1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay

122 993 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 613,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tất cả các lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề nghiên cứu: “ Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay” làm đề tài luận văn thạc s

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng: các chế độ chính trị xã hội thay đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử, song tổ chức gia đình và dòng tộc thỡ luụn trường tồn cùng non sông đất nước Mỗi dòng tộc, nhất là cỏc dũng tộc lớn, đều có truyền thống văn hóa, bản sắc riêng của mình Những nột riờng đú góp lại hình thành nên nền văn hóa dân tộc Nói cỏch khác, văn hóa cỏc dũng

họ chính là cơ sở, nền tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia.Vỡ vậy, việc nghiên cứu về dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nhận thức, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Dòng họ là nơi bảo tồn những di sản văn hóa của các thành viên trong

họ như: văn bia, câu đối, nhà thờ, thơ văn, gia phả, sách truyện, nghề truyền thống,…Việc tìm hiểu về văn hóa các dòng họ, một mặt góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá, mặt khác góp phần củng cố và khơi dậy ý thức, biết ơn và tự hào về công đức của tổ tiên, để từ đó tiếp tục phát huy truyền thống gia tộc, xây dựng gia đình, quê hương, đất nước Vì thế việc nghiên cứu về lịch sử - văn hóa của các dòng họ là một yêu cầu bức thiết Hiện nay, trong xã hội đang hình thành một xu hướng, một trào lưu là

trùng tu nhà từ đường, chắp nối gia phả …Đõy là biểu hiện của ý thức “uống nước nhớ nguồn”, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tuy nhiên, cùng với

ý nghĩa nhân văn của xu hướng này đã thấy có những mặt trái của nó Đú chớnh là việc xây dựng nhà thờ một cách bừa bãi, học hỏi văn hóa lai căng,…

Vì vậy việc tìm hiểu đầy đủ và nghiêm túc về lịch sử - văn hóa của các dòng

họ còn là việc “Gạn đục khơi trong”, giữ gìn bản sắc cho các dòng họ, cho

đất nước

Trang 2

Một dòng họ thường tõp trung sinh sống ở một địa phương hoặc một số địa phương nhất định Do đó, việc nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của một dòng họ trên một địa phương cụ thể không chỉ góp phần làm phong phú hơn

bộ sử địa phương mà còn góp phần thiết thực vào việc nâng cao nhận thức về lịch sử dân tộc, vì lịch sử địa phương là một bộ phận của lịch sử dân tộc Ngoài ra, chúng ta cũn cú nhận thức đúng đắn hơn về mối quan hệ giữa các dòng họ, đặc biệt là quan hệ tác động qua lại giữa gia đình, dòng họ với các danh nhân Trên cơ sở đó rút ra những bài học, phát huy những mặt tích cực của dòng họ, xóa bỏ những mặt hạn chế, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc

Còn một lý do nữa khiến chúng tôi lựa chọn đề tài này là vì Bắc Ninh là một vùng đất cổ, có bề dày văn hóa với những “tớnh cỏch riờng” Việc nghiên cứu về văn hóa dòng họ Đàm Thận sẽ cho chúng ta thấy rõ về điều đó

Với tất cả các lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề nghiên cứu:

“ Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh

từ thế kỷ XV đến nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.

2 Lịch sử vấn đề:

Đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình chuyờn sõu nào nghiên

cứu đề tài “Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay” Tuy nhiên đó cú một số cuốn sách, bài viết

của một số tác giả bàn về những nhân vật nổi tiếng của dòng họ

Người đầu tiên ghi chép lại câu chuyện về Tiết nghĩa Đại vương Đàm Thận Huy, Tiến sĩ Đàm Thận Giản, Quốc sư Đàm Công Hiệu…chính là cụ

Nguyễn Tử Trinh, người viết cuốn “Cổ Mặc danh công truyện ký” vào năm

Chớnh Hũa II (1681) Tác phẩm này viết bằng chữ Hán, ghi lại công trạng, chức tước của những nhân vật nổi tiếng ở làng Cổ Mặc xưa (Hương Mạc

Trang 3

nay).Cú điều là mới đây, năm 2005, tài liệu này mới được chị Hoàng Thị Tố Loan - viện nghiên cứu Hỏn Nụm biên dịch và giới thiệu.

Trong cuốn sách Lược truyện các tác gia Việt Nam - tập1 (xuất bản năm

1972) ông Trần Văn Giáp và các tác giả giới thiệu về cụ Đàm Thận Huy với vai trò là một nhà thơ với các bài thơ trong Hội Tao Đàn

Năm 1972, nhà xuất bản Văn Học cho in Hợp tuyển thơ văn Việt Nam-

tập 2 cũng giới thiệu một số bài thơ của cụ Thận Huy xướng họa thơ với vua

Lờ Thỏnh Tụng

Năm 1987, ông Nguyễn Văn Bến, cán bộ Viện nghiên cứu Hỏn Nụm với

bút danh Lâm Giang viết bài “Bước đầu tìm hiểu về hội Tao đàn” đã nhắc đến

cụ Đàm Thận Huy là một trong Thập nhị bỏt tỳ với 9 bài thơ họa Quỳnh uyển

cửu ca của vua Lờ Thỏnh Tụng Sau đó 2 năm ông lại viết bài “Đàm Thận Huy

và tác phẩm Sĩ hoạn châm quy” đăng ở tạp chí Hỏn Nụm, trình bày khỏ rừ về

con người và sự nghiệp của cụ Thận Huy; đồng thời tác giả đó nờu những căn cứ

để xác định văn bản Sĩ hoạn châm quy, lưu tại viện Hỏn Nụm là của Cụ.

Cũng vào năm 1987, trờn báo Nhân Dân số 12075, nhà báo Nhã Long cho đăng bài viết về cụ Đàm Công Hiệu với sự tích ngôi nhà thờ đặc biệt Đú

chính là “Giảng đường Văn Miếu xưa” Bài báo giới thiệu cho người đọc về

ngôi nhà thờ của cụ Quốc sư Đàm Công Hiệu ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh, chính là giảng đường nơi cụ Quốc sư Đàm Công Hiệu thường ngồi dạy Chúa Trịnh Khi cụ Công Hiệu ốm, để cho thầy đỡ nhớ nơi giảng đường, Chúa đã cho người chuyển từ kinh đô về dựng lại ở quê thầy ở Hương Mạc Sau này, khu giảng đường trở thành nhà lưu niệm danh nhân văn hóa Quốc sư Đàm Công Hiệu

Năm 1987, Sở văn hóa thông tin Hà Bắc, phòng Bảo tồn Bảo tàng đã cử cán bộ tiến hành khảo sát di tích đền thờ các danh nhân họ Đàm, sau đó báo

Trang 4

28VH/QĐ vào sổ Danh mục di tích lịch sử Năm 1990, đền thờ lưu niệm danh nhân văn hóa Đàm Thận Huy và Đàm Công Hiệu được vinh dự đón nhận Bằng công nhận di tích lịch sử- văn hóa.Trong hồ sơ di tích, các cán bộ khảo sát đi sâu vào sự tích cỏc ngụi đền, khái quát tổng quan về cấu trúc đền thờ và đánh giá về các giá trị lịch sử, nghệ thuật của các di tích Dòng họ Đàm từ sau

sự kiện này càng được nhiều người biết tới

Sau đó, một loạt các tác phẩm viết về các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa đã chép lại những giai thoại, những công trạng của Cụ Đàm Thận

Huy, Đàm Công Hiệu,…như: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam-1991 (tác giả: Nguyễn Bá Thế, Nguyễn Quang Thắng); Các nhà khoa bảng Việt Nam -1993 (tác giả: Ngô Đức Thọ chủ biên); Trạng nguyên, tiến sĩ, hương cống

Việt Nam -2002 (tác giả: Bùi Hạnh Cẩn); Danh nhân lịch sử Kinh Bắc-2004

(tác giảTrần Quốc Thịnh), Lịch sử văn hóa Việt Nam -Sinh hoạt trí thức 1992 (tác giả: Đàm Chí) Lịch sử Đảng bộ huyện Từ Sơn-2004…

Nhà báo Quang Lộc với bài : Quan tiết nghĩa Đàm Thận Huy, nhà giáo,

Nhà sư phạm tài năng mẫu mực đăng trên tạp chí Hà Bắc năm 1995 thì lại

đem đến cách nhìn khác về cụ Đàm Thận Huy Đó là về tài năng sư phạm của người thầy giáo: cụ thử tài, tìm hiểu tính cách của từng học trò để từ đó cú cỏch uốn nắn, bồi dưỡng…Nhờ thế mà nhiều học trò của cụ đó nờn người, làm nên công trạng lớn, thiên hạ đều biết tới, ví như: Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, Tiến sĩ Nguyễn Chiêu Huấn, Bảng nhãn Hứa Tam Tỉnh,…

Trong cuốn Kho tàng các ông trạng Việt Nam (xuất bản 1999), giáo sư

Vũ Ngọc Khánh khi viết về Trạng Me Nguyễn Giản Thanh cũng nhắc đến người thầy dạy của Trạng là Đàm Thận Huy với câu chuyện thử tài nổi tiếng Trong dòng họ Đàm, không chỉ duy nhất có Đàm Thận Huy được chọn vào giảng bài ở điện Kinh Diên, là thầy dạy của các Trạng nguyên, Bảng nhãn, mà Đàm Công Hiệu, cháu đời thứ 6 của Đàm Thận Huy cũng là một vị

Trang 5

quan lớn, đồng thời là một người thầy giáo hiếm có Tác giả Thế Văn, năm

1994 đó cú bài viết trên tạp chí Thế Giới Mới số 113 với nhan đề: Đàm Công

Hiệu, thầy của 2 đời chúa Nội dung chủ yếu của bài báo là ca ngợi cái Đức,

cái Tài và cỏi Liờm của cụ Đàm Quốc Sư

Trên đây là các bài viết liên quan đến các nhân vật, đền thờ họ Đàm Thận, chủ yếu tập trung vào các bậc trượng phu nổi tiếng của dòng họ Chỉ có

2 tác giả bàn về những người phụ nữ trong dòng họ Đàm Thận

Đó là cụ Đốc học Đỗ Trọng Vỹ, người viết cuốn Bắc Ninh địa dư chí (bản gốc chữ Hán - dịch và in thành sách năm 1997).Trong phần ghi về gương

của những người đàn bà trinh tiết đã nhắc đến vợ cụ Đàm Thận Huy:“Nghiêm

phu nhân theo chồng mà chết vì vua, tiết nghĩa vẹn toàn” Sau nay khi cụ

Thận Huy được truy phong là Tiết nghĩa Đại Vương, cụ bà cũng được phong

là Hoàng Hậu Phi Nhân

Người tiếp theo là nhà báo Phú Nga viết về những người phụ nữ của

dòng họ Đàm trong bài: Người đàn bà được phong Vương (tạp chí Hà

Bắc-1995).Trong bài báo, người phụ nữ đầu tiên mà tác giả nhắc đến là thân mẫu của thượng thư Đàm Thận Huy; người thứ 2 là phu nhân của Thượng thư Đàm Thận Huy là bà Nghiêm Thị và cuối cùng là 2 con gái của cụ là tiểu thư Quế Dung và Quế Hoa đã dũng cảm theo cha chống quân Mạc

