và B là chiến sỹ đã cùng nhau có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,danh dự của chiến sỹ C là người cùng đại đội thì A phạm tội là nhục cấp dưới(Điều 320 BLHS ), còn B phạm tội làm nhục đồng đội (Điều 321 BLHS)
Trường hợp thứ hai là những người không tự mình thực hiện hành vi
được mô tả trong CTTP như: Không tự mình thực hiện hành vi được mô tảtrong CTTP, không tự mình tước đoạt sinh mạng người khác (đâm, bắn,chém…) hoặc không tự mình thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản (đốt cháy,đập, phá…) Họ chỉ có hành động (cố ý) tác động đến người khác để ngườinày thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP, nhưng bản thân những người
bị tác động thực hiện hành vi đó lại không phải chịu TNHS cùng với hành vi
đã tác động vì:
Trang 15- Họ không có năng lực TNHS hoặc chưa đạt đến độ tuổi chịu TNHStheo luật định Nếu một người thực hiện tội phạm chưa đạt độ tuổi luật địnhthì người đó không phải chịu TNHS về việc làm của mình Đối với trườnghợp không có NLTNHS cũng vậy Nếu người thực hành tác động vào ngườithuộc trường hợp này để thực hiện tội phạm thì không có đồng phạm, đồngthời phải chịu TNHS độc lập do hành vi của mình gây ra cho người bị hại.
Ví dụ: A có hiềm khích với B nên đã rủ T (mới 8 tuổi) bỏ thuốc độcvào giếng nhà B Ở đây B không phải chịu trách nhiệm hình sự vì B chưa đủtuổi theo luật định phải chịu trách nhiệm hình sự và không có năng lực tráchnhiệm hình sự
- Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm
Ví dụ: A là giám đốc Công ty Thành Vinh, trong đợt tổ chức sắp xếplại nguồn nhân lực Công ty, A đã quyết định sa thải B và C Từ đó B và Cluôn tìm cách để trả thù A Một lần A bị ốm, B và C đã đến nhà để thăm bệnh
A Nhân lúc vợ A xuống bếp B và C đã cho thuốc độc vào tô cháo mà vợ A
đã chuẩn bị cho A Do không biết gì về hành động của B và C nên vợ A đãđút cháo cho A ăn Sau đó A đã chết
Trong trường hợp này vợ A là người đã trực tiếp cho A ăn cháo trong đó
có thuốc độc gây ra cái chết cho A nhưng vợ A không có lỗi với cái chết củachồng B và C thông qua hành vi của vợ A để giết chết A Do đó chỉ B và C làđồng phạm về tội giết người mà cả hai đều với vai trò là người thực hành
- Họ được loại trừ TNHS do bị cưỡng bức tinh thần
Ví dụ: A và B, K cùng vào nhà H ăn trộm chiếc máy vi tính của H trị giá
8 triệu đồng Bỗng nhiên K bảo không đi cùng A và B nữa, A và B dọa K: “Nếumày không đi cùng nữa cũng không được, không đi bọn tao giết” K sợ quá đànhphải đi cùng A và B Trường hợp này K không phải chịu TNHS vì K đã bịcưỡng bức về tinh thần nên buộc phải đi ăn trộm dù K không mong muốn
Trang 16Đối với trường hợp người thực hành ở dạng thứ hai không thể xảy ra ởnhững tội đòi hỏi chủ thể phải trực tiếp thực hiện như tội hiếp dâm (Điều 111BLHS 1999) hoặc tội loạn luân (Điều 150 BLHS 1999)
Như vậy, hành vi của người thực hành được biểu hiện trong thực tế làrất đa dạng, phong phú, hành vi của họ luôn được coi là có vị trí trung tâmtrong một vụ đồng phạm vì chỉ có thể căn cứ vào hành vi của người thực hànhmới xác định vai trò của những người đồng phạm khác đồng thời để định tội
và lượng hình chính xác, từ đó giải quyết đúng đắn trách nhiệm hình sự củatừng người đồng phạm
1.2.2 Người tổ chức
Đoạn 2 khoản 2 Điều 20 BLHS 1999 quy định:“Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”.
Theo quy định này thì người tổ chức được phân hóa thành ba loại:
- “Người chủ mưu là người đề ra âm mưu phương hướng hoạt động của
nhóm đồng phạm” [9, 137] Hoạt động phạm tội của họ thể hiện ở hành vi bàymưu, lập kế, vạch kế hoạch tiến hành tội phạm, đưa ra mưu mẹo, kế hoạch vẽđường, chỉ lối cho người đồng phạm khác Những người đồng phạm kháchoặc những người thực hành dựa vào những kế hoạch vạch ra đó để thực hiệnhành vi phạm tội của mình
Người chủ mưu có thể tham gia trực tiếp vào việc thực hiện tội phạmhoặc cũng có thể không tham gia vào tổ chức mà đứng ngoài tổ chức Song cómột thực tế là người chủ mưu luôn mong muốn đồng bọn thực hiện tội phạmtheo những mưu mẹo, kế hoạch của mình đã đặt ra để gây ra hậu quả Trongmọi trường hợp người chủ mưu luôn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp
Ví dụ: Trong một nhóm tội phạm được tổ chức khá chặt chẽ do NguyễnVăn A cầm đầu Nhóm có sự phân công vai trò, nghĩa vụ cho từng ngườiđồng phạm rất rõ ràng nên hoạt động của tổ chức tội phạm này rất chuyên
Trang 17nghiệp Bên cạnh A luôn có B (B là cố vấn cho A) B cũng là người đưa ramọi sáng kiến thành lập nhóm, vạch kế hoạch chiến lược cho hoạt động của
cả nhóm trong thời gian đầu Trong trường hợp này B là người chủ mưu đãđưa ra sang kiến thành lập nhóm, vạch kế hoạch chiến lược cho nhóm
- Người cầm đầu là người thành lập nhóm đồng phạm hoặc tham gia
vào việc soạn thảo kế hoạch, phân công giao trách nhiệm cho đồng bọn cũngnhư đôn đốc điều khiển hoạt động của nhóm đồng phạm [9, 137]
Trong một tổ chức tội phạm thông thường chỉ do một tên cầm đầunhưng cũng có thể do nhiều tên cầm đầu Nhiệm vụ của chúng là đứng rathành lập tổ chức tội phạm, lôi kéo người khác vào tổ chức đó Ví dụ: Tổchức tội phạm do Năm Cam cầm đầu đã tổ chức đánh bạc, cho vay nặng lãi,cưỡng đoạt tài sản để thu lợi bất chính… Chúng đã mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéorất nhiều đồng bọn cùng tham gia trong đó có cả cán bộ có chức có quyềntrong bộ máy chính quyền Vụ án do Năm Cam cầm đầu đã khởi tố điều tra
15 sỹ quan công an, 3 cán bộ kiểm sát, 3 nhà báo, trong đó có 3 người ở cấpthứ trưởng và khoảng 50 cán bộ ngành công an, Kiểm sát và các ngành khác
bị xử lý kỷ luật vì bao che dung túng cho tổ chức tội phạm này
Người chủ mưu có thể đứng trong hay ngoài tổ chức nhưng người cầmđầu luôn đứng trong tổ chức đó để trực tiếp điều khiển hoạt động chung
- Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp của nhóm đồng phạm có
vũ trang hoặc bán vũ trang [9, 137]
Thông thường chỉ trong đồng phạm phức tạp hoặc trong phạm tội có tổchức mới xuất hiện người chỉ huy Khi đó người chỉ huy giao nhiệm vụ, đônđốc, điều khiển đồng bọn thực hiện kế hoạch phạm tội một cách nhịp nhàng
và có hiệu quả
Như vậy, sự phân biệt ba loại người “chủ mưu” “cầm đầu” “chỉ huy”,
chỉ là tương đối Một tổ chức tội phạm có thể tồn tại ba loại người này song
có thể cả ba vai trò đó cùng tồn tại trong một người đồng phạm Trong mối
Trang 18quan hệ với những người đồng phạm khác thì người tổ chức là ngưòi giữ vaitrò thành lập nhóm đồng phạm hoặc điều khiển hoạt động của nhóm đồngphạm đó Điều đặc biệt của người tổ chức đó là hành vi phạm tội của họkhông được mô tả trong CTTP, người tổ chức phải thông qua hành vi củangười thực hành mà gây ra những hậu quả tội phạm Người tổ chức luôn luônhành động phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Họ biết hành vi của mình là phạmtội, biết được hành vi của từng tên đồng bọn, biết rõ phương thức hoạt độngcũng như thành phần tổ chức, nhận thức rõ những hậu quả nguy hiểm cho xãhội do hành vi của mình và đồng bọn gây ra Song người tổ chức vẫn đôn đốcđồng bọn hoạt động vẫn mong muốn hậu quả xẩy ra Với tính chất của hành
vi như vậy, người tổ chức rõ ràng giữ vai trò rất quan trọng trong tổ chứcphạm tội Người tổ chức có một vai trò rất quan trọng trong vụ đồng phạm,được coi là linh hồn của tội phạm Do đó Luật hình sự luôn coi người tổ chức
là đối tượng cần trừng trị một cách nghiêm khắc
về tinh thần có thể là những hành vi cung cấp những gì tuy không có tính vậtchất nhưng cũng tạo cho người thực hành điều kiện thuận lợi hơn trong việcthực hiện tội phạm như: chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình
Ví dụ: Công ty SG có ký một hợp đồng vận chuyển hàng hoá với công
ty Trách Nhiệm Hữu Hạn dịch vụ TS do Hồ Ngọc Sang làm giám đốc với nộidung: Công ty TS mỗi ngày cung ứng cho công ty SG tối thiểu 5 đầu xe kéoContenner, tối đa không hạn chế Đến tháng 7 năm 2005, công ty SG có chủ
Trang 19trương huy động phương tiện sẵn có trong công ty để vận chuyển hàng hoánhằm tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên nên đã giảm số đầu xe củacông ty TS xuống còn 5 xe như thoả thuận trong hợp đồng Do công ty vừamua trả góp 5 đầu kéo contenner để phục vụ cho hợp đồng nêu trên Đangtrong tình trạng nợ nần nay lại bị giảm lượng xe đến mức tối thiểu, doanh thucủa công ty TS hàng tháng giảm đi đáng kể (từ 700 triệu/tháng xuống 400triệu/tháng) Hồ Ngọc Sang tìm hiểu nguyên nhân của việc giảm đầu xe của
Vũ Xuân Thiên (là đội trưởng đội kéo của công ty SG) Hồ Ngọc Sang chorằng: Nguyễn Ngọc Chỉnh (là phó giám đốc công ty SG) đã cản trở công việclàm ăn của công ty TS Do vậy, Sang đã nảy sinh ý đồ thuê người đánh cảnhcáo Chỉnh, đánh cho bầm tím mặt mày để anh Chỉnh không cản trở công việclàm ăn của mình nữa Ý định này Sang đã cho Vũ Xuân Thiên biết và đượcThiên đồng ý (vì Thiên đã có mâu thuẫn về công ciệc với Chỉnh từ trước) Docùng cơ quan với Chỉnh, Thiên đã cung cấp thời gian đi làm cũng như lịchtrực của Chỉnh cho Sang biết [12, 39]
Hành vi cung cấp thông tin và hoạt động đi lại của Thiên đã tạo điềukiện thuận lợi cho đồng bọn do Sang thuê sử dụng để thực hiện hành vi phạmtội theo như chỉ dẫn một cách chính xác, đầy đủ nhất
Cũng có trường hợp hành vi giúp sức được thể hiện dưới dạng khônghành động Đó có thể là trường hợp những người có nghĩa vụ pháp lý phảihành động nhưng đã cố ý không hành động và qua đó đã loại trừ cản trởkhách quan ngăn cản việc thực hiện phạm tội đến cùng
Ví dụ: A là bảo vệ cho cơ sở sản xuất hàng da dụng, khi làm nhiệm vụphát hiện thấy bạn cùng phòng mình là B đang mang tài sản ra khỏi kho chưahàng nhưng A không bắt giữ B mà giả vờ như không biết để cho B tiếp tụcthực hiện hành vi đó
Trang 20Một dạng giúp sức đặc biệt nữa đó là giúp sức bằng lời hứa hẹn trước
sẽ che dấu người phạm tội, che dấu các tang chứng, vật chứng hoặc sẽ tiêu thụcác vật do phạm tội mà có sau khi tội phạm đã thực hiện xong
Hành vi giúp sức thường được thực hiện trước khi người thực hành bắttay vào hành động Nhưng cũng có trường hợp người giúp sức tham gia khitội phạm đang tiến hành, giúp một người vốn có ý định phạm tội có thêm điềukiện thuận lợi để thực hiện tội phạm
Như vậy hành vi của người giúp sức là tạo điều kiện thuận lợi cho đồngbon thực hiện tội phạm Tính chất và mức độ của hành vi giúp sức tự nó đượcthể hiện là ít nguy hiểm hơn so với hành vi phạm tội của những người đồngphạm khác Do vậy, Luật hình sự Việt Nam không coi người giúp sức là đốitượng cần nghiêm trị như những người đồng phạm khác Đó là cơ sở để cơquan xét xử đưa ra quyết định hình phạt đối với người giúp sức nhẹ hơn sovới quyết định hình phạt đối với những người cùng phạm tội trong những vụđồng phạm đó
1.2.4 Người xúi giục
Đoạn 3 khoản 2 điều 20 BLHS quy định: “Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm”
Người xúi giục không trực tiếp gây ra tội phạm nhưng đã thực hiện ýđịnh phạm tội của mình bằng cách tác động đến tư tưởng và ý chí của ngườikhác khiến người này nảy sinh ý định phạm tội và đi đến thực hiện tội phạm
Họ là người đã đề xuất việc phạm tội và thúc đẩy cho việc phạm tội đó đượcthực hiện thông qua người khác Với ý thức làm phát sinh ý định phạm tội ởngười khác, người xúi giục đã sử dụng nhiều hình thức nhằm thuyết phụcngười khác phạm tội Để đạt được điều đó người xúi giục bằng những hànhđộng tích cực tác động đến người bị xúi giục Do vậy, có thể người xúi giục là
“tác giả tinh thần” của tội phạm [11, 23].
