1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề quản lý xã hội đô thị Thăng Long thế kỷ XVI-XVIII

82 531 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 346,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu về đô thị cổ Việt Nam chođến nay vẫn là đề tài thu hót sự quan tâm của giới học thuật trong và ngoàinước.Thăng Long từ thế kỷ XI đã là một trung tâm chính trị quan trọng

Trang 1

Gắn liền với sự phát triển về kinh tế và chính trị của lịch sử chế độ phongkiến Việt Nam chính là các đô thị Việc nghiên cứu về đô thị cổ Việt Nam chođến nay vẫn là đề tài thu hót sự quan tâm của giới học thuật trong và ngoàinước.

Thăng Long từ thế kỷ XI đã là một trung tâm chính trị quan trọng bậcnhất của nước ta – với tư cách là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến Xétmột cách toàn diện, đây có thể coi là một đô thị tiêu biểu nhất của lịch sử ViệtNam thời cổ trung đại Trước những biến thiên của thời cuộc, vai trò và vị trícủa nó vẫn được khẳng định một cách chắc chắn trên nhiều phương diện chínhtrị, kinh tế, văn hoỏ…

Chuyên đề Đô thị cổ Việt Nam của TS Vũ Văn Quõn đó giới thiệu và gợi

mở cho người học nhiều vấn đề khoa học hấp dẫn và thó vị Người viết lùa

chọn đề tài Một số vấn đề quản lý xã hội đô thị Thăng Long thế kỷ XVI-XVIII,

với mong muốn bước đầu có một số hiểu biết cơ bản về vấn đề trên

I Đụi nét về diện mạo đô thị Thăng Long thế kỷ XVI-XVIII.

1 Công việc xây dựng, tu bổ đô thị Thăng Long:

Đô thị Thăng Long thế kỷ XVI, XVII, XVIII chứng kiến nhiều biến động

dữ dội của thời cuộc lịch sử giai đoạn đó Sự hưng thịnh và tàn lụi của cáctriều đại phong kiến vốn là một sự vận động trước hết là về chính trị lại kéotheo sự vận động về diện mạo của đô thị này Bởi, vị thế Thăng Long theo dângian là đất “chớn rồng tranh ngọc”, Lý Thái Tổ cho là “kinh đô bậc nhất của

đế vương muôn đời”, trạng nguyên Võ Nghĩa Chi thời Lê nhận xét “ThăngLong tự cổ hưng vượng địa”1 (Thăng Long từ cổ đất hưng vương)…

1 §Þa chÝ v¨n ho¸ d©n gian Th¨ng Long §«ng §« Hµ Néi, Së V¨n ho¸ Th«ng tin Hµ Néi, n¨m 1991, tr.35

Trang 2

Nếu tính từ khi Mạc Đăng Dung tiếm ngôi năm 1526 cho đến khi nhà Lê

mất năm 1789, qua Khâm định Việt sử thông giám cương mục soạn dưới triều

Nguyễn, chúng ta có thể điểm qua một số sự kiện liên quan đến việc xây dựng

tu bổ Thăng Long:

- Năm 1526, “Đăng Dung vào đóng tại thành Thăng Long, lập miếu,dựng điện, truy tôn tổ khảo nhà mỡnh”2

- Năm 1585, “Nhà Mạc tu sửa thành Thăng Long

Mậu Hợp muốn vào thành Thăng Long, bèn tăng cường về việc sửa sangxây đắp: rầm ré khởi công làm việc, đóng gạch, nung ngãi, vừa đầy một nămmới xong Mậu Hợp vào ở toà Chính điện, nhận lễ chầu mừng, kể từ năm sauđổi niên hiệu là Đoan Thái thứ 1 (1586)”3

- Năm 1587, “Thỏng giờng, mùa xuân Nhà Mạc đắp thêm luỹ đất

Nhà Mạc sửa sang đường sá ngoại thành Thăng Long Lại hạ lệnh chocác xứ đắp luỹ đất, trên từ sụng Hỏt xuống đến sông Hoa Đình, kéo dài đếnvài trăm dặm Đâu đấy đều trồng tre và cây để phũng ngừa quan quân kéora”4

- Năm 1596, “Thỏng 7, mùa thu Dựng nhà Thái miếu ở kinh thành

Trước kia nhà vua hạ lệnh dựng nhà Thái miếu ở trong kinh thành ThăngLong Đến này công việc đã làm xong , rước thần vị Thái tổ và các vua [nhàLê] đến để phụng thờ”5

- Năm 1662, “Thỏng 5, mùa hạ Sửa nhà Thái học

Lóc Êy, cung tường nhà Thái học, phần nhiều đổ nát, bèn hạ lệnh cho Lễ

bộ thượng thư Phạm Công Trứ, trông coi việc thờ tự ở Quốc Tử giám, giacông sửa chữa, quy mô rộng rãi khang trang; lại ngày mồng một và ngày rằm

2 C¬ng Môc, tr 98

3 C¬ng Môc, tr … .

4 C¬ng Môc, tr 179

Trang 3

hàng tháng hội họp các học trò để tập văn bài Từ đấy phong khí nhà nho cóphần phấn khởi”6

- Năm 1663, “Khỏnh thành điện Chiêu Sự ở đàn Nam Giao

Điện vũ ở đàn Nam Giao, trước kia quy mô nhỏ hẹp, nay sai quan giacông xây dựng thêm, đến đây công việc đã hoàn thành,lại hạ lệnh cho từ thần

là bọn Hồ Sĩ Dương soạn văn bia để ghi công việc Êy”7

- Năm 1711, “Thỏng giờng, mùa xuân Bắt đầu sai quan trong kinh điđôn đốc việc đắp đê

Trước đây, việc đốc thúc dân đắp đê, giao quyền cho viên quan ở trấn,phần nhiều chỉ làm cẩu thả cho xong việc, nên mỗi năm đến mùa nước lớn, đêlại vỡ lỡ, dân vùng ven sông luôn luôn bị tai hại Đến nay mới hạ lệnh choquan trong kinh là bọn Lê Dị Tài và Trần Công Trụ chia nhau đi đôn đốc.Công việc sửa đắp đê sau đây thêm bận rộn hơn, nhưng cũng không sao ngănngõa đựơc nạn nước lụt.”8

- Năm 1749, “Thỏng 7, mùa thu Sửa đắp, thành bằng đất ở thành Đại ĐộLóc Êy, trong nước nhiều nơi nguy cấp, Trịnh Doanh có chí luôn luônmặc áo giáp, sẵn sàng ra mặt trận Nhân bảo với tả hữu rằng: “Kinh sư là cỗigốc cả nước, cung miếu của triều đình, dinh thự của trăm quan đều ở đấy, thế

mà đường ngõ bốn mặt đi lại thông đồng, thành luỹ không thể trông cậy được.Nay nơi biên cảnh có giặc, nếu một ngày kia lục sư xuất phát, thì không thểkhông liệu lượng để lại một số binh lính để chống giặc và giữ kinh thành, mànếu số quân giữ thành chống giặc để lại nhiểu thì số quân đánh dẹp ở mặt trận

Ýt đi, cho nên việc xếp đặt nơi hiểm để giữ quốc đô, từ đời cổ đến nay,baogiờ cũng thế Nước Việt ta từ triều nhà Lý dùng kinh đô ở đây, đã từng đắpthành Đại La, nay có thể nhân vào thành Êy mà sửa đắp lại, để sau này, nếu có

6 C¬ng Môc 292-293

7 C¬ng Môc, tr 310

8 C¬ng Môc, tr 398

Trang 4

việc ở mặt ngoài , thì không phải lo nghĩ đến mặt trong nữa, như thế chả phải

là kế mưu rất tốt: Chỉ khó nhọc một lần mà được yên nghĩ mãi mãi đó ru?”.Doanh bèn hạ lệnh: xem xét địa thế trong kinh kỳ, liệu lượng công trình đắpđất, số dân phu phải làm: rồi bắt dõn cỏc huyện chung quanh kinh kỳ góp sứcsửa đắp Khi đắp xong, mở tám cửa, mỗi cửa đặt hai ô tả và hữu, phần phốibinh lính canh giữ để phòng bị lúc yên ổn, lúc nguy cấp”9

- Năm 1771, “Thỏng 6 Dựng chựa Tiờn Tớch ở ngoài cửa Đại Hưng

Lời chua- Chựa Tiờn Tớch: Nay ở thôn Nam ngư, Tổng Vĩnh Xương,

huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội”10

- Năm 1785, “Sửa nhà thái học

Lóc Êy, trong nước nhiều biến cố, nhà học bỏ đổ nát Bùi Huy Bíchmuốn xây dựng nền văn học để giữ vững lòng người, bèn xin cố sức sửa sang

tu bổ Huy Bích lại thường đến nhà Giám giảng bàn sách vở, luyện tập vănbài, khen thưởng khuyến khích người nho học hiền tài, ức chế người cầu maythỡ đỗ.Vỡ vậy , lóc Êy nhiều người ngợi khen”11

Qua liệt kê sơ bộ kể trên, chúng ta có thể thấy, nguyên nhân chính củacác đợt xây cất, đắp đê là việc tu bổ lại các công trình quan trọng, phục vụviệc chống giặc của quan quân chủ quản thành Thăng Long Nh năm 1587,nhà Mạc đắp luỹ đất dài vài trăm dặm, trồng tre để “phũng ngừa quan quânkéo ra” Năm 1749, Trịnh Doanh cho đắp thành Đại Độ để phòng bị quângiặc Kế đến, là việc cần kíp xây dựng hay tu sửa tường háng, đổ nát nhà TháiMiếu phụng thờ các tiên đế của triều đại hay vì lẽ củng cố “nền văn học”,chấn hưng lại Nho giáo như Bùi Huy Bích xin sửa sang lại nhà Thái Học năm

1785 thời Mạt Lê Tuy vậy, mùa xuân năm 1711, do trực tiếp có nạn nước lụt

ở kinh thành, việc hộ đê được được giao cho quan trong kinh quản lý và điều

9 C¬ng Môc, tr 600-601

10 C¬ng Môc, tr 696

Trang 5

hành (trước do quan địa phương phụ trỏch nhưng thường cẩu thả, trễ nải nờnhàng năm luụn xảy ra lụt lội ỳng ngập).