Năm 1994, Bộ Văn hóa cũng đã lập hồ sơ công nhận đền thờ Hai Cô (Quế Dung và Quế Hoa) ở thôn Cầu Khoai, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế là di tích lịch sử - văn hóa (quyết định số 295-QĐ/BT ngày 15-2-1994)

Ở thời kỳ cận hiện đại, họ Đàm cũng vẫn có những gương mặt xuất sắc

có nhiều công trạng đóng góp cho đất nước Cuốn sách Giáo sư Việt Nam-do

Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công bố năm 2004 có giới thiệu về 3 người con của họ Đàm Đó là Giáo sư Đàm Trung Đồn, Đàm Trung Bảo,

Trang 6

tin về Đàm Thanh Sơn - người đoạt giải nhất kỳ thi Toán Quốc tế lần thứ 25 năm 1984; Đàm Hiếu Chí - đạt giải 3 kỳ thi Tin học quốc tế năm 1991…

***

Tất cả những cuốn sách, bài báo, bài viết trờn đó ít nhiều đề cập đến một

số thành viên của dòng họ Đàm, tuy nhiên còn mang tính sơ lược, riêng lẻ, chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh; những đóng góp của dòng họ cho quê hương, đất nước.Từ đó đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về lịch sử - văn hóa dòng họ này, cũng là một việc nhỏ góp phần giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học của đề tài:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận

ở xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; những đóng góp với lịch sử dân tộc và văn hóa truyền thống của dòng họ Đàm Thận

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu lịch sử - văn hóa của dòng họ Đàm Thận từ thế kỷ XV đến nay, chủ yếu tập trung ở làng Me xưa, nay là thôn Hương Mạc, xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

3.3 Nhiệm vụ khoa học của đề tài:

Với đề tài : “Lịch sử-văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay”, người nghiên cứu nhằm giải quyết

Trang 7

- Luận văn còn trình bày về những đóng góp của dòng họ Đàm Thận trong lịch sử dân tộc trong các thời kỳ : phong kiến, cận đại, hiện đại trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa, ngoại giao,…

4 Nguồn tài liêu và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Nguồn tài liệu :

+Đại Việt sử ký toàn thư-Ngô Sĩ Liên

+Lịch triều hiến chương loại chí-Phan Huy Chú

+Khâm định Việt sử thông giám cương mục-Quốc sử quán nhà Nguyễn

+Đại Nam nhất thống chí-Quốc sử quán nhà Nguyễn

+Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục…Lờ Quý Đôn

4.1.2 Tài liệu nghiên cứu:

-Các tài liệu về lịch sử,văn hóa ,như:

+Việt Nam văn hóa sử cương –Đào Duy Anh

+Đất nước Việt Nam qua các đời-Đào Duy Anh

+Phong thổ Hà Bắc đời Lê-Trần Văn Giáp biên dịch và khảo thích

+Bắc Ninh dư địa chí-Đỗ Trọng Vỹ

+Lịch sử Hà Bắc-Hội đồng lịch sử tỉnh Hà Bắc

Trang 8

+Văn hiến Kinh Bắc-Trần Đình Luyện chủ biên

-Các tài liệu viết về những nhân vật nổi tiếng của dòng họ Đàm Thận, như:

+Các nhà khoa bảng Việt Nam-Ngô Đức Thọ

+Văn bia Văn miếu Bắc Ninh-Nguyễn Quang Khải

+Văn bia văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội-Đỗ Văn Ninh

+Danh nhân lịch sử Kinh Bắc-Trần Quốc Thịnh

+Giáo sư Việt nam-Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước

4.1.3 Tài liệu điền dã:

Để tìm tư liệu phục vụ cho đề tài, chúng tôi đã nhiều lần đến đền thờ danh nhân Đàm Thận Huy, đền thờ danh nhân Đàm Công Hiệu ở xã Hương Mạc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh …để nghiên cứu thực địa, chụp ảnh thu thập tư liệu Đồng thời chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với người đại diện của dòng họ Đàm Thận, dòng họ Nguyễn ở Phự Khờ, Từ Sơn … các bậc cao lão trong địa phương nhằm tìm hiểu về họ Đàm và văn hóa địa phương

Trang 9

+Gia phả, khảo luận và thực hành-Dã Lan, Nguyễn Đức Dụ

Đặc biệt, người viết còn tham khảo một số luận văn thạc sỹ về đề tài dòng họ, như:

+Tìm hiểu về dòng họ hà ở huyện Chiờm Húa, tỉnh Tuyên Quang từ 1945

đến nay- Lý thị Thu, ĐHSP Hà Nội, 2007

+Lịch sử, văn hóa dòng họ Đặng ở Lương Điền, Thanh Chương, Nghệ An

từ thế kỷ XVII đến nay - Nguyễn Thị Phương Thảo, ĐH Vinh , 2006.

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

4.2.1 Sưu tầm tài liệu, tư liệu:

Tất cả các tài liệu trên, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tích lũy ở Thư viện Quốc gia, thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội, Thư viện Quân đội, thư viện tỉnh Bắc Ninh, Bảo tàng Bắc Ninh, đền thờ cụ Đàm Thận Huy, đền thờ Cụ Đàm Cụng Hiệu…Cõu lạc bộ UNESCO thông tin về các dòng họ, Ban liên lạc các dòng họ Việt Nam…Ngoài ra chúng tôi còn chụp ảnh và nghiên cứu thực địa, sử dụng phương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội học…

4.2.2 Xử lý tư liệu, tài liệu:

Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch

sử và phương pháp lụgic để tìm hiểu một cách có hệ thống về quá trình hình thành, phát triển của dòng họ Đàm theo thời gian, diễn biến của lịch sử Ngoài

ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh giữa các tài liệu đã sưu tầm, như: những nhân vật, sự kiện chép trong gia phả với thông tin trong

các bộ chính sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều tạp kỷ, Đại Nam nhất

thống chớ,… để từ đó phân tích, rút ra nhưng kết luận, những đánh giá tổng

hợp, tìm ra những mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa dòng họ Đàm Thận với địa phương, dân tộc

Trang 10

5 Đóng góp khoa học của đề tài:

Luận văn “Lịch sử - văn hóa dòng họ Đàm Thận ở Hương Mặc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay.” là một công trình khảo cứu công phu,

nghiêm túc về đề tài đã trình bày, cung cấp cho người đọc bức tranh toàn cảnh

về nguồn gốc, lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là văn hóa truyền thống của dòng họ với nề nếp gia phong mẫu mực,

là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số sự kiện lịch sử, một số nhân vật lịch sử có nhiều đóng góp cho đất nước mà các bộ chính sử mới chỉ nhắc đến

sơ sài hoặc chưa nhắc đến, như: Đàm Thận Huy, Đàm Thận Giản , Đàm Công Hiệu, Đàm Thận Lễ, Đàm Nghĩa Am (tức Thận Đức), …

Khi xem luận văn này những người trong dòng họ hiểu rõ cội nguồn gia tộc mình với những truyền thống nhân văn cao quý sẽ noi theo gương sáng của người xưa mà nhận biết trách nhiệm, xây dựng lý tưởng cho mình Đó là đáp ứng niềm mong mỏi của tiên tổ như lời cụ Đàm Duy Tạo biên trong phần

đầu cuồn gia phả: “…Con cháu có biết cái nguồn gốc chung của gia đình ,

cội rễ thủa xưa thì mới gây được cáớ tình thân mật giữa mọi người, trong các chi phái Con cháu có biết cái công lao làm ăn hàn gắn tu nhân tích đức của

tổ tiên thì mới nẩy lòng tự phấn tự lệ, tương trừng tương khuyến, hết sức học hành tu tỉnh, ngõ hầu trước mong noi theo vết hay của tổ tiên, sau mở đường hay cho con chỏu,để giữ lấy danh giá của gia tộc cho trong sạch, vẻ vang mãi mãi … ” [68b,7]

Hơn thế nữa, những người ngoại tộc biết đến dòng họ Đàm Thận cũng cảm nhận được sức lan tỏa của văn hóa dòng họ Đàm mẫu mực mà hăng hái xây dựng gia phong riêng cho mình

Trang 11

Ngoài ra, luận văn còn làm sống lại văn hóa các gia tộc trong di sản văn hóa Việt, góp phần thực hiện chiến lược con người trong thế kỷ XXI, làm nền tảng cơ sở để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung

chớnh của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh từ thế kỷ XV đến nay

Chương 2: Văn hóa truyền thống của dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc,Từ Sơn, Bắc Ninh

Chương 3: Những đóng góp của dòng họ Đàm Thận với lịch sử dân tộc

Trang 12

CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ ĐÀM THẬN

Ở HƯƠNG MẠC, TỪ SƠN, BẮC NINH TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN NAY:

1.1.Vài nét về mảnh đất và con người Từ Sơn , Bắc Ninh :

1.1.1 Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên:

Phía Tây và Nam giỏp các huyện Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội)

Trụ sở của huyện đóng tại thị xã Từ Sơn (trước kia là thị trấn Từ Sơn ) Nơi đây có đường quốc lộ 1A, đường sắt huyết mạch giao thông từ Hà Nội lên biên giới Lạng Sơn chạy qua trung tâm huyện Từ huyện lị còn có nhiều con đường bộ nối liền cỏc vựng kinh tế trong và ngoài tỉnh

Theo các nguồn tài liệu cổ sử và khảo cổ học, từ thời đại Hùng Vương, vùng đất Từ Sơn đã có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống dọc theo đôi bờ sông Tiêu Tương thuộc địa phận cỏc xó Đỡnh Bảng, Đồng Nguyên, Tam Sơn, Tương Giang

Thời các vua Hùng chia nước Văn Lang thành 15 bộ, Từ Sơn nằm trong

bộ Vũ Ninh

Đời nhà Đường đô hộ, Từ Sơn thuộc địa phận của Long Châu

Thời Lê Đại Hành (989-1005) gọi là Cổ Pháp

Thời nhà Lý ( 1010-1025) được đổi thành phủ Thiên Đức

Thời nhà Trần (1225-1400) được gọi là huyện Đông Ngàn, rồi huyện

Từ Sơn

Trang 13

Phủ Từ Sơn được thành lập từ đầu thời Lê (1428-1788) và bắt đầu từ thời Hồng Đức, Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc, gồm 5 huyện: Tiên Du, Đông Ngàn, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong

Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) tách 2 huyện Quế Dương và Võ Giàng để thành lập phân phủ Từ Sơn (năm 1852, phân phủ này bị bãi bỏ) Sau đó huyện Đông Ngàn bị cắt 3 tổng Tuân Lệ, Xuân Canh, Cổ Loa nhập vào huyện Đông Anh, tỉnh Vĩnh Phúc

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân tiến hành các cuộc cải cách hành chính, điều chỉnh địa giới ở một số địa phương, xóa bỏ cấp phủ trung gian giữa tỉnh và huyện Từ Sơn lúc này gọi là huyện Đông Ngàn Năm 1925 lại đổi thành phủ Từ Sơn Phủ Từ Sơn thời kỳ này chỉ còn lại 10 tổng là Dục

Tú, Hạ Dương, Hà Lỗ, Hội Phụ, Mẫn Xá, Nghĩa Lập, Phù Chẩn, Phù Lưu, Tam Sơn, Yên Thường, và chỉ quản lý một huyện Từ Sơn

Sau Cách mạng tháng 8-1945, các đơn vị hành chính dưới tỉnh có huyện,

xã, bãi bỏ phủ Thi hành quyết định của chính phủ ngày 8-6-1961, Ủy ban hành chính tỉnh Bắc Ninh đã bàn giao cho Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội các xó thuục huyện Từ Sơn được cắt về ngoại thành Hà Nội, về huyện Đông Anh là cỏc xó Liờn Hà,Võn Hà, Mai Lâm, Đông Hội, Dục Tú.; về huyện Gia Lâm là cỏc xó Đỡnh Xuyờn, Ninh Hiệp, Tiền Phong, thị trấn Yờn Viờn, Dương Hà

Đến ngày 14-3-1963, hội đồng chính phủ ra quyết định số 25/QĐ sáp nhập 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn thành huyện Tiên Sơn, đồng thời 2 xó Đụng Thọ và Văn Môn được chuyển sang huyện Yên Phong, 2 xã Tương Giang và Phỳ Lõm của huyện Yên Phong được chuyển về huyện Tiên Sơn

Năm 1999, huyện Tiên Sơn Được tách ra thành 2 huyện : Từ Sơn và Tiên Du

Trang 14

Huyện Từ Sơn hiện nay có 10 xã và 1 thị trấn: Đồng Nguyên, Tân Hồng,

Đình Bảng, Phù Chẩn, Tam Sơn, Đồng Quang, Chõu Khê, Phự Khê, Hương Mạc, Tương Giang và thị xã Từ Sơn.

Về điều kiện tự nhiên:

Huyện Từ Sơn có diện tích tự nhiên 61,4 km2; dân số là 116.368 người (số liệu tháng 10 năm 2003)

Từ Sơn là một vùng đất cổ, nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, địa hình bằng phẳng, có dòng sông Ngũ Huyện Khê chảy qua vùng phía Tây và Bắc huyện Dòng sông này có lưu lượng nước vừa phải, rộng khoảng 100-150m cung cấp nước cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở cỏc xã trong huyện Không chỉ mang lại phù sa, nước ngọt, con sông này cũn hũa với hệ thống sông Cầu (Bắc Ninh), sông Thương, sông Lục Nam (Bắc Giang) trở thành ba trục giao thông nối liền vùng rừng núi phía Bắc với miền Đông Bắc

và ven biển Từ Sơn từ ngàn xưa đã trở thành nơi mở ra những luồng giao lưu kinh tế - văn hóa vô cùng quan trọng

Từ Sơn còn có những ngọn núi nhỏ như nỳi Tiờu, nỳi Tam Sơn Thời xa xưa, nơi đõy cũn phủ xanh rừng nhiệt đới với nhiều cây cối rậm rạp Rừng còn đầy dã thú với chim muông Những dấu ấn còn để lại chính là tên đất, tên làng, như: Rừng Bỏng (Đỡnh Bảng), Rừng Sặt (Trang Liệt), …và gần đó là

Du Lâm, Gia Lõm…trước kia, phủ Từ Sơn còn có huyện Đông Ngàn…

Địa hình đồng bằng xen lẫn núi thấp, rừng rậm và sông ngòi đã tạo nên cảnh quan tự nhiên hữu tình của vùng đất Từ Sơn, lại là nơi chuyển tiếp giữa hai vùng văn hóa Thăng Long – Bắc Ninh, đây chính là nơi địa linh nhân kiệt

1.1.2 Đặc điểm kinh tế của huyện:

Với nhưng ưu thế về điều kiện tự nhiên, Từ Sơn đó cú một nền nông nghiệp tương đối phát triển Nhiều sản vật của Từ Sơn rất nổi tiếng như Hoài báng ở Đình Bảng (đây là loại thuốc quý trồng ở rừng Báng, thường dùng để

Trang 15

tiến vua) Các giống lúa ở đây phong phú, đa dạng, chất lượng tốt như: nếp cái hoa vàng, tám thơm.

Với quan niệm “thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viờn” nghề nuôi cá trong ao hồ phát triển Tân Hồng là xó cú nghề nuôi cá phát triển nhất huyện

Công việc của nhà nông thường bận rộn vào những ngày mùa Tận dụng thời gian nông nhàn, người nông dân đã phát huy tính cần cù, khộo kộo

và sáng tạo của mình để làm ra những sản phẩm thủ công phong phú và đa dạng

Sách Bắc Ninh phong thổ tạp ký chép về một số kỹ nghệ dân gian ở vựng

Đụng Ngàn – Từ Sơn, thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 như sau: - Nghề nấu rượu có ở cỏc xó Xỏ, Yờn Thường, Quan Đình, Dương Lụi, Võn Điềm, Hà Lỗ, Kim Bảng

- Nghề thợ mộc: chạm khắc gỗ, chế tác đồ thủ công mỹ nghệ nổi tiếng

ở cỏc xó Phự Khờ, Hương Mạc, Đồng Kỵ

- Nghề thợ sơn , sơn mài, nhuộm vải có nhiều ở Đình Bảng, Tân Hồng

- Nghề đồng đỏ, dệt vải trắng có ở Xuân Trạch, Phù Ninh, Trang Liệt, Tam Sơn

- Làng Đa Hội xó Chõu Khờ chuyờn làm nghề rèn sắt cung cấp công cụ lao động và sinh hoạt cho cả vùng Ở Đa Hội hiện nay vẫn có đền thờ Quận công Trần Đức Huệ, người được coi là ông tổ của nghề rèn sắt

Nhân dân Từ Sơn đã tận dụng vị trí thuận lợi, nằm ở cửa ngõ thủ đô, lại

cú cỏc con đường giao thông quan trọng chạy qua để phát triển buôn bán Phù Lưu là một làng buôn bán nổi tiếng của nước ta Hệ thống chợ ở Từ Sơn cũng rất phát triển Chợ thường họp ở những nơi trung tâm của một làng hay một vùng Gần như mỗi làng đều có một cái chợ Chợ vùng thường họp theo phiên Vào phiên chợ thì hàng hóa rất phong phú, đa dạng, người mua, người

Trang 16

bán đông đúc Trong hệ thống chợ ở Từ Sơn xưa, nổi tiếng là chợ Giàu, chợ Đồng Kỵ, Chợ Đình Bảng, Chợ Me, Chợ Ống, Chợ Chùa Tam Sơn, …

1.1.3 Đặc điểm con người Từ Sơn:

Cư dân sinh sống trên đất Từ Sơn ở đây đều là người Kinh, sống tập trung thành những làng lớn nằm kề nhau Họ sống bằng nhiều nghề nhưng chủ yếu là làm Nông nghiệp nên bản tính rất chất phác, cần kiệm

Như phần trên đã nói đến, đây là vùng đất cổ, vốn gần với trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu, gần kinh đô Cổ Loa của An Dương Vương, Ngô Quyền khi xưa; là nơi phát tích của hoàng tộc nhà Lý, lại sát gần với Thăng Long, Hà Nội sau này, nên Từ Sơn cùng Bắc Ninh đã trải qua nhiều phen biến đổi, thăng trầm cùng lich sử - văn hóa dân tộc Có thể nói nơi đây, hơn bất cứ nơi nào trên đất Việt, trong suốt hai nghìn năm đã diễn ra sôi nổi quá trình giải thể và đan xen, giao lưu, tiếp xúc và biến đổi văn hóa Việt cổ -Hoa cổ- Ấn cổ…và nhiều yếu tố văn hóa ngoại lai khác

Như vậy, từ cốt lõi văn hóa Đông Sơn Việt cổ, hội nhập thêm văn hóa Phật giáo của Ấn Độ, Nho giáo của Trung Hoa và sau này là văn hóa phương Tõy…con người Từ Sơn , Bắc Ninh đã được rèn dũa , hình thành nờn nột tính

cách riêng của mình: rất “ phong nhã và thượng vừ” [17,11]

Con người Từ Sơn, Bắc Ninh là rất chuộng văn học và có truyền thống khoa bảng Thời phong kiến, Từ Sơn cú các trạng nguyên: Nguyễn Quán Quang, Ngô Miễn Thiệu (ở Tam Sơn), Nguyễn Giản Thanh (ở Hương Mạc ), Nguyễn Xuõn Chớnh (ở Phù Chẩn); các tiến sĩ như: Nguyễn Doãn Tu, Đàm Thận Huy, Đỗ Đại Uyên, Đàm Thận Giản, Nguyễn Doãn Thăng, Nguyễn Thì Hanh, Nguyễn Nhõn Chiờu, Đàm Đình Cư, Trần Ngạn Húc, Vũ Dự, Trần Phi Nhãn, Nguyễn Chu Thắng, Nguyễn Hòa, Nguyễn Thực, Đàm Công Hiệu, Nguyễn Quốc Tĩnh, Nguyễn Kính Tu, Quách Đồng Dần, Quách Đồng Đức…

Trang 17

Văn Miếu Bắc Ninh là di tích có giá trị tiêu biểu nhất phản ánh truyền thống hiếu học và khoa cử vẻ vang của vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc Công trình này được xây dựng từ thời Lê, là nơi lưu danh của hơn 600 vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa ,… trong tổng số 3000 vị đại khoa của cả nước.