Trang 21Sự xúi giục có thể được thực hiện băng nhiều thủ đoạn như kích động, lôikéo, cưỡng ép, dụ dỗ, lừa phỉnh Tuy nhiên, hành vi xúi dục không nhất thiếtphải đủ tất cả những thủ đoạn trên Chỉ cần có một trong những hành vi trêncũng có thể xuất hiện hành vi xúi giục và khi đó người xúi giục phải chịu TNHS.
Hành vi xúi giục là hành vi được thực hiện bằng lối cố ý, người xúigiục biết rằng hành vi xúi giục của mình sẽ làm nảy sinh ý định phạm tội ởngười khác, khơi dậy ở người khác quyết tâm phạm tội, nhưng người xúi giụcvẫn tích cực tác động và mong muốn cho tội phạm xảy ra
Dù bằng hình thức nào thì hành vi xúi giục phải trực tiếp, nghĩa là
người xúi giục phải nhằm vào một hoặc một số người xác định Việc kêu gọi
hô hào mà không hướng tới những người xác định thì không phải là hành vi
xúi giục Hành vi xúi giục phải cụ thể, nghĩa là nhằm gây ra những tội phạm
cụ thể Việc truyền bá, gieo rắc tư tưởng xấu cho một người hoặc một sốngười khiến những người này đi vào con đường phạm tội cũng không phải làhành vi xúi giục trong đồng phạm mà chỉ có thể cấu thành tội độc lập khácnhư tội dụ dỗ, ép buộc người chưa thành niên phạm pháp
Nếu hành vi giúp sức không có tính chất quyết định trong việc kíchđộng người khác phạm tội thì hành vi xúi giục lại thúc đẩy người khác từ chỗchưa có ý định phạm tội đến ý định phạm tội Việc xác định rõ TNHS màngười xúi giục phải chịu tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vicũng như bản chất của người xúi giục và người bị xúi giục Trong mọi trườnghợp hậu quả mà người thực hành gây ra phải là kết quả của hành vi xúi giục.Người xúi giục luôn được coi là loại người nguy hiểm trong đồng phạm, cầnphải có biện pháp để trừng trị nghiêm khắc
Như vậy qua việc nghiên cứu những vấn đề chung của đồng phạm ta cókết luận:
Đồng phạm là hình thức phạm tội đặc biệt được thực hiện với sự cố ýcùng tham gia của nhiều người Mặt khách quan của đồng phạm gồm: dấu
Trang 22hiệu hành vi, NLTNHS và độ tuổi Dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích thuộcmặt chủ quan của đồng phạm Tội phạm thực hiện dưới hình thức đồng phạm
có thể là sự kết hợp đầy đủ của bốn loại hành vi tương ứng với bốn loạingười: Người thực hành, người tổ chức, người giúp sức, và người xúi giục,nhưng cũng có thể chỉ có một trong bốn loại hành vi tương ứng với một trongbốn loại người đó
CHƯƠNG II TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG PHẠM
Trang 232.1 Nguyên tắc xác định TNHS của những người đồng phạm.
2.1.1 Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm.
Trong đồng phạm, tội phạm được thực hiện là do sự nỗ lực, hợp tácchung của tất cả những người cùng tham gia Hành vi của mỗi người là bộphận cần thiết trong hoạt động chung đó Hậu quả của tội phạm là kết quảhoạt động chung của những người đồng phạm Hơn nữa, bản thân tội phạmcũng là thể thống nhất, không thể chia cắt tội phạm để buộc mỗi người phảichịu trách nhiệm về một phần của tội phạm tương ứng với hành vi của mình
đã thực hiện Theo nguyên tắc này, Luật hình sự Việt Nam đã xác định: Tất cảnhững người đồng phạm phải chịu TNHS, bị truy tố, xét xử về cùng một tộidanh, theo cùng một điều luật, trong phạm vi chế tài những điều luật ấy Ví dụsau sẽ chứng minh điều đó
Tối 17/10/2005, Ngô Văn Nam vào nhà Thái Anh Tú Nam nói: Taothấy bà Hoài có dây chuyền đeo ở cổ mà bà ấy lại ở nhà một mình Nam bànvới Tú: Hôm sau ta cướp dây chuyên bà Hoài Tú nhất trí
Khoảng 19 giờ ngày 19/10/2005, Nam lấy đôi côn sắt của Tú để ở đầugiường dắt vào người, rút hai sợi dây màu nâu ở đôi giày thể thao của mẹ Tú
để ở sau chân giường, nối hai dây với nhau thành một sợi dây bỏ vào túi quần.Còn Tú lấy một đôi côn gỗ và con dao mà Nam đưa đến hôm trước dắt vàongười Xuất phát từ nhà Thái Anh Tú, theo đường 71 đi ra ngã tư thị trấn PhốChâu Nam nhìn vào nhà bà Hoài thấy điện không sáng, bọn chúng rủ nhausang quán đối diện đứng quan sát thì thấy bà Hoài đang đi bộ thể dục trênhành lang đường 8A trước cổng nhà Tú và Nam đứng chờ một lúc, sau đóchúng giả vờ vào nhà bà Hoài xin gọi điện thoại nhờ Bà Hoài cho Tú vàonhưng chặn Nam lại Không thực hiện được kế hoạch, chúng ra khỏi nhà bàHoài Sau đó, chúng xin bà Hoài cho gọi lại điện thoại Bà Hoài mở cửa, Tú