Trước hết, khu thành Đại La12 bao quanh kinh thành Thăng Long, vốn đó

cú từ lõu đời Thời Lờ, năm 1477, Lờ Thỏnh Tụng đó cho xõy lại thành Đại

La Năm 1587, để đề phũng quõn Trịnh tấn cụng, Mạc Mậu Hợp đó cho xõyđắp lại thành Đại La, qua tư liệu thư tịch và thực địa thu được, nay bao bọc cả

Hồ Từy, cỏc khu Ngọc Hà, Liễu Giai, Giảng Vừ Năm 1592, hệ thống thànhluỹ này bị phỏ huỷ hoàn toàn khi Trịnh Tựng tiến ra Thăng Long Từ đú chođến năm 1749, “Kinh thành Thăng Long khụng cú thành luỹ tầng ngoài” Đếnnăm 1749, Trịnh Doanh cho đắp sửa thành mới là Đại Độ, mở 8 cửa, 16 ụ(mỗi cửa 2 ụ) Nh vậy, Thành Đại La lỳc này đó thu hẹp lại, bỏ qua cả mộtphần rộng lớn là khu Hồ Tõy, và khu Thập Tam Trại ở phớa Tõy

“Nh vậy, trong nửa sau của thế kỷ XVIII, toàn bộ kinh thành Thăng Long

đó được bao bọc bởi một hệ thống thành luỹ (Đại Độ hay Đại La) khộp kớn,được thụng với bờn ngoài bằng 16 cửa ụ”13

Quần thể kiến trỳc lớn trong thành được chia làm hai khu: Hoàng thành

và Phủ Chúa14 Giỏo sĩ Marini đến Kẻ Chợ năm 1666, đó miờu tả đoạn HoàngThành thời Lờ - Trịnh như sau: “Nếu ta đi từ Kẻ Chợ và triều tức là Cung điệncủa Nhà Vua, thỡ chỳng ta sẽ trụng thấy khụng những một toà cung điện mà là

cả một thành phố rất đẹp và rất rộng… Mặc dự cỏc cung điện Nhà Vua chỉlàm bằng gỗ, người ta đó trụng thấy ở đấy những đồ trang trớ bằng vàng vànhững đồ thờu, những tấm chiếu dệt rất mịn, trang trớ cỏc mầu sắc khỏc nhau,cũng như hàng bao tấm thảm đẹp, tất cả mọi thứ đều khụng thể so sỏnh được.Người ta cũn trụng thấy những cửa vũm bằng đỏ và những bức tường thànhdầy đến lạ lựng nơi cung vua ở Cung điện đú được xõy dựng trờn một rừng

12 Quá trình diễn biến và dấu vết thực địa của Thành Đại La giai đoạn này xin xem thêm Nguyễn Thừa Hỷ,

Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII – XVIII – XIX, XVIII – XVIII – XIX, XIX, Hội Sử học Việt Nam, H 1993, tr 21-26

13 Nguyễn Thừa Hỷ, sđd, tr 25

14 Chi tiết xin xem Nguyễn Thừa Hỷ, sđd, tr 27-40

Trang 6

cột to lớn và chắc chắn, chỉ cao khoảng một tầng gác, có một cầu thang bắclờn đú Những rui kèo ở đây đẹp hơn tất cả mọi kiến trúc khỏc Cỏc phũngthật rộng rãi, hành lang có mái che với những sân lớn rộng bao la…”15 HoàngThành chỉ một thời gian sau đó do không còn là trung tâm chính trị thực sựnữa nên không được sửa sang tu bổ nên sớm xuống cấp Trọng tâm của kinh

đô đã chính thức dịch chuyển ra phía ngoài khu thành này, đó là quần thể phủChóa Trịnh Phủ Chóa Trịnh là một dãy lâu đài nguy nga, đồ sộ, bên trong cònđược bố trí rất nhiều cảnh sắc thiên nhiên để tô điểm Tiếc rằng, năm 1786, nú

đó bị Vua Lờ Chiờu Thống “sai người đốt cháy phủ Chỳa… tiêu thổ chụi hết”

2 Khu kinh tế dân gian:

Về không gian, khu vực này là vùng đệm giữa 2 vòng thành Đại La vàHoàng Thành, nó cũng vận động theo sù co giãn của thành Đại La qua biếnthiên của lịch sử

Đõy chính là khu vực dân cư thuộc hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức

Theo Dư Địa chí và Hoàng Việt địa dư, thì mỗi huyện đều có 18 phường, tổng

cộng là 36 phường Tuy nhiên, cho đến nay chóng ta vẫn chưa thể có đủ con

số thống kê danh sách của 36 phường trờn Dựa vào kết quả nghiên cứu củatác giả Nguyễn Thừa Hỷ, chúng ta có:

+ Huyện Thọ Xương:

- Các phường ở phía đông Hoàng Thành (giữa Hoàng Thành và

Sông Hồng): Đồng Xuõn, Đụng Hà, Hà Khẩu, Đụng Cỏc, DiờnHưng, Thái Cực, Cổ Vũ, Kim Cổ, Bỏo Thiờn

- Các phường phía nam Hoàng Thành: Vĩnh Xương, Bớch Cõu, Xó

Đàn, Kim Hoa, Phúc Lõm, Phục Cổ, Hồng Mai, Yờn Xỏ

Cộng 17 phường

+ Huyện Quảng Đức:

Trang 7

- Các phường phía đông Hồ Tây: Nhật Chiêu, Quảng Bá Tây Hồ,

Nghi Tàm, Yên Hoa, Thạch Khối (Dư Địa Chí chép: Hà Tõn),Hoố Nhai

- Các phường phía tây Hồ Tõy: Trớch Sài, Bái Ân, Yờn Thỏi, Vừng

Thị, Hồ Khẩu, Thuỵ Chương

- Các phường phía tây nam Hoàng Thành: Thịnh Hào, Công Bộ,

Quan Trạm, Thịnh Quang

Cộng 17 phường

Một số địa danh còn cần phải xác định và nghiên cứu thêm Theo đó, khuvực phía bắc xung quanh Hồ Tõy lỳc bấy giê là những nơi dân cư đông đúc,kinh tế trù phú, gần Hoàng Thành và khu cung điện của Vua Chóa; Khu vựcphía đông Hoàng Thành có khả năng mật độ dân cư đông đảo nhất, trong mộtdiện tích hẹp đã tập trung 9-10 phường trong 18 phường của huyện ThọXương; Khu phía nam Hoàng Thành là một nơi có nhiều hồ ao, dân cư sinhsống cũng như mật độ các phường rải rác và thưa hơn Chủ yếu là quần thểkiến trúc dinh thự phủ Chóa phía đông nam Khu vực phía nam là khu vănhoá, gồm Quốc Tử Giám, các trường học tư thục và nơi trọ học của các nhosinh;

Khu phía tây (thường gọi là khu Thập Tam Trại), không được liệt kê vàodanh sách 36 phường, chủ yếu là khu dân cư đến khai phá, làm nông nghiệp.Các trại này sẽ tồn tại cho đến thời Nguyễn, họp thành tổng nội của huyệnVĩnh Thuận

3 Một vài nhận xét:

Thứ nhất, về cơ bản, Thăng Long thế kỷ XVI-XVII vẫn chưa có được

một quy mô dô thị tổng thể và hoàn chỉnh Trong cấu trúc, nó vẫn bao gồm hai

Trang 8

thành phần chủ yếu: Khu Thành quan liêu (Hoàng Thành và Phủ Chóa) và khuThị bình dân “Tuy nhiên, sự di chuyển trọng tâm, của Kinh thành từ HoàngThành ra ngoài Kẻ Chợ với sự tồn tại của Phủ Chóa tạo nên một sự tươngxâm, xen kẽ, giao nhau giữa hai khu vực Thành và Thị này, trước hết về mặt

cư trú và kéo theo về mặt chính trị, kinh tế văn hoỏ.”16

Thứ hai, quy hoạch đô thị thế kỷ XVI – XVIII vẫn dực trên phần nền cơ

bản của Hoàng Thành thời Lê Sơ, nương theo chủ yếu địa thế tự nhiên để xâydựng thành Đại La Những thay đổi về quy mô, kết cấu đô thị có nguyên nhânchính từ những biến động chính trị lớn Năm 1587 Mạc Mậu Hợp đắp luỹ cắmrào tre đề phòng quân Trịnh tấn công, đây có thể coi là quy mô lớn nhất màthành Thăng Long có được ở khía cạnh hệ thống thành luỹ Khi Trịnh Tựngkộo quõn vào Thăng Long đã cho san phẳng hệ thống luỹ đất đắp thêm này,thu hẹp diện tích Hoàng Thành, xây cất khu Phủ Chóa nguy nga tráng lệ ởphía đông nam Hoàng Thành Quần thể Phủ Chóa Trịnh này ở một khía cạnhnhất định đã vượt hơn Hoàng Thành cũ về mặt đồ sộ, xa hoa, lộng lẫy

Thứ ba, khu dân cư kinh thành Thăng Long giai đoạn này được chia làm

hai bộ phận chính: Khu Thành quan liêu và khu Thị bình dân Bộ phận nguồngốc của dân cư kinh thành Thăng Long chủ yếu là lượng nhập cư từ các vùnglân cận có nghề thủ công, buôn bán tương đối phát triển: Đa Ngưu (nghề thuốcbắc ở Văn Giang – Hưng Yên), Đan Loan (làng nghề nhuộm vải ở HảiDương)… Sự bố trí dân cư mang nhiều tính tự phát Bên cạnh đó, chúng tacòn thấy xuất hiện một bộ phận thương nhân người nước ngoài xuất hiện ở đôthị này vào khoảng cuối thế kỷ XVII Phía bắc kinh thành xuất hiện một sốdãy nhà ngãi, đó là các thương điếm ngoại quốc, cụ thể là của công ty Đông

Ên Hà Lan và Anh Theo miêu tả của Baron, ngôi nhà của công ty người Anh

là “ngụi nhà đẹp nhất mà tôi thấy được ở Kinh thành”17

16 NguyÔn Thõa Hû, s®d, tr 52

Trang 9

Thứ tư, hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là đường xỏ, nhà cửa của Thăng

Long đến thời điểm này vẫn cũn rất kộm, nhất là về mặt vệ sinh “Phần lớncỏc đường phố đều được lỏt, hoặc đỳng hơn là gắn vỏ bằng những viờn đỏ nhỏnhưng rất qua loa Đến mựa mưa, những phố đú rất bẩn và lầy lội, và về mựakhụ, người ta thấy ở Kinh thành chung quanh những ao tự, và một số mươngrónh đầy bựn đen xụng lờn mựi hụi thối”18

II Một vài nột về quản lý xó hội đụ thị Thăng Long thế kỷ

XVI-XVIII.

1 Bộ mỏy hành chớnh Thăng Long:

Trờn phương diện chớnh quyền trung ương, sự dịch chuyển quyền lực củacỏc tập đoàn phong kiến là nột nổi bật của thế kỷ XVI Phải đến thế kỷ XVII,tức là khi cơ chế “lưỡng đầu” được thiết lập, sự ổn định về cơ bản của kết cấuquyền lực mới được đảm bảo GS TSKH Vũ Minh Giang cú đưa ra mụ hỡnhhoỏ thể chế “lưỡng đầu” này như sau:

Cú thực quyền

18 Dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ, sđd, tr 45

Triều Đình Lục Bộ: Binh; Hình;

Công; Lại; Lễ; Hộ

Phủ Liêu Lục Phiên: Binh; Hình;

Công; Lại; Lễ; Hộ

Chính quyền

địa ph ơng các cấp

Trang 10

Không thực quyền

Sự dịch chuyển quyền lực chính trị thực tiễn theo hướng ra bên ngoàiHoàng Thành cho thấy Vua Lê tồn tại chỉ là danh nghĩa, thực quyền nằm hoàntoàn bên Phủ Chóa Cương Mục chép sự kiện tháng 9 năm 1714, Trịnh Cương

tự tiện đặt ra Lục phiên; đến thỏng giêng năm 1724, Trịnh Cương tạm quyền

thay nhà vua cử hành lễ tế nam giao…

Về cơ cấu tổ chức của bộ máy hành chính của Kinh thành không có nhiềuthay đỏi so với thời Lê Sơ, gồm có 1 phủ Phụng Thiên, 2 huyện Thọ Xương(do Vĩnh Xương đổi ra) và Quảng Đức Đứng đầu phủ Phụng Thiên là chứcPhủ doãn, còn chức Thiếu doãn trước đây thay bằng chức Đề lĩnh Chức vụ vàquyền hạn của hai viên quan này được quy định khá rõ ràng