Câu nói truyền miệng của người Bắc Ninh : “Một giỏ ông Đồ, một bồ ông

Cống, một đống ụng Nghố, một bè Tiến sỹ, một bị Trạng nguyên, một thuyền

Từ Sơn là vùng đất của những truyền thuyết, nhưng chiến tích anh hùng

Vì thế mà ngày nay trên quê hương này dày đặc các di tích lịch sử, văn hóa từ thời Hùng Vương, thời Bắc thuộc, các vương triều Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn cho đến các di tích cách mạng kháng chiến…

Ở thời Hùng Vương giặc Xích Tỷ nhà Ân đã xang xâm lược nước ta, Thiên Cương là vị tướng làng Đồng Kỵ đã đánh tan quân giặc vào ngày 4 tháng giêng âm lịch Dân ở đây đã tôn ông làm thành hoàng làng và hàng năm

tổ chức lễ đốt pháo diễn lại chiến công lẫy lừng đó.Sau này, Thỏnh Gióng đánh giặc Ân, làng Phù Chẩn là nơi mà ngựa Gióng đã đi qua và phun lửa cháy cả lũy tre, còn làng Thọ Trai có vết chân của ngựa Gióng để lại biến thành những ao hồ

Khi Triệu Đà thôn tính nước Việt, Tây Vu vương (là thủ lĩnh đất Tõy Vu-vựng Từ Sơn) đã lãnh đạo nhân dân chống lại Triệu Đà

Vào Thời Bắc thuộc, sự cai trị tàn bạo của nhà Hỏn đó làm dấy lên các phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà

Trang 18

hàng ngũ tướng sĩ của Hai Bà có nhiều bậc anh hùng hiện nay vẫn được nhân dân Từ Sơn tôn thờ ở các đình miếu: ở Đồng Nguyờn cú đền thờ Diệu Tiên Pháp Hải; ở Đình Bảng có đền thờ Chiêu Nương; ở Tương Giang có đền thờ Tam Quảng…

Thời nhà Lý, có Lý Đạo Thành người Đình Bảng đó gúp cụng lớn vào việc giữ yên chính sự Năm 1074, ông giữ chức Thái phó Bình Chương Quân quốc trọng sự, cựng nguyờn phi Ỷ Lan và Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống giành thắng lợi

Ở Đình Bảng cũn cú Chõu Nương vợ của Đốc bộ Hoan Châu Trần Thái Bảo nàng đó cựng chồng bảo vệ Hoan Châu, được triều đình giao cho giữ kho tàng ở Thăng Long Kháng chiến chống Mụng -Nguyờn lần thứ 3, chồng nàng

hy sinh, Châu Nương đã thay chồng lo cất giấu binh lương, nhưng không may

bị giặc bắt nên việc không thành

Ngụ Sỏch Tuõn là người làng Tam Sơn, đỗ tiến sĩ năm 1664 là một tướng chỉ huy tài giỏi đã lập nhiều chiến công chống quân xâm lược nhà Thanh ở vựng biờn giới

Sang thế kỉ thứ XIX, nhà Nguyễn được thiết lập Năm 1824 dân trong

phủ Từ Sơn đã hưởng ứng phong trào Bạch xỉ chân nhân do Nguyễn Đình

Khuyến phát động nhằm chống lại triều đình Phong trào đã bị nhà Nguyễn đàn áp

Trong cuộc khởi nghĩa Cai Vàng nổ ra ở Yên Thế, phủ Từ Sơn cũng thuộc vùng kiểm soát của nghĩa quân, có nhiều người con Từ Sơn cũng tham gia rất tích cực

Các cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Quận Tường (1866-1874) Đại Trận (1870-1875) cũng tràn xuống huyện Đông Ngàn (Từ Sơn) và giành nhiều thắng lợi

Trang 19

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, năm 1873 một sĩ phu yêu nước tên Hoàng Văn Hũe đó lãnh đạo nhân dân Đông Ngàn phối hợp với quân triều đình vũ trang đỏnh Phỏp Năm 1884, khởi nghĩa Yên Thế nổ ra, nhân dân Từ Sơn tham gia sôi nổi Có gia đình có cả 2 anh em cùng tham gia như 2 anh em Hai Cao và Hai Cán ở Phự Khờ Nhiều người ở Từ Sơn đã trở thành những thủ lĩnh của phong trào như: Khán Dị, Nguyễn Hữu Cầu Phự Khờ, Đỡnh Bảng còn là những cơ sở tin cậy của nghĩa quân Đề Thỏm…

Các chí sĩ yêu nước ở Từ Sơn cũng tham gia tích cực vào các phong trào yêu nước khác như phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Đó là các cụ Ngô Gia

Du ở Tam Sơn, Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Văn Duyên, Ba Đồ ở Phự Khờ Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc của các thế hệ ông cha trong lịch sử vô cùng vẻ vang còn được nhân dân Từ Sơn phát huy trong sự nghiệp đánh đuổi thực dân xâm lược Pháp, Mỹ với các

tên tuổi như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ…

Từ Sơn tự hào là quê hương của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, tổng bí thư của Đảng những năm 1938-1940 Hiện nay ở Phự Khê, Từ Sơn có khu nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Văn Cừ Ngoài ra, Tam Sơn còn là quê hương của đồng chí Ngô Gia Tự, một trong những Đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam Tỉnh ủy Hà Bắc đã cho xây dựng khu nhà lưu niệm đồng chí Ngô Gia

Tự Ngôi nhà này không chỉ là nơi sinh ra và lớn lên của đồng chí Ngô Gia

Tự mà còn là một cơ sở cách mạng-nơi diễn ra cuộc họp của kì bộ Việt Nam cách mạng thanh niên Bắc Kì Ngay trước cổng của ngôi nhà vẫn còn câu đối

do Ngô Gia Tự viết:

Cổng độc lập tha hồ khép mở Nhà tự do mặc sức ra vào

Trang 20

Đôi câu đối đã thể hiện ý chí, hoài bão đấu tranh về độc lập tự do và tinh thần cách mạng của đồng chí Ngô Gia Tự.

Trong thời kì Đảng ta còn hoạt động bí mật, Từ Sơn cũng là một cơ sở cách mạng quan trọng của trung ương Chùa làng Đồng Kị là một di tích lịch sử-cỏch mạng tiêu biểu Đây là cơ sở của Ban thường vụ Trung ương đảng, là nơi đồng chí Trường Chinh đã hoạt động trong những năm 1940-1945 Hội nghị ban chấp hành Trung ương đảng lần thứ bảy đã được tổ chức tại nhà cụ Nguyễn Tiến Tuân Ngôi nhà này đã được nhà nước công nhận là di tích lịch

Dấu vết của thời kì Bắc thuộc vẫn còn được tìm thấy ở khu vực Đình Bảng, Dương Lôi trong những ngôi mộ Hán xây bằng gạch nung, mộ hình vòm, bên trong có nhiều đồ tựy tỏng

Ngoài các di tích khảo cổ, huyện Từ Sơn còn có nhiều di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận Đó là Đền Đô, một trong những di tích rất nổi tiếng ở Từ Sơn, nằm trong quần thể các di tích liên quan đến vương triều Lý Đền Đụ cũn được gọi là Đền Lý Bát Đế hay Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua nhà Lý Ở Đình Bảng, cũn cú một ngụi đỡnh nổi tiếng khắp xứ Bắc đã được nhân dân truyền tụng trong câu ca dao:

“Thứ nhất là đỡnh Đụng Khang Thứ nhỡ đỡnh Bỏng vẻ vang đình Diềm”

Trang 21

Đó là đỡnh Bỏng hay còn gọi là đỡnh Đỡnh Bảng Đây là công trình kiến trúc nghệ thuật mang tính dân tộc rất đặc sắc Công trình này khởi công năm 1700 và hoàn thành năm 1736, tức năm Vĩnh Hựu thứ 2 triều Lê Trung Hưng

Truyền thống văn hóa

Huyện Từ Sơn được hình thành từ rất sớm, nhân dân sống tập trung thành từng làng, xung quanh làng là nhưng lũy tre bao bọc Mỗi làng đều có cây đa, giếng nước, mỏi đỡnh Nơi đõy cũn lưu lại câu chuyện tình của Mỵ Nương – Trương Chi mang đậm màu sắc trữ tình Mỗi cho tiết trong truyện đều gắn với một địa danh trên đất Từ Sơn Sụng Tiờu Tương là nơi chàng Trương Chi chốo đũ ngân vang tiếng hát làm nàng Mỵ Nương say đắm mê hồn Ngọn núi Tiêu được nhân dân cho là nơi mất của Trương Chi, còn làng Tam Sơn - một trong những làng có truyền thống khoa bảng vào bậc nhất trên đất Bắc Ninh thì được coi là nhà của quan Thừa tướng cha của Mỵ Nương Về truyền thuyết Thỏnh Giúng, dân làng Phù Chẩn kể rằng: khi Thỏnh Giúng cưỡi ngựa đánh giặc, ngựa sắt đã phun lửa làm cháy cả một vùng, vì thế làng đó ngày nay vẫn được gọi là làng Cháy (Rích Gạo) Người dân làng Thọ Trai (Giai) thì vẫn tin rằng ngựa sắt của Thỏnh Giúng đã đi qua làng họ và dấu chân ngựa sắt đã tạo thành những ao hồ tồn tại đến tận ngày nay

Từ Sơn còn là vùng đất có nhiều lễ hội Bắt đầu từ ngày mồng 4 tháng giêng âm lịch là hội Đồng Kỵ, kết thúc vào ngày 16-3 âm lịch là hội đền Lý Bát Đế Hội Đền Đô ngày 16-3 âm lịch hàng năm thường chọn thanh niên đóng giả nam tướng và nữ tướng để rước thánh mẫu và Bát Đế từ Đền Đô đến chùa Cổ Pháp rồi lại rước từ chùa về đền Hội làng Đồng Kỵ ngày 4-1 gắn với

sự tích về tướng Thiên Cương thời Hùng Vương Cứ vào ngày mồng 4 tháng giêng từ giờ Mùi đến giờ Dậu dân làng đốt pháo để mừng chiến công của

Trang 22

Đồng Kỵ rất đặc biệt, là loại pháo được giao cho cỏc giỏp tự làm, đường kính lớn khoảng 1m, dài 10-15m, pháo được trang trí rất đẹp rồi rước ra đình để dự thi Mỗi tiếng pháo nổ vang trời lại gợi lên niềm tự hào về truyền thống hào hùng của người anh hùng dân tộc, vị Thành Hoàng làng.