đi trước, Nam theo sau Vào nhà bà Hoài, Ngô Văn Nam vừa đi vừa lấy dây
Trang 24ra, một đầu quấn chặt vào bàn tay phải Thái Anh Tú đặt mũ cối xuống bàn đi
ra gian nhà ngoài nơi có đặt máy để vờ gọi điện thoại Bà Hoài đi cạnh Tú đểtheo dõi Còn Ngô Văn Nam cầm sẵn dây ở tay, đứng sau lưng bà Hoài, bấtngờ Nam đưa tay phải lên (tay vẫn cầm một đầu dây) quàng qua cổ bà Hoài,tay trái cầm một đầu dây vòng qua đồng thời nam kéo bà Hoài ra gian giữa,chân bà hoài hướng về phía ngoài Nam ngồi quỳ xuống, bàn tay phải vẫn kẹpchặt cổ Bà Hoài kêu ú ớ, trong khi Nam chưa kịp luồn dây qua cổ bà Hoài,
Tú rút mạnh một đầu dây nhưng không siết cổ bà Hoài mà quấn vào tay Nam,dây bị đứt, Tú rút giao giấu ở trong người ra cầm ở tay trái, còn tay phải nắmtóc bà Hoài kéo ngược lên Thấy Tú cầm dao, Nam thả tay phải đang kẹp cổ
bà Hoài để bắt tay trái lên tìm nhẫn vàng nhưng bắt nhầm tay không có nhẫn.Còn Tú cầm dao đặt lưỡi vào cổ bên trái của bà Hoài kéo mạnh về phía người
Tú một nhát, hai tên thấy máu ở cổ phun ra bọn chúng không kịp lục soát nữa,hai tên đi bộ ra ngoài
Hành vi các bị cáo theo Viện Kiểm Sát nhận định hoàn toàn thoả mãncấu thành tội giết người theo quy định tại Điểm e (giết người mà liền trước đóhoặc ngay sau đó lại phạm một tội tất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêmtrọng), Tú và Nam đã thực hiện hành vi giết người sau đó cướp tài sản của bàHoài, Điểm n (phạm tội có tính chất côn đồ), khoản 1 điều 93 và tội cướp tàisản theo quy định tại điểm d (sử dụng vũ khí, phương tiện, thủ đoạn nguyhiểm) khoản 2 điều 133 BLHS 1999
Ngày 14/01/2006, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra bản án số01/2006/HSST tuyên Ngô Văn Nam và Thái Văn Tú phạm tội cướp tài sản vàtội giết người
Tất cả những người đồng phạm nếu đủ dấu hiệu chủ thể đều phải chịuTNHS Điều này không có nghĩa mức án áp dụng đối với họ phải như nhau.Khi giải quyết TNHS của những người đồng phạm Toà án phải tuân theo cácquy định chung về căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45
Trang 25BLHS 1999: “Khi quyết định hình phạt, Toà án phải căn cứ vào các quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củ hành vi phạm tội , nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”.
Trong ví dụ trên, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh khi quyết định hìnhphạt đối với hai bị cáo đã xem xét đến các tình tiết như thật thà khai báo, hoàncảnh gia đình khó khăn, Ngô Văn Nam phạm tội khi còn ở tuổi vị thành niên.Theo đó Ngô Văn Nam bị xủ phạt 18 năm tù về tội giết người, 7 năm tù về tộicướp tài sản Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Văn Nam phải chấp hànhhình phạt chung là 18 năm tù
Thái Anh Tú bị xử phạt tử hình về tội giết người và 10 năm tù về tộicướp tài sản Tổng hợp hình phạt buộc Thái Anh Tú chấp hành hình phạtchung: Tử hình
2.1.2 Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện
vụ đồng phạm.
Trong vụ đồng phạm, mỗi người đồng phạm tuy phải chịu trách nhiệmchung về toàn bộ tội phạm mà họ cùng thực hiện, nhưng do TNHS là tráchnhiệm cá nhân nên việc xác định TNHS cho mỗi người đồng phạm vẫn phảidựa trên cơ sở hành vi cụ thể của mỗi người Bản thân mỗi người đồng phạmđều đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi khi họ có hànhđộng phạm tội Do đó khoa học luật hình sự Việt Nam đã đưa ra nguyên tắc
thứ hai trong việc xác định TNHS củ những người đồng phạm là: “Mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm” Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:
a) Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành
vi vượt quá của người đồng phạm khác.
Hành vi vượt quá của người đồng phạm là hành vi vượt ra ngoài ý địnhchung của những người đồng phạm và hành vi đó có thể đã cấu thành tội khác
Trang 26hoặc cấu thành tình tiết tăng nặng định khung Hành vi vượt quá thôngthường được hiểu là hành vi vượt quá của người thực hành.
