1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở

74 862 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 353,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Giáo dục BVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chínhquy và không chính quy, giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường làm chocon người có được sự hiểu biết về môi

Trang 1

Chương 1: MỞ ĐẦU

1.1.Đặt vấn đề

 Chúng ta đang sống ở thế kỉ 21, thế kỉ của sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật Chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu xã hội ngày càng tăng, cũng là lúc vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được thế giới nói chung và Việt Nam chúng ta nói riêng đặc biệt quan tâm.

 Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách khôngcủa riêng ai Việt Nam hứng chịu hậu quả nặng nề từ biến đổi khí hậu gây ra

Do đó, chúng ta cần phải có những hành đông cụ thể để chung tay với thế giớigóp phần bảo vệ trái đất, môi trường sống của chúng ta

 Ngoài việc đưa ra Hiến pháp, Luật môi trường, các quy định, tiêu chuẩn…thì việc giáo dục môi trường là một trong những biện pháp lâu dài và rất quantrọng Trong khi đó nhận thức của người dân nói chung, học sinh nói riêng vềbảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, nhất là đội ngũ học sinh Trung học cơ sở(THCS) chiếm số đông Đây là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành nhâncách, là những người chủ tương lai của đất nước, lứa tuổi dễ tiếp thu, dễ rènluyện hành vi và thói quen, là lực lượng đông đảo góp phần xây dựng và Bảo vệmôi trường (BVMT) một cách tốt nhất

 Giáo dục BVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chínhquy và không chính quy, giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường làm chocon người có được sự hiểu biết về môi trường, kỹ năng và giá trị về nhân cáchtrong ứng xử với môi trường, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển mộtxã hội bền vững về sinh thái Để việc đưa giáo dục BVMT vào nhà trường đạtkết quả mong muốn, quá trình triển khai sẽ thực hiện theo đường hướng đượcxác địnhvà phải đảm bảo theo nguyên tắc, mục tiêu, nội dung với những phươngpháp thích hợp

Trang 2

1.2 Lý do chọn đề tài

 Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người gắn bó với thiên nhiên, nhờ có laođộng con người đã chủ động khai thác tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộcsống của mình Trong quá trình lao động và sản xuất con người đã cải tạo thiênnhiên, nhưng ngược lại cũng tàn phá thiên nhiên như đốt rừng, tiêu diệt các loàiđộng thực vật, sử dụng chất độc hoá học, chất phóng xạ huỷ hoại thiên nhiêngây nên tình trạng khủng hoảng sinh thái Cần phải làm gì để ngăn chặn thựctrạng trên cứu lấy con người và cuộc sống muôn loài?

 Một trong những biện pháp có hiệu quả lâu dài và rất quan trọng là phảigiáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ, những người chủ tương lai củađất nước, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường Ơû nước ta, vấn đề giáodục môi trường cũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, nhà nước và hệ thốngnhà trường Nghị quyết IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII năm

1993 đã đề ra nhiệm vụ:” Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, dânsố rèn luyện thể chất cho học sinh”

 Trong hệ thống nhà trường, việc giáo dục môi trường (GDMT) cần đượccoi trọng đặt biệt ở bậc THCS, bởi lẽ: bậc THCS là bậc học nền móng, bậc phổcập của hệ thống giáo dục quốc dân Hàng chục triệu em một khi đã được giáodục đầy đủ các hành trang về nhận thức, tri thức về BVMT sẽ là một lực lượnghùng hậu đóng vai trò nòng cốt trong mọi hoạt động cải thiện môi trường, bảovệ tài nguyên của xã hội Học sinh THCS ở độ tuổi đang phát triển và định hìnhvề nhân cách Vì vậy những hiểu biết cơ bản của các em được bồi dưỡng quaGDMT sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em.Đồng thời các em ở lứa tuổi này có tính tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu độngnghịch ngợm nếu không được giáo dục sẽ dẫn tới những hành động làm tổn hạimôi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức

Trang 3

 Do đó làm thế nào để nâng cao hiệu quả GDMT cho học sinh ở các trườngTHCS là phải hình thành cho học sinh những tri thức về môi trường, bảo vệ môitrường Xây dựng cho học sinh thái độ, hành vi cư sử đúng với môi trường là vấnđề cần thiết hiện nay.

1.3 Tên đề tài

“Khảo sát nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở cáctrường Phổ thông cơ sở”

1.4 Mục đích của đề tài

 Đánh giá công tác công tác giáo dục môi trường tại các trường Trung học

cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

 Đánh giá hiện trạng nhận thức môi trường của học sinh ở các trường Trunghọc cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

 Xây dựng các giải pháp tăng cường công tác giáo dục môi trường cho họcsinh

Trang 4

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Lịch sử giáo dục môi trường

2.1.1 Sự phát triển về GDMT trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1.1. Sự phát triển về GDMT trên thế giới

 Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thếgiới Trong mấy chục năm trở lại đây, sự phát triển kinh tế ồ ạt dưới tác độngcủa cách mạng khoa học kỹ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh đã làm chomôi trường bị biến đổi chưa từng thấy Nhiều nguồn tài nguyên bị vắt kiệt,nhiều hệ sinh thái bị tàn phá mạnh, nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rối loạn.Môi trường lâm vào khủng hoảng với quy mô toàn cầu, trở thành nguy cơ thựcsự đối với cuộc sống hiện đại và sự tồn vong của xã hội trong tương lai

 Để bảo vệ cái nôi sinh thành của mình, con người phải thực hiện hành loạtcác các vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề GDMT GDMT là một trong nhữngbiện pháp có hiệu quả nhất, giúp con người có nhận thức đúng trong việc khaithác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

 Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1984, tại cuộc họp Liên hiệp quốc vềBVMT và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môitrường” được sử dụng Tiếp sau đó, có rất nhiều cố gắng để định nghĩa thuật ngữnày

 IUNC, 1970 đã định nghĩa GDMT là quá trình nhận biết các giá trị và làmsáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và quan điểm cần thiết đểhiểu và đánh giá được sự quan hệ và tương tác giữa con người, nền văn hoá vàthế giới vật chất bao quanh GDMT đồng thời cũng thực hiện quyết định đưa rabộ quy tắc ứng xử với những vấn đề liên quan đến đặc tính môi trường

 Chương trình IEEP ( Chương trình GDMT quốc tế) ra đời taị một hội thảo ởBelyrade năm 1972 Hội thảo đưa ra bản tuyên bố liên chính phủ lần đầu tiên vềGDMT Các mục đích, mục tiêu, những khái niệm cốt yếu và những nguyên tắc

Trang 5

hướng dẫn của chương trình được đưa ra vào một văn kiện của hội thảo có tênlà: “Hiến chương Belyrade – một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho GDMT”.Một tập hợp các mục tiêu ngắn gọn, bao quát GDMT được đưa ra tại Belyradecó thể tóm tắt như sau:

 Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinhtế, xã hội, chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành phố

 Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức nhữnggiá trị, quan niệm, trách nhiệm và những kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cảitạo môi trường

 Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, cáctổ chức, cũng như toàn xã hội

 Tại Hội nghị liên chính phủ lần đầu tiên về GDMT do UNESCO tổ chứctại Tbilisi, Liên Xô năm 1977 có 66 thành viên các nước tham dự Hội nghị đưa

ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa GDMT trong chươngtrình giáo dục chính thức và không chính thức Sự kiện quan trọng này và nhữngcông bố liên tiếp theo dự kiến hội nghị đã tiếp tục đóng góp cho hệ thốngnguyên tắc của sự phát triển GDMT trên toàn thế giới ngày nay

 Đây là một trong những văn kiện có ý nghĩa quan trọng nhất quan tâm tớivấn đề bảo tồn và GDMT trên toàn thế giới Chiến lược bảo tồn thế giới đãcông bố (IUCN 1980) Văn kiện cốt yếu này nhấn mạnh tầm quan trọng củaviệc giữ gìn tài nguyên thông qua “sự phát triển mang tính chất duy trì” và ýnghĩa của mối quan hệ tương tác giữa bảo tồn và phát triển Chiến lược về bảotồn thế giới có một chương về GDMT với nội dung tom tắt như sau:

 Nếu như đạt được các mục tiêu bảo tồn thì hành vi cư xử của một xã hộiđối với sinh quyển phải bắt buộc thay đổi Nhiệm vụ lâu dài của GDMT làkhuyến khích hoặc củng cố các hành vi, thái độ mang tính đạo đức mới

Trang 6

 Từ năm 1986 trở đi, các hoạt động quốc tế tiếp tục bổ sung, đóng góp chochiến lược bảo tồn thế giới, giải quyết các vấn đề về GDMT, đạo đức và vănhoá

 Năm 1987 đánh dấu 10 năm kỷ niệm hôi nghị Tbilisi đầu tiên và Hội nghịnày một loạt các vấn đề cơ bản được đưa ra thảo luận trong đó có tầm quan

trọng đặt biệt của GDMT, với nội dung: Rút cục là sẽ không có gì giảm được

mối đe doạ mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường trừ khi ý thức của đại đa số quần chúng về mối liên quan thiết yếu giữa đặt trưng môi trường và sựtiếp tuc thoả mãncác nhu cầu của con người được thức tỉnh Hoạt động của con người phụ thuộc vào động cơ, mà động cơ phụ thuộc vào sự hiểu biết của chúng Vì thế chúng ta hiểu được tầm quan trọng tại saomỗi người phải nhận thức môi trường đúng đắn thông qua GDMT.