Phần hội là phần thu hút được nhiều người tham gia và tạo nên tính hấp dẫn của lễ hội.Cú thể đó là một hội thi để thể hiện tài nghệ, khéo léo của người chơi như thi đấu vật, cờ người ở làng Đồng Kỵ, Đình Bảng, thi đọc mục lục, thi cỗ ở Phự Khờ, thi làm bánh dày ở Đồng Kỵ Hội cũng có thể chỉ

là những trò chơi dân gian đơn giản như đánh đu, tranh cõy ụm cột… Hội diễn ra cả ngày và đờm, cú nơi chỉ kéo dài 1 ngày, có nơi kéo dài tới 4-5 ngày Đối với người dân, lễ hội là dịp vui chơi giải trí, thoát ra khỏi sự nhọc nhằn vất vả sau những ngày lặn lội với ruộng đồng, là nơi để mọi người gặp

gỡ nhau Lễ hội còn là dịp để con cháu đi xa trở về sum họp nơi quê cha đất

tổ Lễ hội luôn luôn là một nét đẹp truyền thống của mỗi làng quê và dù thế nào thì hằng năm nó vẫn được diễn ra vì đối với mỗi người dân đó là một hoạt động văn hóa tinh thần không thể thiếu

Văn nghệ dân gian thường được biểu diễn trong các lễ hội và ngay trong cuộc sống đời thường Các loại hình văn nghệ dân gian rất phong phú,

đa dạng như tuồng, chèo, quan họ, múa rối, ả đào

Nghệ thuật múa thường chỉ có trong các lễ hội và gắn với cỏc mụn nghệ thuật truyền thống khác như hát ả đào, chèo, tuồng Ở Từ Sơn nổi tiếng nhất là điệu múa bài bông trong hát ả đào Ở Đồng Kỵ, khi diễn lại cảnh đánh giặc của thỏnh Thiờn Cương, cú ụng đỏm được công kênh ra giữa sân đình rồi cùng với quân sĩ múa và hò reo Rối nước là loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc ta Ở Từ Sơn hiện nay loại hình nghệ thuật này không phát triển nhưng có một thời nơi đõy đó từng tồn tại nhà rối nước cố định, trong đó đẹp nhất là ở Tam Sơn

Trang 23

Hát ả đào xuất phát từ cung đình, chủ yếu phục vụ cho tầng lớp trên, những người có chức sắc và những người giàu có Làng Lỗ Khê của Từ Sơn trước kia vốn rất nổi tiếng về môn nghệ thuật này.

Quan họ là đặc trưng riêng biệt, tạo nên bản sắc văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc Trong các lễ hội, một hình ảnh đã trở thành biểu trưng của văn hóa quan họ đó là hình ảnh các liền anh, liền chị mặc áo mớ ba mớ bảy, đội nón quai thao, tóc vấn đuôi gà, cạnh các liền anh áo the khăn xếp tay cầm ô đen đứng duyên dáng và hát đối đáp với nhau

Văn hóa ẩm thực, nổi tiếng cú bỏnh phu thê Đình Bảng, nem chua Phù Lưu, bánh dày Yờn Dó, giò chả Phù Lưu Canh cua và riêu cua phải nấu bằng cua bắt ở đồng Cháy mới ngon Riêu ốc hoặc ốc nấu chuôi xanh, thịt ba chỉ, đậu rỏn thỏi con chì mà dùng ốc nhồi ở ao hồ, đồng ruộng của làng Hiệp Phù thỡ khụng chờ vào đâu được

1.1.4 Một số dòng họ lớn trên đất Từ Sơn :

Dòng họ Nguyễn Xuân: ở Phù Chẩn, Từ Sơn , Bắc Ninh :

Dòng họ Nguyễn Xuân bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ XIV Theo bản tộc phả cổ còn lưu ở từ đường xó Phù Chẩn thì cụ Cao tổ đời đầu của dòng họ sống vào khoảng năm 1370, đời vua Trần Nghệ Tông , tại xó Phự Chẩn, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay là xó Phự Chẩn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ) Tính đến thời điểm năm 2009, dòng họ đó cú đến đời thứ 22 và chia thành 18 chi nhánh , tập trung ở Bắc Ninh , Bắc Giang, Thỏi Nguyờn.Đây cũng là một dòng họ có truyền thống khoa cử Gia phả ghi lại : đời thứ 4, thứ 5, 6, 8, 9,10 đều có người đỗ đạt và làm quan trong triều Sau này ỏ thời hiện đại cũng có nhiều người có danh vọng (Thứ trưởng Bộ Giaú dục Nguyễn Văn Vọng là người thuộc họ Nguyễn Xuân –đời thứ 19 )

Tiêu biểu cho dòng họ thời phong kiến là Trạng nguyên Nguyễn Xuõn

Trang 24

Năm 16 tuổi Nguyễn Xuõn Chớnh thi đỗ Giải Nguyên thời vua Lê Năm

37 tuổi ông thi đỗ khoa Hoành Từ, được bổ làm Huấn đạo phủ Nghĩa Hưng Sau đó ông từ quan về nhà dạy học, tiếp tục dùi mài kinh sử để thi đỗ đại khoa Đến khoa thi Đinh Sửu thời Lê trung hưng (1637), Nguyễn Xuõn Chớnh thi đậu Trạng Nguyên Lúc này ụng đó 50 tuổi

Trạng nguyên Nguyễn Xuõn Chớnh là người văn võ song toàn, có tài hùng biện Ông nhiều lần được cử giao tiếp với sứ thần Trung Hoa Ông làm quan đến chức Hàn lâm Thị thực, Lễ bộ Hữu thị lang , Binh bộ Tả thị lang, Công bộ Thượng thư, tước Thọ Ngạn hầu

Dòng họ Nguyễn ở Phự Khờ, Từ Sơn , Bắc Ninh :

Dòng họ này vốn là hậu duệ của Nguyễn Trãi, đến Phự Khờ sau khi xảy ra

vụ án Lệ chi viên năm Nhâm Tuất (1442), đã được Câu lạc bộ UNESCO

thông tin các dòng họ Việt Nam xác minh và chứng nhận

Cụ Hồng Quỳ là con thứ 3 của Đại Hành khiển Nguyễn Trói, đó về đây lánh nạn và trở thành cụ tổ đời thứ nhất của chi họ Nguyễn ở Phự Khờ, tính đến nay đã trải qua 22 đời Mặc dù mắc phải cái họa sát tộc, nhưng sau này con cháu dòng họ Nguyễn vẫn phát huy được truyền thống của gia tộc, trở thành một dòng họ danh gia vọng tộc ở Phự Khờ Bằng chứng là dòng họ đã

có rất nhiều người đỗ đạt, như: Nguyễn Quỳnh Cư, tự Châu Đàm , đã đỗ Tiến

Sĩ, khai khoa cho truyền thống khoa cử ở Phự Khờ Đời thứ 6 dòng họ Nguyễn có 2 Tiến sĩ là Nguyễn Trọng Đột và Nguyễn Hồ Ngoài ra cũn cú những gương mặt xuất sắc như: Nguyễn Duy Đàm là khai quốc công thần triều Nguyễn của vua Gia Long, Nguyễn Trọng Hợp làm quan đến chức Đụng Cỏc Đại học sĩ, Hàn lâm viện Thị giảng (dạy vua Tự Đức học); Nguyễn Trọng Lâm từng làm Giám sát Ngự sử…

Nguyễn Văn Cừ, người con đời thứ 19 của dòng họ là Tổng bí thư của Đảng ta ở thời kì 1938-1940

Trang 25

Ngày nay, dòng họ Nguyễn cũng có tới 10 tiến sỹ, giáo sư Ví như: Giáo

sư -Tiến sĩ sử học Nguyễn Lương Bích; Giáo sư -Tiến sĩ y học nguyên tử Nguyễn Xuõn Phỏch; Tiến sĩ - Kỹ sư Thủy điện Nguyễn Sáng số lượng những kỹ sư, cử nhân đại học lên tới con số 100 Nhà thờ của dòng họ Nguyễn cũng đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử- văn hóa

Dòng họ Nguyễn ở Phự Khờ là một dòng họ lớn, có bề dày truyền thống, xứng đáng là hậu duệ của Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi

Dòng họ Nguyễn Giản (Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh ):

Tính từ đời cụ di tổ đến nay, dòng họ Nguyễn Giản đã trải qua 25 đời Đây cũng là một dòng họ có danh tiếng về khoa cử ở Hương Mạc xứ Kinh Bắc theo gia phả thì cụ Di tổ họ Nguyễn Giản sống vào đầu thế kỉ XIV Cụ vốn là người xã Hương Mạc, huyện Đông Ngàn, đã từng có thời gian sống ở xã Mục Sơn, huyện Yờn Thế, tỉnh Bắc Giang Sau đó, cụ lại trở về Ông Mặc (Hương Mạc ), rồi sinh ra con cháu hình thành nên dòng họ Nguyễn Giản ngày nay.Dòng họ có nhiều người học giỏi, đỗ đạt cao Tớnh riờng trong thời kì phong kiến, dòng họ Nguyễn Giản có 4 vị đỗ đại khoa, 7 vị đỗ Cử nhân Trong đó cú cỏc nhân vật tiêu biểu sau:

Nguyễn Giản Liêm (1453-1486) : đời thứ 4, năm 26 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất, niên hiều Hồng Đức thứ

9 (1478).ễng làm quan đến chức Cẩn sự tá lang, Tri huyện huyện Yên Thế, được phong tặng tước Thái bảo

Nguyễn Giản Thanh : sinh năm 1482, là con Nguyễn Giản Liờm, là học trò Đàm Thận Huy Năm Mậu Thìn thời Lê (1508), Nguyễn Giản Thanh dự thi Đình, được đỗ Trạng nguyên Ông làm quan đến chức Đụng cỏc Đại học

sĩ Thời Mạc, ông từng đi sứ phương Bắc, thăng chức Thượng thư bộ Lễ, Chưởng hàn lâm viện sự, tước Trung phụ bá, sau khi mất được phong tước

Trang 26

thoại về tài ứng đối của ông Trước tác để lại cũn có Thương Côn Châu ngọc

tập và bài phú nổi tiếng: Phượng thành xuân sắc phú.