Ví dụ: Do thù tức với Nguyễn Ngọc Chỉnh, Hồ Ngọc Sang đều trú tạiQuận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh đã thuê Nguyễn Công tìm người đánhChỉnh với giá 5.000.000 đồng, sau đó Công rủ thêm Đoàn Minh Hợp, CaoMạnh Hải, Đồng Dũng cùng đi đánh anh Chỉnh Do nhiều lần săn đón anhChỉnh không thành, Hải đề xuất phương án dùng dao đâm vào người anhChỉnh để làm cho anh Chỉnh đi viện vài ngày và được Công, Hợp, Dũng nhấttrí Công đã thông báo lại với Sang về việc dùng dao đâm Chỉnh và cũngđược Sang đồng ý Sang nhắc lại là chỉ được đâm vào đùi anh Chỉnh thôi
Ngày 26/09/2005 cả bốn tên Công, Hợp, Hải, Dũng đến ngõ nhà anhChỉnh phục đánh, chờ anh Chỉnh đi xe máy đi làm, Hợp dùng xe máy chở Hảiđuổi theo và ép xe của anh Chỉnh để Hải dùng dao đâm anh Chỉnh, còn Công
đi sau cản trở nếu có người đuổi theo Lần này chúng đã đâm được anhChỉnh, hậu quả anh Chỉnh đi đến Quân y băng bó và không nói với ai trongcông ty
Sáng 27/09/2005 Sang biết anh Chỉnh vẫn đi làm bình thường, Sangcho rằng Công không đánh anh Chỉnh mà chỉ lừa mình lấy tiền Sang yêu cầuCông làm lại Công đồng ý và gọi điện cho Hợp, Hải và Dũng Đến đầu tháng10/2005, Hợp gặp lại Nguyễn Quốc Xuân (bạn cũ ở tù) và rủ Xuân đi đánhanh Chỉnh Đến 05/10/2005 Sang điện cho Công phải làm như thoả thuận.Công nói: “Nếu làm lại phải trả 7 triệu đồng, Sang đồng ý
Ngày 06/10/2005 sau khi được Thiên cho biết lịch trực của anh Chỉnh,Sang đã điện cho Công dể chuẩn bị Đến 20 giờ cùng ngày, cả bọn Công,Hợp, Xuân lại phục đánh anh Chỉnh như lần trước Lần này Hải, Dũng đã chủđộng không tham gia nữa Bọn chúng đã bàn bạc phân công Hợp chở Xuân đểXuân đâm anh Chỉnh Hợp dặn: khi nào tao ép vào xe nó (anh Chỉnh) thì màydùng dao đâm như thế này Hợp vừa nói vừa mô tả bằng hành động (Hợp tay
Trang 27phải dùng dao khuya từ trái sang phải, mũi dao hướng ngang tầm đùi) rồi Hợpđưa dao cho Xuân cầm, còn Công là người đi sau hỗ trợ khi cần thiết Nhưng
do trời tối Hợp và Xuân không rõ mặt anh Chỉnh nên khi thấy xe máy đi cùngchiều, Hợp ép xe máy đó xem có phải anh Chỉnh không, tưởng Hợp bảo đâm,Xuân đã dùng dao đâm từ trái qua phải, đâm tầm ngang hông, hậu quả là đãđâm nhầm vào bụng anh Hoàng Anh Tuấn gây thương tích giám định tỷ lệthương tật là 17% Khi đó Công là người đi sau đã hồ: Đâm nhầm rồi Pháthiện thấy đâm nhầm, bọn chúng tiếp tục đuổi theo chạy ngược khoảng 800mthì bọn chúng đuổi kịp xe anh Chỉnh Hợp lại dùng xe ép anh Chỉnh vào lềđường Xuân tay phải dùng dao ngón tay cái đặt dọc theo sống dao đâmngang từ trái qua phải, đâm vào ngực trái của anh Chỉnh Vết thương xuyênthấu tim, đâm xong cả bọn bỏ chạy, anh Chỉnh chảy được khoảng 200m nữa thì
đổ xe Do vết thương quá nặng anh Chỉnh đã chết trên đường cấp cứu [12, 39]
Xung quanh vụ án này có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc xácđịnh tội danh cho các bị cáo Song với quan điểm cho rằng: Các bị cáo Công,Hợp, Xuân cùng phải chịu TNHS về tội giết người Còn Hồ Ngọc Sang chỉphải chịu TNHS về tội cố ý gây thương tích trong trường hợp dẫn đến hậuquả chết người theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999 được coi là hợp lý nhất.Bởi vì, trong vụ án này Hồ Ngọc Sang chỉ là người khởi xướng ra việc thuêđánh anh Chỉnh chứ không tổ chức, bàn bạc, tham gia vào những lần thựchiện tội phạm Hơn nữa, Sang chỉ biết giao tiền cho Công và thuê Công đánh
cảnh cáo, đánh dằn mặt anh Chỉnh với nội dung: “Đánh cho anh Chỉnh bầm tím mặt mày, đánh gây thương tích cho anh Chỉnh, cùng lắm là làm cho anh Chỉnh đi viện vài ngày” Khi Công đề nghị là dùng dao để đánh anh Chỉnh,
Sang đồng ý nhưng đã nhắc đi nhắc lại là chỉ được đâm vào đùi anh Chỉnhthôi, mục đích của Sang không thay đổi là chỉ được gây thương tích cho anhChỉnh Ý thức chủ quan của Sang là không mong muốn hậu quả chết ngườixảy ra Điều này cũng phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án
Trang 28Nguyễn Công, Đoàn Minh Hợp, Nguyễn Quốc Xuân phải cùng chịuTNHS về tội giết người theo điều 93 BLHS 1999 Bởi vì, chúng cùng tổ chứcđánh anh Chỉnh, chúng đã thống nhất lựa chọn địa điểm và cách thức thựchiện tội phạm Hành vi của chúng vượt quá yêu cầu mà Hồ Ngọc Sang đã đặt
ra Hơn nữa, với kế hoạch đã vạch ra, Công, Hợp, Xuân hoàn toàn nhận thứcđược hành vi của chúng là rất nguy hiểm, hậu quả xẩy ra là không lườngtrước được
b) Việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với những người đồng phạm này không loại trừ TNHS của những người đồng phạm khác
Điều này có nghĩa là những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, miễn TNHShoặc miễn hình phạt theo tinh thần quy định tại Điều 25, Điều 45, Điều 46,Điều 47 BLHS 1999 thuộc về người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối vớingười đồng phạm đó Ví dụ như người phạm tội đã tự thú, thật thà khai báo,
cố ngăn ngừa để hạn chế hậu quả của tội phạm, phạm tội lần đầu, phạm tội vìhoàn cảnh khó khăn mà không phải do mình tự gây ra
Hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức dù chưa đưa đến việcthực hiện tội phạm nhưng vẫn phải chịu TNHS Sự tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội của người đồng phạm này không loại trừ TNHS của nhữngngười đồng phạm khác Trở lại ví dụ trên ta thấy: Hải và Dũng đã tham giathực hiện hành vi đâm anh Chỉnh nhưng không thành Khi bọn chúng thựchiện lại lần thứ hai, Hải và Dũng đã chủ động không tham gia nữa Hải vàDũng được miễn TNHS về tội định phạm, còn Công, Hợp, Xuân vẫn phảichịu TNHS về hành vi của mình
Trang 292.1.3 Nguyên tắc cá thể hoá TNHS của những người đồng phạm.