 Cũng trong năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và sự phát triển đãcó báo cáo “Tương lai của chúng ta” (WCED 1987) Bản báo cáo đã đưa ra mộtcông bố chính “chương trình nghị sự toàn cầu” để nhất trí vấn đề môi trường vớisự phát triển, và vì thế đã tăng cường và mở rộng thực chất cuộc bảo tồn thếgiới 1980 Giáo dục được coi là phần trọng tâm của chương trình này “Sự thayđổi trong thái độ mà chúng ta cố gắng làm phụ thuộc các chiến dịch giáo dụclớn, các cuộc thảo luận và sự tham gia của quần chúng” (WCED 1987) Tranhluận xuất phát từ báo cáo trên đã đưa tới một hội nghị quan trọng thứ hai, sauhội nghị Stockholm 20 năm, hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và sự pháttriển hội nghị thượng đỉnh, Brazil (1992)

 Hội nghị thượng đỉnh diễn ra tại Rio de Janero năm 1992, hội thảo trênmột phạm vi rộng về các đề tài và vấn đề môi trường Có nhiều công bố dànhcho GDMT thông qua suốt văn kiện Một trong những kết quả chính của hộinghị là sự nhất trí rằng phát triển và giáo dục và môi trường phải là một bộ phậnthống nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức

Trang 7

Và một dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nổ lực phấn đấu để cập nhậphóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và pháttriển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục.

2.1.1.2. Tình hình GDMT ở Việt Nam

 Ở Việt Nam, từ năm 1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong tràoTết trồng cây để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống Cho đến nay phong tràonày vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ

 Năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chương trình trồng cây phát triểngiáo dục – đào tạo và BVMT (1991 – 1995)

 Trong kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vữngcủa Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000, GDMT được ghi nhận như một bộ phậncấu thành

 Từ năm 1995, Dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Viêt Nam (VIE95/041) của Bộ Giáo duc và Đào tạo do UNDP tài trợ đã nhắm vào mục tiêu cơbản:

− Hổ trợ xây dựng một chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về GDMTtại Việt Nam

− Tăng cường năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc truyền đạtnhững nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên

− Xây dựng các hoạt động GDNT cụ thể để thực hiện ở cấp Tiểu học vàTrung học

 Các mục tiêu trên đã thực hiện ở mức chi tiết và cụ thể hơn trong thực tiễnthông qua dự án VIE98/018

 Đặt biệt gần đây nhất, tháng 8 – 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết

định số 153/2004/ QĐ – TTg về việc ban hành Định hướngchiến lược phát triển

bền vững ở Việt Nam gồm 5 phần:

Trang 8

Phần 1: Phát triển bền vững – Con đường tất yếu của Việt Nam.

Phần 2:Những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm PTBV.

Phần 3: Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm PTBV.

Phần 4: Những lĩnh vực sử dụng TNTN, BVMT và kiểm soát ô nhiễm cần

ưu tiên nhằm PTBV

Phần 5: Tổ chức thực hiện nhằm PTBV.

 Ở các trường Đại học, GDMT được coi như một nôi dung quan trọng trong

các giáo trình Con người và môi trường; Dân số, tài nguyên, môi trường Ơû các

khoa:Sinh học, Địa lí, Hoá học của các trường Đại học Sư phạm (Hà Nội, Huế,

Tp HCM…) đã có các môn học về môi trường

2.1.2 Một số thành tựu về GDMT trên thế giới

 Ơû Đức, có chương trình “Tìm hiểu đất nước” trong bậc tiểu học Các cấphọc từ trung học trở lên thì nội dung GDMT được gắn hữu cơ vào chương trìnhSinh học và Địa lí

 Ơû Bungari, cấu tạo chương trình khoa học ở cấp 1 và học sinh ở cấp 2và 3theo tư tưởng chủ đạo “Con người và Môi trường” Trong chương trình cấp 1 cóhẳn một môn riêng biệt là “Kiến thức về môi trường”, cung cấp cho học sinhnội dung đơn giản nhưng rất cơ bản về môi trường xung quanh như: nhà trường,làng mạc, thôn xóm, địa phương, đường xá, giao thông, vườn cây, rừng, nước,lửa, động vật có ích, có hại Chương trình học sinh cấp 2 biên soạn theo quanđiểm “Tìm hiểu môi trường từ gần tới xa” như môi trường thôn xóm, môi trườngrừng, các cây nông nghiệp, sinh vật đồng ruộng,…

 Ơû Nhật, trọng tâm của GDMT là chống ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe, nộidung này đựơc lồng ghép vào các môn học đặc biệt là môn Sinh học và Địa lý

 Ơû Indonesia, người ta đã thiết lập các trung tâm nghiên cứu về môi trườngtrong các học viện Các trung tâm này là nơi cung cấp các chuyên gia cho việcnghiên cứu, đào tạo cho các công việc khác có liên quan đến khoa học môi

Trang 9

trường ở các cấp quốc gia và khu vực Tuy nhiên ở các vùng sâu vùng xa thìtrình độ dân trí về môi trường chưa được cao.

 Ơû Malaysia, các trường đại học đã có mối liên kết với các học viện trongvà ngoài nước để đào tạo các chuyên gia về môi trường Một số trường đại họcđã tổ chức các khóa chính trị, các khóa học ngoại khóa về môi trường cho hầuhết các sinh viên ở các ngành khác nhau Trình độ môi trường của nhân dânMalaysia khá cao

 Ơû Singapore, các chương trình giảng dạy môi trường ở các trường đại họctổng hợp, đại học bách khoa Học viện giáo dục được tiến hành tốt nhất Việcgiáo dục về môi trường được các quy định về pháp luật đi kèm Các trường đạihọc thành lập các ủy ban để cố vấn cho chính phủ về mặt môi trường nhằm đưa

ra những chính sách, những chủ trương kịp thời và thích hợp Ngoài ra, cáctrường còn tập trung vào các “Dự án thành phố sạch và xanh”, “Nguồn gốc của

ô nhiễm không khí và sự kiểm soát nó”, “Quản lý chất thải nguy hiểm”, “Bảoquản, lọc và xử lí nước thải”…

 Ơû Philipines, hầu hết các trường đại học đều có khoa học hay chỉ ít cũng cómột bộ môn môi trường (Hoặc Environmental Sciences hoặc EnvironmentalStudy) Ơû đây đào tạo cả chuyên ngành môi trường tài nguyên, môi trường sinhthái lẫn công nghệ môi trường Là một đất nước chịu nhiều thiên tai nênPhilipines rất chú trọng giáo dục các sự cố môi trường và phòng chống

 Ơû Thái Lan, nơi có trường AIT là nguồn cung cấp và đào tạo các kỹ thuậtviên môi trường, giáo dục ở cấp học sau trung học bao gồm đào tạo chuyênnghiệp và chuyên gia môi trường cũng được xúc tiến mạnh mẽ Hầu hết cáctrường đại học ở Thái Lan đều có quyền cấp bằng cử nhân hoặc thạc sĩ về môitrường Một số trường còn có cả chương trình đào tạo tiến sĩ trong lĩnh vực này.Tuy nhiên người Thái Lan vốn sợ rằng, trong tương lai gần sẽ có một sự cungcấp quá dư các nhà môi trường được đào tạo một cách tổng quát mà thiếu hẳn

Trang 10

những chuyên gia sâu trong một số lĩnh vực môi trường học Các báo cáo củacác chuyên gia Thái ở Hội nghị GDMT cho rằng: “Thái Lan cần có nổ lực hơnnữa để đưa giáo dục và đào tạo, huấn luyện GDMT vào các chương trình họchiện hành dành cho tất cả các ngành học mà họ sắp tốt nghiệp có liên quan đếnsự phát triển” Mặt khác, TS Chunaphicun cũng xác nhận “GDMT, nước chúngtôi được quan tâm và đạt đươc những cao trào rộng khắp, có lẽ chỉ đứng sau giáodục AIDS”.