Tháng 2 năm Dương Đức 3 (1674), chiếu lệnh của vua quy định chức vụcủa quan Phủ doãn là “Cốt giữ gìn trật tự; nếu thấy nhân viên trong các nhàquyền thế, kiờu dụng ngang ngược, không theo pháp chế, thì được phép đànhặc việc bậy ra để nhà chức trách trừng trị Còn sự tra xét các từ tụng, phảitheo đúng thứ bậc lệ luật mà thừa hành Viên nào làm việc xứng chức sẽ đượcthăng thưởng; nếu làm việc trái phép sẽ tuỳ việc nặng nhẹ mà luận tội”19 Lịch

triều hiến chương loại chí ghi: quan Phủ doãn có chức trách “đàn áp những kẻ

quyền quý cường hào, xét hỏi những vụ kiện do huyện quan xử mà kêu lại ởbản hạt, cùng là khảo xét thành tích của quan lại, khảo luận sĩ tử trong kỳ thihương và các việc khỏc”20 Năm 1718, chóa Trịnh lại quy định trách nhiệm

“về cách tạp tông nh hé, việc giỏ thú, việc ruộng đất ở trong kinh thì do Phủdoón” Qua một số quy định trên, chúng ta thấy quan Phủ doãn trong coi phủPhụng Thiên về các mặt chính trị, tổ chức quan lại, kinh tế, pháp luật dân sự

và khoa cử

19 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, §¹i häc viÖn Sµi Gßn, 1961, Q.1, L¹i thuéc, tr 39

Trang 11

Chức vụ của quan Đề lĩnh là “Trụng nom sửa sang những đường xá vàcầu cống trong kinh đô; phải khơi ngòi để tháo nước chữa cháy và ngăn ngừabọn gian phi Về việc tra xét từ tụng, thì chỉ cho xét hỏi những vụ trộm cướp

và đấu ẩu Viên chức nào làm việc xứng chức sẽ được thăng thưởng; nếu làmđiều trái phép, sẽ do quan chức Đài Ngự sử được phép đàn hặc việc bậy ra, rồituỳ việc nặng nhẹ mà luận tội.”21 Theo Phạm Đình Hổ trong Vò trung tuỳ bót,

“đời Trịnh An Vương [Trịnh Cương 1709-1729], Nguyễn Cụng Hóng làmThượng thư cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra làm 8 khu, mỗi khu đặtmột người trưởng khu và phó khu; lại chia ra 5 nhà làm một ti; 2 ti là 1 lư; mỗi

lư cũng có một lư trưởng; 4 lư là 1 đoàn, mỗi đoàn đặt một quản giám, 2 quảnđiểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh Đó là phỏngcái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau Phàm những việc phòng hoả phòngtrộm và nhất thiết những việc giao dịch thuế má đều uỷ trách cho khu trưởng,đoàn trưởng cả Bởi vậy, những con nhà quan thường không thèm làm, chỉ đểcho những côn đồ trong cỏc xúm chợ làm Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộcquan Đề lĩnh thông nhau làm càn, rất phiền nhiễu cho dân phố”22 Nh vậy,chức Đề lĩnh đứng đầu về mặt quản lý bảo vệ trật tự trị an, trông nom tu sửacác công trình công cộng

Không chỉ có vậy, chóa Trịnh còn hướng tới mục tiêu đem lại sự côngbằng bằng những biện pháp hành chính rất tiến bộ Năm 1747, “Trịnh Doanhcho đặt chuông và mõ ở cái điếm cửa phủ đường

Trịnh Doanh đương hăng hái về công việc chính trị, hạ lệnh đặt chuông

và mõ ở cái điếm về cửa phía tả phủ đường Có người nào trình bày công việchiện thời và người nào có tài nghệ mà tự mình tiến cử, thỡ đỏnh chuụng;người nào bị bọn quyền quý ức hiếp và người nào có sự oan uổng chưa được

21 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, tr 39

22 Ph¹m §×nh Hæ, Vò trung tuú bót, Nxb V¨n häc, H.1972, tr 23

Trang 12

bày tỏ, thỡ đỏnh mừ Những người này đều phải làm đủ giấy tờ niêm phongkín Lại phiên lập tức dâng lên để chóa biết”23.

Năm 1785, tháng 4, nhà Chóa “Hạ lệnh cho bầy tôi và thứ dân nói thẳngnhững điều thiếu sót lầm lỗi”24

2 Công việc quản lý dân cư:

Nh chóng ta đã biết, đô thị Thăng Long được phân bố chủ yếu làm haikhu chính: Khu Thành quan liêu và khu Thị kinh tế dân gian Nguồn gốc củadân cư Thăng Long - Kẻ Chợ là rất phức tạp, nhiều thành phần

Năm 1597, Cương Mục chép sự kiện:

“Xột duyệt sổ dân đinh ở Phụng Thiên

Nhà vua hạ lệnh xét duyệt những hạng quõn, dõn, đinh tráng ở tứ chiếnghiện ngụ tại Phụng Thiên để lấy ngạch nhất định Lúc Êy bọn cai quản ở địaphương chuyên việc bóc lột, lại làm phiền nhiễu dân tứ chiếng về việc đi cắt

cỏ cho voi Dân bị khổ sở không sao kể xiết, nhiều người đi theo đảng nguỵ đểcướp búc”25

Năm 1658, theo Lê triều chiếu lịnh thiện chính, có đợt tuyển quân “Cỏc

phường thuộc phủ Phụng Thiên cứ dân số 100 người, chỉ lấy hạng quân 20người” Cũng năm đú, cú quy định về việc tuyển chọn người có học thức:

“Cỏc huyện, xã, phường ở trong các xứ Thanh Hoa, Nghệ An và các xứ phiêntrấn thuộc phủ Phụng Thiờn, lỳc điểm duyệt các hạng nhân dân, có người nàohơi có học thức, các quan xứ ấy phải hội đồng khảo hạch qua, ai hơi thông văn

lý, thì cấp cho bằng nhiêu học (cũng như khoá sinh) để tỏ cái đức ý của triềuđình giáo dưỡng nhân sĩ.”26

23 C¬ng Môc, tËp 2, tr 593

24 C¬ng Môc, tËp 2, tr 775

25 C¬ng Môc, tËp 2, tr 216-217

Trang 13

Ngoài những đợt xét duyệt dân đinh để giám sát và quản lý dễ dàng hơn(tuyển quân, thu thuế), trong các bộ sử, chúng ta thấy rất nhiều những cố gắngquản lý dân cư về mặt trật tự trị an của chính quyền phong kiến:

- Năm 1649, tháng 9, có quy định “Ở trong nội kỳ (kinh đô) các quanviên quyền quý và các hạng người ở phố phường không được họp nhau đánh

cờ, đánh bạc, đánh bài, mê man về cuộc ăn thua, để đến nỗi hết của tan nhà, cảđến đàn bà cũng có người chơi bời như thế, khiến cho những người ở các phủhuyện ngoài, nhiều kẻ bắt chước thói càn bậy ấy, sinh ra có nhiều kẻ khánhkiệt tài sản, cầm bán vợ con, làm bại hoại phong tục, không gì tệ hơn điều đó1nay phải cấm nghiêm để bỏ thói xấu ấy đi Nếu là quan viên bậc quyền quý, aicòn quen giữ mãi tật xấu xa kia, sẽ phải phạt cổ tiền 200 quan, người ởphường phố mà phạm lỗi này, sẽ phải phạt cổ tiền 100 quan, lại bị đánh 100trượng, cùng là truy thu số tiền tang vật bắt được ở trong đám cờ bạc, nọp vàokho, để làm gương răn kẻ khỏc”27

- Năm 1662, có quy định cấm tụ tập chọi gà “Quan và kính ở các doanh,

cơ, đội, và các chiến thuyền ở trong kinh ngoài trấn, và dân chúng ở các phố,phường nhất thiết không được tụ họp nhau, bày ra cuộc chọi gà, say mê chơibời, bỏ khoáng chức vụ và nghề nghiệp Ai trái lệnh này, cho phép quan Đềlĩnh và quan Phủ doãn cùng là các nhân viên chứng kiến các cuộc ấy, được bắtlấy tang vật, giải nộp nhà chức trách để luận tội”28

- Năm 1663, có lệnh cấm cờ bạc “Những nhân viên hư hỏng và nhữngbọn vô lại quen nết du đãng, họp nhau đánh cờ đánh bạc và đánh bài đến nỗinhiều người bị hết cả gia sản, cái tệ ấy không phải là nhỏ, phải nên bài trừ chotiệt Từ nay về sau có kẻ nào còn quen thói cũ, dông dở làm những sự tráiphép nói trên, thì cho phép xã trưởng, phường trưởng ở nơi đó tra xét, cùngvới những người chững kiến, bắt cả những chính phạm và tang vật, nếu ở kinh

27 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 3, LÔ thuéc thîng, tr 175

28 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 3, LÔ thuéc thîng, tr 271

Trang 14

kỳ thì phải nộp các quan Cai đạo…Lại tra xét những văn tự nợ, văn khế cấmbán bất động sản lập ra trong khi đánh bạc, đem tiêu huỷ đi Bao nhiêu tiền tàitrong sòng bạc đều bị tịch thu sung công Rồi trích ra một phần mười trong sốtiền tịch thu để thưởng cho các nhân viên thể sát và những người tố giỏc”29

- Năm 1757, “Thỏng giờng, mùa xuân Cấm chơi bời và cờ bạc

Trịnh Doanh hạ lệnh rằng: “ Dõn cú nghề nghiệp nhất định, thì sự vật lạkhông thể cám dỗ thay đổi được ý chí; trong nước không có người dân phóngtúng chơi bời, thì phong tục tự nhiên thuần hậu Vậy nếu xét thấy có ngườinào không theo về nghề nghiệp tứ dân, tính tình hung hãn, chơi bời cờ bạc, thìquan sở tại trình bày đàn hặc để trị tội”30

Cùng với những lệnh cấm là các chế tài xử lý đối với những ai vị phạmcác tệ nạn xã hội nh trên

Năm 1687, Vua Lê có lệnh đề phòng hoả tai: “Ở trong kinh thành, phảigiữ nghiêm cẩn Gián hoặc có người nào không giữa cẩn thận đến nỗi bốc lửacháy nhà mình, sẽ bị tội trượng tám chục, nếu cháy lan ra nhà người khác sẽ bịriễu đi trước công chúng ba ngày, và phải bắt giam, để tuỳ việc nặng nhẹ màkhép tội Nếu cố ý đốt nhà người ta, đều bị khép vào tội ăn cướp mà xử trảm

Ai bắt được kẻ đốt nhà, sẽ thưởng cho cổ tiền 50 quan, để tỏ ý khuyếnkhớch”31

3 Quản lý hoạt động buôn bán:

Thăng Long – Kẻ Chợ thế kỷ XVI-XVIII là một trong những đô thị bậc

nhất về thương mại Dân gian cú cõu Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến là

để chỉ về sự thịnh vượng của các hoạt động buôn bán tập nập nơi đây

29 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 4, LÔ thuéc h¹, tr 277

30 C¬ng Môc, tËp 2, tr 635

Trang 15

Để khuyến khích, tạo điều kiện cho những người buôn bán, nhà Lờ đó ramột điều lệnh năm 1634: “Cỏc chợ và cửa hàng ở trong kinh kỳ mua bán giaodịch để lưu thông hàng hoá và phương tiện sự nhật dụng Từ nay về sau, cácnhà quyền quý và các nha môn phải nghiêm cấm người nhà không được ănhiếp lấy tài vật của người ta ở ngoài chợ, để yên ổn lòng người Ai trái lịnhnày, thì cho phép viên Xá nhân được tra xét, cùng là người chứng kiến đượctróc nã chính phạm cùng với đồ tang vật đem nộp, để xét thực, khép phạmnhân vào tội nặng.”32 (Xá nhân là một chức phụ trách về việc này)