Trong một vụ đồng phạm những người tham gia tuy phạm cùng một tộinhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người là khác nhau Cho nên khixác định TNHS của những người đồng phạm, xem xét mức độ và tính chấttham gia của mỗi người Tính chất tham gia của những người đồng phạm thểhiện vai trò của họ trong đồng phạm và việc thực hiện tội phạm Mức độ thamgia càng nhiều thì hậu quả nguy hại cho xã hội càng cao Do đó, TNHS phảitương xứng với mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm
Ví dụ: Nội dung vụ án theo bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát nhân dântỉnh Nghệ An: Khoảng 16 giờ ngày 04/5/2008 có hai thanh niên không rõ tên,địa chỉ, đi xe mô tô đến nhà Hà Văn Đại hỏi mua hêrôin, sau khi biết cần muakhoảng 01 cây hêrôin (01 chỉ herôin tương đương với 3,5 gam, 01 cây hêrôintương đương với 35 gam) , Đại nói “để tìm hàng đã” và hẹn hai người đókhoảng 18 giờ quay lại Sau đó Đại đến nhà Hà Văn Tuân, nói với Tuân là cókhách cần mua 01 cây hêrôin, giá từ 16 đến 17 triệu đồng nhưng Đại mới chỉ
có 02 chỉ Tuân bảo Đại cứ về lúc nào lấy được hàng Tuân sẽ mang đến Đại
về thì Tuân gọi điên thoại cho Quang Văn Sơn lên nhà để gặp Tuân Đếnkhoảng 18 giờ cùng ngày thì Sơn đến gặp Tuân, Tuân hỏi có hôrôin bánkhông, Sơn bảo hiện có 08 chỉ Tuân bảo Sơn quay về nhà lấy để kịp giao chokhách Sau đó cả hai đi xe máy về nhà Sơn lấy gói hêrôin rồi cùng nhau đếnnhà Hà Văn Đại Sơn đợi ở cổng nhà Đại, Tuân đưa gói hêrôin vào nhà Đại
thấy hai người khách đang chờ, Tuân giao gói hêrôin cho Đại và nói: “gói này đúng 8 chỉ”, Đại mở gói hêrôin của Tuân để chung vào gói của mình rồi gọi
khách vào buồng cân thử thấy đúng một cây Sau đó Đại gói lại bỏ vào túi nilông có gạo để dấu Người mua yêu cầu Đại đưa hêrôin ra khu vực Đập tràn
xã Mường nọc, Đại đồng ý nên Đại đi cùng hai người khách, còn Tuân ở nhàĐại để lấy tiền Khi Đại và người mua trao đổi với nhau thì bị tổ công tác
Trang 30Phòng cảnh sát Điều tra tội phạm ma tuý công an tỉnh Nghệ An và Hải quanNghệ An bắt quả tang
Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An nhận định: “Các bị cáo Hà Văn Đại, HàVăn Tuân đã bán hêrôin cho hai người thanh niên không quen biết vàokhoảng 19giờ 30 phút ngày 04/05/2008, việc giao dịch với người khách ở ĐậpTràn, Xã Mường Nọc do Hà Văn Đại trực tiếp thực hiện Trọng lượng hêrôincủa Tuân và Sơn là 28,648 gam, của Đại là 7,162 gam Tổng trọng lượng là35,810 gam Hành vi của Hà Văn Đại, Hà Văn Tuân, Quang Văn Sơn đã cấuthành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” Bị cáo Đại vi phạm điểm b (phạmtội nhiều lần) khoản 3 Điều 194, bị cáo Tuân, Sơn vi phạm điểm h (có trọnglượng lớn từ 5 gam đến 30 gam ) khoản 2 Điều 194 BLHS 1999
Xét vị trí vai trò của từng bị cáo, mức độ đóng góp hành vi của mỗingười vào vụ đồng phạm thấy Hà Văn Đại là người đứng đầu trong vụ án vìvừa là người khởi xướng thu gom hêrôin và là người tích cực thực hiện tộiphạm Tuân là người không có hêrôin nhưng khi Đại đặt vấn đề là tích cựctìm hàng, Sơn là người có hàng (với khối lượng lớn) cung cấp để cùng Tuânđem bán cho người mua hàng
Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo HàVăn Đại, Hà Văn Tuân, Quang Văn Sơn phạm tội: “Mua bán trái phép chất
ma tuý”
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194, Điểm p khoản 1 Điều 46, điểm gkhoản 1 Điều 48 BLHS, xử phạt: Bị cáo Hà Văn Đại 16 (mười sáu) năm tù
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p, q khoản 1 Điều 46 BLHS,
xử phạt: Bị cáo Hà Văn Tuân 9 (chín) năm tù
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 194, điểm p điều 46 BLHS, xử phạt bịcáo Quang Văn Sơn mười một năm tù
Trang 31Nguyên tắc này còn thể hiện ở khoản 2 Điều 3 BLHS 1999:“Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng…”.
Nó được thể hiện đặc biệt rõ nét trong đường lối xét xử vụ đồng phạmcác tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia Bởi vì trong các vụ ánnày bên cạnh những tên cầm đầu, chủ mưu, những tên hoạt động đắc lực, có ýthức phạm tội sâu sắc còn một số khá đông đã phạm tội do bị lừa phỉnh, bị épbuộc Chính sách nghiêm trị, kết hợp với khoan hồng cũng được thể hiện rõnét trong vụ đồng phạm các tội khác, nếu trong vụ đồng phạm có sự phân hoá
rõ rệt hai loại người: Một bên là những tên cầm đầu thuộc phần tử xấu và mộtbên là những tên nhất thời phạm pháp
Như vậy nguyên tắc xác định TNHS thể hiện rõ đường lối xử lý củaĐảng và Nhà nước ta đối với tội phạm nói chung và từng người đồng phạmnói riêng Đây sẽ là cơ sở đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của phápluật, giúp cơ quan Tòa án đưa ra quyết định xử phạt phù hợp với hành viphạm tội đã được thực hiện trên thực tế
2.2 Một số vấn đề khác liên quan đến TNHS của những người đồng phạm 2.2.1 Vấn đề chủ thể đặc biệt trong đồng phạm
CTTP của tất cả các tội phạm đều đòi hỏi chủ thể phải có hai dấu hiệu
là có NLTNHS và độ tuổi chịu TNHS Có một số trường hợp CTTP đòi hỏichủ thể phải có thêm dấu hiệu đặc biệt khác, vì chỉ có dấu hiệu này mới có thểthực hiện được hành vi phạm tội mà CTTP đó phản ánh Chủ thể đòi hỏi phải
có thêm dấu hiệu đặc biệt như vậy được gọi là chủ thể đặc biệt
Các đặc điểm (dấu hiệu) của chủ thể đặc biệt có liên quan đến độ tuổi,giới tính, quan hệ gia đình hay nhân khẩu học Ví dụ: Giao cấu với trẻ em(Điều 115 BLHS 1999); Tội loạn luân (Điều 158 BLHS 1999); các đặc điểm
Trang 32(dấu hiệu) có liên quan đến nghề nghiệp, vị trí công tác của một người Ví dụ:Tội làm nhục, hành hung đồng đội (Điều 321 BLHS 1999); các đặc điểm (dấuhiệu) có liên quan đến nghĩa vụ, trách nhiệm mà Nhà nước xác định với một
số người nhất định.Ví dụ: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 259 BLHS1999); Tội không chấp hành bản án (Điều 223 BLHS 1999); các đặc điểm cóliên quan đến chức vụ, quyền hạn Ví dụ: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạnchiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS 1999)
Đối với chủ thể đặc biệt trong đồng phạm, theo Giáo trình Luật hình sự
của Trường Đại Học Luật Hà Nội: “Đối với những tội đòi hỏi chủ thể đặc biệt chỉ cần người thực hành có những đặc điểm của chủ thể đặc biệt”[9,143].