Tuy hình thức và phương phháp GDMT ở mỗi nước có khác nhau nhưng đều đãkhẳng định sự cần thiết và tính cấp bách của giáo dục môi trường trong nhàtrường và trong cộng đồng xã hội Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất họp tại RioJaneiro (Braxin) năm 1992 đã xác định chiến lược hành động cho loài người vềmôi trường và phát triển môi trường ở thế kỷ 21, trong đó có hành động xem xétlại tình hình GDMT và đưa GDMT vào chương trình giáo dục cho tất cả mọi lớpvà ở các cấp học Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu của chươngtrình GDMT quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP Sau hội nghị này tất cả cácnước xem lại tình hình GDMT ở quốc gia mình vả xây dựng những mô hình giáodục mới phủ hợp nhằm nâng cao hiệu quả

2.1.3 GDMT ở Việt Nam

 Ơû nước ta, việc GDMT mới được bắt đầu từ những năm cuối thập niên 70,còn việc GDMT trong trường phổ thông chỉ mới được thực hiện vào thập niên 80cùng với kế hoạch cải cách giáo dục Để thực hiên nhiệm vụ GDMT trongtrường phổ thông, ngay từ thời kỳ đó đã có hai đề tài cấp nhà nước được tiếnhành nghiên cứu về phương thức nội dung GDMT trong nhà trường, trong đó tậptrung chủ yếu là môn sinh học và địa lý Từ năm 1982 – 1983 khoa học địa lýtrường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đưa môn bảo vệ tự nhiên, mà nay là GDMTvào chương trình đào tạo Đến năm 1985, cuốn “Quán triệt tinh than giáo dục kỹthuật tổng hợp, hướng nghiệp, dân số và bảo vệ môi trường” của nhà xuất bản

Trang 11

Giáo dục và cuốn “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông”của PGS Nguyễn Dược in vào năm 1986 cho thấy rõ sự nhận thức về GDMT ởnước ta Hiện nay, các hoạt động GDMT được tiến hành một cách mạnh mẽ.Ngoài việc GDMT cho quần chúng nhân dân thông qua phương tiện truyềnthông đại chúng rất đa dạng và phong phú ( chương trình “Dân số và Môitrương”, “Môi trường và Đời sống” Các phong trào “Sạch và Xanh” của cácthành phố lớn, các trường đại học đã đóng góp đáng kể vào công tác GDMT)trong nhiều trường đại học đã có các môn học về môi trường Từ năm học 1995– 1996 trở đi, tất cả trường đại học khoa học tự nhiên (Hà Nội), năm học 1993 –

1994 khoa “Môi trường học” được thành lập và triển khai đào tạo các cán bộ vềkhoa học môi trương Ơû Tp Hồ Chí Minh, khoa môi trường cũng được thành lập

ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Kỹ thuật Công nghệ vào năm1999

 Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứukhoa học về GDMT cấp nhà nước và cán bộ quản lý, nhiều đề tài luận án phótiến sĩ và thạc sĩ đã và đang được thục hiện, có tác dụng mở rộng nôi dung vànâng cao hiệu quả của việc GDMT

 Đúng ra, hành động có ýu nghĩa biểu trung lớn nhất ở nước ta về GDMT làngay từ năm 1962, Bác Hồ đã khai sinh ra “Tết trồng cây” và cho đến nay,phong trào này phát triển ngày càng mạnh mẽ Năm 1991, Bộ Giáo dục – Đàotạo đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục và đào tạo BVMT(1991 – 1995)

 Từ năm 1986 trở đi, cùng với các đề tài nghiên cứu về BVMT đã xuất hiện(Hoàng Đức Nhuận 1982, Nguyễn Dược 1982; 1986, Trịnh Ngọc Bích 1982,…)

 Thông qua việc thay đổi sách giáo khoa (Cải cách giáo dục) (1986 – 1992)các tài liệu chuyên ban và thí điểm, tác giả sách giáo khoa đã chú trọng đến

Trang 12

việc GDMT vào sách, đặt biệt là ở môn Sinh, Địa, Hoá, Kỹ thuật Đợt thay sáchbắt đầu từ năm 2002 đã tích hợp kiến thức môi trường vào tất cả các môn học.

 Trong “Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triểnbền vững của Việt Nam gia đoạn 1996 – 2000” GDMT được ghi nhận như bộphận cấu thành

 Từ năm 1996, Dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Việt Nam(VIE 95/041) của Bộ Giáo dục và Đào tạo do UNDP (Chương trình phát triểnLiên Hiệp Quốc) tài trợ đã nhằm vào mục tiêu cơ bản:

 Hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lược thực hiện quốcgia về GDMT tại Việt Nam

 Tăng cường năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc truyềnđạt những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáoviên

 Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp Tiểu họcvà Trung học

Các mục tiêu trên được thực hiện ở mức chi tiết và cụ thể hơn trong thực tiễnthông qua dự án VIE 98/018

 Ơû các trường đại học, GDMT đã được coi như một nội dung quan trọngtrong các giáo trình “Con người và Môi trường” “Dân số, Tài nguyên, Môitrường” Môi trường đã được học thành một môn học các khoa Sinh, Địa ở cáctrường Đại học Sư phạm Hà Nội, Huế, Tp HCM

 Ngày 17 tháng 10 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã có Quyết định số1363/QĐ– TTG về việc phê duyệt đề án “Đưa nội dung BVMT vào hệ thốnggiáo dục quốc dân”

2.1.4 Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục – Đào tạo về BVMT và GDMT

Trang 13

2.1.4.1 NGHỊ QUYẾT 41 – NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ NGÀY 15/11/2004

VỀ “BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

a Một số nội dung quan trọng của Nghị quyết NQ/TW

Nghị quyết đã nêu ra 5 quan điểm

1 BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố đảm bảo sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển Kinh tế – Xã hội, ổn định chính tri, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.

2 BVMT vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của PTBV, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển Kinh tế – Xã hội của từng ngành và từng địa phương Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển Kinh tế – Xã hội mà coi nhẹ BVMT Đầu tư cho BVMT là đầu tư cho PTBV.

3 BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của ông cha ta.

4 BVMT phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và Bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống.

5 BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ Đảng; sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

b Bảy nhóm giải pháp

Trang 14

“Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm

BVMT” Đây là nội dung rất quan trọng, tăng cường đa dạng hoá các hình thức

tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật và các thông tin về môitrường và PTBV cho mọi người, đặt biệt là trong thanh niên, thiếu niên; nhất là:

Đưa nội dung GDMT vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân, tăng cường thời lượng và tiến tới hình thành môn học chính khoá đối với các cấp học phổ thông.

“Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về BVMT” trong đó chú ý đến việc

hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, tăng cường công tác thanh tra, kiểmtra , giám sát, sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi thường thiệt hại vềmôi trường

“Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động BVMT” trong đó chú trọng tạo cơ sở pháp lý

và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia côngtác BVMT, xây dựng và thục hiện các quy ước, hương ước, cam kết về BVMTcủa cộng động dân cư

“Áp dụngcác biện pháp kinh tế tromng BVMT; tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư BVMT” ngân sách Nhà nước sẽ có mục chi riêng cho sự nghiệp môi

trường và tăng dần mức đầu tư hàng năm để đến năm 2006 đạt ít nhất 1% tổngchi ngân sách Nhà nước Ngoài đầu tư của Nhà nước, sẽ có chính sách khuyếnkhích các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư BVMT

Nhóm giải pháp thứ sáu và thứ bảy là”Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng

dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực về môi trường, mở rộng hợp tác quốc tế về môi trường”

2.1.4.2 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1363/QĐ – TTG ngày

17/10/2001 về việc phê duyệt dự án “Đưa nội dung BVMT vào hệ thống giáo dụcquốc dân”

a Mục tiêu của đề án

Trang 15

 Giáo dục Học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạotrong hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chínhsách của Đảng, Nhà nước về BVMT, có kiến thức về môi trường để tự giác thựchiện BVMT.

 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán bộ nghiên cứukhoa học – công nghệ và cán bộ quản lý về BVMT

b Nội dung, phương thức giáo dục bảo vệ môi trường.