Năm 1645, có lệnh cấm giết trâu đem bán một cách bừa bãi: “Cỏc chợ vàphường ở trong kinh kỳ và ở các xứ, giết vụng trâu bò, đốu phải cấm ngặt chỉcũn cỏc phường Đồng Xuân và Cầu Rền, mỗi ngày được giết trâu một con;hoặc là ở kinh kỳ, quan các doanh các cơ cho phép người nào mới được giếttrâu Nha môn Phủ doãn cùng với ty Xá nhân phải xem xét, và ở ngoài trấn hai

ty Thừa và Hiến, cùng nha môn các phủ huyện, có thấy người nào giết trừubỏn thịt, bắt được quả tang, thì dẫn đến phủ đường mà nộp, sẽ kết tội, để trừngtrị việc trỏi phộp”33

Năm 1647, vua Lê có lệnh “Chốn kinh kỳ là nơi văn vật, người ở các phốphường và người buôn bán, có hàng hoá đều tàng trữ ở các chợ, vậy phải cấmngặt các nha môn, không được lấy tiền của các chợ trong kinh kỳ, để cho nhândân đều được an cư lạc nghiệp”34

Không những thế, để đảm bảo tài sản cho những người buôn bán khi gặphoả hoạn, năm 1652, ban bố lệnh cấm cướp trộm tài sản: “nhất là cấm khôngđược hùa nhau cướp của cải và hàng hoá; nghiêm ngặt ngăn cản những quângian phi không được lẩn vào nhà người ta cướp lấy của cải và đồ vật Hoặc cóngười mang của cải chạy tránh lửa, mà quả thật là người ở nhà đang bị cháy,

32 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 2, Hé thuéc, tr 75

33 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 2, Hé thuéc, tr 77

34 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 2, Hé thuéc, tr 79

Trang 16

phải để cho đi Nếu là quân gian lạ mặt, thì phải bắt tên ấy cùng tang vật đemgiải nộp, sẽ khép hắn vào tội ăn cướp, còn tang vật thì giao lại cho khổ chủ.

Kẻ nào lấy trộm của ấy làm của mình, cho phép người mất của được tố cáo,xét ra sự thực, cũng khộp tờn lấy trộm kia vào tội ăn cướp người nhà nàokhông giữ gìn cẩn thận, đến nỗi gây ra hoả hoạn, phái chiếu luật khép vào tộitrượng Nếu là bị kẻ gian phóng hoả đốt nhà mình, làm cho thiệt hại, thỡphúng xỏ khụng bắt tội”35

4 Một số điều khoản với người nước ngoài.

Bên cạnh những nguồn cư dân bản xứ, nội địa, Thăng Long thế kỷ XVIII còn xuất hiện một bộ phận thương nhân nước ngoài đến đây buôn bán

Năm 1650, trong Lê triều chiếu lịnh thiện chính chép một đoạn dài về

những việc cấm liên quan đến người nước ngoài ở Kinh thành như sau: “Khi

có những tàu người các nước Hoa lang, Ô lan và Nhật bản đến cửa bể nước tathì trong kinh phải sai viên Thể sát trước đi do thám rõ tình hình, rồi cho bọn

họ được ở những địa phận các làng Thanh Trì và Khuyến Lương, rồi chọnngười làm Thủ bả (viên chức coi xét) để răn bảo họ phải giữ phép Lại chọnngười bản quốc làm Thông sự (thông ngôn) hiểu dụ viên trưởng tàu và cácphu tàu để bọn họ giữ gìn lễ phép, để đến kinh lễ mừng Khi đi đường, chướclượng cho một người chưởng tàu được cưỡi ngựa Mỗi khi đi qua các cửa điện

và phủ đường (phủ chúa - người dịch chỳ) cựng là đền miếu cỏc tiờn thỏnh thì

Trang 17

phải xuống ngựa Nếu qua những nơi cung cấm không được xông xáo đi lại.

có kẻ nào trái lệnh, thì cho phép quan Đề lĩnh, Phủ doãn tra xét ra sự thực, rồibắt tội viên thông sự Còn như người Hoa lang giảng đạo, ở kinh kỳ có ai theođọc, thì cho phép nha Tư lễ tra xét mà cấm ngặt…Nếu bọn kia (tức người Hoalang truyền giáo - người dịch chỳ) cú dựng nhà thờ bậy bạ, thì ở trong kinh kỳ,cho phép quan Phủ doãn được phá bỏ đi…Đến như tàu buôn người Phúc Kiếnđến đâu buôn bán, phải dò xét sự tình cho minh bạch, cho bọn lái buôn ấyđược ở địa phận cỏc xó Thanh Trì và Khuyến Lương, bày hàng mà mua bán,

để cho sự giao dịch đúng phép; tàu của bọn ấy không được ăn hiếp mua hànghoá của chợ ta, người nước ta cùng không được hà hiếp lấy hành hoá của tàu

họ Những thứ hoá vật quý báu riêng để ngự dụng, đều nghiêm cấm khôngđược chứa chấp ở mọi nơi mà bán giấu giếm cho nhau Nếu viờn giỏm thủkhông biết nghiêm cấm, sẽ bị phạt nặng Hoặc khi có sứ thần Tàu đến, cùng làkhách thương do đường bộ đến miền Bắc, phải cho ở trọ tại điếm Yên Thường

để đợi lệnh, cho được nghiờm gió lễ phép và ngăn ngừa sự dòm nom”36

Năm 1696, Cương Mục chộp: “Nghiờm sức cho người phương Bắc sangtrú ngụ, nhất luật phải tuân theo phong tục nước ta

Từ khi người nhà Thanh vào làm vua Trung Quốc, giúc túc, mặc áo vắn,giữ y nguyên tập tục cũ Món chõu, lễ giáo phong tục về áo mũ đời Tống, đờiMinh bị bỏ hết Lái buôn phương Bắc đi lại nước ta lâu ngày, trong nước cũng

có người bắt chước Triều đình bốn nghiờm sức:

Các người phương Bắc, người nào đã biên tên vào sổ sách nước ta, thì từngữ đến đồ mặc nhất luật phải theo phong tục nước ta

Các lái buôn phương Bắc đến trú ngụ nước ta, nếu không có người quenbiết hướng dẫn, không được tự tiện vào kinh thành

36 Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q 3, LÔ thuéc thîng, tr 177

Trang 18

Nhân dân ở ven biên giới không được bắt chước tiếng nói và đồ mặc củangười phương Bắc

Người nào trái sắc lệnh trên sẽ bị trị tội”37

Trang 19

KẾT LUẬN

Cùng với những biến động lớn về chính trị, là những biến động về diệnmạo và cấu trúc đô thị Thăng Long trong mét giai đoạn lịch sử phức tạp này.Những tàn phá của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến đã tác độngkhông nhỏ tới quy mô, kiến trúc đô thị

Kết cấu dân cư của đô thị Thăng Long thế kỷ XVI-XVIII rất phức tạp, cónhiều bộ phận hợp thành Việc quản lý đô thị này về mặt xã hội nh đã trìnhbày một số vấn đề kể trên đã cho thấy những khía cạnh có thể sẽ là bài họckinh nghiệm cho chóng ta hôm nay và mai sau

là vào những ngày mồng một và mười lăm âm lịch hàng tháng, là những ngày họp chợ của họ hoặc là ở một phiên chợ lớn; nơi mà người dân từnhững làng quê phụ cận đến đây với những vật phẩm của mình, và với sốlượng người như vậy thì thật là đông đúc không thể tưởng tượng nổi; vàiđường phố dù rất rộng rãi mà cũng trở nên chật cứng đến nỗi một người có thểtìm thấy nhiều việc để làm nếu anh ta đi xuyên qua một đám đông khoảng mộttrăm bước trong vòng nửa tiếng đồng hồ Mỗi hàng hoá khác nhau bán ở thànhphố này được sắp đặt vào một phố nhất định, và những phố này một lần nữacũng nhận hàng từ một, hai hay nhiều làng khác nhau, mà dõn cỏc làng này

Trang 20

mới có đặc quyền mở cửa hiệu ở đây, cũng phần nhiều giống với một số công

ty hay nghiệp đoàn ở những thành phố châu Âu Những cung điện của Nhà vua, tướng lĩnh, hoàng tử… và những cung điện to lớn và cao khác của triều đình được đặt tại đây, mà tôi chỉ có thể nói là chúng toạ lạc trên một vùng đất rộng: những công trình quan trọng nhưng lại với một hình thức tầm thường,được xây bằng gỗ, số còn lại được làm bằng tre và đất sét, không được chắcchắn cho lắm; rất Ýt nhà được xây bằng gạch, trừ những thương điếm củangười nước ngoài là nổi trội hơn cả Nhưng quả thực đồ dé là ba vòng thànhcủa kinh đô cũ và cung điện; mặc dù bị tàn phá nhưng chúng vẫn hiện diện lànhững công trình hùng mạnh với những chiếc cổng rộng uy nghi, được látbằng một loại đá hoa cương; cung điện nằm trong khoảng chu vi là 6 hoặc 7dặm (mile); những chiếc cổng, cung điện, nhà cửa… thể hiện một cách khuếchđại sự lộng lẫy và nguy nga trước đây của kinh thành Hơn thế, trong thànhphố này cũng có một căn cứ quân đội hùng hậu, luôn sẵn sàng trong bất cứtình huống nào, và ở đây cũng có một công binh xưởng hay kho vũ khí củaNhà vua phục vụ cho chiến tranh, đúng bờn bờ một con sông, gần một đảo cát,

ở trên đú cú Thecadaw (Tế kỳ đàn) mà dưới đây sẽ đề cập tới Con sông nàyđược người bản địa gọi là Songkoy (sông Cái), hoặc con sông chính yếu; nóbắt nguồn từ Trung Quốc và sau khi chảy qua hàng trăm dặm (league), nóchảy qua đây và đổ ra vịnh An Nam, bằng 8 hoặc 9 cửa sông, hầu hết nhữngcửa sông này tàu thuyền đều có thể vào được với một mực nước sâu tối thiểu.Con sông này thực sự rất tiện lợi cho kinh thành, từ khi tất cả những hàng hoáđược đem đến đây, tụ điểm hàng hoá này dường như là hình ảnh thu nhỏ củavương quốc này, bởi vô số thuyền buôn bán ra vào nước này nhén nhịp; tuynhiên những lái buôn này có nhà ở của họ theo cách riêng của họ và tất cảkhông sống cùng nhau trên thuyền, như ghi chép của Tỏc-vờ-ni-ờ(Taverniere), trừ khi đi du hành trên biển

Trang 21

(Trang 659)