Như vậy, trường hợp đồng phạm một tội mà luật hình sự quy định có chủ thểđặc biệt thì it nhất (và là bắt buộc) người thực hành (người trực tiếp thực hiệntội phạm) phải thoả mãn điều kiện của chủ thể đặc biệt, những người đồngphạm khác không nhất thiết phải thỏa mãn dấu hiệu đặc biệt Ví dụ: Tội tham
ô tài sản được quy định tại Điều 278 BLHS 1999: “Người nào lợi dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mình có trách nhiệm quản lý…”.Theo đó, tội
tham ô tài sản xảy ra khi và chỉ khi đòi hỏi duy nhất và dứt khoát chủ thể
-người thực hành phải là “chủ thể đặc biệt - -người có chức vụ, quyền hạn” còn
những loại người đồng phạm khác (người tổ chức, người giúp sức và người xúigiục) không nhất thiết và không cần phải là người có chức vụ, quyền hạn [19, 39]
Ví dụ: A làm việc nội trợ trong gia đình, là vợ của B, B là thủ trưởng
cơ quan - người có chức vụ, quyền hạn, A đã chủ mưu, chủ động về mặt tinhthần động viên, bàn bạc, hướng dẫn và chỉ đạo B tiến hành sửa chữa, thêm bớt
sổ sách giấy tờ…để rút chênh lệch nhằm tham ô tài sản do B có trách nhiệmquản lý Trong trường hợp này, B phạm tội tham ô tài sản với vai trò ngườithực hành, còn A phạm tội tham ô tài sản với tư cách là người tổ chức (cụ thể
là người chủ mưu) trong đồng phạm
2.2.2 Vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm.
Trang 33Luật hình sự Việt Nam hiện hành chưa có điều luật nào trực tiếp quyđịnh về các giai đoạn thực hiện hành vi đồng phạm Trên thực tế chúng ta chỉ
có thể dựa vào những quy định của pháp luật về các trường hợp phạm tộiriêng lẻ để xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ýbao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
Hành vi đồng phạm thường được diễn ra theo một quá trình Bởi cónhiều người tham gia, trên thực tế có thể có trường hợp vì lý do khách quannào đó mà một hoặc một số người đồng phạm không thực hiện được đến cùnghành vi tham gia của mình, nghĩa là hành vi của họ bị dừng lại khi hành viđồng phạm chưa hoàn thành về mặt pháp lý Việc xác định các giai đoạn thựchiện tội phạm trong đồng phạm chủ yếu dựa vào mức độ thực hiện tội phạm
của người thực hành nghĩa là: “Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện đến giai đoạn nào, họ phải chịu TNHS đến giai đoạn đó” [ 9,
143] Bởi vì người thực hành luôn giữ vai trò trung tâm trong vụ đồng phạm.Hành vi và mức độ thực hiện tội phạm của người thực hành là cơ sở phânđịnh giai đoạn phạm tội trong trường hợp đồng phạm Trong trường hợp tất cảnhững người đồng phạm đều là người thực hành (đồng phạm giản đơn), hành
vi khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể không phải do một người mà donhiều người cố ý cùng thực hiện Hành vi của những người đồng thực hànhtuy có thể khác nhau, thoả mãn một phần hoặc tất cả các dấu hiệu hành vikhách quan của cấu thành tội phạm cụ thể nhưng đều là một phần của quátrình thống nhất Do bản chất của hành vi đồng thực hành như vậy nên trongtrường hợp đồng phạm giản đơn việc xác định giai đoạn thực hiện hành vithực hành hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ thực hiện tội phạm chung Tộiphạm chung do nguyên nhân khách quan bị dừng lại ở giai đoạn nào thì hành viphạm tội của tất cả những người tham gia cũng được xác định ở giai đoạn đó
Trang 34Ví dụ: Hạ Chơ Pó và Lầu Bá Nênh nhiều lần vượt biên từ Lào sangViệt Nam chơi nên bọn chúng biết được tại khu vực biên giới có nhiều ngườimua bán Hêrôin Tháng 5/2007 Hạ Chơ Pó bàn với Lầu Bá Nênh mua thuốcParacêtamol làm giả Hêrôin mang sang Việt Nam bán, được Nênh đồng ý HạChơ Pó đã đi mua 200 vỉ Paracêtamol về nhà giã nhỏ và dùng kích ép lạithành 02 bánh Hêrôin giả Sau khi chuẩn bị được hàng, ngày 24/7/2007 HạChơ Pó và Lầu bá Nênh sang Việt Nam và tại rẫy nhà ông Và Chá Xừ bọnchúng gạ bán 02 bánh Hêrôin giả đó cho ông Xừ và được sự đồng ý của ông
Xừ, ngày 29/6/2007 Hạ Chơ Pó cùng Lầu Bá Nênh đưa 02 bánh Hêrôin giả từLào sang Việt Nam đi đến nhà rẫy ông Và Chá Xừ với thủ đoạn gạ bán choông Xừ Để tạo niềm tin cho ông Xừ, Pó và Nênh đã đưa cho ông Xừ sờ trựctiếp vào 02 bánh Hêrôin giả, lấy dao chích ra một ít đốt thử và thừa nhậnthuốc tốt, đề nghị ông Xừ dùng thử, khi ông Xừ đang lưỡng lự chưa có tiềnthì bon chúng lại chấp nhận đề nghị ông Xừ đưa cho chúng 10.000.000 VNĐ
để bọn chúng giao lại 02 bánh Hêrôin giả cho ông Xừ Sau này nếu ông Xừbán được thì hai bên thanh toán lại cho nhau theo giá hai bên thoả thuận(5.000 USD/01 bánh) Ông Xừ đồng ý bảo để điện cho con ở Malaixia gửitiền về Pó và Nênh cất hai bánh Hêrôin vào túi chờ tại rẫy nhà ông Xừ Đến 0giờ 15 phút ngày 01/7/2007 thì bị lực lượng tuần tra của Bộ đội biên phòngNghệ An kiểm tra và bắt giữ Hạ Chơ Pó và Lầu Bá Nênh thu giữ 02 bánhHêrôin, 01 cân tiểu ly và một con dao nhíp
Trường hợp này hành vi của Pó và Nênh chỉ dừng lại ở giai đoạn phạmtội chưa đạt và như vậy cả Hạ Chơ Pó và Lầu Bá Nênh cùng phải chịu TNHS
về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
Việc xác định tội phạm hoàn thành hay phạm tội chưa đạt là cơ sở đểxác định TNHS cho những người đồng phạm được chính xác Nếu coi hành vicủa người thực hành có vai trò trung tâm tuyệt đối thì sẽ không thấy được vaitrò củ những người đồng phạm khác bởi vì có một số trường hợp mặc dù hành
Trang 35vi của người thực hành chưa thoả mãn hết dấu hiệu của một CTTP cụ thể nào