1.1.5 Các chi họ Đàm Thận trên cả nước

Hiện nay ở trên đất nước ta có nhiều họ Đàm Riêng ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh có tới 7 họ Đàm khác nhau, không đi lại , lễ giỗ với nhau và còn thông gia với nhau Đó là:

Ở thôn Mai Động có 3 họ Đàm: Đàm Thuận, Đàm Thế, Đàm Văn

Ở thôn Kim Bảng cũng có 3 họ Đàm: Đàm Viết, Đàm Đức, Đàm Công Căn cứ vào những tài liệu gia phả và sử sách ghi lại thì dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh là một dòng họ lớn và lâu đời trên đất nước Việt Nam Dòng họ này đó cú tới hơn 500 năm lịch sử (từ thế kỷ XV đến nay) Đây là một dòng họ danh gia vọng tộc, có truyền thống khoa bảng

và đặc biệt xây dựng được ý thức đoàn kết, cùng nhau gìn giữ nền nếp gia phong của gia tộc

Hiện nay chưa có con số cụ thể về các chi họ Đàm Thận trên cả nước Lý

do là trong suốt quá trình dòng họ tồn tại và phát triển, dòng họ Đàm còn có nhiều người đỗ đạt, được bổ đi làm quan nhậm chức nơi xa như : Điện Bàn, Quảng Nam, Đà Nẵng; Thỏi Nguyờn; Lạng Giang; Thọ Xương, Hà Nội; Cao Bằng; Sơn Tây; Hà Nam; … (Xem phần trình bày về lich sử dòng họ ) có người đã lấy vợ và ở lại nơi làm viờc, lại có người thấy làm ăn ở quê khó

Trang 27

khăn nên đã đi lập nghiệp nơi khác… mà hình thành nờn cỏc chi họ mới Nhưng đất nước ta, trải qua hơn 500 năm ấy có rất nhiều cuộc binh biến, giặc

dã rồi ly tán, hỏa họan, loạn lạc, gia phả của các chi khó lòng giữ vẹn Ngay

cả cuốn gia phả của họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn cũng đã qua 3 lần biên chép lại Vì thế, việc đối chiếu gia phả, thế thứ để nhận tổ tông gặp nhiều khó khăn Đây cũng là tình hình chung của nhiều dòng họ trên đất nước ta Vậy, lấy việc khớp được tộc phả và thế thứ gia tộc làm bằng chứng thì dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn tính đến năm 2009 cú cỏc chi nhánh sau:

1 Họ Đàm ở Thiết Úng, Vân Hà , Đông Anh, Hà Nội

2 Họ Đàm ở La Khờ-Quảng Ninh (lấy tên đệm là Đàm Quang)

3 Họ Đàm ở Linh Đông, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

4 Họ Đàm ở Sa Kệ, Tỳc Duyên, Đồng Hỷ, Thỏi Nguyờn

5 Họ Đàm ở Hào Khê, Dư Hàng Kênh, An Hải, Hải Phòng

6 Họ Đàm ở Ngọc Lâm,Yờn Lõm, Yờn Mụ, Ninh Bình

7 Họ Đàm ở Nghĩa Thái, Nghĩa Hưng, Nam Trực, Nam Định

8 Họ Đàm ở Thụy Phong, Thái Thụy, Thái Bình

9 Họ Đàm ở Thuần Hưng, Khoỏi Chõu, Hưng Yên

10 Họ Đàm ở Tân Minh, Sóc Sơn, Hà Nội

11 Họ Đàm ở Quảng Nam-Đà Nẵng

Nhánh họ này đông và sinh sống ở các địa phương: Mỹ Khê, Cổ Lưu, Xuõn Đỏn, Hà Quảng, Điện Bàn Họ đã thành lập ra ban đại diện Đàm tộc liên tỉnh Miền Trung, hiện nay do ông trưởng ban là Đàm Văn Keo đứng đầu.Một số chi nhánh nữa thất lạc chưa tìm thấy con cháu là chi Đàm Thái, Đàm Giai… Ngoài ra cũn cú những người họ Đàm ở nơi khác vẫn theo giỗ tết nhưng chưa khớp được tộc phả, như:

Trang 28

1 Họ Đàm ở Phỳc Lõm, Ứng Hòa, Hà Tây

2 Họ Đàm ở An Trai, Vân Canh, Hoài Đức, Hà Tây

3 Họ Đàm ở Nghĩa Đô, Hà Nội

4 Họ Đàm Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Nội

5 Họ Đàm ở Cổ Loan, Ninh Tiến, Hoa Lư, Ninh Bình

6 Họ Đàm ở Cổ Nông, Bình Minh, Nam Ninh, Nam Hà

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc , Từ Sơn từ thế kỷ XV đến nay:

1.2.1 Làng Me - thôn Hương Mạc, quê hương dòng họ Đàm Thận :

Từ thủ đô Hà Nội đi qua cầu Chương Dương, theo con đường Quốc lộ 1A,

vượt qua khoảng 10km, khách sẽ đến thị xã Từ Sơn Từ trung tâm thị xã, rẽ trái,

đi qua trường Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn, khách sẽ thấy một khu công nghiệp hiện đại của trên đất Từ Sơn Đó là khu công nghiệp Hanaka, chuyên sản xuất thiết bị điện Đi thêm một đoạn đường ngắn nữa khách sẽ phải ngỡ ngàng trước một khu phố đồ sộ ngự ngay nơi đầu làng Đồng Kỵ Khu phố này dài chừng 500m , gồm toàn bộ những tòa nhà ba tầng kiến trúc cầu kỳ, rộng rãi Cả khu phố là những gian hàng trưng bày duy nhất một loại hình sản phẩm: đồ gỗ thủ công mỹ nghệ , nào là bàn ghế, giường sập, đồng hồ , câu đối, tượng gỗ, tượng Phật,… Đây là bộ mặt của ngôi làng nghề nổi tiếng với hàng chục tỉ phú trẻ măng Đi qua làng Đồng Kỵ ồn ào, vang lộng tiếng đục đẽo gỗ là khách tới làng Phự Khờ, cũng ngổn ngang gỗ lạt Khách đi qua cánh đồng rộng rãi sẽ thấy một con đường nhỏ rẽ phải là đã đến Hương Mạc, làng Me

Ấn tượng đầu tiên của khách có thể là quang cảnh thanh bình, yên tĩnh của làng quê thuần hậu Nhưng nếu là người nghiên cứu về lịch sử, khách sẽ nhận thấy ngay đây là một vùng đất cổ, có bề dày văn hóa và còn lưu giữ được nhiều di sản của cha ông xưa Bằng chứng chính là số lượng những ngôi

Trang 29

mộ cổ, mộ tổ nằm trong những khu nghĩa địa trên cánh đồng Dạo một vòng quanh làng Me, chúng ta thấy ngạc nhiên vì trong làng còn lưu giữ rất nhiều

những nhà thờ họ, không phải một hai mà có tới bảy tám khu nhà thờ còn

nguyên vẻ cổ kính nằm giữa những căn nhà cao tầng đủ kiểu Này là nhà thờ Ngô tộc, kia là khu lưu niệm Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh, đây là nhà thờ họ Nguyễn, rồi đền thờ danh nhân Đàm Công Hiệu , đền thờ danh nhân Đàm Thận Huy,…Rừ ràng đây là một địa phương giàu truyền thống văn hiến Làng Me nguyên trước kia là Cổ Mặc phường, gồm ba làng: Kim Thiều, Hương Mạc và Vĩnh Thọ bây giờ

Đến thời nhà Trần, Cổ Mặc phường đổi thành Chung My phường, bao gồm 12 thôn là:

Thời nhà Lê, Chung My phường đổi thành xã Ông Mặc Đến thời hậu Lê, vua thấy làng to quá mới chia ra làm hai :

- Cỏc thụn Ngụ Tiền, Ngô Trực, Tây Ưng, Bảo Thỏp, Đụng Tiến và Thọ Triền lõp thành làng Ông Mặc (tục gọi là làng Me)

- Cỏc thụn: Võn, Nhiễm, Phú Hậu hợp lại thành làng Hoa Thiều

Cũn cỏc thụn Nựi, Nga, Tập có lẽ do dân đi lưu tỏn nờn đất đã sáp nhập vào cỏc thụn gần đó nên không thấy nói đến nữa

Đến thời Minh Mệnh, nhà Nguyễn mới đổi Ông Mặc thành Hương Mạc, Hoa Thiều thành Kim Thiều

Họ Đàm Thận vốn xưa kia tập trung ở thụn Ngụ Tiền, mãi đến thời hậu Lê mới lấn sang thụn ngụ Trực và Bảo Tháp

Đúng như nhận định của chúng ta khi đến làng Hương Mạc, vùng đất

Trang 30

này vốn có nhiều truyền thống tốt đẹp Ngay tên gọi của làng cũng có thể cho

ta thấy mặt nổi trội về văn hóa của làng: Hương Mạc – trước kia là Hương Mặc, có nghĩa là mực thơm, ngôi làng này có truyền thống thi thư, khoa bảng Trong những tác phẩm để lại của người xưa còn lưu lại những bài văn ca

ngợi đất Ông Mặc là một “vùng đất hào hoa, có nhiều nhân tài hội tụ, tiếng

thơm vang xa khắp miền Quan văn thỡ cú 18 người quang vinh tài giỏi, quan

võ trí dũng mưu cao phò vua giúp nước thì cũng được tới 47 vị Nơi đây , người làm ruộng thì hăng say cày cấy , kẻ buôn bán thì chăm chỉ tảo tần, những người thợ thì chạm rồng trổ phượng muôn phần tinh vi…Nhõn dõn trong làng yêu thương đùm bọc lẫn nhau, luôn biết hướng về tổ tiên Ngày xuân, người trong làng tề tựu đông đủ, làm lễ phụng thờ đức thánh tôn nghiêm, khắp thôn tiếng đàn, tiếng sáo từng chươg hài hòa, mọi người cùng vui dự yến tiệc chúc nhau tốt lành thọ khảo mong thánh thần phù trợ cho hương dân [74,13].

Thực tế là người dân Hương Mạc sống trong một vùng đất lâu đời, hoạt động kinh tế do điều kiện tự nhiên quy định chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, cuộc sống của người dân nơi đây rất khó khăn vỡ luụn phải phụ thuộc vào thời tiết bốn mùa Ở thời phong kiến, thương nghiệp không có điều kiện phát triển, việc buôn bán nơi đõy khụng thuõn lợi.Vỡ thế con đường duy nhất để cải tạo cuộc sống và tiến thân chính là con đường học hành, khoa cử Từ thời

Lê, nhà nước thường xuyên tổ chức những kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình để kén chọn người hiền tài nên con đường khoa hoạn mở rộng cho những người

có chí hướng phấn đấu Từ Sơn lại vốn gần với kinh đô Thăng Long nên việc thi cử, đi lại của các sĩ tử thuận lợi hơn so với cỏc vựng đất khác

Sống trong địa phận của huyện Từ Sơn, với những vị trí địa lý- văn hóa đặc biệt nên con người Hương Mạc cũng có những tính cách và phẩm chất

riêng : rất phong nhã và thượng võ.

Trang 31

Đõy chính là môi trường văn hóa giàu tính nhân văn, và động lực thôi thúc mang sắc thái địa phương để Hương Mạc sản sinh ra những dòng họ lớn

có truyền thống khoa bảng vẻ vang, trong đó dòng họ Đàm Thận là một điển hình xuất sắc

1.2.2 Nguồn gốc dòng họ Đàm Thận :

Nhà có gia phả như nước có quốc sử Ông cha ta từ xưa đến nay rất có ý

thức về cội nguồn Vì thế mà việc tìm hiểu để ghi chép lịch sử tổ tiên và các thế hệ cha ông từ đời nọ sang đời kia để trở thành một cuốn gia phả là việc làm không thể thiếu được

Trong các cuốn gia phả, phần mở đầu thường là ghi gốc tích của dòng họ mình: từ đâu tới, hay từ họ nào chuyển tên; tên tuổi và công tích của ông Tổ, người khai cơ lập nên dòng họ,…Phần nội dung của gia phả thường người ta ghi lại thế thứ các đời, mộ phần, ngày giỗ kỵ… và công tích của cha ông Như vậy, gia phả không phải chỉ ghi lại lịch sử của dòng họ mà hơn thế nữa, còn lưu lại những tấm gương, những bài học trong cuộc sống, trong đường đời để

con cháu noi theo răn mỡnh Lóo Tử cú núi: Xem quyển gia phả ta viết thỡ

lũng hiếu đễ sinh ra ngùn ngụt.

Họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn là một dòng họ rất có ý thức trong việc ghi chép và giữ gìn gia phả Cuốn gia phả đầu tiên do cụ Quốc sư Đàm Công Hiệu, đời thứ 9, biên soạn năm Vĩnh Thịnh triều Lê (1718) Nhưng nhà

cụ bị chỏy nờn cuốn gia phả này không còn Sau đó cụ Đàm Liêm (đốc học Khỏnh Hũa- Thanh Hóa), đời thứ 17 biên soạn lại và bổ sung phần tục biên, ghi rõ tên tuổi, tính tình, công tích, sự nghiệp của các cụ, phân chia các chi đầy đủ Nhưng công việc chưa hoàn thành thì cụ mất Đến đời ông Đàm Duy Huyên, Tuần phủ Hà Nội, năm 1939 có bổ sung và dịch ra chữ Quốc ngữ Ông Đàm Duy Tạo hoàn thành việc dịch vào năm 1953

Trang 32

Về gốc tích chữ họ Đàm:

Theo sự chuyển biến của văn hóa bên Trung Quốc xưa kia thì những chữ đặt tên họ của một dòng dõi nào đều theo nguồn gốc sau này: nguyên từ quãng đầu nhà Tây Chu trở nên chưa có chữ họ nhất định, xem như sử chép, vua Văn Vương nhà Chu tên là Cơ Sương, là con ông Vương Quý, là cháu ông Công Lưu, là chắt ông Cổ Công Đản Phủ, ông Khổng Tử là con ụng Thỳc Lương Ngột Mãi đến thời Xuân Thu Chiến Quốc con cháu các họ suy vi, mới lấy những chữ tên phong ấp, tên quan tước của cha ông thủa trước đặt lên trước chữ tờn mỡnh để kỉ niệm sự vinh quang Thế là dần dần hình thành nên tên họ Bởi thế cho nên tên họ thường trùng với tờn cỏc nước chư hầu Thí dụ: Tào, Ngụ, Nguyờn,… hay chữ tên quan tước thời Thương, Chu như: Tư Mã, Thái Sử,…

Chữ tên họ Đàm cũng theo một nguồn gốc ấy Sử cũ Trung Quốc chép rằng:

“ễng Vi Tử là họ gần vua Trụ nhà Ân, thấy vua trụ tàn bạo biết can không được mới mang các đồ thờ các vua nhà Ân chạy sang ở nhờ nhà Chu Khi vua

Vũ Vương nhà Chu diệt được vua Trụ, mới phong ông Vi Tử làm vua nước Đàm để thờ cúng tổ tiên nhà Ân Khi vua Tề Hoàn Công lấy mất nước Đàm, con cháu ông Vi Tử mới lấy chữ Đàm làm tên họ.”

Nguyên ủy chữ họ Đàm là như thế, còn như họ Đàm Thận có phải thật

là dòng dõi ông Vi Tử mà lưu lạc sang Việt Nam hay không, hay là một dòng dõi nào có nguồn gốc khỏc thỡ việc đã trải qua bao nghìn năm biết lấy đâu bằng chứng mà xét đoán cho chính xác được

Trong lời đề tựa cuốn gia phả bằng chữ Hỏn cũn lưu lại, cụ Đàm Công

Hiệu có viết: “Họ Đàm ta, trước đời đời ở thụn ngụ Tiền, làng Ông Mặc,tổng

Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn , tỉnh Bắc Ninh ” [68b,3]

Trong gia phả cũng ghi rõ rằng: cụ Di tổ dòng họ Đàm Thận sinh sống ở Hương Mạc, Từ Sơn từ quãng cuối thời thời nhà Trần Từ đó đến nay, qua

Trang 33

500 năm, đã phát triển trải qua 21 đời, phần đông con cháu vẫn cư trú tại Hương Mạc, tề tựu quanh ngôi từ đường, đền thờ cụ Đàm Thận Huy, Đàm Công Hiệu.

Cũng qua 500 năm ấy, dòng họ Đàm Thận còn có nhiều con cháu vì nhiều lý do: đi làm quan, lập nghiệp, đi lưu tán ở khắp nơi (Bắc Giang, Thỏi Nguyờn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng, Quang Nam, Đà Nẵng, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Trung Quốc, Mỹ,

…) hình thành nên những chi họ mới nhưng vẫn giữ được truyền thống gia tộc Sau này họ đó tỡm về Hương Mạc để nhận tổ, nhận tông Như ở phần giới thiệu về các chi họ Đàm Thận, chúng tôi đã giới thiệu, tính đến nay , mới chỉ có hơn 10 chi họ đươc nhận chính thức Ngoài ra cũn cú nhiều chi họ chưa khớp được gia phả Điều đáng nói là mỗi chi nhánh ở các địa phương đều có

từ đường riêng, con cháu đoàn kết, có ý thức xây dựng truyền thống riêng của mình và có nhiều người thành đạt Các chi họ Đàm Thận ở miền Trung đã thành lập ra Ban trị sự tộc Đàm liên tỉnh miền Trung, thường xuyên tổ chức đưa con cháu về dự lễ tế Tổ và còn có nhiều đóng góp để sửa sang đền miếu, công đức vào các công việc chung của dòng họ Cỏc nhỏnh họ Đàm ở Thỏi Nguyờn, Quảng Ninh,…cũng vậy

Trang 34

1.2.3 Lịch sử phát triển của dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc :

*Dòng họ Đàm Thận là một dòng họ lớn và lâu đời ở Việt Nam Ngoài các chi nhánh đã tách riêng, dòng họ Đàm Thận ở Hương Mạc, Từ Sơn, Bắc Ninh, tính đến thời điểm hiện tại đã trải qua 22 đời

*Cụ Đàm Liêm khi chép lại gia phả có ghi:

-Cụ Di tổ: là ông tổ để lại phúc đức cho con cháu

-Cụ Khải tổ: là ông tổ bắt đầu làm vẻ vang cho con cháu

-Cụ Thủy tổ: là ông tổ bắt đầu làm nên sự nghiệp to lớn

*Các thành viên trong dòng họ không phải tất cả đều mang họ đệm Đàm Thận Sau này, cụ Đàm Liêm khi soạn lại gia phả, thấy họ đông người, sợ quên lẫn không nhận được thế thứ nờn đó đặt ra bài thơ Bài Hàng như sau:

DUY TRUNG HIẾU TRUYỀN GIATHƯỢNG MIỄN TƯ KẾ THIỆU THIỆN DIỄN CÁT KHÁNH TRƯỜNG

TIấN ĐỨC HỮU QUANG RIỆUTheo cách đặt tên đệm này thì cứ chiếu theo chữ lót là nhận ngay ra vai thứ: từ đời 18 dùng chữ lót là DUY, đời 19 là TRUNG, đời 20 là HIẾU…đời

37 là RIỆU Nhưng cụ Đàm Liêm đã mất khi gia phả chưa viết xong, bài thơ Bài Hàng cũng chưa được phổ biến và bàn bạc kỹ trong họ nên việc thực hiện chưa thống nhất

***

Đời thứ 01:

Cụ Di tổ hiệu Vô Tâm (đây có lẽ là tên thụy, chỉ tính cách của cụ lúc sinh thời) Tờn húy, năm sinh, ngày giỗ, công tích đều thất truyền cả Cụ sống vào cuối đời nhà Trần, cư ngụ tại thụn Ngụ Tiền, làng Ông Mặc, tổng Nghĩa Lập

Cụ bà : hiệu Từ Hạnh , năm sinh, ngày giỗ, công tích đều thất truyền

Trang 35

Mộ 2 cụ hợp tỏng trờn gũ con Thổ, trong 1 thửa ruộng phía Nam thụn Ngụ Tiền (hiện nay vẫn còn - xem ảnh phụ lục) Theo gia phả chép lại thì mộ

này do cụ Tả Ao đặt đất, là nơi phát: tiền phong Hầu, hậu phong Vương, tử

tôn khoa giáp thế thế bất tuyệt.

Các cụ sinh hạ 2 con trai : Trung Khoa, Minh Đạo

Đời thứ 02:có 2 đinh

-Cụ Trung Khoa (đây là tên gọi chỉ học vị, không phải tờn hỳy, hiệu) Theo gia phả, cụ sinh khoảng năm Qỳy Sửu (1433), đỗ Trung khoa đời Trần Con cháu cụ sau này suy vi, đến đời Gia Long vẫn còn 2 ông làm thợ sơn, giữ việc thờ cúng cụ Vô Tâm Sau đó nữa thì lưu lạc đi nơi khác mất, thế là chi này không biết còn hết ra sao

-Cụ Khải tổ Minh Đạo: tờn húy, năm sinh, ngày mất, công tích đều thất truyền.Theo gia phả thì cụ sinh vào khoảng năm Bớnh Thỡn (1436) Cụ được triều Lê tặng Thái Bảo Giáo nghĩa hầu do có con làm quan to

Cụ bà: hiệu bụt Từ Ý, sinh thời cụ phải ở góa nuôi con, tính hiền lành chịu khó Công đức lớn cụ để lại là đã nhờ thầy địa lý Tả Ao xem đất đặt mộ cho bố mẹ chồng và chồng mong phúc đến với con cháu Tương truyền vùng đất được thầy Tả Ao chỉ cho là đất phát về con đường học vấn và hoạn lộ

“Khoa trường hữu song trúng chi cát” Cụ được triều Lê tặng Thái bảo Liệt

phu nhân do có con làm quan to

Trang 36

Năm 28 tuổi cụ đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh tuất niên hiệu Hồng Đức 21 (1490) đời Lờ Thỏnh Tụng Cụ là thành viên của Hội Tao Đàn, từng được cử đi sứ nhà Minh, làm quan đến Tán trị công thần, Lễ bộ thượng thư, Tri chiêu văn quỏn, Tỳ lõm cục kiêm Hàn lâm viện thị độc, Chưởng Hàn lâm viện sự, Thiếu bảo, Nhập thị kinh diên, tước Lõm Xuyờn

bỏ Khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lờ, ụng lui về Bắc Giang mộ binh khởi nghĩa Vì thế yếu không địch nổi nờn đó uống thuốc độc tự tử Sau này nhà

Lê trung hưng đã xếp ông vào hạng Kiệt tiết dực vận Tán trị công thần, phong làm Thượng đẳng phúc thần, Tiết Nghĩa Đại Vương và cho lập đền thờ ở quê ễng Mặc (Hương Mạc Từ Sơn )