Phủ tướng quân đặt tại Kẻ Chợ, gần như là ở giữa thành phố: nó rất làrộng và được xây tường xung quanh; trong đó có đầy những ngôi nhà nhỏ,thấp và không được xây [bằng gạch - ĐTTL] vốn thuận tiện cho binh lính ở; ởtrong đú cú hai cỏi gỏc cao hầu như lộ thiờn Những cái cổng rộng và trangnghiêm, tất cả đều làm bằng sắt, dường như đây mới chính là phần vĩ đại nhấtcủa cung điện Nơi ở của ông ta và những người vợ của ông ta cũng rất uynghi và tốn kém ngang với những toà lây đài, bốn phía đều được trạm trổ, mạvàng và sơn mài ở cánh đồng đầu tiên của cung điện là những cái chuồng chonhững con voi to nhất và những con ngựa tốt nhất của ông ta; phần đằng sau lànhiều công viên, những khu rừng nhỏ, những con đường bách bộ, chỗ ở, ao cá,

và tất cả những gì có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu khiển hay những lúc nghỉngơi giải trí của ông ta mà hiếm khi ông ta thoả mãn cho lắm

Trang 22

cư dân của các thị trấn và làng quê ở cỏch nú một khoảng đáng kể Một người

có thể đoán được về những đám đông mà được tập hợp lại, và bỗng nhiênđược thêm vào bằng hàng triệu con người, đến một mức độ mà phải khó khănvất vả lắm mới có thể tiến thêm được khoảng trăm bước trong vòng nửa giêđồng hồ, mặc dù những con đường này khá là rộng Mặc dù có những đámngười đông vô kể này, khắp nơi trong thành phố vẫn giữ được một trật tự hoànhảo nhất Mọi mặt hàng được bán ở đây đều có những phố riêng biệt để phânphối nó, mà những phố này lại phụ thuộc vào một, hai hoặc nhiều làng và chỉnhững làng này mới có quyền mở cửa hiệu tại đó

Những con phố của Kẻ Chợ rất rộng và đẹp, được lát bằng gach, trừnhững nơi mà voi, ngựa, xe ngựa của nhà vua, và súc vật đi qua Hai phần banhững ngôi nhà ở đây làm bằng gỗ, còn lại là bằng gạch; ở giữa những ngôinhà này có những cửa hàng của những lái buôn nước ngoài, mà rất dễ phânbiệt giữa một đống những ngôi nhà lụp sụp làm bằng tre và đất sét

Những cung điện của quan lại và những toà lâu đài của các cơ quantriều đình, chiếm một vùng rộng lớn, không có gì nổi bật ở chúng ngoại trừ toànhà bằng gỗ rộng lớn mà tạo thành phần chính yếu và được xây dựng chắcchắn hơn phần lớn những ngôi nhà thông thường ở đây, nó được trang trí vớinhững vật trạm trổ và những bức tranh; ở phía trong được chia ra làm vài gian,hành lang và sàn nhà rất sạch sẽ, và trần nhà lợp ngãi với nhiều màu khácnhau được sắp xếp khéo léo

Những ngôi nhà chung (commom house) được tạo bởi những cỏi mỏiđược chống đỡ trên những cây cột trụ, phần lớn được phủ rơm, hoặc nhữngcỏi lỏ lớn mà nếu không có gì bất trắc thỡ chỳng có thể bền 30 đến 40 năm.Những ngôi nhà này không có trần cũng như lầu gỏc; chỳng chỉ đơn giản đượcchia ra làm nhiều phần khác nhau ngăn cách bởi những vỏn ghộp với nhữngcông dụng khác nhau; và những ngôi nhà này tất cả chỉ là một nền nhà trống

Trang 23

rỗng Không có kính cửa sổ, điều này không được biết đến ở đất nước này; nơinày chỉ được đáp ứng bởi vải gai và những tấm chiếu làm bằng tre hoặc mây,nhưng đẹp chẳng kộm gỡ pha lê.

Với kiểu xây nhà như vậy thì lửa là một mối hoạ lớn, vì vậy người tađưa ra những cách bảo vệ tốt nhất chống lửa: chính vì vậy mà người ta cấmthắp lửa vào ban đêm, và họ chỉ cho phép thắp lửa trong khoảng những giênào đó của ngày; cảnh sát (lính tuần) sẽ đi tuần tra vào những lúc Ýt đề phòngnhất, và những ai mà bị phát hiện là thắp lửa trong giê cấm sẽ bị phạt tiền

Một trật tự lớn chi phối thành phố này nói chung: đó là nó được chia rathành những phường và những hội buôn bán khác nhau, mà những hội này đều

có những người đứng đầu và được thành lập bởi nhiều nhóm người khác nhauvới lực lượng bảo vệ và luật lệ của riêng họ Quy mô buôn bán của họ rất lớn

và được tiến hành với những người rao hàng và bằng những con thuyền trêncon sông rộng chảy qua thành phố này Mỗi con thuyền phải trả khoảng hai xurưỡi phí đỗ thuyền, mà cũng tạo ra một khoản thu nhập đáng kể Số lượngthuyền thì thật khổng lồ đến nỗi rất khó có thể tiến gần vào được bờ; nhữngcon sông nước chúng tôi và hầu hết những cảng buôn bán, thậm chí Venice,với tất cả thuyền dài(38) và thuyền nhỏ, cũng không thể nào bằng được sự nhénnhịp và đông đúc trên sông ở Kẻ Chợ, mặc dù đó chỉ là số người cần thiết cònlại để quản lý thuyền và bảo vệ hàng hoá của họ: tất cả các lái buôn đều cónhà riêng của họ ở những làng xung quanh, không ai trong số họ sống trênnhững chiếc thuyền, đúng như sự miêu tả của Tỏc-vờ-ni-ờ (Tavernier) vànhững người khác

Cung điện của nhà vua chiếm một phần của thành phố; nú cú những bứctường bao quanh, toàn bộ được che khuất bởi những ngôi nhà xung quanh.Người ta nói rằng những bức tường này chu vi phải đến 3 dặm (league), cao 6

38 Lo¹i thuyÒn cong vµ dµi, thêng ®i trªn 50 ngêi ë thµnh phè Venice.

Trang 24

hoặc 7 feet, và dầy cũng đến nh vậy, mà tạo thành một chỗ đi dạo cho dânchúng Khu này là nơi đẹp nhất và được xây dựng tốt nhất của thành phố này,đây cũng là nơi ở của những người nổi tiếng nhất: những nhân vật quan trọngcủa vương quốc, của triều đình, của toà án đều ở đó, và giá đất rất cao để cóthể xây nhà ở đó Kiến trúc của cung điện cũng không đặc biệt hơn là mấy sovới những lâu đài chính của thành phố: cái lối vào của nó chẳng có dấu hiệu gìcao sang cho thấy ông vua đang ở đây cả, cũng không chứa đựng một sự giàucó: phía trong nã Ýt được biết đến, ngoại trừ là có những vật điêu khắc vàtranh vẽ theo nghi lễ mà đây cũng là những môn nghệ thuật được cho phép ởnước này Những toà nhà được làm bằng thứ gạch và gỗ tốt nhất, vàng và bạcđược dát ở khắp nơi một cách xa xỉ: trong vườn hoa, trên những con kênh đào,

ở những cái ao và tất cả những thứ mà có thể đem lại sự giải trí và tiện nghicho những ai sống cả cuộc đời ở đây; đặc biệt là những người vợ của hoàng

tử, những người mà chẳng bao giê ra khỏi đây, cũng như là những người đàn

bà và những thái giám hầu hạ họ

Trước khi cuộc nổi dậy diễn ra mà lập nên chính phủ hiện nay của ĐàngNgoài, những toà nhà này đẹp và chắc chắn hơn nhiều so với chúng lúc này

Ba vòng thành của kinh đô cũ và của cung điện cổ, những cung điện lát đá hoacương, sự đổ nát của những cái cổng và điếm canh, đã đem lại một vài ý niệm

về nó như thế nào khi còn lộng lẫy, và làm mỗi người chúng ta đều hối tiếc về

sự tàn phá của một trong những lâu đài đẹp nhất và rộng lớn nhất của châu á

Hiện tại, kinh đô này không có những tường thành cũng như bất cứ sựphòng thủ bên ngoài nào, cũng giống như những thành phố khác, hay khánhiều nơi ở vương quốc này, nó chỉ được rào lại xung quanh bằng những hàngrào tre, mà thực sự thì lại bảo vệ nó tốt hơn khỏi trộm cướp, thậm chí cảnhững cuộc tấn công bất ngờ, tốt hơn bất cứ bức tường nào mà họ có thể xây ởđất nước này

Trang 25

Bao quanh kinh đô này là những khu kiên cố với một loạt đồn lính màvới chúng, nhà vua có thể sẵn sàng trước bất cứ tình huống nào Những côngbinh xưởng, những kho vũ khí và lương thực thực phẩm dự trữ khác phục vụcho chiến tranh thì được đặt bên bờ sông.

Cũn bên bờ kia của sông Cái là một cái dinh hay thành phố của ngườiTàu; trước đây người nước ngoài và thậm chí người châu Âu được phép đi vàotrong kinh thành; nhưng hiện tại họ đều không được vào, lý do là vì ngườiTrung Quốc đã và đang trở nên giàu có và tăng lên về số lượng ở Đàng Ngoài,ngoài ra họ còn đang tự hào và nhẫn nại với những công việc kinh doanh củamình, họ rất đáng sợ và rất có thể trở nên có thế lực đủ để kích động một cuộcphản loạn, như họ đã làm ở Batavia, Manillas, Xiêm (Siams), và những nơikhác của phương Đông, những nơi mà hoạt động thương mại đã thu hót họ, họthậm chí đáng sợ hơn rất nhiều ở Đàng Ngoài, hơn bất cứ nơi nào khác, bởi vìvương quốc này có lần đã trở thành một phần của đế chế Trung Hoa; họ cónhiều hơn những lý do dù không chính đáng, và có lẽ là cũng nhiều cách thứchơn để tiến hành một cuộc bạo loạn Tuy nhiên họ vẫn được phép đi lại mọinơi trong vương quốc này, những nơi họ tiến hành việc buôn bán chui lủi củamình, và thậm chí còn được công nhận là được đi vào trong kinh thành, nhưngkhông được ở lại đó Tất cả những người ngoại quốc khỏc thỡ bị cấm khôngcho vào, hoặc thậm chí cũng không được cập bến nếu không có sự cho phépđặc biệt

1.Khỏi quát về lịch sử Thăng Long-Đụng Đụ-Hà Nội

Thăng Long từ vị trí trung tâm của một vựng, đó được lùa chọn để trởthành thủ đô, trung tâm của cả một quốc gia phong kiến độc lập; trở thành

Trang 26

trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quân sự, ngoại giao của đấtnước

Thăng Long với vị trí của mỡnh, đó sớm trở thành trung tâm hội tụ,giao lưu của nhiều vùng miền văn hoá, của nhiều nền văn minh trong nước,cũng như trên phạm vi rộng lớn của vựng Đụng Nam châu Á

Trong lịch sử, mối quan hệ giữa Thăng Long, còng nh quốc gia ĐạiViệt với phong kiến phương Bắc – Trung Hoa là thường xuyên và có tính chấtliên tục hơn cả, đó là mối quan hệ có tính chất chi phối mọi mối quan hệ khác.Bên cạnh đó, Thăng Long Đại Việt cũng đã sớm có những mối quan hệ vềchính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá với các quốc gia Đông Nam á;các mối quan hệ này cũng có vai trò nhất định đối với sự hình thành, phát triểncủa Thăng Long trong suất chiều đài lịch sử

1.Miền đất Thăng Long – Hà Nội với những mối liên hệ thời tiền sử và sơ sử.