 Nội dung, phương thức giáo dục BVMT

Nội dung giáo dục BVMT phải đảm bảo tính giáo dục toàn diện:

Đối với giáo dục mầm non: cung cấp cho trẻ em hiểu biết banđầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nóichung, biết cách sống tích cực với môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triểnlành mạnh của cơ thể và trí tuệ

Đối với giáo dục tiểu học: trang bị kiến thức cơ bản phù hợp vớiđộ tuổi và tâm lý của học sinh về các yếu tố của môi trường, vai trò củamôi trường đối với con ngườivà tác động của con người đối với môi trường;giáo dục học sinh có ý thức BVMT; phát triển kỹ năng bảo vệ và giữ gìnmôi trường

Đối với giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông: trang bịnhững kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con người với thiênnhiên; trang bị kỹ năng bảo vệ và giữ gìn môi trường, biết ứng xử tích cựcvới môi trường sống xung quanh Việc GDMT chủ yếu đựơc thục hiện theophương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các mônhọc trong nhà trường Nội dung giáo dục BVMT còn được thực hiện ngoàinhà trường dứơi nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức vàtrách nhiệm BVMT cho cộng đồng

Trang 16

Nội dung, phương thức đào tạo cán bộ BVMT

Nội dung chính của đào tạo cán bộ về BVMT bao gồm: nhữngkiến thức cơ bản liên quan đến môi trường, kỹ năng nắm bắt các vấn đềmôi trường, kỹ năng dự báo, phòng ngừa và giải quyết những sự cố môitrường và những nội dung cần thiết về pháp luật BVMT

Việc đưa các nôi dung trên vào chương trình đào tạo cán bộBVMT phải căn cứ đặt điểm ngành, nghề, trình độ đào tạo để thiết kếchương trình và môn học Đối với một số ngành đào tạo, có thể biên soạnnội dung về BVMT thành các môn học riêng

c Các hoạt động thực hiện đề án

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan thụchiện các dự án thành phần như sau:

Xây dựng chương trình, giáo trình, bài giảng về giáo dục BVMTcho các bậc học, cấp học và trình độ đào tạo

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về BVMT

Tổ chức chỉ đạo việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và quản lývề lĩnh vực môi trường để đảm bảo nguồn nhân lực cho việc nghiên cứu,quản lý và thực hiện công nghệ BVMT, PTBV đất nước

Tăng cường cơ sở vật chất cho việc giảng dạy, học tập, nghiêncứu khoa học và chuyển giao công nghệ về môi trường trong các trườnghọc

Thông tin giáo dục BVMT trong nước, khu vực và trên thế giới

Trang 17

Để thực thi Nghị quyết của Chính phủ, ngày 31/01/2005, Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chỉ thị số 02/2005/CT –BGD&ĐT về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT Trong Chỉ thị Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cấp quản lý giáo dục, các cơsở giáo dục cần tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt 4 nội dung cơ bản của chỉthị.

2.2 Giáo dục môi trường

Giáo dục BVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chínhquy và không chính quy, giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường làm chocon người có sự hiểu biết về môi trường, kỹ năng và giá trị về nhân cách trongứng xử với môi trường, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hộibền vững về sinh thái Để việc đưa giáo dục BVMT vào nhà trường đạt kết quảmong muốn, quá trình triển khai sẽ thực hiện theo đường hướng được xác định vàphải đảm bảo nguyên tắc, mục tiêu, nội dung với những phương pháp thích hợp

2.2.1 Định nghĩa về GDMT

GDMT là khoa học giáo dục nhận thức của con người về môi trường sống,về các mối quan hệ giữa môi trường và con người cùng các hoạt động kinh tế, xãhội của con người, nhằm tạo cho con người có tình cảm, thái độ và cách ứng xửđúng đắn trong công tác BVMT và PTBV

Có nhiều định nghĩa về GDMT Tuy nhiên, trong khuôn khổ của việcGDMT thông qua các mơn học ở nhà trường, có thể hiểu GDMT là một quá trìnhtạo dựng cho con người những nhận thức và mối quan tâm về môi trường và cácvấn đề môi trường GDMT gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kỹ năng,hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phốihợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề môi trường và ngăn chặn những vấnđề mới có thể xảy ra trong tương lai

Trang 18

2.2.2 Tầm quan trọng của giáo dục BVMT.

 Con người là một thành phần của môi trường và là chủ thể BVMT Ý thức,thái độ, hành vi ứng xử với môi trường là một trong các yếu tố nhân cách củangười lao động Chức năng chủ tổng quát nhất và cao quý nhất của giáo dục là

“trồng người”, rèn luyện phát triển nhân cách người lao động Thật vậy, giáodục, đặc biệt là giáo dục có hệ thống trong nhà trường đóng vai trò quyết địnhđối với việc hình thành tư cách công dân, cách ứng xử đối với xã hội, đối vớimôi trường của mỗi cá nhân Một khi con người có những hiểu biết về mối quanhệ nhân quả giữa môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, giữa môi trường vớisự tồn tại của xã hội, giữa môi trường với chính cuộc sống của mình thỉ trongmọi hành động thì họ sẽ nâng niu và ứng xử thân thiện với môi trường vì mụctiêu PTBV Mọi thành viên trong cộng đồng xã hội đều có quan hệ với nhau vàquan hệ trực tiếp tới môi trường Tất cả đều có trách nhiệm trước môi trường.Tuy nhiên, chỉ có giáo dục, với hệ thống nhà trường của tất cả các cấp học, bậchọc, với thiết chế chặt chẽ mới có thể tác động một cách rộng rãi lên các thànhviên của xã hội Chính vì vậy, giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệunhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mụctiêu BVMT và PTBV đất nước

 Việt Nam với gần 23 triệu hoc sinh, sinh viên các cấp và gần 1 triệu giáoviên, cán bộ giảng dạy và quản lý nên việc trang bị các kiến thức về môitrường, kỹ năng BVMT cho số đối tượng này là một cách nhanh nhất làm cho1/3 dân số của đất nước hiểu biết về môi trường Họ cũng chính là lực lượngxung kích, hùng hậu nhất để tuyên truyền và cộng đồng dân cư của khắp các địaphương trong cả nước về môi trường và BVMT Hơn nữa, với gần 38.000 trườnghọc và các cơ sở giáo dục, đào tạo, những trung tâm văn hoá của địa phương, lànơi có điều kiện để thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nứơcvề BVMT và PTBV

Trang 19

 Đích quan trọng của giáo dục BVMT không chỉ làm cho mọi người hiểu rõsự can thiết phải BVMT mà quam trọng là phải có thói quen, hành vi ứng xửthân thiện, văn minh, lịch sự với môi trường Điều này phải trong một quá trìnhlâu dài và phải bắt đầu ngay từ tuổi thơ ấu, từ gia đình tới nhà trường, từ trườngmầm non cho đến những năm học ở nhà trường phổ thông, các học sinh luônđược tiếp xúc với thiên nhiên sinh động, tươi đẹp,… Việc hình thành tình yêuthiên nhiên, sống thân thiện hoà đồng với thiên nhiên, quan tâm đến thế giớixung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh của học sinh một mặt phùthuộc vào tố chất của từng em, mặt khác – hết sức quan trọng và mang tính chấtquyết định – lại phụ thuộc vào nội dung và cách thức giáo dục của chúng ta, bởigiáo dục có vai trò quyết định đến việc hình thành nhân cách và năng lực củangười học Giáo dục BVMT phải được đưa vào nhà trường phổ thông nhằmtrang bị những kiến thức cơ bản về môi trường và BVMT, bồi dưỡng tình yêuthiên nhiên, bồi dưỡng những xúc cảm, xây doing cái thiện trong mỗi con người,hình thành thói quen, kỹ năng sống BVMT.

 Các thầy cô giáo cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dụcBVMT cho học sinh, có trách nhiệm triển khai giáo dục BVMT phù hợp vớiđiều kiện của nhà trường và địa phương Để đảm bảo hiệu quả giáo dục BVMT,những người làm công tác giáo dục cần phải hiểu những điều cơ bản của giáo

dục BVMT, đồng thời cần có kỹ năng thực hiện giáo dục BVMT.

2.2.3 Định hướng giáo dục BVMT trong nhà trường

 Giáo dục BVMT cần nhìn nhận môi trường trong tính toàn bộ của nó, nghĩalà trong môi trường cần phải xem xét tất cả các mặt tự nhiên, sinh thái, chính trị,kỹ thuật và xã hội, cần khám phá môi trường cả ở khía cạnh chất lượng vật chấtcủa mối quan hệ con người và môi trường lẫn khía cạnh tinh thần của mối quanhệ này Tuy nhiên, để xác định phạm định vi và đối tượng giáo dục nhằm tănghiệu quả của giáo dục BVMT trong nhà trường Việt Nam, cần thiết phải tập

Trang 20

trung hơn vào nội dung giáo dục BVMT tự nhiên và mối quan hệ tương hổ củanó với các hoạt động của con người.

 Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì nội dung giáo dụccó thể tìm thấy trong nhiều môn học và hoạt động Trong các chương trình giáodục của nhà trường Việt Nam hiện nay, giáo dục BVMT hiện nay chưa phải làmột môn học riêng mà được triển khai bằng phương thức tích hợp vào các mônhọc và theo tinh thần xuyên bộ môn Điều đó có nghĩa là không thể thực hiệngiáo dục BVMT chỉ qua một môn học hoặc một hoạt động mà cần có sự liênkết giữa chúng trong quá trình giáo dục mới có thể đảm bảo thực hiện được mụctiêu giáo dục BVMT

 Giáo dục BVMT cần phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường gầngũi với học sinh, từ khuôn viên của nhà trường đến môi trường của địa phương,khu vực, đất nước,… coi đó là chất liệu để giáo dục, là môi trường để giáo dụcvà là mục đích cụ thể giáo dục BVMT, theo phương châm “Suy nghĩ toàn cầu,hành động địa phương” Giáo dục BVMT quan tâm đến cả môi trường toàn cầuvà môi trường địa phương Một mặt giúp cho học sinh có cái nhìn toàn cầu đốivới các vấn đề môi trường, mặt khác coi trọng giáo dục BVMT ở địa phương.Đích cụ thể mà giáo dục BVMT cần đạt tới là sự quan tâm đến môi trường địaphương, lời cam kết và những hành động dù nhỏ nhưng thiết thực, góp phần cảithiện môi trường địa phương, tạo thói quen ứng xử đúng đắn với môi trường

 Phương thức tiếp cận cơ bản của GDMT là: Giá dục về môi trường, trongmôi trường và vì môi trường, đặt biệt là giáo dục vì môi trường, coi đó là thước

đo cơ bản hiệu quả của giáo dục BVMT

Giáo dục về môi trường: Trang bị các kiến thức về môi trường, các thànhphần môi trường và mối quan hệ giữa chúng với nhau, cung cấp những hiểu biếtvề hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó, những hiểu biết về tác động của conngười tới môi trường

Trang 21

Giáo dục trong môi trường: Xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạo nhưmột địa bàn, một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu Với cách tiếpcận này, môi trường sẽ trở thành “Phòng thí nghiệm thực tế” đa dạng, sinh độngcho người dạy và người học, học sinh hứng thú, hiệu quả học tập sẽ cao hơn.Giáo dục vì môi trường: Trên cơ sở các tri thức được trang bị đi tới xâydựng ý thức quan tâm và trách nhiệm, hình thành các quan niệm giá trị nhâncách, đạo đức đúng đắn, thái độ ứng xử tích cực, xây dựng động cơ và kỹ năngtham gia cải thiện môi trường.

2.2.4 Nguyên tắc giáo dục BVMT trong nhà trường

 Đảm bảo mục tiêu giáo dục BVMT phải phù hợp với mục tiêu đào tạo củacấp học, bậc học, góp phần thục hiện mục tiêu đào tạo của giáo dục nói chung

 Phải hướng việc giáo dục BVMT tới việc cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức về môi trường và kỹ năng BVMT phù hợp với tâm, sinh lý từng lứatuổi

 Nội dung giáo dục BVMT phải chú trọng các vấn đề thực hành, trên cơ sởđó hình thành các kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thểtham gia có hiệu quả vào các hoạt động BVMT của địa phương, của đất nướcphù hợp với lứa tuổi

 Phương pháp giáo dục BVMT nhằm tạo điều kiện cho người học chủ độngtham gia vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn đề môitrường và tìm ra hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáoviên

 Tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT nhưng phải đảm bảo kiến thức cơbản của môn học, tính logic của nội dung và không làm quá tải kiến thức vàtăng thời gian của bài học

2.2.5 Yêu cầu của GDMT

 Kết hợp trang bị tri thức với giáo dục đạo đức môi trường

Trang 22

 Đặt GDMT trong mối quan hệ đa ngành, giải quyết vấn đề dưới sự kết hợp

đa lĩnh vực

 Hình thức giáo dục phải đa dạng, phong phú, kết hợp chặt chẽ giữa lýthuyết và minh họa thực tế, mô hình, hình thức phù hợp lứa tuổi, nhận thức, kếthợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

 Đảm bảo giáo dục ứng xử môi trường theo quy định của pháp luật và cáccông ước quốc tế về BVMT

 Đảm bảo kết hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị trong GDMT, xemmôi trường như một tổng thể tự nhiên và có một mối quan hệ chặt chẽ với cácyếu tố kinh tế và xã hội Đặt sự phát triển của cà nhân và cộng đồng trong môitrường tự nhiên trong lành

 Xem xét các vấn đề môi trường theo nhiều phạm vi: địa phương, quốc giavà toàn cầu

 Chú trọng vào môi trường hiện hữu cũng như những thay đổi trong tươnglai

Động viên sự kết hợp hành động BVMT địa phương và sau đó là những đónggóp giải quyết các vấn đề môi trường ở tầm quốc gia và toàn cầu

 Chú ý khía cạnh môi trường trong giáo dục phát triển

2.2.6 Mục tiêu giáo dục BVMT trong nhà trường

 Hội nghị quốc tế về giáo dục BVMT của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisinăm 1977 xác định mục tiêu của GDMT như sau: “Làm cho các cá nhân và cáccộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trườngnhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tếvà văn hóa, đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năngthực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòngngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường”

Trang 23

 Từ tuyên ngôn ban đầu đó, mục tiêu của GDMT đã được cụ thể hóa vàkhiển khai ở các quốc gia và trong tất cả các cấp học, bậc học Nhìn chung,GDMT nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng của mỗi cá nhân, cộng đồngvào giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường, đảm bảo môi trường bền vững cho cảthế hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụngnhững công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môitrường, xóa đói nghèo, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khônkhéo trong việc sử dụng tài nguyên Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt đượcnhững kỹ năng, có động lực và cam kết hành động dù với tư cách cá nhân haytập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện nay và phòng ngừa nhữngvấn đề mới nảy sinh Ơû Việt Nam, giáo dục BVMT trong các nhà trường cầnđem lại cho người học các nội dung:

Có kiến thức, hiểu biết về môi trường: Các thành phần của môi trường, tínhphức tạp và mối quan hệ nhiều chiều giữa các thành phần của môi trường, tínhhạn chế của TNTN, khả năng chịu tải của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữamôi trường với sự phát triển của kinh tế – xã hội trong phạm vi địa phương, quốcgia, khu vực và trên toàn cầu

Xây dựng thái độ: Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đềmôi trường như nguồn lực để sống, lao động, phát triển cá nhân, cộng đồng, xãhội Từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, cótrách nhiệm đối với môi trường, có quan niệm đúng về các giá trị nhân cách đốivới môi trường, để dần có được các kỹ năng ứng xử thân thiện với môi trường,tham gia BVMT, hình thành đạo đức môi trường

Trên nền tảng của tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động BVMT, ngườihọc tự nâng cao khả năng lựa chọn cách sống phù hợp với việc sử dụng hợp lývà khôn ngoan các nguồn TNTN, góp phần tham gia hiệu quả vào việc phòng

Trang 24

ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường tại nơi ở và nơi làm việc của mỗi cánhân.

Hình thành và phát triển năng lực phân tích đánh giá những vấn đề có liênquan đến môi trường và khả năng giải quyết các vấn đề môi trường ở phạm vicá nhân, địa phương và cộng đồng

 Giáo dục BVMT được đưa vào toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Ơû mỗicấp, bậc học, tùy theo khả năng tiếp nhận tri thức và thực hiện các hành viBVMT của học sinh mà lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học cho phùhợp

 Mục tiêu giáo dục BVMT ở cấp trường THCS

Về kiến thức:

Học sinh có hiểu biết về:

Khái niệm môi trường, hệ sinh thái, các thành phần môi trường và mối quanhệ giữa chúng

Con người – dân số – môi trường: Biết đựơc vai trò của môi trường đối vớicon người và tác động của con người đối với môi trường, việc khai thác, sử dụng,tái tạo nguồn tài nguyên và PTBV, sự ô nhiễm và suy thoái môi trường (hiệntrạng, nguyên nhân hậu quả) Giải thích được những hiện tượng bất thường củamôi trường xảy ra trong tự nhiên

Hiểu biết về pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vềBVMT, về các biện pháp BVMT (môi trường địa phưong, quốc gia, khu vực,toàn cầu)

Về thái độ, tình cảm

Có tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên

Có tình yêu quê hương, đất nước, tôn trọng di sản văn hoá

Có thái độ thân thiện với môi trường và ý thức được các hành động trước vấnđề môi trường nảy sinh

Trang 25

Có ý thức:

+ Quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình, cộngđồng

Bảo vệ ĐDSH, bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước và không khí