Cụ có tên trong Hội Tao đàn của vua Lờ Thỏnh Tụng, cú để lại 12 bài thơ

(chép trong Toàn Việt thi tập- Lê Quý Đôn) và tác phẩm Sớ hoạn châm qui Tương truyền cũn cú tập Mặc Trai thi tập được người đời truyền tụng nhưng

tiếc là nay đã thất truyền

Ngày giỗ: 3/8

Cụ bà: Nghiêm thị, hiệu Từ Thuận, là em gái tiến sĩ Nghiêm Ích Khiêm, người xã Lan Độ , huyện Đông Ngàn Cụ được nhà Lê phong Hoàng Hậu Phi Nhân do có công theo cụ ông chống Mạc

Ngày giỗ: 25/2

Mộ 2 cụ hợp táng ở chõn nỳi Cúc thuộc Thọ Thành, Yên Thế

Hai cụ có 4 người con trai:là Phúc Thiện, Phỳc Chính, Các Trai, Phúc Hanh và 4 con gái (trong đó cú cụ Thỳy Hoa lấy Bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn vốn là học trò của cụ Đàm Thận Huy; còn 2 cô Dung Hoa và Quế Hoa theo bố mẹ lên Yên Thế cùng chống Mạc, sau tuẫn tiết, được người dân địa phương lập đền thờ, gọi là đền Hai Cô)

- Cụ húy Thận Giản, hiệu Minh Huệ, (1466-?): năm 34 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Mùi, niên hiệu Cảnh Thống 2

Trang 37

(1499) đời vua Lê Hiến Tông Cụ làm quan đến chức Hộ bộ Tả thị lang Khi mất, cụ được vua tặng Công bộ thượng thư

Mộ: ở bãi Đồng Am, gần mộ cụ Khải tổ Minh Đạo

Cụ bà: hiệu Từ Đức sinh một con gái (thất truyền)

Đời thứ 04 :có 4 đinh

- Cụ Phúc Thiện: Theo gia phả cụ sinh khoảng năm Tân Hợi(1491), đỗ Nho sinh trúng thức, được hưởng ấm thụ hàm Triều Tỉnh đại phu, được bổ Tri phủ Quốc Oai Khi nhà Lê mất cụ cáo quan về nghỉ

Cụ bà : hiệu Từ Hạnh, sinh 1 con trai là : Phúc Lương

- Cụ Phỳc Chớnh: bia ở từ đường ghi là ông tổ Đàm Nghệ ,

- Cụ Các Trai : hỳy Uyên Lượng, đỗ Nho sinh trúng thức, làm quan đến chức Tán tri thừa chính sứ đạo Lạng Sơn

Cụ bà: Quách thị , hiờu Từ Ân sinh 1 con trai là : Phúc Giang

- Cụ Phúc Hạnh: bia ở Từ đường ghi là ông tổ Đàm Ngụy

Đời thứ 05: có 2 đinh

- Cụ Phúc Lương: tờn húy, năm sinh, ngày giỗ, công tích đều thất truyền

Theo gia phả, cụ sinh khoảng năm Kỷ mão (1519), đỗ Nho sinh trúng thức đời Mạc, được ấm thụ hàm Hiển Huệ đại phu nhưng không ra làm quan

Cụ bà Nguyễn Thị hiệu Từ Khiết sinh 2 con trai : Quang Tá, Quang Tán

- Cụ Uyên Hiến: tự Mặc An, hiệu Phúc Cụ đỗ Nho sinh trúng thức, hàm Trung Chính đại phu, làm tri huyện Bỡnh Tuyờn

Cụ bà Nghiêm thị hiệu Chính Mỹ sinh 1 con trai : Phỳc Tiên

Đời thứ 06: có 3 đinh

- Quang Tá: hiệu Phúc Đức, sinh khoảng năm Đinh Mùi (1547) Cụ đỗ

Nho sinh trúng thức, làm Giám sinh Quốc Tử giám Con cháu cụ sau này xuống Quảng Yên, Quảng Ninh lập nghiệp, vẫn giữ chữ đệm là Quang Đây

Trang 38

nhỏnh trưởng này đi lập nghiệp nơi khác nờn nhỏnh thứ là Cụ Quang Tán trở thành kế trưởng.

Cụ bà : hiệu Từ Quý , sinh 1 con trai: Phúc Hữu

- Cụ Quang Tán : hiệu Phỳc Trớ, gia phả ghi là sinh thời cụ học giỏi nhưng đi thi không đỗ, luôn dạy con cháu giữ nếp thi thư

Cụ bà: Quách thị, hiệu Từ Tín, là con gái cụ Giám sinh họ Quách nổi tiếng ở Phự Khờ (con cháu tiến sĩ Quách Đồng Dần, Quách Đồng Đức)

- Cụ Phúc Hữu: sinh khoảng năm Ất Hợi(1575),

Cụ bà hiệu Từ Hữu, sinh 1 con trai:: Phúc Quang

- Cụ hỳy Hựng , tự Quang Minh, hiệu Trực An (1592-1634)

Cụ bà: họ Đàm (họ Đàm khỏc) hỳy Quế, hiệu Từ Thọ (1602-1668) Cụ

là người giỏi nội trợ, nuôi con thành đạt, sau được tặng hàm Thái bảo Liệt phu nhân, sinh 1 con trai là: Thuần Nhã

- Cụ hỳy Thụng Viễn: (văn bia ở từ đường ghi nhánh này cũn cú cụ Thuần Triết, cụ hỳy Tụng Mậu, hiệu Phúc Phụng, làm Lệnh sử Tỳ lõm cục) chi này hiện không rõ hậu dụờ ra sao

-Cụ húy Tụ sau đổi là Tông Mậu, tự Thọ Mai, hiệu Phỳc Thỏi Cụ đươc hưởng ấm Tiết nghĩa thần tôn, là sinh viên Tỳ lõm cục

Cụ bà: Ngô thị hỳy Huyờn, hiệu Từ Niệm-Ngày giỗ:17/3

Cụ bà hiệu Từ Đức-Ngày giỗ 26/10

Các con: Phúc Khang, Phúc Sơn, Phúc Duệ

Trang 39

- Cụ húy Thận Ích Gia phả ghi rõ đây là ông tổ chi Đàm Giai nay thất truyền.

- Cụ khuyết danh Gia phả ghi đây là ông tổ chi Đàm Thái, nay cũng không rõ hậu duệ ra sao

Đời thứ 08: có 5 đinh.

- Cụ hiệu Phúc Quang: gia phả ghi cụ sinh khoảng năm Quý Mão (1603),

Cụ bà hiệu Từ Quang, sinh 1 con trai: Quốc Chủng

- Cụ húy Tung tự Lỗ Phu, hiệu Thuần Nhã(1624-1679) Cụ đỗ thủ khoa thi Hương năm Bính Ngọ (1666) đời vua Lê Huyền Tôn Năm 1670, được bổ chức Giáo thụ Kinh thư ở Quốc Tử Giám Năm 1675, được bổ Tri phủ Kiến Xương, Quảng Bình Sau này do có con quý hiển được tặng Chiêu liệt đại phu, Tán trị thừa chính sứ, gia tặng Ngự sử đài, Đô ngự sử, Thái bảo

Cụ bà: Nguyễn thị , hỳy Khuờ, hiệu Từ Tố (1628-1699) Cụ người làng Yên Phụ, là con Tán trị công thần Thiếu Khanh , Diên lộc tử vốn dòng dõi cụ bóng nhón Nguyễn Chiêu Huấn Sau này vì có con quý hiển nên được tặng hàm Thái Bảo Liệt phu nhân

Các con: Trung Vỹ (Công Hiệu), Trung Thứ, Phúc Dụ, ?không rõ tên.-Cụ húy Ngột, tự Đạo Kiên, hiệu Phúc Quang(1622-1685): là con trưởng

cụ Phỳc Thỏi, được hưởng Ấm thụ Tiết nghĩa thần tôn

Cụ bà: Đàm thị , húy Tưởng, hiệu Từ Cảnh (1626-1700), sinh 5 con trai: Hiền Lương, Thuần Cung, Phỳc Lâm, Phúc Cẩm, Phỳc Sùng

-Cụ hiệu Phúc Sơn, tự Khỏnh Mụn, tờn hỳy, năm sinh, ngày giỗ, công tích đều thất truyền

Các con: Phúc Lai

-Cụ Tự Pháp Nhuận , hiệu Phúc Duệ : Con cháu sau này là nhỏnh ụng Đàm Đắc Lộc

Trang 40

Đời thứ 09: có 10 đinh.

- Cụ húy Quốc Chủng: gia phả ghi cụ sinh khoảng năm Tõn Mựi (1631) đời vua Lê Thần Tôn

Cụ bà : họ Đào húy Xất, hiệu Từ Diệu, sinh 2 con trai: Phúc Trung, Như Thủy

- Cụ húy Hy, sau đổi là Công Hiệu, hiệu Mai Hiên, tứ thụy Trung Vỹ (1652-1721) : Là con trưởng cụ Thuần Nhã

Cụ đỗ Nho sinh trúng thức, sau được bổ làm Huấn Đạo Cụ làm quan ở nhiều cương vị, từng dạy dạy học cho Chúa Trịnh Cương, được phong Thị giảng Minh nghĩa công thần, đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, tham tòng Lễ

bộ Thượng thư tham dự triều chính, Thiếu bảo, Quốc lão Nghĩa Quận công Khi về trí sĩ tặng Thái phó, khi mất truy tặng Thái tể, gia phong: Anh nhị, Trung liệt, Khoan hậu, Cỏch Tõm, Phục Đức, Quốc Sư đại vương

Các đời vua sau đều phong cụ là Trung Đẳng Thần

Mộ : bói Nghờ, nay thuộc Lỗ Khờ, Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội

Cụ bà: Nguyễn thị, húy Thuyến (Thanh) (1653-1704) hiệu Tĩnh Chuyên,

là người làng Vân Điềm, huyện Đông Ngàn, vốn là con cụ Nho sinh họ Nguyễn thuộc dòng Tiến sĩ Thượng thư Nguyễn Sủng

Cụ sinh 2 trai là: Đôn Hậu, Công Vị

- Cụ tự Trung Thứ hiệu Cường Đoán, thường gọi là cụ Cống Ba, năm sinh, công tích đều thất truyền Cụ đỗ Nho sinh trúng thức

Các con: Bỡnh Cỏch

- Cụ hiệu Phúc Dụ , thường gọi là cụ Cống Sáu Cụ đỗ Nho sinh trúng thức

Cụ bà : Nguyễn thị hiệu Từ Thiện , con gái quan thái y quê Thọ Triền, có

4 con trai : Bảo Vượng, cũn lại đã thất truyền

- Cụ húy Mật, tự Đôn Hậu, hiệu Hiền Lương,

Cụ bà: húy Nguyệt, hiệu Diệu Đăng, sinh 1 con trai là: Nghi Tình

Ngày đăng: 19/04/2015, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w