Miền đất Hà Nội còng nh toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thuộc về contextĐông Nam Á, cùng chia sẻ với các quốc gia Đông Nam Á nhiều giá trị vănhoá, lịch sử tương đồng của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, nềnvăn minh phia Hoa, phi Ên

Từ thế kỷ III-IV, Thăng Long là một huyện (Tống Bình), rồi thế kỷ

V-VI nó là một châu (Tống Châu), Lý Nam Đế với con mắt tinh đời, năm 554 đãdựng nước Vạn Xuõn, xõy chựa Khai Quốc, dựng điện Vạn Thọ, đắp thành ởcửa sông Tô Lịch (theo Lương thư, Nam Tề thư) Đến thế kỷ VII-VIII nó trởthành một phủ (An nam đô hộ phủ) có thành có thị Nó là một đô thị hiếm hoicủa đất Việt và Đông Nam Á.39

Trang 27

phái thiền tông thứ hai ở Việt Nam Là phỏi Tỡ Ni Đa Lưu Chi, ngườiThiờn Trỳc, sang Việt Nam năm 580, với trung tâm là chựa Phỏp Võn ở CổChõu (chựa Dõu, Thuận Thành, Bn).

….Năm 757, xuất hiện La Thành trên đất Hà Nội cổ Kinh lược sứTrương Bá Nghi đắp La Thành bao quanh phủ thành đô hộ sau phong trào MaiHắc Đế và những cuộc cướp bóc của giặc biển Chà Và Nhưng thành này chỉcao vài thước, nhỏ hẹp và không lấy gì làm chắc chắn.(129)

Sách Man thư cuốn sách của kinh lược sứ phủ đô hộ An Nam Thái Tập.Theo đó, vào khoảng năm 863, ở khu vực Hà Nội có 3 thành: Thành GiaoChâu (hay Giao Chỉ); Tử Thành; và thành cũ Tô Lịch…Việc kẻ địch liên tiếpđắp thành ở Hà Nội chứng tỏ chúng phải đương đầu với nhiều cuộc khởi nghĩanhân dân Mặt khác, Hà Nội và lưu vực sông Hồng thế kỷ VIII-IX luôn bịquân Chà Và, Cụn Lụn ở vùng biển phía nam và quân Nam Chiếu ở miền nộiđịa phía Tây Bắc đến cướp bóc dã man (t.132)

Hà Nội 863-865 Hàmg vạn giặc Nam Chiếu đánh phủ thành An Nam.Quan quân đô hộ nhà Đường hèn yếu, bất lực bỏ chạy Hào trưởng các địaphương đã đem con em dân Việt đứng lên giữ làng chống giặc Ba năm dânViệt đánh du kích giữ làng quê Chỉ sau đó nhà Đường mới cử Cao Biền đemđại quân sang mở trận tổng công kích đuổi giặc Nam Chiếu về nước

880, nam chiếu lại cất quân xâm lược

2 Những mối liên hệ giữa Thăng Long Đại Việt với các quốc gia Đông Nam Á

2.1 Những mối quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao.

Trang 28

Thăng Long với vị thế trung tâm, thủ đô của một quốc gia độc lập, nơitinh hoa, đại diện cho cả dõn tộc, đó trở thành nơi đón tiếp các đoàn ngoạigiao quốc tế và khu vực đến giao thương, và thiết lập mối quan hệ

Bên kia sông Hồng, tại làng Cự Linh (Gia Lõm) cú trạm Hoài Viễn lànơi tiếp đón và trú ngụ của các sứ thần nước ngoài Nước Đại việt bấy giờ đó

có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Lào Chân Lạp, Xiêm, Đại Lý (VânNam), Tây Vực (Trung Á) Sứ thần các nước đú đó nhiều lần đến ThăngLong

Chỉ trong vòng một vài thế kỷ sau khi định đô, Thăng Long đã đượcxây dựng về mọi mặt và trở thành trung tâm chính trị-kinh tế-văn hoá lớn nhất

và tiêu biểu cho cả nước Thành quách, đê điều, các loại kiến trúc cung đình,dân gian, tôn giáo, văn hoỏ…tất cả hoà quyện với thiên nhiên tạo thành dáng

vẻ riêng của kinh thành Rồng Bay – Thăng Long, vừa ngoạn mục, vừa giản dị,rất gần gũi với thiên nhiên và tính cách người Việt, đượm tính dân gian vàtớnh dõn tộc

Trong vương quốc Chiêm Thành, âm nhạc, ca múa đặc biệt phát triển,người Chiêm đẫ giữ lâu bền một số phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộmrăng đen, coi trọng phụ nữ, đặc biệt nền văn minh văn hóa nông nghiệp, thủcông nghiệp, chế tạo đồ trang sức, nghề dệt phát triển, kỹ thuật xây dựng thápcủa người Chiêm đạt đến trình độ cao Nó không chỉ phát triển trong nước mà

nó cũn tác động ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước và khu vục xung quanh, đặc

biệt nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền văn hóa Đại Việt

191… đời thứ 14 cú Khỏnh Hỷ, tăng thống ở chùa Hương Từ Liêm,quận Vĩnh Khang, dòng dõi Bà la môn (gốc Chàm) Thời Lý Trần di dânngười Chàm đến ngụ ở Vĩnh Khang tức vùng Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay làkhá nhiều Trong khoảng niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137), vuatriệu sư vào cung phong làm t ăng lục rồi lên tăng thống

Trang 29

Thăng Long thời Trần đã mang dáng dấp của một thành phố quốc tế.Một thành phố nhân ái, đón nhiều người đến cư trú chính trị, chống sự xâmlược của đế quốc Nguyờn Mụng Như đại quan nhà Tống Hoàng Bính đem cả

1200 người sang Thăng Long xin trú ngụ; như tham chính Tăng Uyên Tử,như tướng Tống Triệu Trung, như gia đình nghệ sĩ leo dây múa rối Đinh BàngĐức…

275…Thăng Long kháng chiến chống Nguyờn Mụng Thăng Long từchối không cho Mông cổ mượn đường đỏnh Chiờm Thành

Thăng Long gửi quân vào giỳp Chiờm Thành kháng chiến chốngNguyờn Mụng

Thời Trần, ngoài sứ thần các nước, Thăng Long còn tiếp nhận nhiềuthượng khách và cư dân nước ngoài đến buôn bán làm ăn và cư trú chính trị.Năm 1274, có 30 thuyền Trung Quốc đến xin cư trú và được nhà Trần cho ởphường Nhai Tuân, lập phố, mở chợ buôn bán Thăng Long mở rộng cửa đónnhận các thương nhân người Hoa, người Hồi Hột (người Ouigour ở Trung átheo đạo Hồi), thuyền buôn Chà và (Java), sư người Hồ, thày thuốc và nghệ sĩTrung Quốc, trong đó có nghệ sĩ leo dây Đinh Bàng Đức, nghệ sĩ tuồng LýNguyờn Cỏt

Thăng Long có Ýt nhiều dáng vẻ quốc tế của một kinh thành đô hội.40Các triều Lý-Trần-Lờ, khi triều đình phỏt quõn đỏnh Chiờm Thành bắtđược nhiều tù binh Chiêm và đã “an thỏp” họ thành các “làng” bao quanhngoại thành Thăng Long- Đụng Đụ-Đụng Kinh

Quan hệ Đại việt và Lào có từ rất sớm, từ thời Lý Bí

40 Phan Huy Lª: Th¨ng Long - §«ng §« - §«ng Kinh- Hµ Néi thÕ kû XI-XIX Trong: Th¨ng Long-Hµ Néi,

NXB ChÝnh TrÞ Quèc Gia, Hµ Néi-1995, tr.80.

Trang 30

Khi nước Đại Việt độc lập, triều Lý một mặt ổn định tình hình trongnước, mặt khác lo chuẩn bị lực lượng chống Tống nờn đó đặc biệt quan tâmtới vùng biên giới phía Tây của đất nước Nhà Lý thực hiện chính sách “nhuviễn” và dùng biện pháp hôn nhân để nắm các tù trưởng địa phương Thôngqua đó, triều đình Thăng Long quản lý vùng biên ải cũng như giao thiệp vớibên ngoài.

Dưới triều Lý, các tù trưởng Lào vẫn thường xuyên sang Thăng Long Đại Việt để triều cống: “năm 1067 sứ Lào mang vàng bạc, trầm hương, ngàvoi và một số đặc sản địa phương sang triều cống”41

-Từ thế kỷ X, việc buôn bán được mở rộng ra phía Bắc do quốc gia Đại Việtđược độc lập và ngày càng phát triển cường thịnh Thương cảng Vân Đồn(Quảng Ninh) trở thành một trung tâm buôn bán vì có vị trí thuận lợi Trongthời kỳ này, các quốc gia Đông Nam Á cũng bước vào thời kỳ phát triển nêncũng có mong muốn thiết lập quan hệ với các nước trong khu vực “Năm

1149, mùa xuân, tháng hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa (Java), Lé Lạc vàXiêm La vào Hải Đông, xin ở lại buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảogọi là Vân Đồn để mua bán hàng hoá quý, dâng tiến sản vật địa phương”42

Năm 1348, nước Trảo Oa (Java) chính thức sai sứ sang đặt thông hiếuvới Đại Việt: “Năm 1348, tháng 5, mùa hạ, nước Trảo Oa sang cống sản vậtđịa phương và chim vẹt đỏ biết núi”43 Năm 1360, “thỏng 10, mùa đông,thuyền buôn các nước Lé Lạc, Trảo Oa, Xiêm La đến Vân Đồn buôn bán vàtiến các sản vật lạ”44

Chà Và có quan hệ với các vương triều phong kiến Việt Nam từ buổiđầu độc lập Chà Và có quan hệ về ngoại thương với Đại Việt từ rất sớm, vàmối quan hệ này là thường xuyên hơn cả

41 §¹i ViÖt sö ký Toµn th, tËp 1, NXB Khoa häc X· héi, Hµ Néi-1998, tr.247.

42 §¹i ViÖt sö ký Toµn th, tËp 1, NXB Khoa häc X· héi, Hµ Néi-1998, tr.317.

43 §¹i ViÖt sö ký Toµn th, tËp 2, NXB Khoa häc X· héi, Hµ Néi-1998, tr.131.

Trang 31

2.2.Những mối liên hệ-giao lưu về kinh tế-thương mại.