+ Giữ gìn vệ sinh, an toàn thực phẩm, an toàn lao động

+ Uûng hộ, chủ động tham gia các hoạt động BVMT, phê phán hành vi gâyhại cho môi trường

Về kỹ năng, hành vi:

Có kỹ năng phát hiện vấn đề môi trường và ứng xử tích cực với các vấn đềmôi trường nảy sinh

Có hành động cụ thề BVMT

Tuyên truyền, vận động BVMT trong gia đình, nhà trường và xã hội

2.2.7 Nội dung giáo dục BVMT trong nhà trường

Môi trường là sự tổng hợp nhiều thành phần: thiên nhiên, dân số, kinh tế –xã hội, văn hóa,… Trong nhà trường, chúng ta quan tâm chủ yếu đến môi trườngtự nhiên và tác động qua lại, chặt chẽ của nó với các hoạt động của con người.Việc giáo dục về môi trường, trong môi trường phải nhằm tới giáo dục vì môitrường Vì vậy, nhà trường phải cung cấp đầy đủ những kiến thức về môi trườngcho học sinh Song đo mới chỉ là một mặt của mục tiêu giáo dục BVMT Điềucần đạt là học sinh, từ sự hiểu biết đó, tùy theo độ tuổi và mức độ tham gia vàocác hoạt động tác động đến môi trường, cần có thái độ ứng xử thân thiện với môitrường, có kỹ năng thực hành, phương pháp hành động độc lập, khả năng ra quyếtđịnh phù hợp, ứng xử có hiệu quả vấn đề môi trường Qua đó hình thành và pháttriển giá trị nhân cách, đạo đức trong thái độ ứng xử và hành động trước vấn đềmôi trường Trong quá trình học tập, học sinh có thêm những hiểu biết về vấn đềmôi trường và PTBV ở địa phương, quốc gia, khu vực, quốc tế và tiến dần tới khảnăng xem xét vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, định hướng hành động của

Trang 26

cá nhân cho phù hợp với yêu cầu phát triển môi trường bền vững Để bao quátcác nôi dung về môi trường và BVMT trong nhà trường Việt Nam, hệ thống kiếnthức này được sắp xếp trong 4 chủ đề với những chi tiết trọng tâm như sau:

Chủ đề 1: Môi trường sống của chúng ta

Khái niệm môi trường

Môi trường tự nhiên

Môi trường nhân tạo

TNTN

Các hệ sinh thái

Chủ đề 2: Quan hệ giữa con người và môi trường

Con người là một thành phần của môi trường

Vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con người đối vớimôi trường

Mối quan hệ giữa dân số và môi trường Công nghiệp, đô thị hóa và vấn đềmôi trường

Chủ đề 3: Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường

Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm nước, biển, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất,

ô nhiễm tiếng ồn và các vấn đề về chất thải, suy thoái rừng, suy thoái đất và suygiảm ĐDSH

Chủ đề 4: Các biện pháp BVMT và PTBV

Những quy định của pháp luật về BVMT và PTBV

Các biện pháp và hoạt động BVMT

Nhiệm vụ của học sinh trong PTBV

2.2.8 Phương pháp giáo dục BVMT trong nhà trường

2.2.8.1 Phương pháp tham quan,điều tra khảo sát thực địa.

Phương pháp này không chỉ giúp học sinh kiểm nghiệm lại các kiến thứcđã học trên lớp, đồng thời đi sâu, tìm hiểu bản chất những hiện tượng của môi

Trang 27

trường tự nhiên, nhân tạo, hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa con người vàmôi trường, những vấn đề nảy sinh do các hoạt động của con người gây ra vớimôi trường, những nguy cơ tiềm ẩn mà con người ngày càng phải trực điện Cóthể triển khai theo 2 cách:

 Tổ chức cho học sinh đi tham quan học tập ở khu BTTN, nhà máy xử lý rác,khu chế xuất, danh lam thắng cảch,…

 Lập nhóm tìm hiểu tình hình môi trường ở trường học hoặc ở địa phương Cácnhóm có nhiệm vụ:

+ Điều tra, tìm hiểu tình hình môi trường ở khu vực khảo sát

+ Lựa chọn vấn đề khảo sát mang tính nghiên cứu (ví dụ vấn đề ô nhiễmnước)

+ Báo cáo kết quả, nêu phương án cải thiện môi trường

Giáo viên nên áp dụng phương pháp này trong các đợt tham quan , dã ngoại,

du lịch do nhà trường tổ chức cho các lớp học sinh Nhưng buổi tham quan, dãngoại có kèm mục đích tìm hiểu, khám phá môi trường sẽ làm phong phú thêmnội dung và hoạt động tham quan, tăng ý nghĩa giáo dục của hoạt động Để đạtmục đích kép này, cần có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, không nên chỉ dừnglại ở quan sát, mô tả hiện trạng, đặc điểm mà cần phải làm cho học sinh quan tâmvà thấy có trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, làm đẹp thêm địa điểm thamquan Ví dụ, tìm hiểu và thông báo trước về đặc điểm tự nhiên, nhân văn,… củađịa điểm, những thay đổi của cảnh quan, lý do và dự báo sự thay đổi của cảnhquan do tác động của con người Nên tìm hiểu cả giá trị kinh tế của địa điểm đểnhững lựa chọn giải pháp tác động đến địa điểm mang tính thực tiễn cao hơn

2.2.8.2 Phương pháp thí nghiệm

Phương pháp thí nghiệm cho phép tái tạo lại những hiện tượng đã xảy ratrong thiên nhiên, đơn giản hoá các quá trình để học sinh có thể quan sát, tìmhiểu chúng Nhiều kiến thức của các môn Sinh học, Vật lý, Hoá học,… học sinh

Trang 28

cần tiếp thu, trãi nghiệm qua các thí nghiệm Đây cũng là những phương phápdạy học đặc trưng của các môn khoa học thực nghiệm Những hiện tượng liênquan đến môi trường sẽ được học sinh hiểu, cảm nhận và có ý thức sâu sắc hơnthông qua các thí nghiệm đã được học sinh trực tiếp thục hiện Vì dụ, thí nghiệm

ủ rác khi dạy về xử lý rác để biết khả năng phân huỷ của từng loại rác Hoạtđộng này giúp học sinh có ý thức được việc sử dụng các loại bao bì đóng gói nàocó lợi cho môi trường và sự cần thiết phải phân loại rác từ khâu thu gom Ở nơi cóđiều kiện, có thể tiến hành những thì nghiệm ảo bằng cách mô hình hoá quachương trình phần mềm máy vi tính như “mô hình chu trình nước”, “mô hình sảnxuất nước sạch”,…

Hình 2.1 : Mơ hình chu trình nước 2.2.8.3 Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục

Học sinh cấp THCS đã có vốn kiến thức tương đối lớn, ngày càng được mởrộng và sâu thêm Tầm nhìn của các em không còn bó hẹp trong khuôn khổ nhàtrường, gia đình Mặt khác, theo lý thuyết kiến tạo lại, cần bồi đắp kiến thức, kỹnăng của học sinh trên nền tảng học vấn các em đã có Giáo viên nên đưa các emvào những tình huống cần tìm hiểu, cần giải quyết, buộc các em phải vận dụng

Trang 29

vốn hiểu biết của mình, tìm kiếm những kiến thức kỹ năng cần thiết nhằm giảiquyết vấn đề, từ đó thu nhận thêm kiến thức, kỹ năng mới làm giàu thêm vốn họcvấn của mình Vấn đề môi trường bao gồm cả những vấn đề rất lớn như lỗ thủngtầng ozon, sự nóng lên toàn cầu,… nhưng còn có cả những vấn đề rất gần gũi vớihọc sinh như khói bụi làm ô nhiễm không khí, chất thải làm ô nhiễm nước, lũ lụtsạt lỡ đất,… gây hậu quả nghiêm trọng mà học sinh thường nhìn thấy, tiếp xúc vớichúng, trải nghiệm qua thực tế môi trường địa phương, đất nước Giáo viên cầntận dụng đặc điểm này khi thực hiện giáo dục BVMT cho học sinh Ví dụ, khi tìmhiểu về sức ép dân số lên môi trường, giáo viên không nên mô tả ngay các hiệntượng, sự kiện do dân số đông nên môi trường bị suy thoái mà nên cho học sinhliên hệ và đưa ra các hiện tượng thể hiện tác động của dân số tới môi trường.Hoặc học về vấn đề rác thải, giáo viên không nên cung cấp ngay các số liệu vềlượng rác thải hàng ngày, hàng tháng,… cho học sinh mà tổ chức cho các em thamgia hoạt động điều tra lượng rác thải ở gia đình, trường học, địa phương.