đó Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi của những người đồng phạm khácnhư người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đã hoàn thành và hành viphạm tội của từng người đồng phạm dừng lại ở các giai đoạn khác nhau thìtính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là khác nhau Như vậy, nếu hành vicủa những người đồng phạm khác chỉ bị truy cứu ở giai đoạn phạm tội chưađạt là không phản ánh chính xác tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi của mỗi người
Trong trường hợp người bị xúi giục không nghe theo, sự xúi giụckhông có kết quả thì chỉ riêng người xúi giục phải chịu TNHS về tội đã xúigiục Trên thực tế, hành vi xúi giục chưa thành có thể biểu hiện dưới cácdạng: hành vi xúi giục không thành, tức là sự xúi giục không mang lại kếtquả, người bị xúi giục không nghe theo sự xúi giục như không đi đến quyếtđịnh thực hiện tội phạm hoặc thực hiện tội phạm khác so với sự xúi giục;chưa thực hiện được trọn vẹn (theo ý tưởng của người xúi giục) hành vi tácđộng như đang thực hiện hành vi tác động thì bị dừng lại; hành vi tác động đãđược thực hiện nhưng sự tác động chưa đến với người tác động như gửi thưvới nội dung thúc đẩy thực hiện tội phạm nhưng vì lý do nào đó bức thư chưađến tay người bị tác động
Nếu sự xúi giục không có kết quả thì cần phải có sự cân nhắc rõ ràng vì
ở đây chưa có sự tiếp nhận ý chí giữa người xúi giục và người bị xúi giục,người xúi giục chưa đạt được mục đích của mình Vì vậy, trong trường hợpnày, TNHS phải xem xét giảm nhẹ so với trường hợp người xúi giục đã thúcđẩy người thực hành thực hiện tội phạm Ví dụ: A và B cùng vào nhà H để lấytrộm tiền Vào nhà H, thấy vợ H đang ngủ ở nhà một mình A đã bảo B lại giậtdây chuyền ở cổ vợ H nhưng B không làm Ở đây hành vi xúi giục của Akhông đạt được mục đích nên được xem xét giảm nhẹ TNHS
Trang 36Nếu một người mong muốn giúp người khác thực hiện tội phạm nhưngngười thực hành không thực hiện tội phạm đó hoặc không sử dụng sự giúp
sức thì người giúp sức phải chịu TNHS về tội định giúp sức “Hành vi giúp sức chưa thành là trường hợp người giúp sức đã bắt đầu thực hiện hành vi giúp sức nhưng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người giúp sức mà
sự giúp sức đó chưa có tác động tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm của người khác” [16, 33]
Ví dụ: B biết A có ý định trộm cắp tài sản củ công ty, B đã hứa sẽ vậnchuyển giúp A mà không lấy tiền công Đến khoảng 23 giờ 30 phút, B đánh
xe trước cổng công ty A vì lo lắng sợ bị phát hiện nên đã không thực hiệnhành vi trộm cắp tài sản nữa Trong trường hợp này A đã tự ý nửa chừngchấm dứt việc phạm tội Còn B với vai trò là người giúp sức phải chịu TNHS
về tội trộm cắp tái sản (Điều 138 BLHS 1999)
Như vậy, việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm của mỗi loạingười trong đồng phạm là cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện nguyên tắcxác định TNHS của những người đồng phạm, đảm bảo nguyên tắc nhữngngười đồng phạm chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồngphạm
2.2.3 Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm.
Điều 19 BLHS 1999 quy định: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản”.
Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được đặt ra khi trườnghợp những người đồng phạm chưa thoả mãn một CTTP cụ thể Khi có sự tự ýnửa chừng chấm dứt việc phạm tội của một người hay một số người thì việcmiễn TNHS chỉ được áp dụng đối với bản thân người đã tự ý nửa chừng chấmdứt việc phạm tội
Đối với người thực hành, vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
Trang 37nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi tự mình không thực hiện tội phạm đếncùng, tuy không có gì ngăn cản.
Ví dụ: A vì có thù tức với B nên đã rủ C và Đ đành B A cùng C và Đlập kế hoạch để dạy cho B một bài học A theo dõi hoạt động đi lại của B, còn
C và Đ tìm dao, côn để thực hiện hành vi theo kế hoạch Sau một thời giantheo dõi B, A thấy B là người con duy nhất trong gia đình chỉ có hai mẹ conngười mẹ già ốm, nếu B bị tàn phế thì mẹ B sẽ không có người chăm sóc A
từ bỏ ý định đánh B, đồng thời bàn bạc với C và Đ từ bỏ ý định đánh B Cảbọn nghe theo A
Trong trường hợp này hành vi của A được coi là tự ý nửa chừng chấmdứt việc phạm tội Hoạt động lập kế hoạch, theo dõi hoạt động đi lại, chuẩn bịcông cụ đã làm xong, chưa có ai biết được ý định phạm tội của A, C, Đ vàcũng không có gì cản trở A, C, Đ thực hiện hành vi gây thương tích cho B.Song A và đồng bọn đã không đánh B nữa do đó A và đồng bọn được miễntrách nhiệm hình sự về tội định phạm là tội cố ý gây thương tích cho người khác
Nếu trong vụ đồng phạm có nhiều người thực hành thì hành vi phạm tộicủa từng người có quan hệ mật thiết với nhau Việc xác định thời điểm đượccoi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải căn cứ vào hành vi thực tếcủa mỗi người đồng phạm Trong trường hợp tổng hợp hành vi phạm tội củatất cả những người đồng phạm đã thoả mãn đầy đủ dấu hiệu của một CTTP cụthể thì vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không được đặt ra.Trong số những người đồng thực hành đó nếu có một hoặc một số người thôikhông thực hiện tội phạm nữa thì cũng được coi là tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội Đối với người đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội yêucầu họ phải có những hành động tích cực nhằm ngăn chặn việc thực hiện tộiphạm hoặc ít nhất phải hạn chế hậu quả xảy ra
Đối với người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức thì vấn đề tự ýnửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nhiều điểm khác so với người thực