Từ thời Lý-Trần, với sức mạnh của một quốc gia đang lên, ThăngLong-Đại Việt đã phát triển lên một tầm cao mới, dự nhập mạnh mẽ vào hệthống thương mại, buôn bán chung của khu vực Đông Nam ỏ-hệ thống thươngmại biển Đông

Việc định đô của Lý Công Uẩn ở Thăng Long là quyết định hết sứcsáng suốt trong sự lùa chọn một khả năng an toàn cao nhất cho triều đại mới

Vương triều Lý là “thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳphục hưng toàn diện của dõn tộc và nền văn hoỏ dõn tộc

Trong thế Thăng Long - Rồng lờn đú, nhà Lý đã thực hiện nhiều chínhsách kinh tế tích cực và một chủ trương đối ngoại khá rộng mở Nhu cầu pháttriển của một Nhà nước tập quyền đòi hỏi giới lãnh đạo phải đồng thời đẩymạnh sản xuất, khuyến khích hoạt động ngoại thương Sau khi trang Vân Đồnđược vua Lý Anh Tông mở ra vào tháng 2.1149, Vân Đồn đã trở thành mộtcửa ngõ quan trọng của nhà nước Đại Việt để giao lưu với các quốc gia ở cảĐông Bắc Á và Đông Nam Á Vào thế kỷ XI-XIII, hoạt động kinh tế thươngmại ở khu vực biển Đông được mở rộng hơn bao giê hết

Nhà nước Đại Việt với trung tâm chính trị Thăng Long đã dự nhậpmạnh mẽ hơn vào đời sống kinh tế – chính trị của các quốc gia khu vực ĐôngNam á và chủ động trở lại đóng vai trò cầu nối giữa hai khu vực địa-kinh tế vàđịa-văn hoá này

Thế chiến lược của Thăng Long, hiểu theo nghĩa rộng, còn nằm ở cảtiềm lực kinh tế của nhà Lý với trung tâm đô hội ở Thăng Long đã làm nên sựhưng thịnh của một triều đại và sự phát triển phồn vinh về văn hoá với vị thếcủa một dõn tộc tự cường

Trang 32

Với vị trí là trung tâm trung chuyển, thu hót nguồn hàng từ Miến Điện, Nam Trung Quốc theo đường sông Hồng, hay theo đường thiên

lý Bắc nam, tập kết ở Thăng Long Bằng chứng là sự có mặt được ghi chépnhiều lần trong chính sử về sự xuất hiện của thương nhân ngoại quốc: ngườiHồi Hột, người Miến Điện, Tây Vực… ở Thăng Long Nguồn hàng từ khuvực này được đưa đến tập kết tại Thăng Long, sau đó được chuyển tiếp rathương cảng Vân Đồn, và bắt đầu vào quá trình giao lưu, trao đổi thương mạivới các thương cảng khác ở khu vực

Việc lập thương cảng Vân Đồn năm 1049 thời Lý Trang Tông có thểcoi là một động thái thể khiện “khỏt vọng” vươn mình hội nhập thương mạivới thế giới bên ngoài của nhà nước phong kiến Đại Việt sau một thời gian dài

“bị lóng quờn” dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc Sự có mặt củacác thương nhân người Mã Lai, người Hồi Hột, người Java…được ghi chéptrong chính sử, hay những minh chứng xác thực nhất của khảo cổ học ở khuvực thương cảng Vân Đồn đó giỳp chúng ta phần nào hiểu được về những mốiquan hệ thương mại giữa Thăng Long Đại Việt với các nước trong khu vực

Mối quan hệ tương tác giữa hai trung tâm kinh tế lớn là Thăng với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả đất nước với VânĐồn-với vị thế là cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài, đã trở thành trụcchính cho sự phát triển của thương mại Thăng Long Đại Việt Điều đó đã gópphần tạo nên sự phồn thịnh của thành thị Thăng Long 36 phố phường đôngvui, tấp nập

Long-Người Việt tuy “ớt cú truyền thống thương mại biển”, nhưng cũng đãnhận thức được sức mạnh của thương mại, buôn bán trên biển-minh chứng là

sự ra đời của thương cảng Vân Đồn năm 1049, chủ động dự nhập vào hệthống thương mại khu vực

Trang 33

Sự hình thành của nhiều phường hội thủ công, sự du nhập của nhiềunghề thủ công ở Thăng Long trong suốt chiều dài lịch sử là kết quả của quátrình giao lưu văn hoá với thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc và cácquốc gia Đông Nam á Các thương nhân từ nhiều quốc gia khác nhau đếntham quan, hay buôn bán ở Thăng Long đã ở lại nơi này để lập nghiệp, sảnxuất hàng hoá và sinh sống luôn ở đây.

255…sử sách đời Trần cũn chộp đến các phường Tây Nhai ở phía tâybên hữu kinh thành, phường Kiều Các Đài cũng ở bên hữu kinh thành; phườngNhai Tuấn, nơi mà mà năm 1247, 30 thuyền buôn của người Tống chốngNguyên đào vong sang ta, đem vợ con, của cải sang xin phụ và vua Trần cho ởphũng đú Họ mở phố chợ, bày bỏn vúc đoạn và thuốc bắc, tự gọi là người Hồi

Kê Hồi Kê, hay Hồi Cốt, hoặc là Hồi Hột (Ouigour – Duy Ngô Nhĩ) chỉngười Duy Ngô Nhĩ Tân Cương theo Hồi giáo, con cháu người Hung nô.Thăng Long thời Trần, ngoài việc xuất hiện khá nhiều thương nhân LưỡngQuảng, còn có nhiều người Hồi Hột từ Vân nam qua làm ăn buôn bán Cácnăm 1267, 1268 Hốt Tất Liệt đòi nhà Trần phải nép những thương nhân ngườiHồi hột, Nhưng Trần Thỏi Tụng không chịu Một mặt vua Trần cấm nhân dânkhông được tiếp xúc với người Hồi Hột, sợ trong bọn họ có người làm giánđiệp cho quân Mông cổ, mặt khác trong thư gửi Hốt Tất liệt, Thỏi Tụng núi:

“lỏi buụn Hồi hột, một người tên là Ion đã chết lâu ngày, một người tên là Bà

bà vừa bị chết…” ( Nguyên sử)

Ngoài phường Giai Tuấn, bến An Hoà cũng là nơi thuyền buụm nướcngoài ghé cập Đạo sĩ nhà Tống Hứa Tông Đạo đã đến Thăng Long theothuyền buôn và ở lại bến này Như vậy dọc bờ sông Cỏi, cú khá nhiều bến vàchợ bến: An Hoa, Đông Bộ Đầu, Giang Khẩu, Cơ Xỏ…Cú hai bến nữa cầnnhắc tới là bến Thái Cực, và bến Thái Tổ

Trang 34

Thái Cực là tên một phường ở phố Hàng Đào, xưa cũn cú hồ Hàng Đào,

có lạch nối với sông Hồng Vì vậy thuyền bè đời Trần có thể len lỏi tới tậnphố Hàng Đào bõy giờ mà buôn bán

258…Thăng Long thời Trần là trung tâm đất nước, Kẻ chợ của toàn bộmiền kẻ quê Đại Việt Cuối thời Trần sử sách đó chộp tới cái tên “ Kẻ chợ”dân gian đó Thăng Long thời Trần đã mang dáng dấp của một thành phố quốctế

Một thành phố thủ công và buôn bán nhỏ của người Việt nhưng cũng cúcỏc cửa hàng buôn bán của Hoa Kiều, Hụỡ Hột, và Chà Và Một thành phốđón tiếp các sứ giả Tống, Nguyờn, Sỏch Mó Tớch, Ai lao, Chiêm Thành, Gia

Va, các vị sư, các thầy Yoga Trung Quốc, Trung Á, Ên Độ; có cả một số thônlàng người Chiêm ở miền ven nội…

Trong Dư địa chí của Nguyễn Trói đó nhắc nhiều tới gốm sứ Bát Tràng.Vào thế kỷ XVI, các lái buôn thường đến Thăng Long mua đồ gốm sứ mang

đi bán ở một số nước khác trong vùng Đông Nam Á

Đến thế kỷ XVIII, nghề Khảm xà cừ khá phát triển ở Thăng Long LêQuý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cho rằng: Nghề khảm xà cừ từ rất lâu trướcđây đã vừa lan đến những miền xa xôi nhất của đất nước, tận những vùngthuộc Chiêm Thành và Cao Miên, lại vừa hội tụ trong 36 phố phường của đất

đế đô, đã khẳng định hùng hồn sự phát triển của nó cả về chiều rộng lãnh thổ,

cả về số lượng và chất lượng

2.3.Giao lưu về văn hoá.

Thăng Long – Đại Việt nằm trong mét context chung là Đông Á-ĐôngNam Á, nằm ở vị trí trung tâm, đã tiếp thu được nhiều nền văn hoá khác nhau,sáng tạo thành nền văn hoá của riêng mình

Có hai con đường giao lưu văn hoỏ chớnh là:

Trang 35

- Con đường giao lưu tự nguyện, tự du nhập.

- Con đường giao lưu thông qua chiến tranh, bắt tù binh, người tài từcác quốc gia láng going (đặc biệt là từ Chăm Pa) mang về Thăng Long, trởthành những nghệ nhân tài hoa, góp phần vào quá trình xây dung Thăng Long

Các sản phẩm văn hoá du nhập vào Thăng Long: Lễ hội, ca múa nhạc,mang vào những nghề mới: Dệt lĩnh Chăm, múa chăm, thợ Chăm xây dưụngthỏp Bỏo Thiờn…

Thời các triều đại phong kiến Việt Nam, qua các cuộc chiến tranh giữahai nước, xảy ra các cuộc bắt bớ cung nữ của Chiêm Thành về Đại Việt, sẽ cónhững cuộc vui để mừng chiến thắng , sẽ có những điệu múa của cả hai nước,chính điều đó đú cỳ sự học hỏi lẫn nhau của hai nền văn hóa

Cũng như trong các bữa tiệc tổ chức tiếp đún cỏc sứ thần sang cốngnạp, hay lễ mừng thọ lễ mừng các công trỡnh đã xây dựng xong đều tổ chức

ca múa, giao lưu Mối quan hệ văn hóa của hai nước giai đoạn này là có sựhọc hỏi lẫn nhau, sự tiếp thu văn hóa của nhau để cung xây dựng nền văn hóađặc sắc của dân tộc mình Cả hai nền văn hóa cú nột tương đồng là đều có tụcthờ cúng tổ tiên, tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen Phải chăng đây là sự giaolưu và tiếp biến văn hóa giữa hai nền văn hóa Việt- Chiêm

Thăng Long biểu diễn chèo Việt, tuồng Tàu và điệu múa của ngườiHồ…

Đại Việt – Thăng Long thời Lý Trần vừa sùng Phật, vừa sùng Đạo Mọingười đều đến đạo quán chiêm bái, dâng lễ

Đại Việt sử lược chép hội đèn Quảng Chiếu đầu tiên vào năm HộiTường Đại Khánh nguyờn niờn (1110) đời Lý Nhõn Tông

Trang 36

Năm 1118, sứ giả Chân Lạp đến Thăng Long, gặp lúc triều đình mở tiệcmùa xuân mừng khánh thành bảy ngọn bảo tháp, vua Lý bày nghi tượng ởđiện Linh Quang, rồi dẫn sứ giả cùng xem.