2.2.8.4. Phương pháp hoạt động thực tiễn kết hợp giải quyết vấn đề cộng đồng và giáo dục kỹ năng sống.

Ở mỗi cộng đồng địa phương đều có những vấn đề môi trường bức xúcriêng Ví dụ, môi trường làng nghề, môi trường rừng, môi trường biển và ven bờ,môi trường ở khu vực công nghiệp,… Giáo viên cần khai thác tình hình môi trườngđịa phương để giáo dục học sinh đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả Phươngpháp này đòi hỏi giáo viên phải thu thập số liệu, sự kiện và tìm hiểu tình hìnhmôi trường địa phương Nhà trường cũng cần tổ chức các hoạt động phù hợp đểhọc sinh tham gia góp phần cải tạo môi trường địa phương Những hoạt động đo,ùdù nhỏ nhưng thiết thực góp phần cải thiện môi trường ở nhà trường và địaphương, đồng thời tác động lên ý thức của học sinh, rèn luyện kỹ năng, thói quenBVMT cho các em và giúp các em thấy được giá trị của lao động Trong quá trìnhgiáo dục cần chú ý rèn luyện kỹ năng BVMT thông qua việc luyện tâp xử lý các

Trang 30

tình huống môi trường cụ thể Hình thành cho học sinh khả năng nhận biết vàphát hiện các vấn đề môi trường, xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường vàkỹ năng kiên định thực hiện kế hoạch hành động BVMT.

2.2.8.5 Phương pháp nêu gương

Học sinh cấp THCS vẫn luôn nhìn vào hành động của người lớn để xemxét, so sánh và bình luận Muốn giáo dục các em có neap sống văn minh, lịch sựđối với môi trường, trước hết giáo viên và các bậc phụ huynh phải thực hiện đúngcác quy định BVMT Tác động giáo dục từ bạn học cũng rất lớn Những gươngngười tốt, việc tốt từ bạn bè sẽ cảm hóa và làm gương tốt cho các em Giáo viêncần tận dụng các hoạt động tập thể để học sinh thi đua cùng thực hiện tốt cáchoạt động BVMT, từ những việc cụ thể như gìn giữ môi trường lớp học, trườnghọc, cộng đồng xanh, sạch, đẹp

2.2.9 Phương thức giáo dục BVMT ở trường THCS

Giáo dục BVMT ở trường THCS vẫn được thuc hiện theo phương thức tíchhợp vào các môn học và hoạt động có trong chương trình giáo dục cấp THCS.Trong chương trình và Sách giáo khoa(SGK) của cấp học này, các tác giả đãquán triệt tinh thần tích hợp nội dung giáo dục BVMT, PTBV theo yêu cầu chung

Vì vậy, trong hầu hết các môn học đã thể hiện nội dung giáo dục BVMT với bamức độ đã được thống nhất là: tích hợp toàn phân, tích hợp từng bộ phận và liênhệ tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của mỗi bài trong SGK Giáo viên bộ môn cầnchú ý khai thác các cơ hội giáo dục BVMT trong từng bài, từng chương, tránh bỏqua cũng như lạm dụng làm bài học trở nên nặng nề gây nhàm chán cho học sinh.Dưới đây nêu một số ví dụ về mức độ tích hợp giáo dục BVMT trong một số bàihọc môn học

Trang 31

2.2.9.1 Mức độ toàn phần

Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương trình hoàn toàn phù hợpvới mục tiêu và nội dung của giáo dục BVMT Ví dụ, chương “Vai trò của thựcvật”, bài “Đa dạng sinh học”, “Đấu tranh sinh học”, “Động vật quý hiếm”, “Tácđộng của con người đối với môi trường”, “Ô nhiễm môi trường” (môn Sinh học),bài “Đặc điểm tài nguyên khoáng sản Việt Nam” (môn Địa lý), “Sài Gòn tôiyêu”, “Một thứ quà của lúa non”, “Thông tin về ngày trái đất” (môn Ngữ văn),…

2.2.9.2 Mức độ từng bộ phận

Chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục BVMT Ví dụ,các bài “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam”, “Đặc điểm đất Việt Nam”, “Cộng đồngcác dân tộc Việt Nam” (môn Địa lý), “bài “Khi con tu hú”, “Tức cảnh Pác Bó”(môn Ngữ văn), “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Tích cực, tự giác trong hoạt độngtập thể và hoạt động xã hội” (môn Giáo dục công dân)

2.2.9.3 Mức độ liên hệ

Có điều kiện liên hệ một cách lôgic với các kiến thức , các vấn đề môitrường, BVMT Ví dụ, bài “Trách nhiệm pháp lý của công dân” (môn Giáo dụccông dân), “Đột biến gen” (môn Sinh học),…

Mô hình tích hợp giáo dục BVMT qua các môn học, các hoạt động ởtrường THCS thể hiện ở hình

Như vậy, các môn học đều có khả năng thực hiện tích hơp giáo dụcBVMT Tuy nhiên, khả năng và mức độ triển khai giáo dục BVMT còn tùy thuộcvào nội dung của từng môn Trong số các môn học của các trường THCS, mônSinh học, Địa lí, Giáo dục công dân có nhiều nội dung gần gủi với nội dung giáodục BVMT hơn cả Vì vậy, giáo viên cần chú ý khai thác một cách hợp lý các cơhội để thực hiện giáo BVMT, tránh bỏ sót cũng như tránh gượng ép, gây nặng nềcho việc học tập của học sinh

Trang 32

Hình 2.2: Tích hợp giáo dục BVMT ở trường THCS 2.2.10.Các hoạt động giáo dục BVMT ngoài lớp học

2.2.10.1 Mục đích và ý nghĩa của việc giáo dục BVMT ngoài trường học a.Mục đích

 GDMT là một trong những cách tiếp cận cơ bản trong giáo dục BVMT làgiáo dục về môi trường, trong môi trường và vì môi trường, trong đó giáo dục vềmôi trường và vì môi trường là những đích can đạt đến Giáo dục về môi trườngnhằm giúp cho học sinh có những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt độngcủa chúng cũng như những tác động của con người tới môi trường Trên cơ sở đó

Mục tiêu giáo dục ở trường

Mục tiêu giáo dục BVMT ở

Chủ đề tự chọn

Tích hợp trong các hoạt động

Sinh hoạt lớpSinh hoạt trườngHoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hoạt động văn nghệ, lao động, tham quan,…

Hoạt động của tổ chức Đoàn, Đội

Chương trình xanh hóa nhà trường

Trang 33

giúp học sinh hiểu biết về tự nhiên, hình thành thái độ và mối thiện cảm với tựnhiên, để từng bước phát triển kỹ năng tư duy về nghiên cứu và quản lý môitrường.

 Giáo dục vì môi trường là nhằm định hướng những giá trị, quan niệm,nhằm phát triển một nền đạo đức và trách nhiệm của con người trong môi trường,xây dựng động cơ và kỹ năng tham gia cải thiện môi trường, nâng cao năng lựclựa chọn cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách khôn ngoan các nguồntài nguyên

 Giáo dục trong môi trường là một cách tiếp cận quan trọng nhằm đưangười học về với thế giới thực, môi trường thực Đưa kiến thức thực tế đến vớingười học để học thấy sự phồn thịnh, sự tươi trẻ của thế giới tự nhiên, tại đó họ cóthể chiêm ngưỡng những cảnh đẹp, sự thơ mộng và hùng vĩ của thiên nhiên Trên

cơ sở đó tạo dựng tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, yêu đất nước, niềm tự hàođối với đất nước, với dân tộc của mỗi người Với cách tiếp cận này, môi trườngtrở thành phòng thí nghiệm sinh động, phong phú và vô cùng hấp dẫn

 Sử dụng thiên nhiên như môi trường thực cho học tập Học sinh tiếp xúctrực tiếp với các đối tượng học tập, nghiên cứu Trên cơ sở nhiệm vụ được giao,khi tiếp xúc với thiên nhiên, học dinh quan sát, lựa chon các thông tin can thiết

Do đó, học sinh không chỉ mở rộng và kiểm định các kiến thức mà còn góp phầnrèn luyện kỹ năng thu thập, phân tích, lựa chọn và tổng hợp tư liệu

 Dạy học ngoài thiên nhiên đặt học sinh đối mặt với các đối tượng cần họctập, những đối tượng này có thể là tốt, cũng có thể là xấu, từ đó nảy sinh các quátrình tư duy liên tiếp: tiếp cận đối tượng, quan sát, tiếp nhân, phân tích, phánđoán nhằm đưa ra các phương án xử lý Cuối cùng người học đưa ra quyết định vàkiểm chứng quyết định của mình theo trật tự logic sau:

Đối tượng Tiếp nhận Tư duy Giải quyết Quyết định

Trang 34

 Đưa học sinh vào môi trường thiên nhiên là tạo điều kiện để học sinh đượchọc và hành trong thực tế môi trường, làm tăng tính thực tiễn của môn học, thựchiện nguyên lý “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trườnggắn liền với xã hội”

 Hoàn cảnh thiên nhiên luôn thay đổi, có thuận lợi nhưng cũng gặp không

ít khó khăn, đòi hỏi học sinh phải thích ứng, do vậy họ có cơ hội để rèn luyện

2.2.10.2 Mục tiêu

Tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài thiên nhiên giúp học sinh xây dựngđược cách nhìn đa dạng và tổng hợp

 Mục tiêu về thái độ:

− Khơi dậy tính tò mò và nâng cao xúc cảm về môi trường cho học sinh

− Phát triển tinh thần thích thú hướng về cách học thông qua các hoạt độngngoài thiên nhiên

− Gợi mở cho học sinh để ra các câu hỏi và giải đáp về các vấn đề

− Làm cho học sinh cảm nhận và cảm xúc sâu sắc sự biến đổi của cảnhquan

− Tạo cơ hội để khảo sát thiên nhiên địa phương

Trang 35

− Cho học dinh thực ngiệm với sự thích thú được khám phá.

− Tạo hứng thú cho học sinh nghiên cứu các chủ đề về môi trường và thiếtlập được sự lôi cuốn sâu sắc vào chủ đề này

 Mục tiêu về hiểu biết

− Phát triển sự hiểu biết về bản chất của nội dung cần thảo luận trong sáchhọc và trong SGK

− Làm cho học sinh suy nghĩ và thu được hiểu biết thông qua thực nghiệm,củng cố, mở rộng hểu biết về môi trường

− Giúp nhận thức được quan hệ giữa thiên nhiên và môi trường hoạt độngcủa con người Nhận dạng được hiện trạng môi trường

 Mục tiêu kỹ năng

− Phát triển một nhận thức về phương pháp khoa học trong quá trình tìmhiểu

− Phân biệt được các thông tin can thiết và các thông tin ngoại lai

− Phát triển khả năng thu thập dữ liệu, ghi nhận và hóa giải

− Phát triển các kỹ năng để làm việc kiểu hợp tác nhóm

2.2.10.3 Nội dung giáo dục

 Một trong các nội dung quan trọng của giáo dục BVMT là giáo dục chohọc sinh về bảo tồn ĐDSH Muốn vậy, cần giúp cho học sinh hiểu ĐDSH là gì?Điều này các em đã được học qua sách vở Tuy nhiên, những số liệu khó hìnhthành biểu tượng về đa dạng của muôn loài Cho học sinh tiếp xúc trực tiếp vớithiên nhiên để các em hiểu biết hơn về sự đa dạng, phồn thịnh của các loài, cácnguồn gen, sự đa dạng cảnh quan, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng như cácquần thể sinh vật tồn tại, phát triển và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữachúng với nhau, các em biết được trực quan hơn về đặc điểm cấu tạo, phát triểncủa các loài động, thực vật, tính thích ứng về phương diện tiến hóa và sinh tháihọc của các loài đối với môi trường sống

Trang 36

 Tiếp cận với các dạng TNTN, với việc khai thác, sử dụng và vấn đề môitrường nảy sinh.

 Các hoạt động sản xuất tại cộng đồng và các vấn đề môi trường nảy sinh

 Chất thải: các nguồn phát sinh chất thải, tình hình thu gom và xử lý

 Tình hình vệ sinh môi trường ở trường, nơi công cộng và cộng đồng

2.2.10.4 Địa điểm dạy học

 Cho các em học tập tại vườn sinh thái, khu vui chơi, tham quan khu tập kếtrác, khu vệ sinh của trường Để tạo điều kiện cho việc học ngoài thiên nhiên, cáctrường cần phải xây dựng vườn sinh thái, hoặc trồng hệ thống cây xanh gồmnhiều loài, tiến tới có thể xây dựng góc khí tượng, góc địa lý, góc sinh vật,…

 Với mục tiêu của giáo dục BVMT, vườn trường là một kiểu mô hình hóacác yếu tố có trong tự nhiên Vườn trường cần có nhiều động, thực vật tạo nên sự

đa dạng của các loài và thể hiện được mối qun hệ của các loài trong mắc xíchcủa thế giớ tự nhiên

 Trung tâm vui chơi, giải trí, trung tâm đô thị, khoa học công nghệ, trungtâm sản xuất hoặc các khu bảo tồn, vườn Quốc gia (trang trại, nhà máy, công sở,trung tâm khoa học ở gần trường học, khu rừng bờ biển, công viên,…

 Bãi rác nơi học sinh sinh sống, khu tập kết rác, nhà máy xử lí rác

 Căn cứ vào mục tiêu của buổi học dã ngoại và đặc điểm phát triển tâm,sinh lý của học sinh, điều kiện kinh phí và thời gian cho phép có thể lựa chọn địađiểm tham quan học tập cho phù hợp

2.2.10.5 Các loại hình hoạt động giáo dục BVMT ngoài trường học

a Hoạt động tham quan, khảo sát thực địa

Có 2 hình thức tham quan, khảo sát:

 Tham quan các sinh cảnh chung tại một khu vực Ví dụ, tham quan cácvườn Quốc gia, công viên, vườn thú,…

Trang 37

 Tham quan, khảo sát theo chủ đề Ví dụ, tham quan tỉm hiểu môi trườngcủa nhà trường, tìm hiểu các loài cây trong vườn Bách Thảo, tìm hiểu các loài thútrong các vườn thú ở thành phố, tìm hiểu các loài động vật thủy sinh ở các hồ,sông,…

b Hoạt động thực nghiệm, kiểm chứng

 Sử dụng môi trường thực để kiểm chứng các kiến thức đã học nhằm khắcsâu nội dung và mở rộng kiến thức cho học sinh Ví dụ:

 Khi học về ô nhiễm tiếng ồn, có thể cho học sinh đo độ ô nhiễm tiếng ồn

ở một số điểm nút giao thông, cho học sinh điều tra số lượng các phương tiện giaothông đi qua cổng trường trong 10 phút, đo cường độ tiếng ồn khi có các phươngtiện giao thông đi qua và khi không có phương tiện giao thông đi qua, so sánh kếtquả

 Khi học về sự đa dạng của các loài côn trùng, có thể cho học sinh đi thamquan tìm hiểu một khu rừng hay một bãi cỏ

 Học về ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến quang hợp, khi thamquan giáo viên có thể cho học sinh tìm hiểu về các yêu cầu không giống nhau đốivới ánh sáng của các loài cây khác nhau

 Học về mối quan hệ giữa các loài vi sinh vật trong các xích dinh dưỡng tựnhiên, giáo viên có thể cho học sinh đi tham quan một cái ao Ơû đó, các em cóthể thấy tận mắt các nhóm sinh vật trong ao và được xác nhận rằng mỗi nhómsinh vật đó là một mắc xích trong chuỗi thức ăn tự nhiên Mỗi nhóm sinh vật ấyrất đa dạng: vi khuẩn có hàng trăm loài, động vật nguyên sinh gồm hàng chụcđến hàng trăm loài Từ đó kết luận đời sống của các ao quả thật không đơn giản.Đó là cả một hệ sinh thái với tính ĐDSH cao Có hiểu như vậy học sinh mới tránhlàm ô nhiễm ao để bảo vệ các loài sinh vật ở đó

 Khi học về vấn đề rác thải cần cho học sinh ủ rác để biết được khả năngphân hủy của từng loại rác Hoạt động này giúp học sinh ý thức được việc sử

Ngày đăng: 19/04/2015, 13:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 : Mô hình chu trình nước - Khảo sát nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở
Hình 2.1 Mô hình chu trình nước (Trang 28)
Hình 2.2: Tích hợp giáo dục BVMT ở trường THCS 2.2.10.Các hoạt động giáo dục BVMT ngoài lớp học - Khảo sát nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở
Hình 2.2 Tích hợp giáo dục BVMT ở trường THCS 2.2.10.Các hoạt động giáo dục BVMT ngoài lớp học (Trang 32)
Bảng 2.1 : Kế hoạch dạy và học ngoài thiên nhiên - Khảo sát nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở
Bảng 2.1 Kế hoạch dạy và học ngoài thiên nhiên (Trang 41)
Bảng 4.1 : Kết quả khảo sát hoạt động giáo dục môi trường của nhà trường - Khảo sát nhận thức và hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở
Bảng 4.1 Kết quả khảo sát hoạt động giáo dục môi trường của nhà trường (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w