322…Trần Nhật Duật (1254-1330) chàng vương tử tài hoa, vị tướng tàicủa cuộc kháng chiến chống Nguyờn Mụng Là con thứ sáu của Trần ThỏiTụng, rất say mê âm nhạc Trải làm quan bốn triều cho đến chức thái sư, ởdinh ụng khụng ngày nào không mở cuộc chốo hỏt hay bày trò chơi, thế màkhông ai cho ông là người say đắm niềm vui mà quên công việc Giỏi âmnhạc, ông cũng có niềm say mê đặc biệt với ngôn ngữ nước ngoài , rất thíchchơi với người nước ngoài Từ Thăng Long ông thường cưỡi voi đến chơithôn Đalali – một thôn gồm người Việt gốc tù binh Chiêm Thành, sau gọitrệch là thôn Bà Gỡa ( mạn Cổ Nhuế), có khi ba bốn ngày mới về Ông cũnghay đến chùa Tường Phù, nói chuyện với nhà sư người Tống, ngủ lại rồi về.Khách nước ngoài đến kinh sư, thường được ông mời đến chơi nhà, nếu làngười Tống thì ngồi đối nhau, đàm luận suốt ngày, sứ giả nhà Nguyên tưởngông là người Chân Định (Hà Bắc, Trung Quốc) chính cống Nếu là ngườiChiêm hay người cỏc dõn tộc khỏc, ụng đều theo quốc tục của họ mà tiếp đãi.Thêi Nhõn Tông, sứ giả nước Sỏch Mó Tớch sang cống, không tìm đượcngười phiên dịch Cả Thăng Long chỉ một mình Trần Nhật Duật là dịch được

Đó là vì thời Thỏi Tụng, cú sứ Bắc quốc đến, ụng đó giao du với họ và họctiếng nước họ rồi

Nghệ thuật Thăng Long tiếp thu nhiều nhân tố tốt đẹp từ các nước láng giềng Với trình độ thẩm mĩ sâu sắc và tế nhị, con người trên mảnh đấtThăng Long không chỉ nhanh chóng tiếp thu nhanh nhất những tinh hoa vănhoá nghệ thuật từ mọi miền của đất nước, mà còn nhạy bén trong việc tiếp thu

Trang 37

những thành tựu nghệ thuật từ nước ngoài vào, mà trước hết là từ Trung Quốc,Champa, Ên Độ

Cung nữ Chiêm Thành được đem về Thăng Long múa hát trong yến tiệcnhà vua thời Lý Nhiều nghệ nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam và có ảnhhưởng quan trọng đối với sự phát triển của nghệ thuật Việt Nam – mà trướchết là ở Thăng Long

Các triều Lý-Trần-Lờ, khi triều đình phỏt quõn đỏnh Chiờm Thành bắtđược nhiều tù binh Chiêm và đã “an thỏp” họ thành các “làng” bao quanhngoại thành Thăng Long- Đụng Đụ-Đụng Kinh

Làng Trích Sài ngay cạnh Hồ Tây có ngôi miếu nhỏ thờ bà chóa Lĩnh

có tên Việt là Phan Ngọc Đô, vốn người con gái Champa, được vua lờ ThỏnhTụng đưa cùng 22 thị nữ Champa ra ở Trích Sài Tại đây bà đã truyền nghềdệt Lĩnh Chăm cho dân Khi bà mất, dân làng lập miếu thờ, tôn xưng bà là tổnghề của quờ mỡnh

Tổ sư nghề dệt ở phường Nhược Công (nay là Thành Cụng-Ba Đỡnh)

từ cuối thời Lý là cụng chúa Thụ La, vợ quan Công bộ hầu Đoàn Thường.Theo thần tích đình làng Thành Công, bà là người gốc Chămpa.45

Giữa thế kỷ XV, vua Lờ Thỏnh Tụng cắt đất của phường Trích Sài chongười cung phi gốc Chàm là Phan Thị Ngọc Đô làm thái Êp lập ra Thiên NiênTrang

Sự đóng góp của người Chăm và người Hoa vào sự phát triển của vănhoá, văn minh Thăng Long-Đại Việt: Công trình xây dựng thỏp Bỏo Thiờn

“hỡnh thiờn trụ” là công lao của những người thợ Chăm tài hoa, dưới sự đốccông của người Việt46

Nghệ nhân leo dây múa rối nổi tiếng Đinh Bàng Đức cùng thân nhân;nghệ sĩ tuồng Lý Nguyờn Cỏt cựng nghệ nhân, tăng lữ, thương nhân, thầy du

45 TrÇn Quèc Vîng, Hµ Néi-Nh t«i hiÓu, NXB T«n Gi¸o, Hµ Néi-2005., tr.208.

46 Lª Tr¾c, An Nam chÝ lîc, 1333.

Trang 38

già…từ trung á, Tạng Miến theo đường Vân Nam xuống, từ Khai Phong (HàNam) theo đường Ung Châu (Nam Ninh) đi xuống, hay từ đường biển đi vào,hội tụ ở Thăng Long làm ăn, mua bán, hành nghề,ư

Thăng Long thời Lý-Trần có nhiều quan hệ với Chiêm Thành, ChânLạp, Qua Oa (Java), Tam phật tề (Palembang), Thất lợi phật thệ (Sri Vijaya)

…ở vùng biển phía Nam, có chiến tranh mà cũng có giao lưu kinh tế-văn hoá.Nhiều vũ nữ, ca công Chiêm Thành được/bị tập trung về Thăng Long Vùngven đô mạn Từ Liêm, Hoài Đức có nhiều làng Chăm Văn hoá Chăm, văn hoỏĐụng Nam Á miền biển phía Nam và qua đó, văn hoá Ên Độ có vận hội mới,

có ảnh hưởng tới Thăng Long-Đại Việt

Có thể thấy Thăng Long là trung tâm giao lưu văn hoá Hai luồng vănhoỏ Đụng Á và Đông Nam Á tiếp tục chảy rót nhiều thành tựu vào thành phèRång Bay Nhưng Thăng Long không phải là bình chứa mà là bầu ngưng cất,lọc tinh hoa văn hoá bốn phương để cấu trúc lại và làm giàu vốn văn hoỏ dõntộc, dân gian

1.Khỏi quát về lịch sử Thăng Long-Đụng Đụ-Hà Nội

Thăng Long từ vị trí trung tâm của một vựng, đó được lùa chọn để trởthành thủ đô, trung tâm của cả một quốc gia phong kiến độc lập; trở thànhtrung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quân sự, ngoại giao của đấtnước

Thăng Long với vị trí của mỡnh, đó sớm trở thành trung tâm hội tụ,giao lưu của nhiều vùng miền văn hoá, của nhiều nền văn minh trong nước,cũng như trên phạm vi rộng lớn của vựng Đụng Nam châu á

Trong lịch sử, mối quan hệ giữa Thăng Long, còng nh quốc gia ĐạiViệt với phong kiến phương Bắc – Trung Hoa là thường xuyên và có tính chấtliên tục hơn cả, đó là mối quan hệ có tính chất chi phối mọi mối quan hệ khác

Trang 39

Bên cạnh đó, Thăng Long Đại Việt cũng đã sớm có những mối quan hệ vềchính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá với các quốc gia Đông Nam á;các mối quan hệ này cũng có vai trò nhất định đối với sự hình thành, phát triểncủa Thăng Long trong suất chiều đài lịch sử.

2.Những mối liên hệ giữa Thăng Long Đại Việt với các quốc gia Đông Nam á

2.1.Những mối quan hệ về chính trị, quân sự, ngoại giao

Thăng Long với vị thế trung tâm, thủ đô của một quốc gia độc lập, nơitinh hoa, đại diện cho cả dõn tộc, đó trở thành nơi đón tiếp các đoàn ngoạigiao quốc tế và khu vực đến giao thương, và thiết lập mối quan hệ

2.2.Những mối liên hệ-giao lưu về kinh tế-thương mại

Từ thời Lý-Trần, với sức mạnh của một quốc gia đang lên, ThăngLong-Đại Việt đã phát triển lên một tầm cao mới, dự nhập mạnh mẽ vào hệthống thương mại, buôn bán chung của khu vực Đông Nam ỏ-hệ thống thươngmại biển Đông

Với vị trí là trung tâm trung chuyển, thu hót nguồn hàng từ Miến Điện,Nam Trung Quốc theo đường sông Hồng, hay theo đường thiên lý Bắc nam,tập kết ở Thăng Long Bằng chứng là sự có mặt được ghi chép nhiều lần trongchính sử về sự xuất hiện của thương nhân ngoại quốc: người Hồi Hột, ngườiMiến Điện, Tây Vực… ở Thăng Long Nguồn hàng từ khu vực này được đưađến tập kết tại Thăng Long, sau đó được chuyển tiếp ra thương cảng Vân Đồn,

và bắt đầu vào quá trình giao lưu, trao đổi thương mại với các thương cảngkhác ở khu vực

Việc lập thương cảng Vân Đồn năm 1049 thời Lý Trang Tông có thểcoi là một động thái thể khiện “khỏt vọng” vươn mình hội nhập thương mạivới thế giới bên ngoài của nhà nước phong kiến Đại Việt sau một thời gian dài

“bị lóng quờn” dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc Sự có mặt của

Trang 40

các thương nhân người Mã Lai, người Hồi Hột, người Java…được ghi chéptrong chính sử, hay những minh chứng xác thực nhất của khảo cổ học ở khuvực thương cảng Vân Đồn đó giỳp chúng ta phần nào hiểu được về những mốiquan hệ thương mại giữa Thăng Long Đại Việt với các nước trong khu vực.

Mối quan hệ tương tác giữa hai trung tâm kinh tế lớn là Thăng với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả đất nước với VânĐồn-với vị thế là cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài, đã trở thành trụcchính cho sự phát triển của thương mại Thăng Long Đại Việt Điều đó đã gópphần tạo nên sự phồn thịnh của thành thị Thăng Long 36 phố phường đôngvui, tấp nập

Long-Người Việt tuy “ớt cú truyền thống thương mại biển”, nhưng cũng đãnhận thức được sức mạnh của thương mại, buôn bán trên biển-minh chứng là

sự ra đời của thương cảng Vân Đồn năm 1049, chủ động dự nhập vào hệthống thương mại khu vực

Sự hình thành của nhiều phường hội thủ công, sự du nhập của nhiềunghề thủ công ở Thăng Long trong suốt chiều dài lịch sử là kết quả của quátrình giao lưu văn hoá với thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc và cácquốc gia Đông Nam á Các thương nhân từ nhiều quốc gia khác nhau đếntham quan, hay buôn bán ở Thăng Long đã ở lại nơi này để lập nghiệp, sảnxuất hàng hoá và sinh sống luôn ở đây

2.3.Giao lưu về văn hoá

Thăng Long – Đại Việt nằm trong mét context chung là Đụng ỏ-ĐụngNam á, nằm ở vị trí trung tâm, đã tiếp thu được nhiều nền văn hoá khác nhau,sáng tạo thành nền văn hoá của riêng mình

Có hai con đường giao lưu văn hoỏ chớnh là:

-con đường giao lưu tự nguyện, tự du nhập

Ngày đăng: 19/04/2015, 12:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Anthony Reid, Đông Nam á trong thời kỳ thương mại 1450 - 1680 (Southest Asia in the Age of Commerce 1450 - 1680), tập 1, Nxb. Yale University, USA. 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam á trong thời kỳ thương mại 1450 - 1680
Nhà XB: Nxb. YaleUniversity
3. Nguyễn Thừa Hỷ, Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII - XIX, Nxb.Hội Sử học Việt Nam, H. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII - XIX
Nhà XB: Nxb.Hội Sử học Việt Nam
4. Richard, Lịch sử Đàng Ngoài (History of Tonquin), trong “A general collection of the best and most interesting Voyages and Travels in all parts of the world”, London 1811 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đàng Ngoài" (History of Tonquin), trong “"A generalcollection of the best and most interesting Voyages and Travels in all partsof the world
5. Samuel Baron, Mô tả vương quốc Đàng Ngoài (A description of the kingdom of Tonqueen), trong “A general collection of the best and most interesting Voyages and Travels in all parts of the world”, London 1811 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả vương quốc Đàng Ngoài" (A description of thekingdom of Tonqueen), trong “"A general collection of the best and mostinteresting Voyages and Travels in all parts of the world
6. Thương điếm Anh ở Đàng Ngoài (British factory in Tonkin), Tư liệu lưu trữ Thư viện Quốc gia Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương điếm Anh ở Đàng Ngoài
7. William Dampier, Một chuyến du hành sang Bắc Kỳ vào năm 1688, Tư liệu bản dịch Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, Ký hiệu VT 359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành sang Bắc Kỳ vào năm 1688
8. William Dampier, Du hành và Khám phá (Voyages and Discoveries), Nxb. Argonaut, London 1931 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du hành và Khám phá
Nhà XB: Nxb. Argonaut

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w